Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 2. KINH VỀ THÀNH QUẢ CỦA NGƯỜI TU HÀNH

(Sāmaññaphalasutta)
Bản tóm tắt→

1. Câu chuyện với các đại thần của vua

Tôi đã nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong vườn xoài của ngài Jīvaka Komārabhacca, cùng với một chúng tỳ kheo lớn gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị.

Lúc bấy giờ, vua nước Māgadha (Ma-kiệt-đà) là Ajātasattu (A-xà-thế), con bà Vedehi, vào ngày rằm Uposatha (Bố-tát), đêm trăng tròn lễ Komudi tháng tư, đang ngồi trên tầng gác cao của cung điện, bao quanh bởi các quan đại thần.

Khi ấy, vua nước Māgadha là Ajātasattu, con bà Vedehi, vào ngày rằm Uposatha đã thốt lên lời cảm hứng: “Đêm trăng sáng này thật đáng yêu thay! Đêm trăng sáng này thật tuyệt đẹp thay! Đêm trăng sáng này thật đáng chiêm ngưỡng thay! Đêm trăng sáng này thật thanh bình thay! Đêm trăng sáng này thật đầy điềm lành thay! Hôm nay chúng ta nên đến hầu hạ vị sa-môn hay bà-la-môn nào, để khi hầu hạ vị ấy, tâm chúng ta trở nên trong sáng (tịnh tín / pasīdeyyā)?”

Khi được nói như vậy, một vị đại thần thưa với vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi: “Tâu đại vương, có Pūraṇa Kassapa là người đứng đầu một hội chúng, vị đạo sư của một hội chúng, người nổi tiếng, có danh xưng, người lập ra giáo phái, được quần chúng tôn kính, người đã có nhiều kinh nghiệm, đã rời bỏ gia đình (xuất gia / pabbajati) từ lâu, đã đi qua chặng đường dài, đã đến tuổi trưởng thành. Xin đại vương hãy đến hầu hạ Pūraṇa Kassapa. Biết đâu khi hầu hạ Pūraṇa Kassapa, tâm đại vương sẽ trở nên trong sáng.” Khi được nói như vậy, vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi giữ im lặng.

Một vị đại thần khác thưa với vua: “Tâu đại vương, có Makkhali Gosāla… Xin đại vương hãy đến hầu hạ Makkhali Gosāla…” Vua giữ im lặng.

Một vị đại thần khác thưa với vua: “Tâu đại vương, có Ajita Kesakambala… Xin đại vương hãy đến hầu hạ Ajita Kesakambala…” Vua giữ im lặng.

Một vị đại thần khác thưa với vua: “Tâu đại vương, có Pakudha Kaccāyana… Xin đại vương hãy đến hầu hạ Pakudha Kaccāyana…” Vua giữ im lặng.

Một vị đại thần khác thưa với vua: “Tâu đại vương, có Sañcaya Belaṭṭhaputta… Xin đại vương hãy đến hầu hạ Sañcaya Belaṭṭhaputta…” Vua giữ im lặng.

Một vị đại thần khác thưa với vua: “Tâu đại vương, có Nigaṇṭha Nāṭaputta… Xin đại vương hãy đến hầu hạ Nigaṇṭha Nāṭaputta…” Vua giữ im lặng.

2. KINH SA MÔN QỦA

(Sàmannaphala Sutta)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) nơi vườn xoài của Jìvaka (Kỳ-bà) Komàrabhacca, cùng với đại chúng Tỷ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Lúc bấy giờ Ajàtasattu (A-xà-thế) con bà Vihehi (Vi-đề-hi) vua xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) nhân lễ Bố Tát vào ngày rằm tháng tư Komudi (cây súng) đang ngồi trên lầu cao trang nghiêm, chung quanh có nhiều đại thần hậu hạ. Lúc bấy giờ Ajàtasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát cảm hứng nói rằng: “Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Samôn hay Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?”. Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Pùrana Kassapa (Phú-la Ca-diếp) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

3. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Makkhali Gosàla (Mặc-già-lê Cù-xá-lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương chiêm bái Makkhali Gosàla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosàla có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

4. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Ajita Kesakambàli này. Chiêm bái Ajita Kesakambàli có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, còn bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

5. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đà Ca-chiên-nê) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pakudha Kaccàyana này. Chiêm bái Pakudha Kaccayana này có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

6. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Sanjaya Belathiputta (Tán-nhã-di Tỳ-la-phê-phất) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Sanjaya Belathiputta này. Chiêm bái Sanjaya Belathiputta này có thể khiến tâm Ðại vương tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

7. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, còn bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Nigantha Nàtaputta này. Chiêm bái Nigantha Nàtaputta có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

2. Câu chuyện với Jīvaka Komārabhacca

Lúc bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đang ngồi im lặng không xa vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi. Vua liền nói với Jīvaka Komārabhacca: “Còn khanh, bạn Jīvaka, sao khanh lại im lặng?”

“Tâu đại vương, có Thế Tôn, bậc Xứng Đáng (A-la-hán / arahaṁ), bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn (Chánh đẳng giác / sammāsambuddho), đang trú tại vườn xoài của chúng ta cùng với một chúng tỳ kheo lớn gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây đã vang lên về Thế Tôn: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc Xứng Đáng, bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn, bậc Đầy Đủ Hiểu Biết Và Đạo Đức, bậc Đi Đến Tốt Đẹp, bậc Hiểu Rõ Thế Giới, Người Điều Phục Vô Thượng, Bậc Thầy Của Chư Thiên Và Loài Người, bậc Tỉnh Thức, Thế Tôn’. Xin đại vương hãy đến hầu hạ Thế Tôn. Biết đâu khi hầu hạ Thế Tôn, tâm đại vương sẽ trở nên trong sáng.”

“Vậy thì, bạn Jīvaka, hãy chuẩn bị các voi cưỡi.”

“Vâng, tâu đại vương,” Jīvaka Komārabhacca vâng lệnh vua, chuẩn bị khoảng năm trăm con voi cái và con voi đực để vua cưỡi, rồi tâu với vua: “Tâu đại vương, các voi cưỡi đã được chuẩn bị xong, nay là thời gian tùy đại vương định liệu.”

Sau đó, vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi, cho các cung nữ cưỡi trên năm trăm con voi cái, tự mình cưỡi lên con voi đực, với những ngọn đuốc được thắp sáng, rời khỏi Rājagaha với uy nghi hoàng gia vĩ đại, tiến về phía vườn xoài của Jīvaka Komārabhacca.

Khi đến không xa vườn xoài, vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi bỗng sinh lòng sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược. Vua sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược liền nói với Jīvaka Komārabhacca: “Bạn Jīvaka, khanh không lừa dối ta chứ? Bạn Jīvaka, khanh không gài bẫy ta chứ? Bạn Jīvaka, khanh không nộp ta cho kẻ thù chứ? Làm sao một hội chúng tỳ kheo lớn đến một ngàn hai trăm năm mươi vị mà lại không có tiếng hắt hơi, không có tiếng ho, không có một tiếng động nào?”

“Xin chớ sợ, tâu đại vương, xin chớ sợ, tâu đại vương. Thần không lừa dối đại vương; thần không gài bẫy đại vương; thần không nộp đại vương cho kẻ thù. Hãy tiến lên, tâu đại vương, hãy tiến lên, tâu đại vương, kia là những ngọn đèn đang cháy trong sảnh đường.”

8. Lúc bấy giờ Jìvaka Komàrabhacca ngồi yên lặng cách Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với Jìvaka Komàrabhacca:

− Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?

− Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỷ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.

− Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.

− Vâng, tâu Ðại vương.

9. Jìvaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, các kiệu voi đã sẵn sàng. Ngài hãy làm những gì Ngài xem là phải thời”. Khi bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, còn mình thì leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của Jìvaka Komàrabhacca.

10. Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:

− Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?

− Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.

3. Câu hỏi về thành quả của người tu

Sau đó, vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi cưỡi voi đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi, đi bộ đến cửa sảnh đường; sau khi đến, vua nói với Jīvaka Komārabhacca: “Nhưng bạn Jīvaka, Thế Tôn ở đâu?”

“Kia, tâu đại vương, là Thế Tôn; kia, tâu đại vương, là Thế Tôn đang ngồi tựa vào cột giữa, mặt hướng về phía Đông, phía trước là chúng tỳ kheo.”

Sau đó, vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, vua đứng sang một bên. Đứng sang một bên, vua nhìn chúng tỳ kheo đang ngồi im lặng, hoàn toàn im lặng như một hồ nước trong vắt, liền thốt lên lời cảm hứng: “Mong sao thái tử Udayabhadda của ta cũng có được sự tĩnh lặng này, giống như sự tĩnh lặng mà chúng tỳ kheo đang có hiện nay!”

“Tâu đại vương, ngài đã đi đến nơi theo như tình thương yêu của ngài.”

“Bạch Thế Tôn, thái tử Udayabhadda rất thân yêu đối với con. Mong sao thái tử Udayabhadda của con cũng có được sự tĩnh lặng này, giống như sự tĩnh lặng mà chúng tỳ kheo đang có hiện nay.”

Sau đó, vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi đảnh lễ Thế Tôn, chắp tay vái chào chúng tỳ kheo, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề, nếu Thế Tôn cho phép con được giải đáp câu hỏi.”

“Hãy hỏi đi, tâu đại vương, bất cứ điều gì ngài muốn.”

“Bạch Thế Tôn, có nhiều nghề nghiệp khác nhau, như là—người cưỡi voi, người cưỡi ngựa, người đánh xe, cung thủ, người mang cờ, người mang cờ hiệu, người cấp dưỡng, chiến binh, hoàng tử, lính xung kích, dũng sĩ, chiến binh mặc áo giáp, con của nô lệ, đầu bếp, thợ cạo, người tắm rửa, thợ làm bánh, thợ làm vòng hoa, thợ nhuộm, thợ dệt, thợ đan rổ, thợ gốm, người tính toán, người đếm ngón tay, hoặc bất kỳ nghề nghiệp nào khác tương tự. Họ sống dựa vào thành quả nghề nghiệp của họ thấy rõ ngay trong hiện tại (thiết thực hiện tại / sandiṭṭhika) ngay trong đời sống này; nhờ đó họ tự làm cho mình hạnh phúc (lạc / sukha) và no đủ, làm cho cha mẹ hạnh phúc và no đủ, làm cho vợ con hạnh phúc và no đủ, làm cho bạn bè và đồng nghiệp hạnh phúc và no đủ, họ thiết lập các khoản cúng dường tối thượng cho các sa-môn và bà-la-môn, mang lại quả báo tốt đẹp, dẫn đến cõi trời. Bạch Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu (Sa-môn quả / sāmaññaphala) thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?”

“Tâu đại vương, ngài có nhớ đã từng hỏi câu hỏi này với các sa-môn và bà-la-môn khác không?”

“Bạch Thế Tôn, con nhớ đã từng hỏi câu hỏi này với các sa-môn và bà-la-môn khác.”

“Vậy họ đã trả lời ngài như thế nào, tâu đại vương, nếu ngài không thấy phiền khi nói ra.”

“Bạch Thế Tôn, con không thấy phiền khi có Thế Tôn hay một người giống như Thế Tôn đang ngồi đây.”

“Vậy thì, tâu đại vương, hãy nói đi.”

11. Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:

− Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?

− Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỷ-kheo.

12. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỷ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: “Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-dibạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỷ-kheo này vậy”.

− Ðại vương, hình như tâm trí của Ðại vương nặng nhiều về tình thương thì phải?

− Bạch Thế Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng hoàng tử Udàyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của chúng Tỷ-kheo này vậy.

13. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỷ-kheo, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề này, nếu Ngài cho phép con hỏi.

− Ðại vương cứ hỏi tùy theo ý muốn của Ðại vương.

14. - Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại từ công nghiệp chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ cho rõ ràng kết quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

15. - Này Ðại vương, Ðại vương có nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác chăng?

− Bạch Ngài, con nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với Sa-môn, Bà-la-môn khác.

− Này Ðại vương, hãy nói lại cho nghe, các vị ấy đã trả lời với Ðại vương như thế nào, nếu Ðại vương không thấy gì trở ngại.

− Bạch Thế Tôn, con không thấy gì trở ngại đối với đức Thế Tôn và các bậc như đức Thế Tôn.

− Vậy Ðại vương hãy nói đi.

3.1. Quan điểm của Pūraṇa Kassapa

"Bạch Thế Tôn, một thời con đi đến chỗ Pūraṇa Kassapa; sau khi đến, con chào hỏi Pūraṇa Kassapa. Sau những lời chào hỏi thân thiện và lịch sự, con ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, con thưa với Pūraṇa Kassapa: ‘Thưa ngài Kassapa, có nhiều nghề nghiệp khác nhau… Họ sống dựa vào thành quả nghề nghiệp của họ thấy rõ ngay trong hiện tại… Thưa ngài Kassapa, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?’

Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa nói với con: ‘Tâu đại vương, người tự làm, người sai bảo làm, người cắt xén, người sai bảo cắt xén, người nấu nướng, người sai bảo nấu nướng, người gây sầu muộn, người sai bảo gây sầu muộn, người gây mệt mỏi, người sai bảo gây mệt mỏi, người gây run rẩy, người sai bảo gây run rẩy, người sát sinh, người lấy của không cho, người phá nhà, người cướp bóc, người trộm cắp, người phục kích, người ngoại tình, người nói dối; dù làm vậy cũng không tạo ra tội lỗi. Dù cho một người dùng bánh xe có lưỡi dao sắc bén băm vằm tất cả sinh vật trên trái đất này thành một đống thịt, một khối thịt, thì từ nguyên nhân đó cũng không có tội lỗi, không có sự mang lại tội lỗi. Dù cho một người đi dọc bờ nam sông Hằng, giết chóc, tàn sát, cắt xén, sai bảo cắt xén, nấu nướng, sai bảo nấu nướng, thì từ nguyên nhân đó cũng không có tội lỗi, không có sự mang lại tội lỗi. Dù cho một người đi dọc bờ bắc sông Hằng, bố thí, sai bảo bố thí, cúng tế, sai bảo cúng tế, thì từ nguyên nhân đó cũng không có phước báu, không có sự mang lại phước báu. Bằng việc bố thí, chế ngự, tự chủ, nói lời chân thật, không có phước báu, không có sự mang lại phước báu.’

Như vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại, Pūraṇa Kassapa đã trả lời bằng thuyết không có hành động [tạo nghiệp] (vô tác / akiriya). Bạch Thế Tôn, giống như một người được hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít, hay được hỏi về quả mít lại trả lời về quả xoài; cũng vậy, khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại, Pūraṇa Kassapa đã trả lời bằng thuyết không có hành động [tạo nghiệp]. Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng: ‘Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc quở trách một sa-môn hay bà-la-môn đang sống trong vương quốc của mình?’ Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không hoan hỷ cũng không phản đối lời nói của Pūraṇa Kassapa. Không hoan hỷ, không phản đối, không hài lòng, không thốt ra lời không hài lòng, con ghi nhận lời nói đó, không lật ngược lại, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

16. - Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pùrana Kassapa, khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pùrana Kassapa và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pùrana Kassapa: “Ngài Kassapa, cũng như các công nghệ, chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực, hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

17. Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đã nói với con: “Này Ðại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo”. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Pùrana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Purana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp, bạch Thế Tôn, con nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng?” Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Pùrana Kassapa. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng như không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.2. Quan điểm của Makkhali Gosāla

Bạch Thế Tôn, một thời con đi đến chỗ Makkhali Gosāla… con thưa với Makkhali Gosāla: ‘Thưa ngài Gosāla, có nhiều nghề nghiệp khác nhau… v.v… Thưa ngài Gosāla, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?’

Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Makkhali Gosāla nói với con: ‘Tâu đại vương, không có nhân, không có điều kiện (duyên / paccaya) cho sự ô nhiễm của chúng sinh; chúng sinh bị ô nhiễm không có nhân, không có điều kiện. Không có nhân, không có điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; chúng sinh được thanh tịnh không có nhân, không có điều kiện. Không có tự mình làm, không có người khác làm, không có con người làm, không có sức mạnh, không có nỗ lực, không có sức lực con người, không có sự phấn đấu của con người. Tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, tất cả các loài, tất cả sinh mạng đều không có quyền lực, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định đoạt bởi số phận, hoàn cảnh và bản tính, và trải nghiệm hạnh phúcđau khổ (khổ / dukkha) trong sáu loại sinh. Có một triệu bốn trăm ngàn loại sinh chính, sáu ngàn, sáu trăm, năm trăm loại nghiệp, năm loại nghiệp, ba loại nghiệp, nghiệp và nửa nghiệp, sáu mươi hai con đường, sáu mươi hai tiểu kiếp, sáu loại sinh, tám giai đoạn của con người, bốn ngàn chín trăm nghề nghiệp, bốn ngàn chín trăm người du sĩ, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của rồng, hai trăm giác quan (căn / indriya), ba ngàn địa ngục, ba mươi sáu cõi bụi, bảy thai sinh có nhận thức, bảy thai sinh không có nhận thức, bảy thai sinh nigaṇṭha, bảy vị thần, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy nút thắt, bảy trăm nút thắt, bảy vực thẳm, bảy trăm vực thẳm, bảy giấc mơ, bảy trăm giấc mơ, tám mươi bốn ngàn đại kiếp, mà kẻ ngu cũng như người trí sau khi chạy vòng quanh, luân hồi, sẽ làm sự chấm dứt (diệt / nirodha) đau khổ. Ở đây không có chuyện: “Bằng đời sống đạo đức (giới / sīla) này, hay sự tu tập này, hay khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ làm cho nghiệp chưa chín muồi được chín muồi, hay ta sẽ tiếp xúc và làm tiêu tan nghiệp đã chín muồi”. Không có chuyện như vậy. Hạnh phúcđau khổ đã được đong đếm, luân hồi đã có giới hạn, không có sự tăng giảm, không có sự thăng trầm. Giống như một cuộn chỉ được ném ra sẽ lăn cho đến khi hết chỉ; cũng vậy, kẻ ngu cũng như người trí sau khi chạy vòng quanh, luân hồi, sẽ làm sự chấm dứt đau khổ.’

Như vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại, Makkhali Gosāla đã trả lời bằng thuyết sự trong sạch qua vòng luân hồi. Bạch Thế Tôn, giống như một người được hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít… con ghi nhận lời nói đó, không lật ngược lại, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

19. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Makkhali Gosàla (Mạt-già-lê-cù-xá-lợi). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào tụng thân hữu và xã giao với Makkhali Gosàla và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Makkhali Gosàla: “Ngài Gosàla, cũng như các công kỹ nghệ chức nghiệp như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Samôn chăng?”

20. Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đã nói với con: “Này Ðại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng. Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa. Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ý), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài Naga, hai nghìn căn, ba nghìn cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau”.

21. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng? “Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Makkhali Gosàla; không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.3. Quan điểm của Ajita Kesakambala

Bạch Thế Tôn, một thời con đi đến chỗ Ajita Kesakambala… con thưa với Ajita Kesakambala: ‘Thưa ngài Ajita, có nhiều nghề nghiệp khác nhau… v.v… Thưa ngài Ajita, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?’

Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Ajita Kesakambala nói với con: ‘Tâu đại vương, không có bố thí, không có cúng tế, không có tế lễ, không có quả báo của những điều thiện (pháp thiện / kusalā dhammā) và những điều không thiện (pháp bất thiện / akusalā dhammā), không có thế giới này, không có thế giới khác, không có mẹ, không có cha, không có chúng sinh hóa sinh, không có các sa-môn và bà-la-môn trên đời đã đi đến chân lý, thực hành chân lý, những người tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhijānāti) và chứng ngộ thế giới này và thế giới khác rồi truyền dạy lại. Con người này được tạo thành từ bốn nguyên tố (đại / mahābhūta); khi chết đi, đất trở về với đất, nước trở về với nước, lửa trở về với lửa, gió trở về với gió, các giác quan tan vào không gian. Bốn người khiêng cáng là người thứ năm mang xác chết đi. Những bước chân được nhìn thấy cho đến bãi thiêu. Xương trở thành màu bồ câu, các đồ cúng tế biến thành tro bụi. Bố thí là học thuyết của kẻ ngu. Lời nói của những ai cho rằng có sự tồn tại đều là trống rỗng, dối trá, lảm nhảm. Kẻ ngu cũng như người trí, sau khi thân hoại mạng chung đều sự đoạn diệt hoàn toàn (đoạn diệt / uccheda), tiêu diệt, không còn tồn tại sau khi chết.’

Như vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại, Ajita Kesakambala đã trả lời bằng thuyết sự đoạn diệt hoàn toàn. Bạch Thế Tôn, giống như một người được hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít… con ghi nhận lời nói đó, không lật ngược lại, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

22. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa-xí-xá-khâm-bà-la) khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Ajita Kesakambàli, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Ajita Kesakambala: “Ngài Ajita Kesakambàli, cũng như các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể chỉ cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

23. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Ajita Kesakambàli đã nói với con: “Này Ðại vương, không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Samôn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết. “

24. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambàli đã trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài, hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambàli đã trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Ajita Kesakambàli . Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.4. Quan điểm của Pakudha Kaccāyana

Bạch Thế Tôn, một thời con đi đến chỗ Pakudha Kaccāyana… con thưa với Pakudha Kaccāyana: ‘Thưa ngài Kaccāyana, có nhiều nghề nghiệp khác nhau… v.v… Thưa ngài Kaccāyana, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?’

Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Pakudha Kaccāyana nói với con: ‘Tâu đại vương, có bảy thân này không được tạo ra, không phải do tạo ra, không được sáng tạo, không phải do sáng tạo, cằn cỗi, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng không lay động, không biến đổi, không cản trở lẫn nhau, không thể gây ra hạnh phúc, đau khổ, hay cả hạnh phúcđau khổ cho nhau. Bảy thân đó là gì? Thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió, hạnh phúc, đau khổ, và sinh mạng là thứ bảy—bảy thân này không được tạo ra… không thể gây ra hạnh phúc, đau khổ, hay cả hạnh phúcđau khổ cho nhau. Ở đây không có người giết hay người sai bảo giết, người nghe hay người sai bảo nghe, người nhận biết hay người sai bảo nhận biết. Ngay cả khi một người dùng thanh gươm sắc bén chặt đầu, cũng không có ai tước đoạt sinh mạng của ai; thanh gươm chỉ đi qua khoảng trống giữa bảy thân mà thôi.’

Như vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại, Pakudha Kaccāyana đã trả lời bằng cách hỏi một đằng trả lời một nẻo. Bạch Thế Tôn, giống như một người được hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít… con ghi nhận lời nói đó, không lật ngược lại, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

25. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đả-ca-chiên-diên). Khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pakudha Kaccàyana và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pakudha Kaccayana: “Ngài Pakudha Kaccayana, cũng như các công nghệ chức nghiệp, như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

26. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Pakudha Kaccàyana nói với con: “Này Ðại vương, có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc. Bảy thân ấy là gì? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này khômg bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây không có người giết hại, hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưởi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi”.

27. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccàyana đả trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccayana đả trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn, hay Bàla-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, không cật nạn, bỏ lời nói của Pakudha Kaccayana. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi và đứng dậy ra về.

3.5. Quan điểm của Nigaṇṭha Nāṭaputta

Bạch Thế Tôn, một thời con đi đến chỗ Nigaṇṭha Nāṭaputta… con thưa với Nigaṇṭha Nāṭaputta: ‘Thưa ngài Aggivessana, có nhiều nghề nghiệp khác nhau… v.v… Thưa ngài Aggivessana, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?’

Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nāṭaputta nói với con: ‘Tâu đại vương, ở đây một Nigaṇṭha được bảo vệ bởi sự thu thúc trong bốn cấm giới. Và thế nào, tâu đại vương, là Nigaṇṭha được bảo vệ bởi sự thu thúc trong bốn cấm giới? Ở đây, tâu đại vương, Nigaṇṭha bị ngăn cản bởi mọi loại nước, gắn liền với mọi loại nước, rũ bỏ mọi loại nước, và được bao bọc bởi mọi loại nước. Như vậy, tâu đại vương, Nigaṇṭha được bảo vệ bởi sự thu thúc trong bốn cấm giới. Vì Nigaṇṭha được bảo vệ bởi sự thu thúc trong bốn cấm giới như vậy, tâu đại vương, Nigaṇṭha này được gọi là người đã đạt đến tự ngã, đã chế ngự tự ngã, và đã an trú tự ngã.’

Như vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại, Nigaṇṭha Nāṭaputta đã trả lời bằng sự thu thúc trong bốn cấm giới. Bạch Thế Tôn, giống như một người được hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít… con ghi nhận lời nói đó, không lật ngược lại, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

28. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Nigantha Nàtaputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Nigantha Nàtaputta: “Ngài Aggivessana, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư, … (như trên) … Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn ?”

29. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con: “Này Ðại vương, một người Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Ðại vương, một Nigantha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp. Này Ðại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, vì một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatto (một vị đã đi đến đích), Yatatto (một vị đã điều phục tự tâm) và Thitatto (một vị đã an trú được tự tâm)”.

30. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi đến kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigantha Nàtaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigantha Nàtaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn cấm giới. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Nigantha Nàtaputta. Không tán thán không cật nạn, dù không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.6. Quan điểm của Sañcaya Belaṭṭhaputta

Bạch Thế Tôn, một thời con đi đến chỗ Sañcaya Belaṭṭhaputta… con thưa với Sañcaya Belaṭṭhaputta: ‘Thưa ngài Sañcaya, có nhiều nghề nghiệp khác nhau… v.v… Thưa ngài Sañcaya, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?’

Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Sañcaya Belaṭṭhaputta nói với con: ‘Nếu ngài hỏi tôi có thế giới khác không, nếu tôi nghĩ là có thế giới khác, tôi sẽ trả lời ngài là có thế giới khác. Nhưng tôi không nói như vậy, tôi không nói thế kia, tôi không nói khác đi, tôi không nói là không, tôi không nói là không phải không. Không có thế giới khác …v.v… Có và không có thế giới khác …v.v… Không phải có cũng không phải không có thế giới khác …v.v… Có chúng sinh hóa sinh …v.v… Không có chúng sinh hóa sinh …v.v… Có và không có chúng sinh hóa sinh …v.v… Không phải có cũng không phải không có chúng sinh hóa sinh …v.v… Có quả báo của những điều thiệnnhững điều không thiện …v.v… Không có quả báo của những điều thiệnnhững điều không thiện …v.v… Có và không có quả báo của những điều thiệnnhững điều không thiện …v.v… Không phải có cũng không phải không có quả báo của những điều thiệnnhững điều không thiện …v.v… Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) tồn tại sau khi chết …v.v… Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết …v.v… Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết …v.v… Nếu ngài hỏi tôi Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết, nếu tôi nghĩ là Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết, tôi sẽ trả lời ngài như vậy. Nhưng tôi không nói như vậy, tôi không nói thế kia, tôi không nói khác đi, tôi không nói là không, tôi không nói là không phải không.’

Như vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại, Sañcaya Belaṭṭhaputta đã trả lời bằng sự trốn tránh (ngụy biện / vikkhepa). Bạch Thế Tôn, giống như một người được hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít… Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng: ‘Người này là kẻ ngu xuẩn nhất, mê muội nhất trong số các sa-môn và bà-la-môn này. Làm sao khi được hỏi về thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại lại trả lời bằng sự trốn tránh?’ Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng: ‘Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc quở trách một sa-môn hay bà-la-môn đang sống trong vương quốc của mình?’ Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không hoan hỷ cũng không phản đối lời nói của Sañcaya Belaṭṭhaputta. Không hoan hỷ, không phản đối, không hài lòng, không thốt ra lời không hài lòng, con ghi nhận lời nói đó, không lật ngược lại, đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

31. Bạch Thế Tôn, một hôm con đến Sanjaya Belatthiputta (Tán-nhã-di-Tỳ-la-lê-phất). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào chúc tụng thân hữu và xã giao với Sanjaya Belatthiputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Sanjaya Belatthiputta: “Ngài Sanjaya, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

32. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với con: “Nếu anh hỏi: “Có một thế giới khác hay không?” Nếu tôi nghĩ “Có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: “Không có một thế giới khác phải không?” Nếu tôi nghĩ: “Không có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Không có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi “Không có một thế giới khác phải không?” (… như trên… ) “Cũng có và cũng không có một thế giới khác?” “Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?”, “Có loại hữu tình hóa sanh?”, “Không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?”, “Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?”, “Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Như Lai có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?”. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Tôi có thể trả lời : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.”

33. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi trái mít lại trả lời trái xoài . Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, Bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Sanjaya Belatthiputta. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn. Không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

4. Thành quả của người tu

4.1. Thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại thứ nhất

Bạch Thế Tôn, nay con xin hỏi Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, có nhiều nghề nghiệp khác nhau như là—người cưỡi voi… v.v… Họ sống dựa vào thành quả nghề nghiệp của họ thấy rõ ngay trong hiện tại ngay trong đời sống này… Bạch Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại giống như vậy ngay trong đời sống này không?’"

"Có thể được, tâu đại vương. Vậy thì, tâu đại vương, ta sẽ hỏi lại ngài về vấn đề này. Ngài thấy thế nào thì hãy trả lời như thế ấy. Ngài nghĩ sao, tâu đại vương, giả sử ngài có một người nô lệ, một người làm công, thức dậy trước, đi ngủ sau, sẵn sàng vâng lệnh, làm việc vừa lòng, nói lời dễ nghe, luôn nhìn nét mặt ngài. Người ấy nghĩ rằng: ‘Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, đích đến của phước báu, quả báo của phước báu. Vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi này là con người; ta cũng là con người. Vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi này được cung cấp đầy đủ, tận hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa), giống như một vị trời. Còn ta là nô lệ của ngài, người làm công, thức dậy trước, đi ngủ sau, sẵn sàng vâng lệnh, làm việc vừa lòng, nói lời dễ nghe, luôn nhìn nét mặt ngài. Ta nên làm các phước báu. Hay là ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình.’

Vào một thời gian sau, người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình. rời bỏ gia đình như vậy, người ấy sống thu thúc về cơ thể, thu thúc về lời nói, thu thúc về tâm trí, bằng lòng với thức ăn và y phục tối thiểu, vui thích trong sự tĩnh lặng. Nếu những người của ngài báo cáo với ngài: ‘Tâu đại vương, ngài có biết người nô lệ, người làm công của ngài… nay đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình. rời bỏ gia đình như vậy, người ấy sống thu thúc về cơ thể, thu thúc về lời nói, thu thúc về tâm trí, bằng lòng với thức ăn và y phục tối thiểu, vui thích trong sự tĩnh lặng’. Liệu ngài có nói: ‘Hãy gọi người ấy đến đây, để nó lại làm nô lệ, làm công cho ta… v.v…’ không?"

“Không thể như vậy, bạch Thế Tôn. Trái lại, chính chúng con sẽ đảnh lễ vị ấy, đứng dậy chào đón vị ấy, mời vị ấy ngồi, mời vị ấy nhận y phục, thức ăn, chỗ ở, thuốc men trị bệnh, và chúng con sẽ sắp xếp sự bảo vệ, che chở, phòng vệ hợp pháp cho vị ấy.”

“Ngài nghĩ sao, tâu đại vương? Nếu sự việc là như vậy, thì có thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại hay không?”

“Chắc chắn là có, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì có thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại.”

“Đây, tâu đại vương, là thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại thứ nhất ngay trong đời sống này mà ta chỉ ra cho ngài.”

34. Vậy nên bạch Thế Tôn, con cũng hỏi Thế Tôn. bạch Thế Tôn, cũng như các công nghệ chức nghiệp. Như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên soái, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dũng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản, các công nghệ chức nghiệp khác. Chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bàla-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

− Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương.

35. Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nô bộc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương). Người ấy nghĩ: “Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả dị thục của các công đức. Ðức vua Ajàtasattu, con của bà Videhi của nước Magadha, là người, tôi đây là người. Vị vua Ajàtasattu con bà Videhi, của nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần, còn tôi là người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của vua). Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia, ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình xuất gia tu đạo”. Và người nô lệ ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, sống chế ngự lời nói, sống chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỉ sống an tịnh. Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương. “Ðại vương có biết chăng? Có người nô bộc của Ðại vương, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương). Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống trong an tịnh”. Này Ðại vương, Ðại vương có nói như sau chăng?: “Người ấy hãy lại với ta, hãy làm lại người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái chú ý từng nét mặt?”

36. - Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.

− Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy, thì đó có phải chăng là kết quả thiết thực hiện tại hạnh Sa-môn?

− Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.

− Này Ðại vương đó là kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa-môn mà Ta đã trình bày.

4.2. Thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại thứ hai

“Bạch Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra một thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại khác giống như vậy ngay trong đời sống này không?”

"Có thể được, tâu đại vương. Vậy thì, tâu đại vương, ta sẽ hỏi lại ngài về vấn đề này. Ngài thấy thế nào thì hãy trả lời như thế ấy. Ngài nghĩ sao, tâu đại vương, giả sử ngài có một người nông dân, một gia chủ, người đóng thuế, người làm tăng tài sản. Người ấy nghĩ rằng: ‘Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, đích đến của phước báu, quả báo của phước báu. Vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi này là con người, ta cũng là con người. Vua nước Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi này được cung cấp đầy đủ, tận hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng, giống như một vị trời. Còn ta là nông dân của ngài, gia chủ, người đóng thuế, người làm tăng tài sản. Ta nên làm các phước báu. Hay là ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình.’

Vào một thời gian sau, người ấy từ bỏ (đoạn trừ / pahāya) khối tài sản nhỏ hay từ bỏ khối tài sản lớn, từ bỏ vòng thân thuộc nhỏ hay từ bỏ vòng thân thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình. rời bỏ gia đình như vậy, người ấy sống thu thúc về cơ thể, thu thúc về lời nói, thu thúc về tâm trí, bằng lòng với thức ăn và y phục tối thiểu, vui thích trong sự tĩnh lặng. Nếu những người của ngài báo cáo với ngài: ‘Tâu đại vương, ngài có biết người nông dân, gia chủ của ngài… nay đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không gia đình… v.v…’. Liệu ngài có nói: ‘Hãy gọi người ấy đến đây, để nó lại làm nông dân, gia chủ cho ta… v.v…’ không?"

“Không thể như vậy, bạch Thế Tôn. Trái lại, chính chúng con sẽ đảnh lễ vị ấy, đứng dậy chào đón vị ấy, mời vị ấy ngồi, mời vị ấy nhận y phục, thức ăn, chỗ ở, thuốc men trị bệnh, và chúng con sẽ sắp xếp sự bảo vệ, che chở, phòng vệ hợp pháp cho vị ấy.”

“Ngài nghĩ sao, tâu đại vương? Nếu sự việc là như vậy, thì có thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại hay không?”

“Chắc chắn là có, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì có thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại.”

“Đây, tâu đại vương, là thành quả của người tu thấy rõ ngay trong hiện tại thứ hai ngay trong đời sống này mà ta chỉ ra cho ngài.”

37. - Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác hơn nữa của hạnh Sa-môn?

− Này Ðại vương, có thể được. Này Ðại vương. Ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương. Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Người ấy nghĩ: “Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả vị thục của các công đức. Vị vua Ajàtasattu, con của bà Videhi, nước Magadha, là người, tôi cũng là người. Vị vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần. Còn tôi là người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo”. Và người nông phu ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh. Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương: “Ðại vương có biết chăng? Có người nông phu của Ðại vương, người gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh”. Này Ðại vương, Ðại vương có nói: “Người hãy đến lại với ta, hãy làm lại người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố”?

38. - Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính nể người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bịnh. Và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.

− Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy thời đó có phải là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

− Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.

− Này Ðại vương, đó là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, mà Ta trình bày.

4.3. Paṇītatarasāmaññaphala (Những thành quả của người tu cao thượng hơn)

“Bạch Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra một thành quả của người tu thiết thực hiện tại nào khác, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại này không?”

“Có thể được, thưa đại vương. Vậy thì, thưa đại vương, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ đến (tác ý / manasikāra) thật kỹ, Ta sẽ giảng.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” vua Magadha là Ajātasattu (A-xà-thế), con bà Vedehi, vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

"Ở đây, thưa đại vương, khi Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, bậc Giác ngộ hoàn toàn, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, người hiểu biết thế gian, bậc Vô thượng điều ngự trượng phu, bậc Thầy của chư thiên và loài người, bậc Giác ngộ, Thế Tôn. Ngài tự mình hiểu đầy đủ (thắng tri / abhijānāti) và chứng ngộ thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, rồi tuyên bố điều đó. Ngài giảng Điều dạy (pháp / dhamma) tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ngài công bố phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh khiết.

Một người gia chủ, hay con người gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe Điều dạy ấy. Sau khi nghe Điều dạy ấy, người đó sinh lòng tín tâm đối với Người Đến Như Vậy. Được trang bị với lòng tín tâm đó, người ấy suy nghĩ: ‘Đời sống gia đình là chật hẹp, là con đường đầy bụi bặm; đời sống xuất gia là khoảng không gian rộng mở. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh khiết, sáng bóng như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không gia đình.’

Một thời gian sau, người ấy từ bỏ khối tài sản nhỏ hay từ bỏ khối tài sản lớn, từ bỏ vòng thân quyến nhỏ hay từ bỏ vòng thân quyến lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, rời bỏ gia đình, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, người ấy sống được bảo vệ bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhặt nhất, thọ nhận và học tập các học giới, được thấm nhuần những hành động thiện của thân và lời nói, có sinh kế thanh khiết, đầy đủ đời sống đạo đức (giới / sīla), canh giữ các cánh cửa giác quan, được trang bị sự nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajañña) cùng sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati), và biết đủ.

39. Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác nữa của hạnh Sa-môn, vi diệu hơn, thù thắng hơn những kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn vừa kể trên?

− Này Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, hãy lóng tai nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Vâng, Thế Tôn. Vua Ajàtasattu con bà Videhi vua xứ Magadha trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói:

40. - Này Ðại vương, nay ở đời, Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí thế giới này với thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên Nhơn, lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

41. Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

42. Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.

4.3.1. Sīla (Sống đạo đức)

4.3.1.1. Cūḷasīla (Tiểu giới)

Thế nào, thưa đại vương, là tỳ kheo đầy đủ đời sống đạo đức? Ở đây, thưa đại vương, tỳ kheo từ bỏ việc giết hại sinh mạng, tránh xa việc giết hại sinh mạng. Vị ấy bỏ gậy gộc, bỏ đao kiếm, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh vật và loài hữu tình. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Từ bỏ việc lấy của không cho, vị ấy tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh khiết, không trộm cắp. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Từ bỏ đời sống không thanh tịnh, vị ấy sống thanh tịnh, sống tách biệt, tránh xa dâm dục là thói tục của người đời. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Từ bỏ nói dối, vị ấy tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, đáng tin cậy, không lừa dối đời. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Từ bỏ lời nói chia rẽ, vị ấy tránh xa lời nói chia rẽ; nghe điều gì ở đây không đem đến chỗ kia kể lại để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe điều gì ở chỗ kia không đem đến đây kể lại để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, vị ấy hàn gắn những người đã chia rẽ, khuyến khích những người đang hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Từ bỏ lời nói thô ác, vị ấy tránh xa lời nói thô ác; vị ấy chỉ nói những lời nhu hòa, êm tai, dễ chịu, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người yêu thích, làm hài lòng nhiều người. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Từ bỏ lời nói nhảm nhí, vị ấy tránh xa lời nói nhảm nhí; vị ấy nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Điều dạy, nói về luật; vị ấy nói những lời đáng được ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, gắn liền với lợi ích. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Vị ấy tránh xa việc làm tổn hại đến hạt giống và cây cối… Vị ấy ăn mỗi ngày một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn quá giờ. Vị ấy tránh xa việc đi xem múa, hát, nhạc, và các buổi biểu diễn. Vị ấy tránh xa việc đeo vòng hoa, xoa nước hoa, bôi phấn sáp, trang điểm và làm đẹp. Vị ấy tránh xa việc nằm giường cao và giường lớn. Vị ấy tránh xa việc nhận vàng và bạc. Vị ấy tránh xa việc nhận hạt ngũ cốc sống. Vị ấy tránh xa việc nhận thịt sống. Vị ấy tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận nô tỳ nam nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận dê và cừu. Vị ấy tránh xa việc nhận gà và lợn. Vị ấy tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Vị ấy tránh xa việc nhận ruộng đất và tài sản. Vị ấy tránh xa việc làm người đưa tin hay môi giới. Vị ấy tránh xa việc mua và bán. Vị ấy tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu lường. Vị ấy tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo và các thủ đoạn quanh co. Vị ấy tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, đánh cướp, cướp bóc và dùng bạo lực. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Kết thúc phần Tiểu giới.

43. Ðại Vương! Thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Ðại Vương, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

44. Tỷ-kheo từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Tỷ-kheo ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác. Vị ấy nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

45. Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm. Từ bỏ ăn phi thời. Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn kịch. Từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn. Từ bỏ nhận vàng và bạc. Từ bỏ nhận các hạt sống. Từ bỏ nhận thịt sống. Từ bỏ nhận đàn bà con gái. Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai. Từ bỏ nhận cừu và dê. Từ bỏ nhận gia cầm và heo. Từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Từ bỏ nhận ruộng nương, đất đai. Từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Từ bỏ buôn bán. Từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Từ bỏ làm thương tổn, sát hại câu thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

4.3.1.2. Majjhimasīla (Trung giới)

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ (người có lòng tin), họ lại sống đam mê làm tổn hại đến các loại hạt giống và cây cối. Cụ thể là: hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và thứ năm là hạt giống từ chính hạt. Vị ấy tránh xa việc làm tổn hại đến các loại hạt giống và cây cối như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê việc tích trữ đồ dùng. Cụ thể là: tích trữ thức ăn, tích trữ đồ uống, tích trữ y phục, tích trữ xe cộ, tích trữ giường nằm, tích trữ hương liệu, tích trữ vật dụng. Vị ấy tránh xa việc tích trữ đồ dùng như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê việc đi xem các buổi biểu diễn. Cụ thể là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, đánh chũm chọe, gọi hồn, đánh trống, cảnh đẹp, xiếc sào, rửa xương, chọi voi, chọi ngựa, chọi trâu, chọi bò, chọi dê, chọi cừu, chọi gà, chọi chim cút, đấu gậy, đấu quyền anh, đấu vật, diễn tập quân sự, duyệt binh, dàn trận, xem quân đội. Vị ấy tránh xa việc đi xem các buổi biểu diễn như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê các trò chơi cờ bạc lơ đễnh. Cụ thể là: cờ tám ô, cờ mười ô, cờ trên không, nhảy lò cò, rải sỏi, chơi súc sắc, chơi gậy, vẽ tay, chơi bi, thổi lá, cày bằng xe đồ chơi, bắn cung đồ chơi, đoán chữ, đoán ý, bắt chước dị tật. Vị ấy tránh xa các trò chơi cờ bạc lơ đễnh như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê việc sử dụng giường cao và giường lớn. Cụ thể là: ghế dài, giường có nệm, thảm lông dài, thảm thêu nhiều màu, thảm trắng, thảm len thêu hoa, thảm bông, thảm len thêu hình thú, thảm lông một mặt, thảm lông hai mặt, thảm dệt bằng tơ vàng, thảm lụa, thảm đủ rộng cho mười sáu vũ công, thảm trải lưng voi, thảm trải lưng ngựa, thảm trải xe, thảm da linh dương, thảm da nai cao cấp, thảm có mái che, sô-pha có gối đỏ hai đầu. Vị ấy tránh xa việc sử dụng giường cao và giường lớn như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê việc trang điểm và làm đẹp. Cụ thể là: xoa bóp, đấm bóp, tắm gội, nhào nặn cơ thể, dùng gương, bôi phấn mắt, đeo vòng hoa, xoa nước hoa, bôi phấn mặt, thoa kem mặt, đeo vòng tay, buộc tóc, dùng gậy, dùng ống thuốc, mang gươm, che ô, mang giày thêu, đội khăn xếp, đeo ngọc, cầm quạt đuôi trâu, mặc áo trắng có tua dài. Vị ấy tránh xa việc trang điểm và làm đẹp như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê những câu chuyện phiếm. Cụ thể là: chuyện về vua chúa, chuyện về kẻ trộm, chuyện về đại thần, chuyện về quân đội, chuyện về sự sợ hãi, chuyện về chiến tranh, chuyện về thức ăn, chuyện về đồ uống, chuyện về y phục, chuyện về giường nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương liệu, chuyện về thân quyến, chuyện về xe cộ, chuyện về làng mạc, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về quốc gia, chuyện về phụ nữ, chuyện về anh hùng, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người chết, chuyện tạp nham, chuyện về nguồn gốc thế giới, chuyện về nguồn gốc đại dương, chuyện về sự tồn tại và không tồn tại. Vị ấy tránh xa những câu chuyện phiếm như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê những câu chuyện tranh cãi. Cụ thể là: “Ông không hiểu Điều dạy và luật này, tôi mới hiểu Điều dạy và luật này. Làm sao ông hiểu được Điều dạy và luật này? Ông thực hành sai, tôi thực hành đúng. Lời tôi nói có lý, lời ông nói vô lý. Điều đáng nói trước ông lại nói sau, điều đáng nói sau ông lại nói trước. Lập luận của ông đã bị đảo lộn, quan điểm của ông đã bị bác bỏ, ông đã bị đánh bại. Hãy đi tìm cách gỡ rối cho quan điểm của mình, hoặc hãy tự giải thoát nếu ông có thể.” Vị ấy tránh xa những câu chuyện tranh cãi như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại sống đam mê việc làm người đưa tin hay môi giới. Cụ thể là: cho các vị vua, đại thần, hoàng tộc, bà-la-môn, gia chủ, thanh niên—“Hãy đi đến đây, hãy đi đến kia, hãy mang cái này đi, hãy mang cái kia về.” Vị ấy tránh xa việc làm người đưa tin hay môi giới như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại trở thành những kẻ lừa đảo, nịnh hót, bóng gió, tống tiền, và dùng lợi lộc để kiếm lợi lộc. Vị ấy tránh xa sự lừa đảo và nịnh hót như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Kết thúc phần Trung giới.

46. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt cây sanh, hạt giống từ chiết cây sanh, và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn vị ấy thì không làm hại hạt giống hay cây cỏ nào. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

47. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn vị ấy thì từ bỏ cất chứa các vật trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

48. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chơn chánh như múa, hát, nhạc kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn vị ấy thì từ bỏ các du hí không chơn chánh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

49. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí. Như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, cày với chiếc cày giả, nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ chơi bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiết trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn vị ấy thì từ bỏ đánh bài cà các loại giải trí như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

50. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế trường kỷ, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm khảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, mền voi, mền ngựa, mền xe, mền bằng da sơn dương khâu lại với nhau, mền bằng da con sơn dương khâu lại gọi là Kadali, tấm thảm với lều che phía trên, ghế dài có gối đầu, gối chân màu đỏ. Còn vị ấy thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

51. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt và sáp mặt, vòng tay tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn vị ấy thì không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

52. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống nói những câu chuyện vô ích tầm thường như câu chuyện nói về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại vương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn vị ấy thì từ bỏ nói những chuyện vô ích, tầm thường kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

53. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp như nói: “Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi nói mới thật đúng chánh kiến. Lời tôi nói mới tương ưng, lời nói của người không tương ưng. Những điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau. Những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Chủ kiến của ngươi đã bị bài bác, câu nói của ngươi đã bị thách đấu. Ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí”. Còn vị ấy thì từ bỏ những cuộc biện luận, tranh chấp kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

54. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới như cho các vua, các đại thần của vua, cho các vị Sát-đếlỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ cho các thanh niên và nói rằng: “Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia, mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia”. Còn vị ấy thì từ bỏ đưa các tin tức và đứng làm môi giới. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

55. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siễm nịnh, gợi ý, dèm pha, cầu lợi. Còn vị ấy thì từ bỏ nói lời lừa đảo và siểm nịnh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

4.3.1.3. Mahāsīla (Đại giới)

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại nuôi sống bản thân bằng sinh kế sai trái thông qua các tà thuật. Cụ thể là: bói toán qua các bộ phận cơ thể, bói điềm báo, bói sấm sét, giải mộng, xem tướng, bói vết chuột cắn, tế lửa bằng muôi, tế lửa bằng vỏ trấu, tế lửa bằng cám, tế lửa bằng gạo, tế lửa bằng bơ lỏng, tế lửa bằng dầu, tế lửa từ miệng, tế lửa bằng máu, xem tướng tay, xem phong thủy, xem tướng đất, xem bùa chú, xem ma quỷ, xem bùa đất, xem bùa rắn, xem bùa độc, xem bùa bò cạp, xem bùa chuột, xem bùa chim, xem bùa quạ, đoán tuổi thọ, làm bùa tránh tên, hiểu tiếng kêu của thú. Vị ấy tránh xa sinh kế sai trái thông qua các tà thuật như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại nuôi sống bản thân bằng sinh kế sai trái thông qua các tà thuật. Cụ thể là: xem tướng ngọc, xem tướng áo, xem tướng gậy, xem tướng kiếm, xem tướng đao, xem tướng tên, xem tướng cung, xem tướng vũ khí, xem tướng phụ nữ, xem tướng đàn ông, xem tướng bé trai, xem tướng bé gái, xem tướng nô lệ nam, xem tướng nô lệ nữ, xem tướng voi, xem tướng ngựa, xem tướng trâu, xem tướng bò đực, xem tướng bò cái, xem tướng dê, xem tướng cừu, xem tướng gà, xem tướng chim cút, xem tướng kỳ đà, xem tướng khuyên tai, xem tướng rùa, xem tướng nai. Vị ấy tránh xa sinh kế sai trái thông qua các tà thuật như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại nuôi sống bản thân bằng sinh kế sai trái thông qua các tà thuật. Cụ thể là: tiên đoán “Vua sẽ xuất quân, vua sẽ không xuất quân; vua phe ta sẽ tiến công, vua phe địch sẽ rút lui; vua phe địch sẽ tiến công, vua phe ta sẽ rút lui; vua phe ta sẽ thắng, vua phe địch sẽ thua; vua phe địch sẽ thắng, vua phe ta sẽ thua; người này sẽ thắng, người kia sẽ thua.” Vị ấy tránh xa sinh kế sai trái thông qua các tà thuật như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại nuôi sống bản thân bằng sinh kế sai trái thông qua các tà thuật. Cụ thể là: tiên đoán nhật thực, nguyệt thực, sao che khuất nhau, mặt trời mặt trăng đi đúng quỹ đạo, mặt trời mặt trăng đi chệch quỹ đạo, các vì sao đi đúng quỹ đạo, các vì sao đi chệch quỹ đạo, sao băng rơi, cháy chân trời, động đất, sấm sét, mặt trời mặt trăng và các vì sao mọc lặn, mờ tỏ; tiên đoán kết quả của nhật thực, nguyệt thực, sao che khuất nhau… Vị ấy tránh xa sinh kế sai trái thông qua các tà thuật như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại nuôi sống bản thân bằng sinh kế sai trái thông qua các tà thuật. Cụ thể là: tiên đoán mưa thuận gió hòa, hạn hán, được mùa, mất mùa, an ninh, nguy hiểm, bệnh tật, khỏe mạnh; làm nghề đếm ngón tay, tính toán, làm thơ, tranh luận triết học. Vị ấy tránh xa sinh kế sai trái thông qua các tà thuật như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại nuôi sống bản thân bằng sinh kế sai trái thông qua các tà thuật. Cụ thể là: xem ngày cưới hỏi, xem ngày ly hôn, xem ngày thu tiền, xem ngày chi tiền, làm bùa may mắn, làm bùa xui xẻo, làm bùa phá thai, làm bùa cứng lưỡi, làm bùa khóa hàm, làm bùa vẫy tay, làm bùa điếc tai, cầu hỏi gương thần, cầu hỏi thiếu nữ, cầu hỏi thần linh, thờ mặt trời, thờ đại phạm thiên, phun lửa, gọi nữ thần may mắn. Vị ấy tránh xa sinh kế sai trái thông qua các tà thuật như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi tín chủ, họ lại nuôi sống bản thân bằng sinh kế sai trái thông qua các tà thuật. Cụ thể là: làm lễ cầu an, làm lễ khấn vái, làm lễ trừ tà, làm lễ bùa đất, làm lễ cầu mưa, làm lễ tạ ơn, làm lễ cất nhà, làm lễ dọn nhà, súc miệng, tắm rửa, cúng tế, cho thuốc mửa, cho thuốc xổ, cho thuốc xổ trên, cho thuốc xổ dưới, cho thuốc xổ đầu, nhỏ dầu vào tai, nhỏ thuốc mắt, hít thuốc mũi, bôi thuốc mỡ, bôi thuốc làm mát, phẫu thuật mắt, phẫu thuật ngoại khoa, chữa bệnh trẻ em, kê đơn thuốc rễ cây, bốc thuốc thảo mộc. Vị ấy tránh xa sinh kế sai trái thông qua các tà thuật như vậy. Đây là một phần trong lối sống đạo đức của vị ấy.

Thưa đại vương, tỳ kheo sống đầy đủ với đời sống đạo đức như vậy không thấy sự sợ hãi từ bất cứ đâu, nhờ vào sự bảo vệ của đời sống đạo đức. Giống như một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã tiêu diệt kẻ thù, không thấy sự sợ hãi từ bất cứ đâu, nhờ vào việc đã dẹp yên quân địch; cũng vậy, thưa đại vương, tỳ kheo đầy đủ đời sống đạo đức như vậy không thấy sự sợ hãi từ bất cứ đâu, nhờ vào sự bảo vệ của đời sống đạo đức. Được thấm nhuần trong lối sống đạo đức cao thượng này, vị ấy cảm nhận một niềm hạnh phúc không tì vết ở bên trong. Như vậy, thưa đại vương, là tỳ kheo đầy đủ đời sống đạo đức.

Kết thúc phần Đại giới.

56. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hạt cải v. v… vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu quỷ ma, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bò cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn vị ấy thì tránh xa những tà hạnh kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

57. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tướng đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn vị ấy thì tránh xa những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

58. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: “Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lùi quân, vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối, vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự bại trận cho phe bên kia”. Còn vị ấy thì từ bỏ những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

59. Trong khi có một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: “Sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhật thực, sẽ có tinh thực, mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao bằng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động, sẽ có sấm trời, mặt trăng mặt trời các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhật thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời các sao mọc lặn sáng mờ sẽ có kết quả như thế này”. Còn vị ấy thì tránh xa không tự nuôi sống bằng tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

60. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng tà mạng, như đoán trước: “Sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ bị hiểm họa, sẽ có bệnh, sẽ không có bệnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình”. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

61. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ về nhà, sắp đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

62. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà bằng đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ tắm, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bệnh cho mắt, làm thầy thuốc, mổ xẻ chữa bệnh cho con nít, cho thuốc uống bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

63. Và như vậy, Ðại vương, vị Tỷ-kheo ấy, nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Ðại vương, như một vị Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.

4.3.2. Samādhi (Định)

4.3.2.1. Indriyasaṁvara (Tỉnh thức bảo vệ các giác quan)

Thế nào, thưa đại vương, là tỳ kheo tỉnh thức bảo vệ các giác quan? Ở đây, thưa đại vương, khi mắt thấy hình ảnh (sắc / rūpa), tỳ kheo không đi theo hình dáng (tướng / nimitta), không đi theo các chi tiết. Vì nếu để giác quan mắt không được tỉnh thức bảo vệ (thu thúc), thì những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) ác là lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền (ưu / domanassa) sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự tỉnh thức bảo vệ, bảo vệ giác quan mắt, đạt được sự tỉnh thức bảo vệ ở giác quan mắt. Khi tai nghe âm thanh… Khi mũi ngửi mùi… Khi lưỡi nếm vị… Khi cơ thể chạm vào vật xúc… Khi tâm (citta) nhận biết mọi Điều, vị ấy không đi theo hình dáng, không đi theo các chi tiết. Vì nếu để giác quan tâm không được tỉnh thức bảo vệ, thì những điều không thiện ác là lòng thamưu phiền sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự tỉnh thức bảo vệ, bảo vệ giác quan tâm, đạt được sự tỉnh thức bảo vệ ở giác quan tâm. Được thấm nhuần sự tỉnh thức bảo vệ các giác quan cao thượng này, vị ấy cảm nhận một niềm hạnh phúc không bị vấy bẩn ở bên trong. Như vậy, thưa đại vương, là tỳ kheo canh giữ các cánh cửa giác quan.

64. Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Ðại vương, khi mắc thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo hộ trì các căn.

4.3.2.2. Satisampajañña (Sự nhận biết rõ ràng)

Thế nào, thưa đại vương, là tỳ kheo được trang bị sự nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno)? Ở đây, thưa đại vương, tỳ kheo khi đi tới đi lui đều thực hành sự nhận biết rõ ràng; khi nhìn thẳng nhìn quanh đều thực hành sự nhận biết rõ ràng; khi co tay duỗi chân đều thực hành sự nhận biết rõ ràng; khi mang y tăng-già-lê, bình bát và y phục đều thực hành sự nhận biết rõ ràng; khi ăn, uống, nhai, nếm đều thực hành sự nhận biết rõ ràng; khi đại tiện tiểu tiện đều thực hành sự nhận biết rõ ràng; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng đều thực hành sự nhận biết rõ ràng. Như vậy, thưa đại vương, là tỳ kheo được trang bị sự nhận biết rõ ràng.

65. Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác? Ðại vương, ở đây, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác.

4.3.2.3. Santosa (Biết đủ)

Thế nào, thưa đại vương, là tỳ kheo biết đủ? Ở đây, thưa đại vương, tỳ kheo biết đủ với y áo để che thân, với thức ăn khất thực để nuôi bụng. Vị ấy đi đến bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo bấy nhiêu mà đi. Giống như con chim có cánh, bay đến bất cứ nơi đâu cũng chỉ mang theo đôi cánh của mình mà bay; cũng vậy, thưa đại vương, tỳ kheo biết đủ với y áo để che thân, với thức ăn khất thực để nuôi bụng. Vị ấy đi đến bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo bấy nhiêu mà đi. Như vậy, thưa đại vương, là tỳ kheo biết đủ.

66. Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo biết đủ? Ở đây Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ðại vương, cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Ðại vương, vị Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Như vậy, này Ðại vương, là Tỷ-kheo biết đủ.

4.3.2.4. Nīvaraṇappahāna (Từ bỏ năm sự làm Mờ Yếu)

Được sống trong đời sống đạo đức cao thượng này, được thấm nhuần sự Tỉnh thức bảo vệ các giác quan cao thượng này, được thấm nhuần sự nhận biết rõ ràng cao thượng này, và được thấm nhuần sự biết đủ cao thượng này, vị ấy tìm đến một nơi ở vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, rừng sâu, bãi đất trống, hay đống rơm. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, vị ấy ngồi xếp bằng, giữ lưng thẳng, thiết lập sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) ở phía trước.

Vị ấy từ bỏ (đoạn trừ / pahāya) lòng tham ở đời, sống với tâm không còn lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham. Từ bỏ Ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), vị ấy sống với tâm không còn ác ý, thương xót đến hạnh phúc của mọi sinh vật và loài hữu tình, gột rửa tâm khỏi Ác ý hãm hại. Từ bỏ Uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thīnamiddha), vị ấy sống không còn Uể oải, buồn ngủ, luôn nhận thức luồng sáng, có sự Tự Quan Sátsự nhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi Uể oải, buồn ngủ. Từ bỏ Bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), vị ấy sống không bồn chồn, tâm được lắng dịu bên trong, gột rửa tâm khỏi Bồn chồn, hối hận. Từ bỏ Nghi ngờ (nghi / vicikicchā), vị ấy sống vượt qua Nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi Nghi ngờ.

Giống như, thưa đại vương, một người vay nợ để kinh doanh. Công việc kinh doanh của người ấy thành công. Người ấy trả hết các khoản nợ cũ, và còn dư tiền để nuôi dưỡng vợ con. Người ấy suy nghĩ: ‘Trước đây ta vay nợ để kinh doanh. Công việc kinh doanh của ta đã thành công. Ta đã trả hết các khoản nợ cũ, và còn dư tiền để nuôi dưỡng vợ con.’ Nhờ vậy, người ấy có được niềm vui sướng, đạt được sự thanh thản trong tâm (hỷ / somanassa).

Giống như, thưa đại vương, một người bị bệnh, đau đớn, ốm nặng; người ấy không ăn uống được, cơ thể không còn chút sức lực nào. Một thời gian sau, người ấy khỏi bệnh; người ấy ăn uống được, cơ thể phục hồi sức lực. Người ấy suy nghĩ: ‘Trước đây ta bị bệnh, đau đớn, ốm nặng; ta không ăn uống được, cơ thể không còn chút sức lực nào. Nay ta đã khỏi bệnh; ta ăn uống được, cơ thể đã phục hồi sức lực.’ Nhờ vậy, người ấy có được niềm vui sướng, đạt được sự thanh thản.

Giống như, thưa đại vương, một người bị nhốt trong nhà tù. Một thời gian sau, người ấy được thả ra khỏi nhà tù an toàn, bình yên, không bị mất mát chút tài sản nào. Người ấy suy nghĩ: ‘Trước đây ta bị nhốt trong nhà tù. Nay ta đã được thả ra khỏi nhà tù an toàn, bình yên, không bị mất mát chút tài sản nào.’ Nhờ vậy, người ấy có được niềm vui sướng, đạt được sự thanh thản trong tâm.

Giống như, thưa đại vương, một người là nô lệ, không được tự chủ, phụ thuộc vào người khác, không được đi lại theo ý muốn. Một thời gian sau, người ấy được giải phóng khỏi kiếp nô lệ, được tự chủ, không phụ thuộc vào người khác, là người tự do, được đi lại theo ý muốn. Người ấy suy nghĩ: ‘Trước đây ta là nô lệ, không được tự chủ, phụ thuộc vào người khác, không được đi lại theo ý muốn. Nay ta đã được giải phóng khỏi kiếp nô lệ, được tự chủ, không phụ thuộc vào người khác, là người tự do, được đi lại theo ý muốn.’ Nhờ vậy, người ấy có được niềm vui sướng, đạt được sự thanh thản trong tâm.

Giống như, thưa đại vương, một người có tiền, có tài sản, đi trên con đường sa mạc hoang vắng, thiếu thức ăn và đầy nguy hiểm. Một thời gian sau, người ấy vượt qua sa mạc đó an toàn, đến được rìa làng bình yên, không còn nguy hiểm. Người ấy suy nghĩ: ‘Trước đây ta có tiền, có tài sản, đi trên con đường sa mạc hoang vắng, thiếu thức ăn và đầy nguy hiểm. Nay ta đã vượt qua sa mạc đó an toàn, đến được rìa làng bình yên, không còn nguy hiểm.’ Nhờ vậy, người ấy có được niềm vui sướng, đạt được sự thanh thản trong tâm.

Cũng vậy, thưa đại vương, tỳ kheo khi thấy năm sự làm Mờ Yếu (triền cái / nīvaraṇa) này chưa được từ bỏ trong chính mình, thì giống như đang mắc nợ, giống như đang mắc bệnh, giống như đang ở trong nhà tù, giống như đang làm nô lệ, giống như đang đi trên con đường sa mạc.

Nhưng thưa đại vương, khi tỳ kheo thấy năm sự làm Mờ Yếu này đã được từ bỏ trong chính mình, thì giống như đã hết nợ, giống như đã khỏi bệnh, giống như đã thoát khỏi nhà tù, giống như đã thành người tự do, giống như đã đến vùng đất bình yên.

67. Vị ấy, với giới uẩn cao quý này, với sự hộ trì các căn cao quý này, với chánh niệm tỉnh giác cao quý này, với hạnh biết đủ cao quý này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.

68. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên; với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm, thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

69. Này Ðại vương, như một người mắc nợ, liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ.

70. Này Ðại vương, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

71. Này Ðại vương, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian, được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

72. Này Ðại vương, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy, sau một thời gian, thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Nay ta thoát cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

73. Này Ðại vương, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc, thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Người ấy, sau một thời gian đã đi khỏi sa mạc, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

74. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc. Này Ðại vương, cũng như không mắc nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn, này Ðại vương, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi diệt trừ chúng.

Khi thấy năm sự làm Mờ Yếu này đã được từ bỏ trong chính mình, niềm vui sướng sinh ra; từ niềm vui sướng, hân hoan (hỷ / pīti) sinh ra; với tâm hân hoan, cơ thể được lắng dịu; cơ thể lắng dịu thì cảm nhận hạnh phúc (lạc / sukha); người có hạnh phúc thì tâm đạt được Định.

4.3.2.5. Paṭhamajhāna (Thiền thứ nhất)

Vị ấy hoàn toàn rời-bỏ khỏi (ly / vivicca) các sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), hoàn toàn rời-bỏ khỏi những điều không thiện, đạt đến và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời-bỏ (viễn ly / viveka). Vị ấy làm cho cơ thể này thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa với hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời-bỏ, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được thấm nhuần bởi hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ.

Giống như, thưa đại vương, một người thợ tắm hay người học việc khéo léo rắc bột tắm vào một thau đồng, rồi rưới nước vào, nhào nặn cho đến khi cục bột tắm thấm đẫm độ ẩm, ngậm đầy độ ẩm, ướt sũng từ trong ra ngoài nhưng không bị nhỏ giọt; cũng vậy, thưa đại vương, tỳ kheo làm cho cơ thể này thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa với hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được thấm nhuần bởi hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

75. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

76. Này Ðại vương, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.2.6. Dutiyajhāna (Thiền thứ hai)

Lại nữa, thưa đại vương, với sự lắng dịu (diệt / vūpasama) của sự chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, tỳ kheo đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), có hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định, vị ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai. Vị ấy làm cho cơ thể này thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa với hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được thấm nhuần bởi hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định.

Giống như, thưa đại vương, một hồ nước sâu có mạch nước ngầm phun lên; hồ nước ấy không có dòng nước chảy vào từ phía đông, không có dòng nước chảy vào từ phía nam, không có dòng nước chảy vào từ phía tây, không có dòng nước chảy vào từ phía bắc, và trời cũng không đổ mưa. Nhưng dòng nước mát lạnh phun lên từ chính hồ nước ấy sẽ làm cho hồ nước thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa với nước mát lạnh, không một phần nào của toàn bộ hồ nước mà không được thấm nhuần bởi nước mát lạnh.

Cũng vậy, thưa đại vương, tỳ kheo làm cho cơ thể này thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa với hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được thấm nhuần bởi hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

77. Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

78. Này Ðại vương, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.2.7. Tatiyajhāna (Thiền thứ ba)

Lại nữa, thưa đại vương, với sự cạn sạch sự đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, tỳ kheo trú trong Tâm bình thản (xả / upekkhā), có sự Tự Quan Sátsự nhận biết rõ ràng, cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, trạng thái mà các bậc thánh gọi là: ‘Trú trong Tâm bình thản, có sự Tự Quan Sát, sống hạnh phúc’, vị ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba. Vị ấy làm cho cơ thể này thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa với sự hạnh phúc không còn hân hoan, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được thấm nhuần bởi hạnh phúc không còn hân hoan.

Giống như, thưa đại vương, trong một hồ hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng, có một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm dưới nước; từ ngọn cho đến rễ của chúng đều được thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa bởi nước mát lạnh, không một phần nào của toàn bộ những hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng ấy mà không được thấm nhuần bởi nước mát lạnh. Cũng vậy, thưa đại vương, tỳ kheo làm cho cơ thể này thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy và lan tỏa với hạnh phúc không còn hân hoan, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được thấm nhuần bởi hạnh phúc không còn hân hoan. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

79. Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và an trú thiền thứ ba. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

80. Này Ðại vương, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.2.8. Catutthajhāna (Thiền thứ tư)

Lại nữa, thưa đại vương, với sự hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúchoàn toàn từ bỏ đau khổ (khổ / dukkha), cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgama) của thanh thảnưu phiền từ trước, tỳ kheo đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái cảm giác không dễ chịu không khó chịu (bất lạc bất khổ / adukkhamasukhaṁ), có sự thanh tịnh của sự Tự Quan Sát nhờ Tâm bình thản. Vị ấy ngồi, lan tỏa toàn bộ cơ thể này với một tâm thanh tịnh và trong sáng, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được lan tỏa bởi tâm thanh tịnh và trong sáng.

Giống như, thưa đại vương, một người ngồi trùm kín cả đầu bằng một tấm vải trắng, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được trùm kín bởi tấm vải trắng; cũng vậy, thưa đại vương, tỳ kheo ngồi, lan tỏa toàn bộ cơ thể này với một tâm thanh tịnh và trong sáng, không một phần nào của toàn bộ cơ thể mà không được lan tỏa bởi tâm thanh tịnh và trong sáng. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

81. Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

82. Này Ðại vương, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3. Aṭṭhañāṇa (Tám loại Trí)

4.3.3.1. Vipassanāñāṇa (Trí Tuệ Quán)

Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi những cấu uế, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí tuệ thấy rõ bản chất (tri kiến / dassanā). Vị ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) như sau: ‘Cơ thể này của ta là vật chất, cấu tạo từ bốn nguyên tố (đại / mahābhūta), sinh ra từ cha mẹ, được nuôi dưỡng bằng cơm và cháo, có bản chất vô thường, phải xoa bóp, đấm bóp, dễ vỡ vụn và tan rã; và sự Nhận biết (thức / viññāṇa) của ta nương tựa vào đây, trói buộc vào đây.’

Giống như, thưa đại vương, một viên ngọc lưu ly tuyệt đẹp, tự nhiên, có tám mặt, được mài giũa khéo léo, trong suốt, sáng sủa, không vẩn đục, hoàn hảo về mọi mặt. Xuyên qua nó là một sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hay màu vàng nhạt. Một người có mắt sáng cầm nó trên tay và quan sát: ‘Đây là viên ngọc lưu ly tuyệt đẹp, tự nhiên, có tám mặt, được mài giũa khéo léo, trong suốt, sáng sủa, không vẩn đục, hoàn hảo về mọi mặt; và xuyên qua nó là sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hay màu vàng nhạt này.’

Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi những cấu uế, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, tỳ kheo hướng tâm và nghiêng tâm về trí tuệ thấy rõ bản chất. Vị ấy thấy rõ như sau: ‘Cơ thể này của ta là vật chất, cấu tạo từ bốn nguyên tố, sinh ra từ cha mẹ, được nuôi dưỡng bằng cơm và cháo, có bản chất vô thường, phải xoa bóp, đấm bóp, dễ vỡ vụn và tan rã; và sự Nhận biết của ta nương tựa vào đây, trói buộc vào đây.’ Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

83. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.

84. Này Ðại vương, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi giây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi giây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu và thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.2. Manomayiddhiñāṇa (Trí Thần Thông Ý Sinh)

Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi những cấu uế, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về việc tạo ra một cơ thể tạo ra từ tâm trí ([!] ý sinh / manomaya). Từ cơ thể này, vị ấy tạo ra một cơ thể khác, có hình thể, tạo ra từ tâm trí, đầy đủ các bộ phận và tay chân, không thiếu một giác quan nào.

Giống như, thưa đại vương, một người rút cọng cỏ lau ra khỏi bẹ. Người ấy suy nghĩ: ‘Đây là bẹ, đây là cọng cỏ lau; bẹ là một thứ, cọng cỏ lau là một thứ khác, nhưng cọng cỏ lau được rút ra từ chính cái bẹ.’ Hay giống như, thưa đại vương, một người rút thanh kiếm ra khỏi vỏ. Người ấy suy nghĩ: ‘Đây là thanh kiếm, đây là vỏ kiếm; thanh kiếm là một thứ, vỏ kiếm là một thứ khác, nhưng thanh kiếm được rút ra từ chính vỏ kiếm.’ Hay giống như, thưa đại vương, một người bắt con rắn ra khỏi giỏ. Người ấy suy nghĩ: ‘Đây là con rắn, đây là cái giỏ; con rắn là một thứ, cái giỏ là một thứ khác, nhưng con rắn được bắt ra từ chính cái giỏ.’

Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về việc tạo ra một cơ thể tạo ra từ tâm trí. Từ cơ thể này, vị ấy tạo ra một cơ thể khác, có hình thể, tạo ra từ tâm trí, đầy đủ các bộ phận và tay chân, không thiếu một giác quan nào. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

85. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.

86. Này Ðại vương, ví như mọt người rút một cây lau ra ngoài vỏ. Người ấy nghĩ: Ðây là vỏ, đây là cây lau; vỏ khác, cây lau khác và cây lau từ vỏ rút ra. Này Ðại vương, ví như một người rút thanh kiếm từ bao kiếm; thanh kiếm khác, bao kiếm khác, và thanh kiếm từ nơi bao kiếm rút ra. Này Ðại vương, ví như một người lột xác một con rắn. Người ấy nghĩ: Ðây là con rắn, đây là xác rắn, con rắn khác, xác rắn khác, và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến sự hiện hóa một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý tạo thành, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.3. Iddhividhañāṇa (Trí Thần Túc)

Khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về các loại thần thông ([!] thần túc / iddhividha). Vị ấy trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau: từ một thân biến thành nhiều thân, từ nhiều thân biến thành một thân; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua tường, xuyên qua rào, xuyên qua núi mà không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên từ mặt đất như ở trong nước; đi trên mặt nước mà không chìm như đi trên mặt đất; ngồi kiết già bay trên không trung như con chim có cánh; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng, những vật có sức mạnh và uy lực lớn lao như vậy bằng chính bàn tay của mình; vị ấy có thể vươn quyền lực của cơ thể lên tận cõi Phạm thiên.

Giống như, thưa đại vương, một người thợ gốm hay người học việc khéo léo, với đất sét đã được nhào nặn kỹ, có thể làm ra và tạo hình bất cứ loại đồ gốm nào mà người ấy muốn. Hay giống như, thưa đại vương, một người thợ chạm ngà hay người học việc khéo léo, với ngà voi đã được chuẩn bị kỹ, có thể làm ra và tạo hình bất cứ món đồ ngà nào mà người ấy muốn. Hay giống như, thưa đại vương, một người thợ vàng hay người học việc khéo léo, với vàng đã được tinh luyện kỹ, có thể làm ra và tạo hình bất cứ món đồ vàng nào mà người ấy muốn.

Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về các loại thần thông. Vị ấy trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau… vị ấy có thể vươn quyền lực của cơ thể lên tận cõi Phạm thiên. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

87. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

88. Này Ðại vương, ví như một người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người thợ gốm, với đất sét khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử người thợ ngà, với ngà khéo đẽo dũa có thể làm các loại đồ ngà tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như người thợ vàng khéo tay hay đệ tử người thợ vàng, với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm các loại đồ vàng tùy theo sở thích. Cũng vậy này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các thần thông một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như còn chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

Này Ðại vương đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.4. Dibbasotañāṇa (Trí Thiên Nhĩ)

Khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về tai thần thánh ([!] thiên nhĩ / dibbasota). Với tai thần thánh thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh: âm thanh của chư thiên và âm thanh của con người, dù ở xa hay ở gần.

Giống như, thưa đại vương, một người đang đi trên một chặng đường dài. Người ấy nghe thấy tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tù và, tiếng chũm chọe và tiếng cồng. Người ấy suy nghĩ: ‘Đây là tiếng trống lớn’, ‘Đây là tiếng trống nhỏ’, ‘Đây là tiếng tù và, tiếng chũm chọe và tiếng cồng’.

Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về tai thần thánh. Với tai thần thánh thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh: âm thanh của chư thiên và âm thanh của con người, dù ở xa hay ở gần. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

89. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.

90. Này Ðại vương, ví như một người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng loa, tiếng xập xõa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: “Ðây là tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng xập xõa, tiếng kiểng”. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.5. Cetopariyañāṇa (Trí Tha Tâm)

Khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí thấu hiểu tâm người khác ([!] tha tâm / cetopariya). Vị ấy dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của những chúng sinh khác, những người khác, và thấy rõ: tâmđắm nhiễm (tham / rāga), vị ấy thấy rõ ‘tâm có đắm nhiễm’; tâm không có đắm nhiễm, vị ấy thấy rõ ‘tâm không có đắm nhiễm’; tâmÁc ý hãm hại, vị ấy thấy rõ ‘tâm có Ác ý hãm hại’; tâm không có Ác ý hãm hại, vị ấy thấy rõ ‘tâm không có Ác ý hãm hại’; tâm có Sự u mê (si / moha), vị ấy thấy rõ ‘tâm có Sự u mê’; tâm không có Sự u mê, vị ấy thấy rõ ‘tâm không có Sự u mê’; tâm co rút, vị ấy thấy rõ ‘tâm co rút’; tâm phân tán, vị ấy thấy rõ ‘tâm phân tán’; tâm mở rộng, vị ấy thấy rõ ‘tâm mở rộng’; tâm không mở rộng, vị ấy thấy rõ ‘tâm không mở rộng’; tâm còn có trạng thái cao hơn, vị ấy thấy rõ ‘tâm còn có trạng thái cao hơn’; tâm không còn trạng thái cao hơn, vị ấy thấy rõ ‘tâm không còn trạng thái cao hơn’; tâm có Định, vị ấy thấy rõ ‘tâm có Định’; tâm không có Định, vị ấy thấy rõ ‘tâm không có Định’; tâm được giải thoát, vị ấy thấy rõ ‘tâm được giải thoát’; tâm chưa được giải thoát, vị ấy thấy rõ ‘tâm chưa được giải thoát’.

Giống như, thưa đại vương, một người phụ nữ, một người đàn ông, hay một thanh niên trẻ tuổi thích trang điểm, đang soi bóng khuôn mặt mình trong một chiếc gương sạch sẽ, sáng bóng, hay trong một bát nước trong vắt; nếu mặt có nốt ruồi, người ấy biết ‘có nốt ruồi’; nếu mặt không có nốt ruồi, người ấy biết ‘không có nốt ruồi’. Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí thấu hiểu tâm người khác. Vị ấy dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của những chúng sinh khác, những người khác, và thấy rõ… Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

91. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:

Tâm có tham, biết là tâm có tham. Tâm không có tham, biết là tâm không có tham. Tâm có sân, biết là tâm có sân. Tâm không có sân, biết là tâm không có sân. Tâm có si, biết là tâm có si. Tâm không có si, biết là tâm không có si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng, Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng. Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định. Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát. 92. Này Ðại vương, ví như một người đàn bà, một người đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một thanh niên ưa trang sức, nhìn mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng suốt hay một chậu nước trong. Nếu mặt có tỳ vết, liền biết mặt có tỳ vết; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt không có tỳ vết. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của mọi người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:

Tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không có tham, biết tâm không có tham. Tâm có sân biết tâm có sân. Tâm không có sân, biết tâm không có sân. Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không có si, biết tâm không có si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải là đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng. Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định. Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát.

4.3.3.6. Pubbenivāsānussatiñāṇa (Trí Túc Mạng Minh)

Khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí nhớ lại các đời sống quá khứ ([!] túc mạng minh / pubbenivāsānussati). Vị ấy nhớ lại vô số đời sống quá khứ, cụ thể là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ thế giới co lại, nhiều chu kỳ thế giới giãn ra, nhiều chu kỳ thế giới co lại và giãn ra: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, thuộc dòng họ như thế này, có ngoại hình như thế này, ăn thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, có tuổi thọ như thế này; sau khi chết ở đó, ta tái sinh ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta có tên như thế này, thuộc dòng họ như thế này, có ngoại hình như thế này, ăn thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, có tuổi thọ như thế này; sau khi chết ở đó, ta tái sinh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại vô số đời sống quá khứ cùng với các chi tiết và bối cảnh.

Giống như, thưa đại vương, một người đi từ ngôi làng của mình đến một ngôi làng khác, rồi từ ngôi làng đó đi đến một ngôi làng khác nữa. Sau đó, người ấy từ ngôi làng đó trở về chính ngôi làng của mình. Người ấy suy nghĩ: ‘Ta đã đi từ ngôi làng của mình đến ngôi làng kia; ở đó ta đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này; rồi từ ngôi làng đó ta đi đến ngôi làng nọ; ở đó ta cũng đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này; và từ ngôi làng đó ta đã trở về chính ngôi làng của mình.’

Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí nhớ lại các đời sống quá khứ. Vị ấy nhớ lại vô số đời sống quá khứ… cùng với các chi tiết và bối cảnh. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

93. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

94. Này Ðại vương, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình. Người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Như vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp và thành kiếp. Vị ấy nhớ: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra chỗ nọ, tại đây, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.7. Dibbacakkhuñāṇa (Trí Thiên Nhãn)

Khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí biết sự chết và sự Tái sinh (sinh / jāti) của chúng sinh. Với mắt thần thánh ([!] thiên nhãn / dibbacakkhu) thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, vị ấy nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và tái sinh, thấp kém hay cao quý, xinh đẹp hay xấu xí, sinh vào cõi lành hay cõi dữ; vị ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo nghiệp lực của mình: ‘Những chúng sinh này đã có hành động không thiện về cơ thể, hành động không thiện về lời nói, hành động không thiện về ý nghĩ, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai lầm, và hành động theo quan điểm sai lầm. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, cõi đọa đày, địa ngục. Nhưng những chúng sinh kia đã có hành động thiện về cơ thể, hành động thiện về lời nói, hành động thiện về ý nghĩ, không phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm đúng đắn, và hành động theo quan điểm đúng đắn. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi lành, cõi trời.’ Như vậy, với mắt thần thánh thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, vị ấy nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và tái sinh… vị ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo nghiệp lực của mình.

Giống như, thưa đại vương, có một tòa nhà nằm ở ngã tư đường. Một người có mắt sáng đứng ở đó có thể nhìn thấy mọi người đang đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi lại trên đường phố, và ngồi ở ngã tư đường. Người ấy suy nghĩ: ‘Những người này đang đi vào nhà, những người này đang đi ra, những người này đang đi lại trên đường phố, những người này đang ngồi ở ngã tư đường.’

Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí biết sự chết và sự Tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần thánh thanh tịnh… vị ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo nghiệp lực của mình. Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó.

95. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí huệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: “Này các Hiền giả, những Tôn giả này làm những điều ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.

96. Này Ðại vương, ví như một tòa lầu có thượng đài, giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: “Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa ngã tư, trên đài thượng”. Cũng vậy, này Ðại vương với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh.

Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: Này các Hiền giả, những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.8. Āsavakkhayañāṇa (Trí Lậu Tận)

Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, thoát khỏi những cấu uế, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí biết sự cạn sạch (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava). Vị ấy thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’; thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành (tập / samudaya) của đau khổ’; thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodha) đau khổ’; thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’. Vị ấy thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là các nguồn ác’; thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’; thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các nguồn ác’; thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác’. Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của ham muốn giác quan (dục lậu / kāmāsava), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava). Khi đã được giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy thấy rõ: ‘sự Tái sinh đã cạn sạch, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

Giống như, thưa đại vương, một hồ nước trên núi, trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục. Một người có mắt sáng đứng trên bờ có thể nhìn thấy vỏ trai, vỏ ốc, sỏi đá, và các đàn cá đang bơi lội hay đứng yên. Người ấy suy nghĩ: ‘Hồ nước này trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục. Trong đó có vỏ trai, vỏ ốc, sỏi đá, và các đàn cá đang bơi lội hay đứng yên.’

Cũng vậy, thưa đại vương, khi tâm đã được định tĩnh… vị ấy hướng tâm và nghiêng tâm về trí biết sự cạn sạch các nguồn ác. Vị ấy thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’… Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của ham muốn giác quan, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết. Khi đã được giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy thấy rõ: ‘sự Tái sinh đã cạn sạch, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Đây cũng là, thưa đại vương, một thành quả của người tu thiết thực hiện tại, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại trước đó. Và thưa đại vương, không có một thành quả của người tu thiết thực hiện tại nào khác cao thượng hơn hay tốt đẹp hơn những thành quả của người tu thiết thực hiện tại này."

97. “Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật “đây là khổ”, biết như thật “đây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật “đây là khổ diệt”, biết như thật “đây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật “đây là những lậu hoặc”, biết như thật “đây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật “đây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật “đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.

98. Này Ðại vương, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật “đây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật “đây là khổ diệt”, biết như thật “đây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật “đây là những lậu hoặc”, biết như thật “đây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật “đây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật “đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước. Này Ðại vương, không có một quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn nào vi diệu và thù thắng hơn quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn này.

5. Ajātasattuupāsakattapaṭivedanā (Vua Ajātasattu xin làm cư sĩ)

Khi được nói như vậy, vua Magadha là Ajātasattu, con bà Vedehi, thưa với Thế Tôn: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Giống như người dựng đứng lại những gì đã bị lật úp, phơi bày ra những gì đã bị che giấu, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng soi vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy hình ảnh; cũng vậy, bạch Thế Tôn, Điều dạy đã được Thế Tôn làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Điều dạy và quy y Tăng đoàn. Xin Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.

Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã vượt qua con, thật ngu xuẩn, thật u mê, thật không thiện, khi vì vương quyền mà con đã tước đoạt mạng sống của phụ vương con, một vị vua công chính, cai trị theo Lẽ phải. Xin Thế Tôn nhận lỗi lầm của con là một lỗi lầm, để con có thể chế ngự lỗi lầm trong tương lai."

“Thật vậy, thưa đại vương, một lỗi lầm đã vượt qua ông, thật ngu xuẩn, thật u mê, thật không thiện, khi ông đã tước đoạt mạng sống của phụ vương mình, một vị vua công chính, cai trị theo Lẽ phải. Nhưng vì ông, thưa đại vương, đã thấy lỗi lầm là một lỗi lầm và sửa chữa nó theo điều đúng đắn, nên Ta chấp nhận điều đó từ ông. Thưa đại vương, sự tiến bộ trong kỷ luật của bậc thánh chính là việc một người thấy lỗi lầm là một lỗi lầm, sửa chữa nó theo đúng Lẽ phải, và đạt được sự chế ngự lỗi lầm trong tương lai.”

Khi được nói như vậy, vua Magadha là Ajātasattu, con bà Vedehi, thưa với Thế Tôn: “Bây giờ, bạch Thế Tôn, chúng con xin phép được ra về, chúng con có nhiều việc phải làm, nhiều bổn phận phải thực hiện.”

“Thưa đại vương, hãy làm những gì ông cho là đúng lúc.”

Sau đó, vua Magadha là Ajātasattu, con bà Vedehi, vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinandunti) và tán thán lời Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Ngay sau khi vua Magadha là Ajātasattu, con bà Vedehi rời đi không lâu, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, nhà vua này đã bị tổn hại. Này các tỳ kheo, nhà vua này đã bị hủy hoại. Này các tỳ kheo, nếu nhà vua không tước đoạt mạng sống của phụ vương mình, một vị vua công chính, cai trị theo Lẽ phải, thì ngay tại chỗ ngồi này, con mắt Chân lý không bụi, không vết nhơ đã được sinh lên từ ông ta rồi.”

Thế Tôn nói như vậy. Các tỳ kheo hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc bài kinh Sāmaññaphala thứ hai.

99. Ðược nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: “Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chúng, con trọn đời quy ngưỡng. Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chơn chánh, để đạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn chận về tương lai”.

100. - Ðại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Ðại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chơn chánh, để đoạt vương quyền. Vì Ðại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng với Chánh pháp, Ta nhận tội ấy cho Ðại vương. Ðó là một sự tiến bộ, này Ðại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, thú tội đúng với Chánh pháp, và ngăn chận ở tương lai.

101. Ðược nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải cáo từ, chúng con có nhiều bổn phận, nhiều việc phải làm”.

− Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ ra là phải thời.

Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.

102. Lúc bấy giờ, khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi chưa bao lâu, Thế Tôn liền bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất ăn năn, này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất hối lỗi. Nếu vua ấy không hại mạng vua cha, một vị vua rất chân chánh, thì tại ngay chỗ ngồi này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn, không trần cấu, không ô uế.

Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-