DN 33. KINH TỤNG ĐỌC CÙNG NHAU
(Saṅgītisutta)
Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Malla cùng với một đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, Ngài đi đến một thị trấn của người Malla tên là Pāvā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Pāvā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.
Lúc bấy giờ, những người Malla ở Pāvā vừa mới xây dựng xong một hội trường mới tên là Ubbhataka, chưa từng có một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người phàm nào sử dụng. Những người Malla ở Pāvā nghe tin: “Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Malla cùng với một đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Pāvā và đang trú ở Pāvā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.” Rồi những người Malla ở Pāvā đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, những người Malla ở Pāvā bạch Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, ở đây những người Malla ở Pāvā vừa mới xây dựng xong một hội trường mới tên là Ubbhataka, chưa từng có một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người phàm nào sử dụng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy là người đầu tiên sử dụng nó; sau khi Thế Tôn sử dụng đầu tiên, những người Malla ở Pāvā sẽ sử dụng sau. Điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho những người Malla ở Pāvā.” Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng.
Rồi những người Malla ở Pāvā, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi đi đến hội trường; sau khi đến, họ trải thảm khắp hội trường, sắp đặt chỗ ngồi cho Thế Tôn, đặt một vại nước, thắp một ngọn đèn dầu, rồi đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, những người Malla ở Pāvā bạch Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải thảm khắp nơi, chỗ ngồi cho Thế Tôn đã được sắp đặt, vại nước đã được đặt, đèn dầu đã được thắp. Bây giờ, bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài cho là đúng lúc.”
Rồi Thế Tôn đắp y, mang theo y bát, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến hội trường; sau khi đến, Ngài rửa chân, bước vào hội trường, tựa lưng vào cây cột ở giữa và ngồi quay mặt về hướng Đông. Đại chúng Tỳ-kheo cũng rửa chân, bước vào hội trường, tựa lưng vào bức tường phía Tây và ngồi quay mặt về hướng Đông, để Thế Tôn ở phía trước. Những người Malla ở Pāvā cũng rửa chân, bước vào hội trường, tựa lưng vào bức tường phía Đông và ngồi quay mặt về hướng Tây, để Thế Tôn ở phía trước.
Rồi Thế Tôn dùng bài thuyết giảng Quy luật (pháp / dhamma) để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỷ những người Malla ở Pāvā cho đến tận đêm khuya, rồi Ngài cho họ cáo lui: “Đêm đã khuya rồi, này các Vāseṭṭha. Bây giờ các vị hãy làm những gì các vị cho là đúng lúc.”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” những người Malla ở Pāvā vâng đáp Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.
Rồi Thế Tôn, không lâu sau khi những người Malla ở Pāvā rời đi, nhìn quanh đại chúng Tỳ-kheo đang hoàn toàn im lặng, liền gọi Tôn giả Sāriputta: “Này Sāriputta, đại chúng Tỳ-kheo đã thoát khỏi uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha). Này Sāriputta, hãy để một bài thuyết giảng Quy luật khởi lên trong ông dành cho các Tỳ-kheo. Lưng của ta bị đau. Ta sẽ kéo giãn nó.”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Sāriputta vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn gấp y saṅghāṭi làm tư, nằm xuống theo dáng nằm của sư tử nghiêng về hông bên phải, đặt chân này lên chân kia, thiết lập chú tâm và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), hướng ý nghĩ (tác ý / manasi karitvā) đến nhận thức (tưởng / saññaṁ) về việc thức dậy.
Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời tại Pāvā. Sau khi ông qua đời, những người Nigaṇṭha bị chia rẽ, tách làm hai phe, sinh ra cãi vã, sinh ra xung đột, rơi vào tranh cãi (tranh luận / vivāda), dùng những lời nói như vũ khí đâm xỉa lẫn nhau: “Ông không hiểu Quy luật và Kỷ luật (pháp luật / dhammavinaya) này, tôi mới hiểu Quy luật và Kỷ luật này. Làm sao ông có thể hiểu Quy luật và Kỷ luật này được? Ông thực hành sai, tôi thực hành đúng. Lời của tôi có lý, lời của ông không có lý. Điều cần nói trước ông lại nói sau, điều cần nói sau ông lại nói trước. Những gì ông quen làm đã bị đảo lộn, quan điểm của ông đã bị bác bỏ, ông đã bị đánh bại, hãy đi tìm cách thoát khỏi sự bác bỏ, hoặc hãy gỡ rối đi nếu ông có thể.”
Dường như chỉ có sự chém giết đang diễn ra giữa những người Nigaṇṭha, đệ tử của Nāṭaputta. Ngay cả những đệ tử cư sĩ mặc áo trắng của Nigaṇṭha Nāṭaputta cũng tỏ ra chán ngán, xa lánh, và phản đối những người Nigaṇṭha, đệ tử của Nāṭaputta, bởi vì Quy luật và Kỷ luật đó được tuyên thuyết tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không dẫn đến sự thoát ly, không dẫn đến sự lắng dịu (chỉ / upasamasaṁvattanike), không được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, tháp miếu bị phá vỡ, không có nơi nương tựa.
Rồi Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ-kheo: "Này các hiền giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời tại Pāvā. Sau khi ông qua đời, những người Nigaṇṭha bị chia rẽ, tách làm hai phe […lặp lại…] tháp miếu bị phá vỡ, không có nơi nương tựa. Này các hiền giả, sự việc xảy ra như vậy là đối với một Quy luật và Kỷ luật được tuyên thuyết tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không dẫn đến sự thoát ly, không dẫn đến sự lắng dịu, không được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Nhưng này các hiền giả, Quy luật của Thế Tôn chúng ta được tuyên thuyết khéo léo, được trình bày khéo léo, dẫn đến sự thoát ly, dẫn đến sự lắng dịu, được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau (kết tập / saṅgāyitabbaṁ), không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Và này các hiền giả, thế nào là Quy luật của Thế Tôn chúng ta được tuyên thuyết khéo léo, được trình bày khéo léo, dẫn đến sự thoát ly, dẫn đến sự lắng dịu, được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau, không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người?