Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 33. KINH TỤNG ĐỌC CÙNG NHAU

(Saṅgītisutta)

Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Malla cùng với một đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, Ngài đi đến một thị trấn của người Malla tên là Pāvā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Pāvā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.

Lúc bấy giờ, những người Malla ở Pāvā vừa mới xây dựng xong một hội trường mới tên là Ubbhataka, chưa từng có một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người phàm nào sử dụng. Những người Malla ở Pāvā nghe tin: “Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Malla cùng với một đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Pāvā và đang trú ở Pāvā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.” Rồi những người Malla ở Pāvā đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, những người Malla ở Pāvā bạch Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, ở đây những người Malla ở Pāvā vừa mới xây dựng xong một hội trường mới tên là Ubbhataka, chưa từng có một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người phàm nào sử dụng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy là người đầu tiên sử dụng nó; sau khi Thế Tôn sử dụng đầu tiên, những người Malla ở Pāvā sẽ sử dụng sau. Điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho những người Malla ở Pāvā.” Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng.

Rồi những người Malla ở Pāvā, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi đi đến hội trường; sau khi đến, họ trải thảm khắp hội trường, sắp đặt chỗ ngồi cho Thế Tôn, đặt một vại nước, thắp một ngọn đèn dầu, rồi đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, những người Malla ở Pāvā bạch Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải thảm khắp nơi, chỗ ngồi cho Thế Tôn đã được sắp đặt, vại nước đã được đặt, đèn dầu đã được thắp. Bây giờ, bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài cho là đúng lúc.”

Rồi Thế Tôn đắp y, mang theo y bát, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến hội trường; sau khi đến, Ngài rửa chân, bước vào hội trường, tựa lưng vào cây cột ở giữa và ngồi quay mặt về hướng Đông. Đại chúng Tỳ-kheo cũng rửa chân, bước vào hội trường, tựa lưng vào bức tường phía Tây và ngồi quay mặt về hướng Đông, để Thế Tôn ở phía trước. Những người Malla ở Pāvā cũng rửa chân, bước vào hội trường, tựa lưng vào bức tường phía Đông và ngồi quay mặt về hướng Tây, để Thế Tôn ở phía trước.

Rồi Thế Tôn dùng bài thuyết giảng Quy luật (pháp / dhamma) để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỷ những người Malla ở Pāvā cho đến tận đêm khuya, rồi Ngài cho họ cáo lui: “Đêm đã khuya rồi, này các Vāseṭṭha. Bây giờ các vị hãy làm những gì các vị cho là đúng lúc.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” những người Malla ở Pāvā vâng đáp Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Rồi Thế Tôn, không lâu sau khi những người Malla ở Pāvā rời đi, nhìn quanh đại chúng Tỳ-kheo đang hoàn toàn im lặng, liền gọi Tôn giả Sāriputta: “Này Sāriputta, đại chúng Tỳ-kheo đã thoát khỏi uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha). Này Sāriputta, hãy để một bài thuyết giảng Quy luật khởi lên trong ông dành cho các Tỳ-kheo. Lưng của ta bị đau. Ta sẽ kéo giãn nó.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Sāriputta vâng đáp Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn gấp y saṅghāṭi làm tư, nằm xuống theo dáng nằm của sư tử nghiêng về hông bên phải, đặt chân này lên chân kia, thiết lập chú tâmnhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), hướng ý nghĩ (tác ý / manasi karitvā) đến nhận thức (tưởng / saññaṁ) về việc thức dậy.

Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời tại Pāvā. Sau khi ông qua đời, những người Nigaṇṭha bị chia rẽ, tách làm hai phe, sinh ra cãi vã, sinh ra xung đột, rơi vào tranh cãi (tranh luận / vivāda), dùng những lời nói như vũ khí đâm xỉa lẫn nhau: “Ông không hiểu Quy luật và Kỷ luật (pháp luật / dhammavinaya) này, tôi mới hiểu Quy luật và Kỷ luật này. Làm sao ông có thể hiểu Quy luật và Kỷ luật này được? Ông thực hành sai, tôi thực hành đúng. Lời của tôi có lý, lời của ông không có lý. Điều cần nói trước ông lại nói sau, điều cần nói sau ông lại nói trước. Những gì ông quen làm đã bị đảo lộn, quan điểm của ông đã bị bác bỏ, ông đã bị đánh bại, hãy đi tìm cách thoát khỏi sự bác bỏ, hoặc hãy gỡ rối đi nếu ông có thể.”

Dường như chỉ có sự chém giết đang diễn ra giữa những người Nigaṇṭha, đệ tử của Nāṭaputta. Ngay cả những đệ tử cư sĩ mặc áo trắng của Nigaṇṭha Nāṭaputta cũng tỏ ra chán ngán, xa lánh, và phản đối những người Nigaṇṭha, đệ tử của Nāṭaputta, bởi vì Quy luật và Kỷ luật đó được tuyên thuyết tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không dẫn đến sự thoát ly, không dẫn đến sự lắng dịu (chỉ / upasamasaṁvattanike), không được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, tháp miếu bị phá vỡ, không có nơi nương tựa.

Rồi Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ-kheo: "Này các hiền giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời tại Pāvā. Sau khi ông qua đời, những người Nigaṇṭha bị chia rẽ, tách làm hai phe […lặp lại…] tháp miếu bị phá vỡ, không có nơi nương tựa. Này các hiền giả, sự việc xảy ra như vậy là đối với một Quy luật và Kỷ luật được tuyên thuyết tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không dẫn đến sự thoát ly, không dẫn đến sự lắng dịu, không được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Nhưng này các hiền giả, Quy luật của Thế Tôn chúng ta được tuyên thuyết khéo léo, được trình bày khéo léo, dẫn đến sự thoát ly, dẫn đến sự lắng dịu, được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau (kết tập / saṅgāyitabbaṁ), không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Và này các hiền giả, thế nào là Quy luật của Thế Tôn chúng ta được tuyên thuyết khéo léo, được trình bày khéo léo, dẫn đến sự thoát ly, dẫn đến sự lắng dịu, được tuyên thuyết bởi một Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau, không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người?

33. KINH PHÚNG TỤNG

(Sangìti Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Tụng Phẩm I

1. Một thời Thế Tôn du hành giữa dân tộc Mallà cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Ngài đến tại thành của dân chúng Mallà tên là Pàvà và trú tại đấy. Thế Tôn trú tại Pàvà trong rừng xoài của thợ rèn Cunda.

2. Lúc bấy giờ, một hội trường tên là Ubbhataka mới được dựng lên giữa dân chúng Mallà, trú ở Pàvà, và hội trường này chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác an trú. Dân chúng Mallà ở Pàvà được nghe: “Thế Tôn du hành giữa dân tộc Mallà, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Ngài đến tại Pàvà, trú tại đấy, trong rừng xoài của thợ rèn Cunda”. Rồi các vị Mallà ở Pàvà đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, ở đây một hội trường tên là Ubbhataka mới được dựng lên giữa dân chúng Mallà ở Pàvà, và hội trường này chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác an trú. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn là người đến dùng hội trường này trước tiên. Nhờ Thế Tôn dùng trước tiên, dân chúng Mallà ở Pàvà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài.

Thế Tôn im lặng nhận lời.

3. Rồi các vị Mallà ở Pàvà, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng đến Ngài, từ tạ đi đến hội trường. Sau khi đến, liền dùng đệm trải khắp tất cả, sửa soạn các ghế ngồi, đặt sẵn một ghè nước, treo cây đèn dầu, rồi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, các vị này đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, các vị Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải nệm tất cả, các ghế ngồi đã được sửa soạn, ghè nước đã được đặt sẵn, cây đèn dầu đã được treo lên, Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.

4. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại hội trường. Khi đến xong Ngài rửa chân và vào hội trường. Thế Tôn ngồi dựa trên cột chính giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, vào hội trường, ngồi dựa trên bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, sau lưng Thế Tôn. Các vị Mallà ở Pàvà cũng rửa chân, đi vào hội trường, và ngồi xuống, dựa vào bức tường phía Ðông, mặt hướng phía Tây, trước mặt có Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, cho đến đêm thật khuya, thuyết pháp cho dân Mallà ở Pàvà, giảng dạy, giải thích, khích lệ, làm cho hứng khởi rồi bảo các vị ấy về:

− Này Vàsetthà, đêm đã quá khuya. Các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi xem là phải thời.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Các vị Mallà ở Pàvà vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và ra đi.

5. Thế Tôn, khi dân Mallà đi chưa bao lâu, nhìn chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, rồi bảo tôn giả Sàriputta:

− Này Sàriputta, chúng Tỷ-kheo không có hôn trầm thụy miên. Này Sàriputta, hãy thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo. Ta cảm thấy đau lưng! Ta muốn nằm nghỉ.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn! - Tôn giả Sàriputta vâng lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn và nằm xuống như cách nằm con sư tử, thân phía hữu, hai chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, với tâm nghĩ đến lúc ngồi dậy.

6. Lúc bấy giờ, Niganthà Nàthaputta vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Niganthà chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng: “Ngươi không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ngươi có thể biết Pháp và Luật này? Người theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Ðiều đáng nói trớưc, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Ðiều Ngươi quan niệm trình bày đã bị đảo lộn. Quan niệm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được”. Hình như các đệ tử của Niganthà Nàthaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nàthaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm và phản đối các vị Nigantha, vì Pháp và Luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.

7. Rồi tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:

− Này Hiền giả, Niganthà Nàthaputta vừa mới từ trần không bao lâu. Sau khi vị này từ trần, các Nigantha (Ni-kiền-tử) chia làm hai phe… và không có chỗ y chỉ.

Nhưng với chúng ta, này các Hiền giả, pháp này được Thế Tôn khéo giảng dạy, khéo trình bày, một Chánh pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác trình bày. Ở đây, tất cả mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Này các Hiền giả, thế nào là Pháp được Thế Tôn chúng ta khéo giảng dạy, khéo trình bày, một pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh do vị Chánh Ðẳng Giác trình bày? Ở đây, tất cả cần phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Này các Hiền giả, có một pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị này đã biết, đã thấy, bậc A-lahán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

1. Nhóm Một (Ekaka)

Này các hiền giả, có một Điều (pháp / dhammo) đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau, không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Một Điều đó là gì?

Tất cả chúng sinh được duy trì bởi thức ăn.

Tất cả chúng sinh được duy trì bởi các điều kiện.

Này các hiền giả, đây là một Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau, không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Một pháp

8. Thế nào là một pháp? Tất cả loài hữu tình do các món ăn (àhàra) mà an trú, tất cả loài hữu tình do các hành (samkhàrà) mà an trú. Này các Hiền giả, đó là một pháp được Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng một cách chơn chánh. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

2. Nhóm Hai (Duka)

Này các hiền giả, có hai Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau, không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Hai Điều đó là gì?

Danh–sắc (nāmañca rūpañca).

Không Hiểu Biết (vô minh / avijjā) và sự thèm khát tồn tại (hữu ái / bhavataṇhā).

Quan điểm tồn tại mãi mãi (hữu kiến / bhavadiṭṭhi) và quan điểm hư vô (phi hữu kiến / vibhavadiṭṭhi).

Không biết xấu hổ (vô tàm / ahirika) và không biết sợ lỗi (vô quý / anottappa).

Biết xấu hổ và biết sợ lỗi.

Sự khó dạy và sự kết bạn với người ác.

Sự dễ dạy và sự kết bạn với người thiện.

Sự khéo léo về các lỗi lầm và sự khéo léo về cách thoát khỏi lỗi lầm.

Sự khéo léo về việc nhập định và sự khéo léo về cách xuất định.

Sự khéo léo về các nguyên tố (giới / dhātu) và sự khéo léo về suy nghĩ (tác ý / manasikāra).

Sự khéo léo về các trường (xứ / āyatana) và sự khéo léo về sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppāda).

Sự khéo léo về nguyên nhân và sự khéo léo về cái không phải nguyên nhân.

Sự ngay thẳng và sự khiêm tốn.

Sự nhẫn nại và sự hòa nhã.

Sự thân thiện và sự tiếp đón ân cần.

Sự không làm hại và sự trong sạch.

Sự quên lãng và sự không nhận biết rõ ràng.

chú tâm (niệm / sati) và nhận biết rõ ràng.

Sự không bảo vệ các cánh cửa giác quan (căn / indriya) và sự không biết chừng mực trong ăn uống.

Sự bảo vệ các cánh cửa giác quan và sự biết chừng mực trong ăn uống.

Sức mạnh của sự xem xét và sức mạnh của sự phát triển.

Sức mạnh của chú tâm và sức mạnh của Định (samādhi).

Sự lắng dịu (chỉ / samatho) và sự quan sát sâu sắc (quán / vipassanā).

Dấu hiệu của sự lắng dịu và dấu hiệu của sự nâng đỡ.

Sự nâng đỡ và sự không phân tán.

Sự thất bại về đạo đức và sự thất bại về quan điểm.

Sự thành tựu về đạo đức và sự thành tựu về quan điểm.

Sự thanh tịnh về đạo đức và sự thanh tịnh về quan điểm.

Sự thanh tịnh về quan điểm và sự nỗ lực tương ứng với quan điểm đó.

Sự rúng động tâm lý (kinh cảm / saṁvego) đối với những điều đáng rúng động và sự nỗ lực tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ của người đã bị rúng động.

Sự không thỏa mãn đối với những Điều thiện và sự không lùi bước trong nỗ lực.

Sự hiểu biết rõ ràng và sự giải thoát.

Sự hiểu biết về sự cạn kiệt và sự hiểu biết về sự không sinh ra nữa.

Này các hiền giả, đây là hai Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau, không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Hai pháp

9. Này các Hiền giả, có hai pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Thế nào là hai pháp?

i) Danh và sắc.

ii) Vô minh và hữu ái.

iii) Hữu kiến và vô hữu kiến.

iv) Vô tàm và vô quý.

v) Tàm và quý.

vi) Ác ngôn và ác hữu.

vii) Thiện ngôn và thiện hữu.

viii) Nhập tội thiện xảo và xuất tội thiện xảo.

ix) Ðẳng chí thiện xảo và xuất khởi đẳng chí thiện xảo.

x) Giới thiện xảo và tác ý thiện xảo.

xi) Xứ thiện xảo và duyên khởi thiện xảo.

xii) Thiện xảo về xứ và thiện xảo về phi xứ.

xii) Chơn trực và tàm quý.

xiv) Kham nhẫn và nhu hòa.

xv) Lời nói nhu thuần và tiếp đón thân tình.

xvi) Vô hại và từ ái.

xvii) Thất niệm và bất chánh tri.

xvii) Chánh niệm và tỉnh giác.

xix) Các căn không được chế ngự và ăn uống không tiết độ.

xx) Các căn được chế ngự và ăn uống có tiết độ. xxi) Tư duy lực và tu tập lực.

xxii) Niệm lực và định lực.

xxiii) Chỉ và quán.

xxiv) Chỉ tướng và tinh cần tướng.

xxv) Tinh cần và không dao động.

xxvi) Giới thành tựu và kiến thành tựu.

xxvii) Giới suy khuyết và kiến suy khuyết.

xxxiii) Giới thanh tịnh và kiến thanh tịnh.

xxix) Kiến thanh tịnh và tinh cần theo tri kiến ấy.

xxx) Dao động đối với các pháp bị dao động và chánh tinh cần của người bị dao động ấy.

xxxi) Không tri túc với các thiện pháp và không thối thất trong tinh cần.

xxxii) Minh tri và giải thoát.

xxxiii) Tận tri và vô sanh trí.

Này các Hiền giả, hai pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

3. Nhóm Ba (Tika)

Này các hiền giả, có ba Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Ba Điều đó là gì?

Ba gốc rễ không thiện (bất thiện căn / akusalamūlāni) — ám ảnh dễ chịu (tham / lobho) là gốc rễ không thiện, ám ảnh khó chịu (sân / doso) là gốc rễ không thiện, Sự u mê (si / moho) là gốc rễ không thiện.

Ba gốc rễ thiện — không ám ảnh dễ chịu là gốc rễ thiện, không ám ảnh khó chịu là gốc rễ thiện, không Sự u mê là gốc rễ thiện.

Ba hành động sai trái — hành động sai trái qua thân, hành động sai trái qua lời nói, hành động sai trái qua ý nghĩ.

Ba hành động đúng đắn — hành động đúng đắn qua thân, hành động đúng đắn qua lời nói, hành động đúng đắn qua ý nghĩ.

Ba chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakkā) không thiện — chủ động hướng sự chú ý đến sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), chủ động hướng sự chú ý đến ác ý, chủ động hướng sự chú ý đến sự làm hại.

Ba chủ động hướng sự chú ý thiện — chủ động hướng sự chú ý đến sự từ bỏ, chủ động hướng sự chú ý đến không ác ý, chủ động hướng sự chú ý đến không làm hại.

Ba suy nghĩ (tư duy / saṅkappā) không thiện — suy nghĩ về sự dễ chịu giác quan, suy nghĩ về ác ý, suy nghĩ về sự làm hại.

Ba suy nghĩ thiện — suy nghĩ về sự từ bỏ, suy nghĩ về không ác ý, suy nghĩ về không làm hại.

Ba nhận thức (tưởng / saññā) không thiện — nhận thức về sự dễ chịu giác quan, nhận thức về ác ý, nhận thức về sự làm hại.

Ba nhận thức thiện — nhận thức về sự từ bỏ, nhận thức về không ác ý, nhận thức về không làm hại.

Ba nguyên tố (giới / dhātuyo) không thiện — nguyên tố sự dễ chịu giác quan, nguyên tố ác ý, nguyên tố sự làm hại.

Ba nguyên tố thiện — nguyên tố sự từ bỏ, nguyên tố không ác ý, nguyên tố không làm hại.

Ba nguyên tố khác — nguyên tố sự dễ chịu giác quan, nguyên tố vật chất, nguyên tố phi vật chất.

Ba nguyên tố khác — nguyên tố vật chất, nguyên tố phi vật chất, nguyên tố chấm dứt.

Ba nguyên tố khác — nguyên tố thấp kém, nguyên tố trung bình, nguyên tố cao tột.

Ba sự thèm khát (ái / taṇhā) — sự thèm khát sự dễ chịu giác quan, sự thèm khát tồn tại, sự thèm khát hư vô.

Ba sự thèm khát khác — sự thèm khát sự dễ chịu giác quan, sự thèm khát vật chất, sự thèm khát phi vật chất.

Ba sự thèm khát khác — sự thèm khát vật chất, sự thèm khát phi vật chất, sự thèm khát chấm dứt.

Ba xiềng xích (kiết sử / saṁyojanāni) — Thấy mình là thật (thân kiến / sakkāyadiṭṭhi), Nghi ngờ (nghi / vicikicchā), Mê tín và giáo điều (giới cấm thủ / sīlabbataparāmāso).

Ba nguồn ác (lậu hoặc / āsavā) — nguồn ác của sự dễ chịu giác quan, nguồn ác của mong muốn hiện hữu, nguồn ác của Không Hiểu Biết.

Ba cõi tồn tại (hữu / bhavā) — cõi tồn tại sự dễ chịu giác quan, cõi tồn tại vật chất, cõi tồn tại phi vật chất.

Ba sự tìm kiếm — tìm kiếm sự dễ chịu giác quan, tìm kiếm sự tồn tại, tìm kiếm đời sống thánh thiện.

Ba sự so sánh — sự so sánh ‘tôi tốt hơn’, sự so sánh ‘tôi bằng’, sự so sánh ‘tôi kém hơn’.

Ba thời gian — thời gian quá khứ, thời gian tương lai, thời gian hiện tại.

Ba cực đoan — cực đoan về thân kiến, cực đoan về sự hình thành thân kiến, cực đoan về sự chấm dứt thân kiến.

Ba cảm giác (thọ / vedanā) — cảm giác dễ chịu (thọ lạc / sukhā vedanā), cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkhā vedanā), cảm giác không dễ chịu không khó chịu.

Ba tính chất đau khổ — tính chất đau khổ của sự đau khổ, tính chất đau khổ của các hoạt động (hành / saṅkhāra), tính chất đau khổ của sự thay đổi.

Ba nhóm — nhóm cố định trong sự sai trái, nhóm cố định trong sự đúng đắn, nhóm không cố định.

Ba sự mờ mịt — nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không trong sáng về thời gian quá khứ; nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không trong sáng về thời gian tương lai; nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không trong sáng về thời gian hiện tại.

Ba điều Như Lai không cần che giấu — Này các hiền giả, Như Lai có hành vi qua thân hoàn toàn trong sạch, không có hành động sai trái qua thân nào mà Như Lai phải che giấu: ‘đừng để người khác biết điều này của tôi’. Này các hiền giả, Như Lai có hành vi qua lời nói hoàn toàn trong sạch, không có hành động sai trái qua lời nói nào mà Như Lai phải che giấu: ‘đừng để người khác biết điều này của tôi’. Này các hiền giả, Như Lai có hành vi qua ý nghĩ hoàn toàn trong sạch, không có hành động sai trái qua ý nghĩ nào mà Như Lai phải che giấu: ‘đừng để người khác biết điều này của tôi’.

Ba chướng ngại — đắm nhiễm (tham / rāgo) là chướng ngại, ám ảnh khó chịu là chướng ngại, Sự u mê là chướng ngại.

Ba ngọn lửa — ngọn lửa đắm nhiễm, ngọn lửa ám ảnh khó chịu, ngọn lửa Sự u mê.

Ba ngọn lửa khác — ngọn lửa đáng cúng dường, ngọn lửa gia chủ, ngọn lửa đáng nhận phẩm vật.

Ba nhóm vật chất — vật chất có thể thấy được và có sự va chạm, vật chất không thể thấy được nhưng có sự va chạm, vật chất không thể thấy được và không có sự va chạm.

Ba hoạt động (hành / saṅkhārā) — hoạt động tạo phước, hoạt động không tạo phước, hoạt động bất động.

Ba hạng người — người còn phải học, người không còn phải học, người không phải còn phải học cũng không phải không còn phải học.

Ba vị trưởng lão — trưởng lão do tuổi tác, trưởng lão do Quy luật, trưởng lão do quy ước.

Ba cơ sở tạo phước — cơ sở tạo phước qua việc cho đi, cơ sở tạo phước qua đạo đức, cơ sở tạo phước qua sự phát triển tâm.

Ba cơ sở buộc tội — do nhìn thấy, do nghe thấy, do nghi ngờ.

Ba sự sinh vào cõi sự dễ chịu giác quan — Này các hiền giả, có những chúng sinh có sự dễ chịu giác quan hiện tiền, họ kiểm soát những sự dễ chịu giác quan hiện tiền đó, ví dụ như một số loài người và một số chư thiên ở các cõi thấp. Đây là sự sinh vào cõi sự dễ chịu giác quan thứ nhất. Này các hiền giả, có những chúng sinh tự tạo ra sự dễ chịu giác quan, sau khi liên tục tạo ra, họ kiểm soát những sự dễ chịu giác quan đó, ví dụ như chư thiên Hóa Tự Tại. Đây là sự sinh vào cõi sự dễ chịu giác quan thứ hai. Này các hiền giả, có những chúng sinh có sự dễ chịu giác quan do người khác tạo ra, họ kiểm soát những sự dễ chịu giác quan do người khác tạo ra đó, ví dụ như chư thiên Tha Hóa Tự Tại. Đây là sự sinh vào cõi sự dễ chịu giác quan thứ ba.

Ba sự sinh vào cõi hạnh phúc — Này các hiền giả, có những chúng sinh liên tục tạo ra hạnh phúc và an trú trong đó, ví dụ như chư thiên cõi Phạm chúng. Đây là sự sinh vào cõi hạnh phúc thứ nhất. Này các hiền giả, có những chúng sinh tràn ngập, thấm đẫm, đầy tràn, lan tỏa bởi hạnh phúc. Đôi khi họ thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi hạnh phúc, ôi hạnh phúc!’, ví dụ như chư thiên cõi Quang Âm. Đây là sự sinh vào cõi hạnh phúc thứ hai. Này các hiền giả, có những chúng sinh tràn ngập, thấm đẫm, đầy tràn, lan tỏa bởi hạnh phúc. Họ cảm nhận hạnh phúc một cách tĩnh lặng và thỏa mãn, ví dụ như chư thiên cõi Biến Tịnh. Đây là sự sinh vào cõi hạnh phúc thứ ba.

Ba sự hiểu biết — sự hiểu biết của người còn phải học, sự hiểu biết của người không còn phải học, sự hiểu biết của người không phải còn phải học cũng không phải không còn phải học.

Ba sự hiểu biết khác — sự hiểu biết do suy nghĩ, sự hiểu biết do nghe học, sự hiểu biết do sự phát triển tâm.

Ba vũ khí — vũ khí nghe học, vũ khí rời bỏ (viễn ly / paviveka), vũ khí sự hiểu biết.

Ba năng lực — năng lực ‘tôi sẽ biết điều chưa biết’, năng lực biết, năng lực của người đã biết.

Ba con mắt — con mắt thịt, con mắt thần, con mắt sự hiểu biết.

Ba sự rèn luyện — sự rèn luyện đạo đức cao tột, sự rèn luyện tâm cao tột, sự rèn luyện sự hiểu biết cao tột.

Ba sự phát triển — sự phát triển thân, sự phát triển tâm, sự phát triển sự hiểu biết.

Ba sự vô thượng — sự vô thượng của việc nhìn thấy, sự vô thượng của lối thực hành, sự vô thượng của sự giải thoát.

Ba loại ĐịnhĐịnhchủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkasavicāro), Định chỉ có nỗ lực duy trì sự chú ý không có chủ động hướng sự chú ý, Định Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaavicāro).

Ba loại Định khác — Định trống rỗng, Định không chạy theo hình dáng (vô tướng / animitto), Định không mong cầu.

Ba sự trong sạch — sự trong sạch của thân, sự trong sạch của lời nói, sự trong sạch của ý nghĩ.

Ba sự im lặng — sự im lặng của thân, sự im lặng của lời nói, sự im lặng của ý nghĩ.

Ba sự khéo léo — sự khéo léo về sự tăng trưởng, sự khéo léo về sự suy giảm, sự khéo léo về phương tiện.

Ba sự say mê — sự say mê sức khỏe, sự say mê tuổi trẻ, sự say mê mạng sống.

Ba sự chi phối — sự chi phối của bản thân, sự chi phối của thế gian, sự chi phối của Quy luật.

Ba chủ đề nói chuyện — có thể nói chuyện về thời gian quá khứ: ‘Trong thời gian quá khứ đã xảy ra như thế này’; có thể nói chuyện về thời gian tương lai: ‘Trong thời gian tương lai sẽ xảy ra như thế này’; có thể nói chuyện về thời gian hiện tại: ‘Trong thời gian hiện tại đang xảy ra như thế này’.

Ba sự hiểu biết rõ ràng — sự hiểu biết rõ ràng về việc nhớ lại các đời sống quá khứ, sự hiểu biết rõ ràng về sự chết và tái sinh của chúng sinh, sự hiểu biết rõ ràng về sự cạn kiệt các nguồn ác.

Ba trạng thái trú ngụ — trạng thái trú ngụ của chư thiên, trạng thái trú ngụ của Phạm thiên, trạng thái trú ngụ của bậc thánh.

Ba phép màu — phép màu thần thông, phép màu đọc tâm, phép màu chỉ dẫn.

Này các hiền giả, đây là ba Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Ba pháp

10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Thế nào là ba pháp?

i) Ba bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si bất thiện căn.

ii) Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn.

iii) Ba ác hạnh: Thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh.

iv) Ba thiện hạnh: Thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh.

v) Ba bất thiện tầm: Dục tầm, sân tầm, hại tầm.

vi) Ba thiện tầm: Ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm.

vii) Ba bất thiện tư duy: Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.

viii) Ba thiện tư duy: Ly dục tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy.

ix) Ba bất thiện tưởng: Dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng.

x) Ba thiện tưởng: Ly dục tưởng, vô sân tưởng, vô hại tưởng.

xi) Ba bất thiện giới: Dục giới, sân giới, hại giới.

xii) Ba thiện giới: Ly dục giới, vô sân giới, vô hại giới.

xiii) Ba giới khác: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

xiv) Ba giới khác: Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.

xv) Ba giới khác: Liệt giới, trung giới, thắng giới.

xvi) Ba ái: Dục ái, hữu ái, vô hữu ái.

xvii) Ba ái khác: Dục ái, sắc ái, vô sắc ái.

xviii) Ba ái khác: Sắc ái, vô sắc ái, diệt ái.

xix) Ba kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ.

xx) Ba lậu: Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.

xxi) Ba hữu: Dục hữu, sắc hữu, vô minh hữu.

xxii) Ba cầu: Dục cầu, hữu cầu, phạm hạnh cầu.

xxiii) Ba mạn: Thắng mạn, đẳng mạn, ty liệt mạn.

xxiv) Ba thời: Quá khứ thời, vị lai thời, hiện tại thời.

xxv) Ba biên: Hữu thân biên, hữu thân tập biên, hữu thân diệt biên.

xvi) Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.

xvii) Ba khổ tánh: Khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.

xxviii) Ba tụ: Tà định tụ, chánh định tụ, bất định tụ.

xxix) Ba nghi: Ðối với vấn đề thuộc quá khứ nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng; đối với các vấn đề thuộc tương lai, nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng; đối với các vấn đề hiện tại nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng.

xxx) Ba điều Như Lai không cần gìn giữ: Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về thân. Như Lai không có ác về thân mà Như Lai phải gìn giữ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”. Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”. Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”.

xxxi) Ba chướng: Tham chướng, sân chướng, si chướng.

xxxii) Ba loại lửa: Lửa tham, lửa sân, lửa si.

xxxiii) Ba loại lửa khác: Lửa của người hiếu kính, lửa của người gia chủ, lửa của người cúng dường (cha mẹ, vợ con và các vị xuất gia).

xxxiv) Ba loại sắc tụ: Hữu kiến hữu đối sắc, vô kiến hữu đối sắc, vô kiến vô đối sắc.

xxxv) Ba hành: Phước hành, phi phước hành, bất động hành.

xxxvi) Ba loại người: Hữu học nhân, vô học nhân, phi hữu học phi vô học nhân.

xxxvii) Ba vị trưởng lão: Sanh trưởng lão, pháp trưởng lão, nhập định trưởng lão.

xxxviii) Ba phước nghiệp sự: Thí hành phước nghiệp sự, giới hành phước nghiệp sự, tu hành phước nghiệp sự.

xxxix) Ba cử tội sự: Thấy, nghe và nghi.

xl) Ba dục sanh: Này các Hiền giả, có những loại hữu tình do dục an trú. Ðối với các dục, họ chịu sự an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài Người, một số chư Thiên, một số tái sanh trong đọa xứ. Ðó là loại dục sanh thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng ấy, như các loài chư Thiên Nimmàna-Rati (Hóa Lạc thiên). Ðó là loại dục sanh thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối sự vật do các loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng đối với sự vật do các loại khác tạo ra. Như các loài chư Thiên Para-nimmitava-savatti (Tha Hóa Tự tại thiên). Ðó là hạng dục sanh thứ ba.

xli) Ba loại lạc sanh: Này các Hiền giả, có những loài hữu tình (trong quá khứ) luôn luôn tạo ra (thiền định lạc) hay sống trong sự an lạc, như các vị Brahma - Kàyikà (Phạm Chúng thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng: “Ôi an lạc thay! Ôi an lạc thay!”, như chư Thiên €bhassarà (Quang Âm thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Thiên Subhakinnà (Biến Tịnh thiên). Ðó là loại lạc sanh thứ ba.

xlii) Ba tuệ: Hữu học tuệ, vô học tuệ, phi hữu học phi vô học tuệ.

xliii) Loại ba tuệ khác: Tư sanh tuệ, văn sanh tuệ, tu sanh tuệ.

xliv) Ba loại binh khí: Nghe, xả ly và tuệ.

xlv) Ba căn: Vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.

xlvi) Ba nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn.

xlvii) Ba học: Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.

xlviii) Ba sự tu tập: Thân tu, tâm tu, tuệ tu.

xlix) Ba vô thượng: Kiến vô thượng, hành vô thượng, giải thoát vô thượng.

l) Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định.

li) Lại ba định khác: Không định, vô tướng định, vô nguyện định.

lii) Ba thanh tịnh: Thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnh, ý thanh tịnh.

liii) Ba tịch mặc: Thân tịch mặc, ngữ tịch mặc, ý tịch mặc.

liv) Ba thiện xảo: Tăng ích thiện xảo, tổn ích thiện xảo, phương tiện thiện xảo.

lv) Ba kiêu: Vô bệnh kiêu, niên tráng kiêu, hoạt mạng kiêu.

lvi) Ba tăng thượng: Ngã tăng thượng, thế tăng thượng, pháp tăng thượng.

lvii) Ba luận sự: Luận bàn về vấn đề quá khứ: “Sự việc này xảy ra trong quá khứ”; luận bàn về vấn đề tương lai: “Sự việc này xảy ra trong tương lai”; luận bàn về vấn đề hiện tại: “Sự việc này xảy ra trong hiện tại”.

lvii) Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh tử minh, Lậu tận trí minh.

lix) Ba trú: Thiên trú, Phạm trú, Thánh trú.

lx) Ba thần thông: Thần túc thần thông, tri tha tâm thần thông, giáo giới thần thông.

Này các Hiền giả, ba pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

4. Nhóm Bốn (Catukka)

Này các hiền giả, có bốn Điều (pháp / dhammā) đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau (kết tập / saṅgāyitabbaṁ), không nên tranh cãi (tranh luận / vivaditabbaṁ) […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Bốn Điều đó là gì?

Thiết lập chú tâm ở bốn nơi (tứ niệm xứ / satipaṭṭhānā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo quan sát cơ thể qua cơ thể của mình (quán thân trên thân / kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), chú tâm (chánh niệm / satimā), loại bỏ lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền (ưu / domanassa) ở đời. Vị ấy quan sát cảm giác qua cảm giác của mình (quán thọ trên thọ / vedanāsu vedanānupassī) […lặp lại…] quan sát tâm qua tâm của mình (quán tâm trên tâm / citte cittānupassī) […lặp lại…] quan sát Điều dạy qua các Điều (quán pháp trên pháp / dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, chú tâm, loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời.

Bốn Siêng năng thiện (tứ chánh cần / sammappadhānā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo sinh khởi mong muốn (dục / chanda), nỗ lực, phát động sức mạnh, nâng đỡ tâm, phấn đấu để ngăn chặn sự sinh khởi của những Điều ác, những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalānaṁ dhammānaṁ) chưa sinh. Vị ấy sinh khởi mong muốn, nỗ lực, phát động sức mạnh, nâng đỡ tâm, phấn đấu để hoàn toàn từ bỏ (đoạn trừ / pahānāya) những Điều ác, những điều không thiện đã sinh. Vị ấy sinh khởi mong muốn, nỗ lực, phát động sức mạnh, nâng đỡ tâm, phấn đấu để làm sinh khởi những Điều thiện chưa sinh. Vị ấy sinh khởi mong muốn, nỗ lực, phát động sức mạnh, nâng đỡ tâm, phấn đấu để duy trì, không làm lu mờ, làm tăng trưởng, mở rộng, phát triển và làm viên mãn những Điều thiện đã sinh.

Bốn pháp

11. Này các Hiền giả, có bốn pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-lahán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là bốn?

i) Bốn niệm xứ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời; quán các cảm thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời; quán các tâm trên các tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời; quán thân các pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời.

ii) Bốn chánh cần: Ở đây, này các Hiền giả vị Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các ác bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng cường, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm.

Bốn cổng thần thông (tứ như ý túc / iddhipādā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo phát triển cổng thần thông đi kèm với Định (samādhi) do mong muốnhoạt động (hành / saṅkhāra) nỗ lực. Vị ấy phát triển cổng thần thông đi kèm với Định do tâm và hoạt động nỗ lực. Vị ấy phát triển cổng thần thông đi kèm với Định do sức mạnh và hoạt động nỗ lực. Vị ấy phát triển cổng thần thông đi kèm với Định do sự thẩm tra và hoạt động nỗ lực.

Bốn Thiền-na (thiền / jhānāni). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) sự dễ chịu giác quan (dục / kāmehi), hoàn toàn rời bỏ khỏi những Điều không thiện, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / vivekajaṁ). Do lắng dịu (diệt / vūpasamā) chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, vị ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), có hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định. Do cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, vị ấy an trú với Tâm bình thản (xả / upekkhako), chú tâmnhận biết rõ ràng, cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể; đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh gọi là: ‘Người có Tâm bình thản, chú tâm, sống hạnh phúc’. Do hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúchoàn toàn từ bỏ đau khổ (khổ / dukkha), do sự tan biến (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền từ trước, vị ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái cảm giác không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), có sự trong sạch của Tâm bình thảnchú tâm.

iii) Bốn thần túc: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu với tinh tấn thực hiện Dục thiền định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tâm thiền định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tinh tấn thiền định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tư duy thiền định (Dục như ý thần túc, Tâm như ý thần túc, Tinh tấn như ý thần túc, Tư duy như ý thần túc).

iv) Bốn thiền: Ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Bốn sự phát triển Định. Này các hiền giả, có sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến việc an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại. Này các hiền giả, có sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến việc đạt được thấy rõ bản chất (tri kiến / ñāṇadassana). Này các hiền giả, có sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / satisampajaññāya). Này các hiền giả, có sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến sự cạn kiệt (đoạn tận / khayāya) các nguồn ác (lậu hoặc / āsavānaṁ).

Và này các hiền giả, thế nào là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến việc an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo hoàn toàn rời bỏ khỏi sự dễ chịu giác quan, hoàn toàn rời bỏ khỏi những Điều không thiện, có chủ động hướng sự chú ý […lặp lại…] đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư. Này các hiền giả, đây là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến việc an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Và này các hiền giả, thế nào là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến việc đạt được thấy rõ bản chất? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo suy nghĩ (tác ý / manasi karoti) đến nhận thức (tưởng / saññaṁ) về ánh sáng, quyết tâm giữ nhận thức về ban ngày: như ban ngày thế nào thì ban đêm thế ấy, như ban đêm thế nào thì ban ngày thế ấy. Bằng cách này, với tâm rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí rực sáng. Này các hiền giả, đây là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến việc đạt được thấy rõ bản chất.

Và này các hiền giả, thế nào là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến chú tâm và nhận biết rõ ràng? Này các hiền giả, ở đây, đối với Tỳ-kheo, các cảm giác (thọ / vedanā) được biết rõ khi chúng sinh ra, được biết rõ khi chúng tồn tại, được biết rõ khi chúng tan biến. Các nhận thức được biết rõ khi chúng sinh ra, được biết rõ khi chúng tồn tại, được biết rõ khi chúng tan biến. Các chủ động hướng sự chú ý được biết rõ khi chúng sinh ra, được biết rõ khi chúng tồn tại, được biết rõ khi chúng tan biến. Này các hiền giả, đây là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến chú tâm và nhận biết rõ ràng.

Và này các hiền giả, thế nào là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến sự cạn kiệt các nguồn ác? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo an trú trong việc quan sát sự sinh ra và tan biến của năm tập hợp bị bám giữ (thủ uẩn / upādānakkhandhesu): ‘Đây là vật chất (sắc / rūpa), đây là sự hình thành (sinh / samudayo) của vật chất, đây là sự tan biến của vật chất. Đây là cảm giác […lặp lại…] Đây là nhận thức… Đây là các hoạt động… Đây là ‘Cái Biết’ (thức / viññāṇaṁ), đây là sự hình thành của ‘Cái Biết’, đây là sự tan biến của ‘Cái Biết’’. Này các hiền giả, đây là sự phát triển Định khi được tu tập và làm cho viên mãn sẽ dẫn đến sự cạn kiệt các nguồn ác.

v) Bốn tu tập thiền định: Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ sự tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, và trú thiền thứ nhất… thiền thứ hai… thiền thứ ba… chứng và trú thiền thứ tư. Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến chứng đắc tri kiến? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo, tác ý quang minh tưởng, an trú tưởng ban ngày, ban ngày thế nào ban đêm như vậy, ban đêm thế nào ban ngày như vậy. Và như vậy với tâm mở rộng không có đóng kín, tạo ra một tâm có hào quang. Này các Hiền giả, như vậy là tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, hướng đến chánh niệm, tỉnh giác? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo biết được thọ khởi, biết được thọ trú, biết được thọ diệt, biết được tưởng khởi, biết được tưởng trú, biết được tưởng diệt, biết được tầm khởi, biết được tầm trú, biết được tầm diệt. Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác.

Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, quán tánh sanh diệt trên Năm Thủ uẩn - Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt. này các Tỷ-kheo, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.

Bốn tâm không giới hạn (vô lượng tâm / appamaññā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo an trú, lan tỏa một phương với tâm đi kèm Tâm yêu thương (từ / mettā). Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, đối với tất cả như đối với chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi kèm Tâm yêu thương, rộng lớn, phát triển cao độ, không giới hạn (vô lượng / appamāṇena), không hận thù, không ác ý. Với tâm đi kèm Tâm thông cảm (bi / karuṇā) […lặp lại…] Với tâm đi kèm Tâm cùng vui (hỷ / muditā) […lặp lại…] Với tâm đi kèm Tâm bình thản (xả / upekkhā), vị ấy an trú, lan tỏa một phương. Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, đối với tất cả như đối với chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi kèm Tâm bình thản, rộng lớn, phát triển cao độ, không giới hạn, không hận thù, không ác ý.

vi) Bốn vô lượng tâm: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Lại nữa, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Bốn cõi phi vật chất (vô sắc / āruppā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo do hoàn toàn vượt qua nhận thức về hình ảnh (sắc / rūpasaññānaṁ), do sự tan biến của nhận thức về sự va chạm, do không suy nghĩ đến nhận thức về sự đa dạng, nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatanaṁ). Do hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatanaṁ). Do hoàn toàn vượt qua cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatanaṁ). Do hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, vị ấy đạt đến và an trú trong xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatanaṁ).

vii) Bốn vô sắc: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, vị Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không và vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Vượt lên mọi thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sỡ hữu xứ. Vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Bốn chỗ nương tựa (y chỉ / apassenāni). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo thận trọng suy xét (paṭisaṅkhā) sử dụng một thứ, thận trọng suy xét chịu đựng một thứ, thận trọng suy xét tránh né một thứ, thận trọng suy xét loại trừ (trừ diệt / vinodeti) một thứ.

Bốn truyền thống bậc thánh (thánh chủng / ariyavaṁsā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào, ca ngợi sự bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào, không vì y phục mà làm những việc tìm kiếm không thích đáng; khi không có y phục thì không lo âu, khi có y phục thì sử dụng mà không tham lam, không say mê, không phạm lỗi, thấy rõ sự nguy hiểm và có trí tuệ thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa); và nhờ sự bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào đó, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Bất cứ ai khéo léo, không lười biếng, nhận biết rõ ràngchú tâm trong việc này, này các hiền giả, người đó được gọi là: ‘Tỳ-kheo đang đứng vững trong truyền thống bậc thánh nguyên thủy, lâu đời’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo bằng lòng với bất kỳ loại thức ăn khất thực nào, ca ngợi sự bằng lòng với bất kỳ loại thức ăn khất thực nào, không vì thức ăn khất thực mà làm những việc tìm kiếm không thích đáng; khi không có thức ăn khất thực thì không lo âu, khi có thức ăn khất thực thì sử dụng mà không tham lam, không say mê, không phạm lỗi, thấy rõ sự nguy hiểm và có trí tuệ thoát khỏi; và nhờ sự bằng lòng với bất kỳ loại thức ăn khất thực nào đó, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Bất cứ ai khéo léo, không lười biếng, nhận biết rõ ràngchú tâm trong việc này, này các hiền giả, người đó được gọi là: ‘Tỳ-kheo đang đứng vững trong truyền thống bậc thánh nguyên thủy, lâu đời’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào, ca ngợi sự bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào, không vì chỗ ở mà làm những việc tìm kiếm không thích đáng; khi không có chỗ ở thì không lo âu, khi có chỗ ở thì sử dụng mà không tham lam, không say mê, không phạm lỗi, thấy rõ sự nguy hiểm và có trí tuệ thoát khỏi; và nhờ sự bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào đó, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Bất cứ ai khéo léo, không lười biếng, nhận biết rõ ràngchú tâm trong việc này, này các hiền giả, người đó được gọi là: ‘Tỳ-kheo đang đứng vững trong truyền thống bậc thánh nguyên thủy, lâu đời’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo vui thích trong việc hoàn toàn từ bỏ, đam mê việc hoàn toàn từ bỏ, vui thích trong việc phát triển tâm, đam mê việc phát triển tâm; và nhờ sự vui thích trong việc hoàn toàn từ bỏ, đam mê việc hoàn toàn từ bỏ, vui thích trong việc phát triển tâm, đam mê việc phát triển tâm đó, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác. Bất cứ ai khéo léo, không lười biếng, nhận biết rõ ràngchú tâm trong việc này, này các hiền giả, người đó được gọi là: ‘Tỳ-kheo đang đứng vững trong truyền thống bậc thánh nguyên thủy, lâu đời’.

viii) Bốn y chỉ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo sau khi suy nghĩ, thọ dụng; sau khi suy nghĩ, nhẫn thọ; sau khi suy nghĩ, viễn ly; sau khi suy nghĩ, khiển trừ.

ix) Bốn Thánh chủng: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ loại y nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ loại y nào, không cố gắng tìm cầu y một cách không xứng đáng, không có áo não nếu không được y, nhưng khi được y, vị này, không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng y, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với bất cứ loại y nào, vị ấy không khen mình chê người. Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, không cố gắng tìm cầu món ăn khất thực một cách không xứng đáng, không có áo não nếu không được món ăn khất thực. Nhưng khi được món ăn khất thực, vị này không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng các món ăn khất thực, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, vị này không khen mình chê người. Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, chánh niệm. Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, không cố gắng tìm cầu phòng xá một cách không xứng đáng, không có áo não nếu không được trú xứ. Nhưng khi được phòng xá, vị này không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng các phòng xá, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, vị này không khen mình chê người. Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm. Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo ưa thích đoạn trừ, hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập, hoan hỷ tu tập. Nhờ ưa thích đoạn trừ, hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập, hoan hỷ tu tập nên không khen mình chê người. Ở đây, vị Tỷ-kheo này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm. Này các Hiền giả, vị ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.

Bốn nỗ lực (cần / padhānāni). Nỗ lực bảo vệ (thu thúc / saṁvara), nỗ lực hoàn toàn từ bỏ, nỗ lực phát triển, nỗ lực duy trì. Và này các hiền giả, thế nào là nỗ lực bảo vệ? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo khi thấy hình ảnh bằng mắt, không nắm giữ hình dáng chung (thủ tướng / nimittaggāhī), không nắm giữ chi tiết (thủ tùy tướng / anubyañjanaggāhī). Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, thì lòng thamưu phiền, những Điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên vị ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan mắt. Khi nghe âm thanh bằng tai… Khi ngửi mùi bằng mũi… Khi nếm vị bằng lưỡi… Khi chạm vào vật xúc chạm bằng thân… Khi nhận biết Điều bằng giác quan trí não (ý căn / manasā), vị ấy không nắm giữ hình dáng chung, không nắm giữ chi tiết. Vì nếu để giác quan trí não không được bảo vệ, thì lòng thamưu phiền, những Điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên vị ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ đối với giác quan trí não. Này các hiền giả, đây gọi là nỗ lực bảo vệ.

Và này các hiền giả, thế nào là nỗ lực hoàn toàn từ bỏ? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không chấp nhận một chủ động hướng sự chú ý đến sự dễ chịu giác quan đã sinh ra, vị ấy từ bỏ (đoạn trừ / pajahati), loại trừ, chấm dứt, làm cho nó không thể tồn tại; không chấp nhận một chủ động hướng sự chú ý đến ác ý đã sinh ra […lặp lại…] không chấp nhận một chủ động hướng sự chú ý đến sự làm hại đã sinh ra […lặp lại…] không chấp nhận những Điều ác, những điều không thiện liên tục sinh ra, vị ấy từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, làm cho chúng không thể tồn tại. Này các hiền giả, đây gọi là nỗ lực hoàn toàn từ bỏ.

Và này các hiền giả, thế nào là nỗ lực phát triển? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo phát triển dấu hiệu sự chú tâm (niệm giác chi / satisambojjhaṅga) dựa trên sự rời bỏ, dựa trên sự cạn hết đắm nhiễm, dựa trên sự hết (diệt / nirodha), dẫn đến sự buông xả; phát triển dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích (trạch pháp giác chi / dhammavicayasambojjhaṅga)… phát triển dấu hiệu Nỗ Lực (tinh tấn giác chi / vīriyasambojjhaṅga)… phát triển dấu hiệu sự hân hoan (hỷ giác chi / pītisambojjhaṅga)… phát triển Dấu hiệu cơ thể lắng dịu (khinh an giác chi / passaddhisambojjhaṅga)… phát triển dấu hiệu Định (định giác chi / samādhisambojjhaṅga)… phát triển dấu hiệu Tâm cân bằng (xả giác chi / upekkhāsambojjhaṅga) dựa trên sự rời bỏ, dựa trên sự cạn hết đắm nhiễm, dựa trên sự hết, dẫn đến sự buông xả. Này các hiền giả, đây gọi là nỗ lực phát triển.

Và này các hiền giả, thế nào là nỗ lực duy trì? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo duy trì một đối tượng Định tốt đẹp đã sinh ra — nhận thức về bộ xương, nhận thức về tử thi bị giòi bọ ăn, nhận thức về tử thi xanh tím, nhận thức về tử thi nứt nẻ, nhận thức về tử thi trương phình. Này các hiền giả, đây gọi là nỗ lực duy trì.

x) Bốn tinh cần: Chế ngự tinh cần, đoạn trừ tinh cần, tu tập tinh cần, hộ trì tinh cần.

Này các Hiền giả, thế nào là chế ngự tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngực, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự chế ngực nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy nắm không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngực, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự chế ngự ý căn. Này các Hiền giả, như vậy gọi là chế ngự tinh cần.

Này các Hiền giả, thế nào là đoạn trừ tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo không chấp nhận dục tầm đã khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, không cho hiện hữu; không chấp nhận sân tầm đã khởi lên… không chấp nhận hại tầm đã khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, không cho hiện hữu. Này các Hiền giả, như vậy gọi là đoạn trừ tinh cần.

Này các Hiền giả, thế nào là tu tập tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập Niệm Giác chi, pháp này y xả ly, y ly dục, y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ; tu tập Trạch pháp Giác chi… tu tập Tinh tấn Giác chi… tu tập Hỷ Giác chi… tu tập Khinh an Giác chi… tu tập Ðịnh Giác chi… tu tập Xả Giác chi, pháp này y xả ly, y ly dục, y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ. Này các Hiền giả, như vậy gọi là tu tập tinh cần.

Này các Hiền giả, thế nào là hộ trì tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo hộ trì định tướng tốt đẹp đã khởi lên, cốt tưởng, trùng hám tưởng, thanh ứ tưởng, đoạn hoại tưởng, trương bành tưởng. Này các Hiền giả, như vậy gọi là hộ trì tinh cần.

Bốn sự hiểu biết — sự hiểu biết về Điều dạy, sự hiểu biết do suy luận, sự hiểu biết về tâm người khác, sự hiểu biết về quy ước.

Bốn sự hiểu biết khác — sự hiểu biết về đau khổ, sự hiểu biết về sự hình thành của đau khổ, sự hiểu biết về sự chấm dứt đau khổ, sự hiểu biết về con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ.

xi) Bốn trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí.

xii) Lại bốn trí khác: Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí.

Bốn yếu tố nhập dòng (dự lưu chi / sotāpattiyaṅgāni) — kết giao với người thiện, nghe Điều dạy chân chính, tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ (như lý tác ý / yonisomanasikāro), thực hành Điều dạy thuận theo Điều dạy.

Bốn yếu tố của người đã nhập dòng. Này các hiền giả, ở đây, vị đệ tử thánh có niềm tin tuyệt đối (tịnh tín / aveccappasādena) vào Đức Phật: ‘Chính vì điều này, Thế Tôn là Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, đầy đủ sự hiểu biết và hạnh kiểm, Bậc Đi Đến Tốt Đẹp, Bậc Hiểu Biết Thế Gian, Bậc Vô Thượng, Bậc Điều Phục Những Người Đáng Được Điều Phục, Bậc Thầy của chư thiên và loài người, Bậc Giác Ngộ, Thế Tôn’. Vị ấy có niềm tin tuyệt đối vào Điều dạy: ‘Điều dạy được Thế Tôn tuyên thuyết khéo léo, có thể thấy ngay trong hiện tại, không phụ thuộc thời gian, đến để mà thấy, dẫn dắt hướng thượng, được người trí tự mình chứng nghiệm’. Vị ấy có niềm tin tuyệt đối vào Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành tốt đẹp, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành ngay thẳng, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành đúng phương pháp, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn thực hành chân chính, đó là bốn đôi tám vị, Tăng đoàn đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được tiếp đón, đáng được nhận phẩm vật, đáng được chắp tay đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở đời’. Vị ấy có được những đạo đức được các bậc thánh yêu thích, không bị đứt đoạn, không bị sứt mẻ, không bị tì vết, không bị vấy bẩn, mang tính tự do, được người trí khen ngợi, không bị bám víu, dẫn đến Định.

xiii) Bốn Dự lưu hướng chi: Thiện nhân thân cận, diệu pháp thính thọ, như lý tác ý, pháp tùy pháp hành.

xiv) Bốn Dự lưu quả chi: Ở đây Thánh đệ tử thành tựu lòng tin tuyệt đối với Phật - “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp - “Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, Pháp ấy là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến mà thấy, có hiệu năng hướng thượng, chỉ người có trí mới tự mình giác hiểu”. Vị ấy thành tự lòng tin tuyệt đối chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ diệu hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ trực hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ như lý hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ chánh hạnh, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Vị ấy thành tựu giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị hư hoại, không bị tỳ vết, được thực hành liên tục, không bị khiếm khuyết khiến con người tự tại, được bậc Thánh tán thán, không bị nhiễm ô, hướng đến thiền định.

Bốn quả sa-môn (sāmaññaphalāni) — quả Nhập dòng, quả Nhất lai, quả Bất lai, quả A-la-hán.

Bốn nguyên tốnguyên tố Đất, nguyên tố Nước, nguyên tố Lửa, nguyên tố Gió.

Bốn thức ăn (thực / āhārā) — thức ăn vật chất thô hay tế, thứ hai là Xúc (phassa), thứ ba là ý định của tâm, thứ tư là ‘Cái Biết’.

Bốn nơi an trú của ‘Cái Biết’ (thức trú / viññāṇaṭṭhitiyo). Này các hiền giả, ‘Cái Biết’ khi tồn tại có thể bám vào vật chất, lấy vật chất làm đối tượng, lấy vật chất làm nền tảng, được tưới tẩm bởi sự vui thích, nó đạt đến sự tăng trưởng, phát triển và mở rộng; hoặc này các hiền giả, bám vào cảm giác… hoặc này các hiền giả, bám vào nhận thức […lặp lại…] hoặc này các hiền giả, ‘Cái Biết’ khi tồn tại có thể bám vào các hoạt động, lấy các hoạt động làm đối tượng, lấy các hoạt động làm nền tảng, được tưới tẩm bởi sự vui thích, nó đạt đến sự tăng trưởng, phát triển và mở rộng.

xv) Bốn Sa môn quả: Dự lưu quả, Nhứt lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả.

xvi) Bốn giới: Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

xvii) Bốn thực: Ðoàn thực, thô hay tế; xúc thực là thứ hai; tư niệm thực là thứ ba; thức thực là thứ tư.

xviii) Bốn thức trú: Này các Hiền giả, khi duyên sắc, thức khởi lên và an trú, thức ấy lấy sắc làm cảnh, lấy sắc làm sở y, lấy sắc làm căn cứ thọ hưởng, được tăng trưởng, tăng thịnh, tăng quảng. Này các Hiền giả, hay duyên thọ, thức… hay duyên tưởng… Này các Hiền giả, hay duyên hành, thức khởi lên và an trú, thức ấy lấy hành làm cảnh, lấy hành làm sở y, lấy hành làm căn cứ thọ hưởng, được tăng trưởng, tăng thịnh, tăng quảng.

Bốn đường lối sai lầm (thiên vị / agatigamanāni) — đi theo đường lối sai lầm do mong muốn, đi theo đường lối sai lầm do ám ảnh khó chịu, đi theo đường lối sai lầm do Sự u mê, đi theo đường lối sai lầm do sợ hãi.

Bốn sự sinh khởi của sự thèm khát — này các hiền giả, sự thèm khát sinh khởi cho Tỳ-kheo vì lý do y phục; này các hiền giả, sự thèm khát sinh khởi cho Tỳ-kheo vì lý do thức ăn khất thực; này các hiền giả, sự thèm khát sinh khởi cho Tỳ-kheo vì lý do chỗ ở; này các hiền giả, sự thèm khát sinh khởi cho Tỳ-kheo vì lý do muốn trở thành thế này hay thế kia.

xix) Bốn bất hành xứ hạnh: Tham dục bất hành xứ hạnh, sân bất hành xứ hạnh, si bất hành xứ hạnh, bố úy bất hành xứ hạnh.

xx) Bốn ái sanh: Này các Hiền giả, do nhơn y phục, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn đồ ăn khất thực, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn phòng xá, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn hữu và phi hữu, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái.

Bốn lối thực hành — lối thực hành khó nhọc với sự hiểu biết chậm chạp, lối thực hành khó nhọc với sự hiểu biết nhanh chóng, lối thực hành dễ chịu với sự hiểu biết chậm chạp, lối thực hành dễ chịu với sự hiểu biết nhanh chóng.

Bốn lối thực hành khác — lối thực hành không nhẫn nại, lối thực hành nhẫn nại, lối thực hành điều phục, lối thực hành lắng dịu.

Bốn dấu chân của Điều dạy — không tham lam là dấu chân của Điều dạy, không ác ý là dấu chân của Điều dạy, chú tâm Thiện (chánh niệm / sammāsati) là dấu chân của Điều dạy, Định thiện (chánh định / sammāsamādhi) là dấu chân của Điều dạy.

Bốn sự thọ trì Điều dạy (pháp samādāna / dhammasamādānāni) — này các hiền giả, có sự thọ trì Điều dạy hiện tại đau khổ và tương lai mang lại kết quả đau khổ. Này các hiền giả, có sự thọ trì Điều dạy hiện tại đau khổ nhưng tương lai mang lại kết quả hạnh phúc. Này các hiền giả, có sự thọ trì Điều dạy hiện tại hạnh phúc nhưng tương lai mang lại kết quả đau khổ. Này các hiền giả, có sự thọ trì Điều dạy hiện tại hạnh phúc và tương lai mang lại kết quả hạnh phúc.

xxi) Bốn hành: Khổ hành trì chứng, khổ hành tốc chứng, lạc hành trì chứng, lạc hành tốc chứng.

xxvii) Bốn lại hành khác: Bất kham nhẫn hành, kham nhẫn hành, điều phục hành, tịch tịnh hành.

xxiii) Bốn pháp túc: Vô tham pháp túc, vô sân pháp túc, chánh niệm pháp túc, chánh định pháp túc.

xxiv) Bốn pháp thọ: Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại khổ và tương lai quả báo khổ. Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại khổ và tương lai quả báo lạc. Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại lạc và tương lai quả báo khổ. Này các Hiền giả có pháp thọ, hiện tại lạc và tương lai quả báo lạc.

Bốn tập hợp của Điều dạy — tập hợp đạo đức, tập hợp Định, tập hợp sự hiểu biết, tập hợp sự giải thoát.

Bốn sức mạnh — sức mạnh nỗ lực, sức mạnh chú tâm, sức mạnh Định, sức mạnh sự hiểu biết.

Bốn sự quyết tâm (chí nguyện / adhiṭṭhānāni) — sự quyết tâm về sự hiểu biết, sự quyết tâm về sự thật, sự quyết tâm về sự cho đi (xả ly / cāga), sự quyết tâm về sự lắng dịu.

Bốn cách trả lời câu hỏi (pañhabyākaraṇāni) — câu hỏi cần trả lời dứt khoát, câu hỏi cần trả lời bằng cách hỏi lại, câu hỏi cần trả lời bằng cách phân tích, câu hỏi cần gác lại.

Bốn loại hành động — này các hiền giả, có hành động đen mang lại kết quả đen. Này các hiền giả, có hành động trắng mang lại kết quả trắng. Này các hiền giả, có hành động đen-trắng mang lại kết quả đen-trắng. Này các hiền giả, có hành động không đen không trắng mang lại kết quả không đen không trắng, dẫn đến sự cạn kiệt các hành động.

Bốn điều cần được chứng nghiệm — các đời sống quá khứ cần được chứng nghiệm bằng chú tâm; sự chết và tái sinh của chúng sinh cần được chứng nghiệm bằng con mắt [thần]; tám sự giải thoát cần được chứng nghiệm bằng cơ thể; sự cạn kiệt các nguồn ác cần được chứng nghiệm bằng sự hiểu biết.

xxy) Bốn pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, công đức uẩn, giải thoát uẩn.

xxvi) Bốn lực: Tinh tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực. xxvii) Bốn thắng xứ: Tuệ thắng xứ, đế thắng xứ, xả thắng xứ, chỉ tức thắng xứ (Bốn nguyện).

xxviii) Bốn cách trả lời câu hỏi: Trả lời câu hỏi một cách dứt khoát, trả lời câu hỏi bằng cách phân tích, trả lời câu hỏi bằng cách cật vấn, trả lời câu hỏi bằng cách giả lơ, bỏ qua.

xxix) Bốn nghiệp: Này các Hiền giả, có hắc nghiệp hắc báo. Này các Hiền giả, có bạch nghiệp bạch báo. Này các Hiền giả, có hắc bạch nghiệp, hắc bạch báo. Này các Hiền giả, có phi hắc phi bạch nghiệp, phi hắc phi bạch báo, và đưa đến sự tận diệt các nghiệp.

xxx) Bốn pháp cần phải chứng ngộ: Túc mạng cần phải chứng ngộ bởi niệm. Sanh tử cần phải chứng ngộ bởi nhãn. Tám giải thoát cần phải chứng ngộ bởi thân. Lậu tận cần phải chứng ngộ bởi Tuệ.

Bốn dòng lũ (bộc lưu / oghā) — dòng lũ sự dễ chịu giác quan, dòng lũ tồn tại, dòng lũ quan điểm, dòng lũ Không Hiểu Biết.

Bốn ách trói buộc (ách / yogā) — ách trói buộc sự dễ chịu giác quan, ách trói buộc tồn tại, ách trói buộc quan điểm, ách trói buộc Không Hiểu Biết.

Bốn sự tháo gỡ ách trói buộc — sự tháo gỡ ách trói buộc sự dễ chịu giác quan, sự tháo gỡ ách trói buộc tồn tại, sự tháo gỡ ách trói buộc quan điểm, sự tháo gỡ ách trói buộc Không Hiểu Biết.

Bốn nút thắt (hệ phược / ganthā) — lòng thamnút thắt của thân, ác ý là nút thắt của thân, Mê tín và giáo điềunút thắt của thân, sự cố chấp ‘chỉ có điều này là sự thật’ là nút thắt của thân.

Bốn sự Bám giữ (thủ / upādānāni) — sự Bám giữ sự dễ chịu giác quan, sự Bám giữ quan điểm, sự Bám giữ Mê tín và giáo điều, sự Bám giữ học thuyết về tự ngã.

Bốn cách sinh ra (loài / yoniyo) — sinh ra từ trứng, sinh ra từ thai, sinh ra từ nơi ẩm thấp, sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātika).

xxxi) Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu.

xxxii) Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.

xxxiii) Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách.

xxxiv) Bốn hệ phược: Tham thân hệ, sân thân hệ, giới cấm thủ thân hệ, thử thực chấp thân hệ.

xxxv) Bốn thủ: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã thuyết thủ.

xxxvi) Bốn sanh: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.

Bốn sự đi vào thai mẹ (nhập thai / gabbhāvakkantiyo). Này các hiền giả, ở đây, có người đi vào thai mẹ mà không nhận biết rõ ràng, ở trong thai mẹ mà không nhận biết rõ ràng, ra khỏi thai mẹ mà không nhận biết rõ ràng, đây là sự đi vào thai mẹ thứ nhất. Lại nữa, này các hiền giả, ở đây có người đi vào thai mẹ có nhận biết rõ ràng, ở trong thai mẹ mà không nhận biết rõ ràng, ra khỏi thai mẹ mà không nhận biết rõ ràng, đây là sự đi vào thai mẹ thứ hai. Lại nữa, này các hiền giả, ở đây có người đi vào thai mẹ có nhận biết rõ ràng, ở trong thai mẹ có nhận biết rõ ràng, ra khỏi thai mẹ mà không nhận biết rõ ràng, đây là sự đi vào thai mẹ thứ ba. Lại nữa, này các hiền giả, ở đây có người đi vào thai mẹ có nhận biết rõ ràng, ở trong thai mẹ có nhận biết rõ ràng, ra khỏi thai mẹ có nhận biết rõ ràng, đây là sự đi vào thai mẹ thứ tư.

Bốn sự đạt được thân thể (ngã thể / attabhāvapaṭilābhā). Này các hiền giả, có sự đạt được thân thể mà trong đó ý định của chính mình có tác dụng, không phải ý định của người khác. Này các hiền giả, có sự đạt được thân thể mà trong đó ý định của người khác có tác dụng, không phải ý định của chính mình. Này các hiền giả, có sự đạt được thân thể mà trong đó cả ý định của chính mình và ý định của người khác đều có tác dụng. Này các hiền giả, có sự đạt được thân thể mà trong đó ý định của chính mình không có tác dụng, ý định của người khác cũng không.

Bốn sự trong sạch của vật dâng cúng (cúng dường thanh tịnh / dakkhiṇāvisuddhiyo). Này các hiền giả, có vật dâng cúng trong sạch từ phía người cho, không phải từ phía người nhận. Này các hiền giả, có vật dâng cúng trong sạch từ phía người nhận, không phải từ phía người cho. Này các hiền giả, có vật dâng cúng không trong sạch từ phía người cho cũng không từ phía người nhận. Này các hiền giả, có vật dâng cúng trong sạch từ cả phía người cho và phía người nhận.

Bốn yếu tố thu phục nhân tâm (nhiếp pháp / saṅgahavatthūni) — sự cho đi, lời nói hòa nhã, hành động mang lại lợi ích, sự đối xử bình đẳng.

Bốn cách nói năng (ngôn ngữ / vohārā) không cao thượng — nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm.

Bốn cách nói năng cao thượng — tránh xa việc nói dối, tránh xa việc nói lời chia rẽ, tránh xa việc nói lời thô ác, tránh xa việc nói lời phù phiếm.

Bốn cách nói năng không cao thượng khác — không thấy mà nói là đã thấy, không nghe mà nói là đã nghe, không cảm nhận mà nói là đã cảm nhận, không biết mà nói là đã biết.

Bốn cách nói năng cao thượng khác — không thấy thì nói là không thấy, không nghe thì nói là không nghe, không cảm nhận thì nói là không cảm nhận, không biết thì nói là không biết.

Bốn cách nói năng không cao thượng khác — đã thấy mà nói là không thấy, đã nghe mà nói là không nghe, đã cảm nhận mà nói là không cảm nhận, đã biết mà nói là không biết.

Bốn cách nói năng cao thượng khác — đã thấy thì nói là đã thấy, đã nghe thì nói là đã nghe, đã cảm nhận thì nói là đã cảm nhận, đã biết thì nói là đã biết.

xxxvii) Bốn nhập thai: Này các Hiền giả, ở đây, có loài không tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ nhất. Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ hai. Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ ba. Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ tư.

xxxviii) Bốn phương cách được tự thể mới: Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của mình, không do ý chí của người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của người khác, không do ý chí của mình. Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của mình và ý chí của người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới được không do ý chí của mình, không do ý chí của người khác.

xxxix) Bốn sự cúng dường thanh tịnh: Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người cúng dường thanh tịnh, người nhận cúng dường không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người nhận cúng dường thanh tịnh, người cúng dường không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, cả người cúng dường và người nhận cúng dường đều không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người cúng dường và người nhận sự cúng dường đều thanh tịnh.

xl) Bốn nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. xli) Bốn phi Thánh ngôn: Vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ.

xlii) Bốn Thánh ngôn: Ly vọng ngữ, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ.

xliii) Bốn phi Thánh ngôn khác: Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không nghĩ nói nghĩ, không biết nói biết.

xliv) Bốn Thánh ngôn khác: Không thấy nói không thấy, không nghe nói không nghe, không nghĩ nói không nghĩ, không biết nói không biết.

xlv) Bốn phi Thánh ngôn khác: Thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, nghĩ nói không nghĩ, biết nói không biết.

xlvi) Bốn Thánh ngôn khác: Thấy nói thấy, nghe nói nghe, nghĩ nói nghĩ, biết nói biết.

Bốn hạng người. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người hành hạ bản thân, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người vừa hành hạ bản thân, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người không hành hạ bản thân, không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Người ấy không hành hạ bản thân, không hành hạ người khác, ngay trong hiện tại không còn đói khát, đã dập tắt, trở nên mát mẻ, cảm nhận hạnh phúc, sống với bản thân đã trở nên thiêng liêng.

Bốn hạng người khác. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người thực hành vì lợi ích của người khác, không vì lợi ích của bản thân. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người thực hành không vì lợi ích của bản thân, cũng không vì lợi ích của người khác. Này các hiền giả, ở đây, có hạng người thực hành vì lợi ích của bản thân và vì lợi ích của người khác.

Bốn hạng người khác — người từ bóng tối đi đến bóng tối, người từ bóng tối đi đến ánh sáng, người từ ánh sáng đi đến bóng tối, người từ ánh sáng đi đến ánh sáng.

Bốn hạng người khác — sa-môn bất động, sa-môn hoa sen trắng, sa-môn hoa sen hồng, sa-môn tinh tế trong các sa-môn.

Này các hiền giả, đây là bốn Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Kết thúc phần tụng đọc thứ nhất.

xlvii) Bốn loại người: Này các Hiền giả, ở đây, có người tự làm khổ mình và siêng năng làm khổ mình. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người làm khổ người khác, siêng năng làm khổ người khác. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người làm khổ mình, siêng năng làm khổ mình; làm khổ người, siêng năng làm khổ người. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người không làm khổ mình, không siêng năng làm khổ mình; không làm khổ người người, không siêng năng làm khổ người. Vị này không làm khổ mình, không làm khổ người ngay trong hiện tại sống ly dục, tịch tịnh, thanh lương, an lạc, thánh thiện.

xlviii) Lại bốn loại người khác: Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành tự lợi, không hành lợi tha. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành lợi tha, không hành tự lợi. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người, không hành tự lợi và không hành lợi tha. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành tự lợi và hạnh lợi tha.

xlix) Lại bốn loại người khác: Sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối, sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng, sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối, sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng.

l) Bốn loại người khác: Bất động Sa môn, Xích liên hoa Sa môn, Bạch liên hoa Sa môn, Diệu thiện Sa môn.

Này các Hiền giả, bốn Pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la Hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

5. Nhóm Năm (Pañcaka)

Này các hiền giả, có năm Điều (pháp / dhammā) đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau (kết tập / saṅgāyitabbaṁ) […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Năm Điều đó là gì?

Tụng Phẩm II

Năm pháp

1. Này các Hiền giả, có năm Pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Năm tập hợp (uẩn / khandhā). Tập hợp vật chất (sắc uẩn / rūpakkhandho), tập hợp cảm giác (thọ uẩn / vedanākkhandho), tập hợp nhận thức (tưởng uẩn / saññākkhandho), tập hợp hoạt động (hành uẩn / saṅkhārakkhandho), tập hợp ‘cái biết’ (thức uẩn / viññāṇakkhandho).

Năm tập hợp bị bám giữ (thủ uẩn / upādānakkhandhā). Tập hợp vật chất bị bám giữ, tập hợp cảm giác bị bám giữ, tập hợp nhận thức bị bám giữ, tập hợp hoạt động bị bám giữ, tập hợp ‘cái biết’ bị bám giữ.

Năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇā). Những hình ảnh (sắc / rūpā) được nhận biết bởi giác quan mắt (nhãn căn / cakkhu), đáng khao khát, đáng yêu, làm vừa lòng, có hình dáng dễ thương, liên hệ đến sự dễ chịu giác quan, kích thích sự đắm nhiễm (khả nhiễm / rajanīyā). Những âm thanh được nhận biết bởi giác quan tai… Những mùi được nhận biết bởi giác quan mũi… Những vị được nhận biết bởi giác quan lưỡi… Những vật xúc chạm được nhận biết bởi giác quan thân, đáng khao khát, đáng yêu, làm vừa lòng, có hình dáng dễ thương, liên hệ đến sự dễ chịu giác quan, kích thích sự đắm nhiễm.

Năm cõi tái sinh (thú / gatiyo) — địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, loài người, chư thiên.

Năm sự bủn xỉn (xan tham / macchariyāni) — sự bủn xỉn về chỗ ở, sự bủn xỉn về gia đình ủng hộ, sự bủn xỉn về lợi lộc, sự bủn xỉn về danh tiếng, sự bủn xỉn về Điều dạy.

i) Năm uẩn: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.

ii) Năm thủ uẩn: Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

iii) Năm dục công đức: Sắc do nhãn nhận thức. Sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Tiếng do tai nhận thức… Hương do mũi nhận thức… Vị do lưỡi nhận thức… Xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn.

iv) Năm thú: Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, Người, chư Thiên.

v) Năm xan tham: Xan tham đối với trú xứ, xan tham đối với gia đình, xan tham đối với các vật thâu hoạch, xan tham đối với sắc, xan tham đối với pháp.

Năm điều làm mờ yếu (ngũ triền cái / pañca nīvaraṇāni) — điều làm mờ yếu của muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchanda), điều làm mờ yếu của ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), điều làm mờ yếu của uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha), điều làm mờ yếu của bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), điều làm mờ yếu của nghi ngờ (nghi / vicikicchā).

Năm xiềng xích (kiết sử / saṁyojanāni) thuộc phần dưới (hạ phần / orambhāgiyāni) — Thấy mình là thật (thân kiến / sakkāyadiṭṭhi), Nghi ngờ, Mê tín và giáo điều (giới cấm thủ / sīlabbataparāmāso), muốn thỏa mãn bản năng, ác ý hãm hại.

Năm xiềng xích thuộc phần trên (thượng phần / uddhambhāgiyāni) — Đắm nhiễm Cõi vật chất (sắc ái / rūparāgo), Đắm nhiễm Cõi phi vật chất (vô sắc ái / arūparāgo), Ngạo mạn (mạn / māno), Bồn chồn (trạo cử / uddhaccaṁ), Không Hiểu Biết (vô minh / avijjā).

vi) Năm triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền cái.

vii) Năm hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham, sân.

viii) Năm thượng phần kiết sử: Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh.

Năm điều học — tránh xa việc tước đoạt mạng sống, tránh xa việc lấy của không cho, tránh xa hành vi sai trái trong sự dễ chịu giác quan, tránh xa việc nói dối, tránh xa các loại rượu và chất say là nguyên nhân của sự mê muội (phóng dật / pamāda).

Năm điều không thể xảy ra (bất khả xứ / abhabbaṭṭhānāni). Này các hiền giả, một Tỳ-kheo đã hết sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsavo) không thể cố ý tước đoạt mạng sống của một sinh vật. Một Tỳ-kheo đã hết sạch nguồn ác không thể lấy của không cho với ý định trộm cắp. Một Tỳ-kheo đã hết sạch nguồn ác không thể thực hành hành vi tình dục. Một Tỳ-kheo đã hết sạch nguồn ác không thể cố ý nói dối. Một Tỳ-kheo đã hết sạch nguồn ác không thể cất giữ đồ đạc để thụ hưởng sự dễ chịu giác quan giống như lúc còn là người sống ở gia đình.

Năm sự mất mát (tai nạn / byasanāni) — sự mất mát người thân, sự mất mát tài sản, sự mất mát do bệnh tật, sự mất mát đạo đức, sự mất mát quan điểm. Này các hiền giả, không phải vì lý do sự mất mát người thân, hay vì lý do sự mất mát tài sản, hay vì lý do sự mất mát do bệnh tật mà chúng sinh sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, lại tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Này các hiền giả, chính vì lý do sự mất mát đạo đức, hoặc vì lý do sự mất mát quan điểm mà chúng sinh sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục.

Năm sự thành tựu (thành tựu / sampadā) — sự thành tựu về người thân, sự thành tựu về tài sản, sự thành tựu về sức khỏe, sự thành tựu về đạo đức, sự thành tựu về quan điểm. Này các hiền giả, không phải vì lý do sự thành tựu về người thân, hay vì lý do sự thành tựu về tài sản, hay vì lý do sự thành tựu về sức khỏe mà chúng sinh sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, lại tái sinh vào cõi lành, cõi trời, thế giới tốt đẹp. Này các hiền giả, chính vì lý do sự thành tựu về đạo đức, hoặc vì lý do sự thành tựu về quan điểm mà chúng sinh sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi lành, cõi trời, thế giới tốt đẹp.

ix) Năm học xứ: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngôn, không uống các loại rượu.

x) Năm bất năng xứ: Này các Hiền giả, một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố sát hại đời sống loài hữu tình. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý lấy của không cho gọi là trộm cắp. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý hành dâm. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý tự mình biết mà nói láo. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể tiêu dùng các vật chứa cất vào các thú vui dục lạc như khi còn là cư sĩ.

xi) Năm sự tổn thất: Thân thuộc tổn thất, tài sản tổn thất, tật bệnh tổn thất, giới tổn thất, kiến tổn thất. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc tổn thất, vì tài sản tổn thất, hay vì tật bệnh tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, vì giới tổn thất hay vì kiến tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

xii) Năm sự thành tựu: Thân thuộc thành tựu, tài sản thành tựu, vô bệnh thành tựu, giới thành tựu, kiến thành tựu. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc thành tựu, vì tài sản thành tựu hay vì vô bệnh thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này. Này các Hiền giả, có các loài hữu tình, vì giới thành tựu hay vì kiến thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này.

Năm sự nguy hiểm đối với người thiếu đạo đức do sự thất bại về đạo đức. Này các hiền giả, ở đây, người thiếu đạo đức, thất bại về đạo đức, do nguyên nhân mê muội, phải chịu sự mất mát lớn về tài sản; đây là sự nguy hiểm thứ nhất đối với người thiếu đạo đức do sự thất bại về đạo đức. Lại nữa, này các hiền giả, tiếng xấu của người thiếu đạo đức, thất bại về đạo đức bị đồn xa; đây là sự nguy hiểm thứ hai… Lại nữa, này các hiền giả, người thiếu đạo đức, thất bại về đạo đức khi đi vào bất kỳ đám đông nào, dù là đám đông vua chúa, đám đông bà-la-môn, đám đông gia chủ, hay đám đông sa-môn, người ấy đi vào một cách thiếu tự tin và bối rối; đây là sự nguy hiểm thứ ba… Lại nữa, này các hiền giả, người thiếu đạo đức, thất bại về đạo đức chết trong sự u mê; đây là sự nguy hiểm thứ tư… Lại nữa, này các hiền giả, người thiếu đạo đức, thất bại về đạo đức, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục; đây là sự nguy hiểm thứ năm đối với người thiếu đạo đức do sự thất bại về đạo đức.

Năm lợi ích đối với người có đạo đức do sự thành tựu về đạo đức. Này các hiền giả, ở đây, người có đạo đức, thành tựu về đạo đức, do nguyên nhân sáng suốt (không phóng dật / appamāda), đạt được khối tài sản lớn; đây là lợi ích thứ nhất đối với người có đạo đức do sự thành tựu về đạo đức. Lại nữa, này các hiền giả, tiếng tốt của người có đạo đức, thành tựu về đạo đức được đồn xa; đây là lợi ích thứ hai… Lại nữa, này các hiền giả, người có đạo đức, thành tựu về đạo đức khi đi vào bất kỳ đám đông nào, dù là đám đông vua chúa, đám đông bà-la-môn, đám đông gia chủ, hay đám đông sa-môn, người ấy đi vào một cách tự tin và không bối rối; đây là lợi ích thứ ba… Lại nữa, này các hiền giả, người có đạo đức, thành tựu về đạo đức chết không trong sự u mê; đây là lợi ích thứ tư… Lại nữa, này các hiền giả, người có đạo đức, thành tựu về đạo đức, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi lành, cõi trời, thế giới tốt đẹp; đây là lợi ích thứ năm đối với người có đạo đức do sự thành tựu về đạo đức.

xiii) Năm điều nguy hiểm của người ác giới, phạm giới: Này các Hiền giả, người ác giới, vì phạm giới luật, do phóng dật thiệt hại nhiều tài sản. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, tiếng xấu đồn khắp. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Bà la môn, hội chúng Cư sĩ hay hội chúng Sa môn, người ấy vào một cách sợ sệt và dao động. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi mệnh chung, chết một cách mê loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm của người ác giới, phạm ác giới.

xiv) Năm điều lợi ích của người đủ giới, giữ giới: Này các Hiền giả, ở đây người đủ giới, giữ giới, nhờ không phóng dật nên được tài sản sung túc. Ðó là điều lợi ích thứ nhất cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới được tiếng tốt đồn khắp. Ðó là điều lợi ích thứ hai cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, với người đủ giới, giữ giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Ba la môn, hội chúng Cư sĩ, hội chúng Sa môn, vị ấy vào một cách đàng hoàng, không dao động. Ðó là điều lợi ích thứ ba cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới khi mệnh chung chết một cách không mê loạn. Ðó là điều lợi ích thứ tư cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy là điều lợi ích thứ năm cho người đủ giới, giữ giới.

Này các hiền giả, một người buộc tội (người cử tội / codakena), là một Tỳ-kheo muốn buộc tội người khác, cần phải thiết lập năm Điều trong nội tâm trước khi buộc tội người khác: ‘Tôi sẽ nói đúng lúc, không phải không đúng lúc; tôi sẽ nói đúng sự thật, không phải không đúng sự thật; tôi sẽ nói nhẹ nhàng, không phải thô lỗ; tôi sẽ nói những điều có lợi ích, không phải không có lợi ích; tôi sẽ nói với tâm đi kèm Tâm yêu thương, không phải với ác ý ẩn chứa bên trong’. Này các hiền giả, một người buộc tội, là một Tỳ-kheo muốn buộc tội người khác, cần phải thiết lập năm Điều này trong nội tâm trước khi buộc tội người khác.

Năm yếu tố của sự nỗ lực (tinh cần chi / padhāniyaṅgāni). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo có niềm tin, tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai: ‘Chính vì điều này, Thế Tôn là Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn… Bậc Thầy của chư thiên và loài người, Bậc Giác Ngộ, Thế Tôn’. Vị ấy ít bệnh tật, ít ốm đau, có hệ tiêu hóa hoạt động tốt, không quá lạnh cũng không quá nóng, ở mức trung bình, thích hợp cho sự nỗ lực. Vị ấy không gian xảo, không lừa dối, thể hiện bản thân đúng như thật trước Bậc Đạo Sư hoặc trước những người đồng tu có trí tuệ. Vị ấy sống phát động nỗ lực để hoàn toàn từ bỏ những Điều không thiện, để đạt được những Điều thiện, có sức mạnh, kiên định tiến bước, không trút bỏ gánh nặng đối với những Điều thiện. Vị ấy có sự hiểu biết, được trang bị sự hiểu biết về sự sinh ra và tan biến, sự hiểu biết của bậc thánh, có khả năng xuyên thấu, dẫn đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.

xv) Năm pháp nội tâm: Này các Hiền giả, năm pháp nội tâm một vị Tỷ kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác: “Tôi nói đúng thời, không phải phi thời. Tôi nói đúng sự thật, không sai sự thật. Tôi nói một cách từ tốn, không nói lời ác khẩu. Tôi nói lời có lợi ích, không nói lời không có lợi ích. Tôi nói lời có lòng từ, không phải lời sân hận”. Này các Hiền giả, như vậy là năm pháp nội tâm một vị Tỷ kheo cần phải có, nếu muốn chỉ trích một vị khác.

xvi) Năm cần chi: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai - “Ðây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau.

Năm cõi Tịnh Cư (suddhāvāsā) — cõi Vô Phiền (Avihā), cõi Vô Nhiệt (Atappā), cõi Thiện Kiến (Sudassā), cõi Thiện Hiện (Sudassī), cõi Sắc Cứu Kính (Akaniṭṭhā).

Năm hạng người Bất lai (anāgāmino) — người dập tắt [phiền não] giữa chừng, người dập tắt khi vừa sinh ra, người dập tắt không cần nỗ lực, người dập tắt cần nỗ lực, người đi ngược dòng lên cõi Sắc Cứu Kính.

xvii) Năm tịnh cư: Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Hiện thiên, Thiện Kiến thiên, Sắc Cứu Cánh thiên.

xviii) Năm bất hoàn: Trung gian Bát Niết bàn, Sanh Bát Niết bàn, Vô hành Bát Niết bàn, Hữu hành Bát Niết bàn, Thượng lưu thú A-ca-ni-sá.

xix) Năm tâm hoang vu: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ … đối với Pháp… đối với Tăng… đối với học Pháp…

Lại nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.

Năm sự khô cằn của tâm (tâm hoang vu / cetokhilā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không trong sáng đối với Bậc Đạo Sư. Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào nghi ngờ, do dự, không tin tưởng, không trong sáng đối với Bậc Đạo Sư, tâm của người ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực; đối với ai mà tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực, đây là sự khô cằn của tâm thứ nhất. Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo nghi ngờ, do dự đối với Điều dạy… nghi ngờ, do dự đối với Tăng đoàn… nghi ngờ, do dự đối với sự rèn luyện… tức giận, không hài lòng, tâm bị tổn thương, trở nên cứng nhắc đối với những người đồng tu. Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào tức giận, không hài lòng, tâm bị tổn thương, trở nên cứng nhắc đối với những người đồng tu, tâm của người ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực; đối với ai mà tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực, đây là sự khô cằn của tâm thứ năm.

Năm sự trói buộc của tâm (tâm triền phược / cetasovinibandhā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo chưa cạn hết đắm nhiễm đối với sự dễ chịu giác quan, chưa hết mong muốn, chưa hết yêu thích, chưa hết khao khát, chưa hết nóng bỏng, chưa hết sự thèm khát. Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào chưa cạn hết đắm nhiễm đối với sự dễ chịu giác quan… tâm của người ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực. Đối với ai mà tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực. Đây là sự trói buộc của tâm thứ nhất. Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo chưa cạn hết đắm nhiễm đối với cơ thể… chưa cạn hết đắm nhiễm đối với vật chất… Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo sau khi ăn no căng bụng, sống buông thả theo hạnh phúc của việc nằm, hạnh phúc của việc ngả lưng, hạnh phúc của sự uể oải, buồn ngủ… Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo thực hành đời sống thánh thiện với mong muốn sinh vào một nhóm chư thiên nào đó: ‘Bằng đạo đức này, hoặc bằng thệ nguyện này, hoặc bằng sự khổ hạnh này, hoặc bằng đời sống thánh thiện này, ta sẽ trở thành một vị chư thiên, hoặc một vị chư thiên nào đó’. Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào thực hành đời sống thánh thiện với mong muốn sinh vào một nhóm chư thiên nào đó… tâm của người ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực. Đối với ai mà tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên chú, sự kiên trì, sự nỗ lực. Đây là sự trói buộc của tâm thứ năm.

xx) Năm tâm triền phược: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các dục vọng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với ác dục vọng, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ nhất. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, tâm không ly tham đối với các thân… Như vậy là tâm triền phược thứ hai… Ðối với các sắc, tâm không ly tham… Ðây là tâm triền phược thứ ba. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo không ăn quá sức bao tử có thể chịu nổi, hưởng thọ sự sung sướng về nằm ngủ, sự sung sướng về xúc chạm, sự sung sướng về thụy miên… Ðây là tâm triền phược thứ tư. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng mong được thành một loại chư Thiên: “Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay loại chư Thiên khác”. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng được thành một loại chư Thiên: “Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Tâm của vị này không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ năm.

Năm giác quan (căn / indriyāni) — giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân.

Năm giác quan khác — giác quan hạnh phúc, giác quan đau khổ, giác quan thanh thản, giác quan ưu phiền, giác quan bình thản.

Năm năng lực tinh thần (ngũ căn / pañcindriyāni) khác — năng lực tinh thần niềm tin, năng lực tinh thần nỗ lực, năng lực tinh thần chú tâm, năng lực tinh thần Định, năng lực tinh thần sự hiểu biết.

Năm nguyên tố để thoát khỏi (xuất ly giới / nissaraṇiyā dhātuyo). Này các hiền giả, ở đây, khi Tỳ-kheo suy nghĩ về sự dễ chịu giác quan, tâm không lao vào, không trong sáng, không an trú, không được giải thoát trong sự dễ chịu giác quan. Nhưng khi vị ấy suy nghĩ về sự từ bỏ, tâm lao vào, trong sáng, an trú, được giải thoát trong sự từ bỏ. Tâm của vị ấy đi đúng hướng, được phát triển tốt, trỗi dậy tốt, được giải thoát tốt, được tháo gỡ khỏi sự dễ chịu giác quan. Và những nguồn ác, những sự bực dọc, những sự nóng bỏng nào sinh ra với sự dễ chịu giác quan làm Điều kiện (duyên / paccaya), vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm nhận cảm giác đó nữa. Đây được gọi là sự thoát khỏi sự dễ chịu giác quan.

Lại nữa, này các hiền giả, khi Tỳ-kheo suy nghĩ về ác ý, tâm không lao vào, không trong sáng, không an trú, không được giải thoát trong ác ý. Nhưng khi vị ấy suy nghĩ về không ác ý, tâm lao vào, trong sáng, an trú, được giải thoát trong không ác ý. Tâm của vị ấy đi đúng hướng, được phát triển tốt, trỗi dậy tốt, được giải thoát tốt, được tháo gỡ khỏi ác ý. Và những nguồn ác, những sự bực dọc, những sự nóng bỏng nào sinh ra với ác ý làm Điều kiện, vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm nhận cảm giác đó nữa. Đây được gọi là sự thoát khỏi ác ý.

Lại nữa, này các hiền giả, khi Tỳ-kheo suy nghĩ về sự làm hại, tâm không lao vào… Nhưng khi vị ấy suy nghĩ về không làm hại, tâm lao vào… Tâm của vị ấy đi đúng hướng… được tháo gỡ khỏi sự làm hại. Và những nguồn ác… sinh ra với sự làm hại làm Điều kiện, vị ấy được giải thoát khỏi chúng… Đây được gọi là sự thoát khỏi sự làm hại.

Lại nữa, này các hiền giả, khi Tỳ-kheo suy nghĩ về vật chất, tâm không lao vào… Nhưng khi vị ấy suy nghĩ về phi vật chất, tâm lao vào… Tâm của vị ấy đi đúng hướng… được tháo gỡ khỏi vật chất. Và những nguồn ác… sinh ra với vật chất làm Điều kiện, vị ấy được giải thoát khỏi chúng… Đây được gọi là sự thoát khỏi vật chất.

Lại nữa, này các hiền giả, khi Tỳ-kheo suy nghĩ về Thấy mình là thật (thân kiến / sakkāya), tâm không lao vào, không trong sáng, không an trú, không được giải thoát trong Thấy mình là thật. Nhưng khi vị ấy suy nghĩ về sự chấm dứt Thấy mình là thật, tâm lao vào, trong sáng, an trú, được giải thoát trong sự chấm dứt Thấy mình là thật. Tâm của vị ấy đi đúng hướng, được phát triển tốt, trỗi dậy tốt, được giải thoát tốt, được tháo gỡ khỏi Thấy mình là thật. Và những nguồn ác, những sự bực dọc, những sự nóng bỏng nào sinh ra với Thấy mình là thật làm Điều kiện, vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm nhận cảm giác đó nữa. Đây được gọi là sự thoát khỏi Thấy mình là thật.

xxi) Năm căn: Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

xxii) Lại năm căn khác: Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

xxiii) Lại năm căn khác: Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

xxiv) Năm xuất ly giới: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còm cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hoại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lại, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trí, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trí, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tôn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.

Năm cơ sở của sự giải thoát (giải thoát xứ / vimuttāyatanāni). Này các hiền giả, ở đây, Bậc Đạo Sư hoặc một vị đồng tu đáng kính nào đó thuyết giảng Điều dạy cho Tỳ-kheo. Này các hiền giả, theo cách mà Bậc Đạo Sư hoặc một vị đồng tu đáng kính thuyết giảng Điều dạy cho Tỳ-kheo, theo cách đó vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được Điều dạy trong Điều dạy ấy. Đối với người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được Điều dạy, niềm vui sướng (hân hoan / pāmojja) sinh ra; từ người có niềm vui sướng, hân hoan (hỷ / pīti) sinh ra; với tâm hân hoan, cơ thể được lắng dịu (khinh an / passambhati); với cơ thể được lắng dịu, vị ấy cảm nhận hạnh phúc; đối với người có hạnh phúc, tâm đi vào Định (samādhiyati). Đây là cơ sở của sự giải thoát thứ nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, Bậc Đạo Sư hoặc một vị đồng tu đáng kính không thuyết giảng Điều dạy cho Tỳ-kheo, nhưng vị ấy tự mình thuyết giảng Điều dạy một cách chi tiết cho người khác đúng như đã nghe, đúng như đã học… Lại nữa, vị ấy tự mình tụng đọc Điều dạy một cách chi tiết đúng như đã nghe, đúng như đã học… Lại nữa, vị ấy dùng tâm để suy nghĩ theo, xem xét theo, dùng giác quan trí não để quan sát Điều dạy đúng như đã nghe, đúng như đã học… Lại nữa, vị ấy nắm bắt tốt một dấu hiệu Định nào đó, suy nghĩ tốt về nó, duy trì nó tốt, thấu hiểu nó tốt bằng sự hiểu biết. Này các hiền giả, theo cách mà Tỳ-kheo nắm bắt tốt một dấu hiệu Định nào đó, suy nghĩ tốt về nó, duy trì nó tốt, thấu hiểu nó tốt bằng sự hiểu biết, theo cách đó vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được Điều dạy trong Điều dạy ấy. Đối với người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được Điều dạy, niềm vui sướng sinh ra; từ người có niềm vui sướng, hân hoan sinh ra; với tâm hân hoan, cơ thể được lắng dịu; với cơ thể được lắng dịu, vị ấy cảm nhận hạnh phúc; đối với người có hạnh phúc, tâm đi vào Định. Đây là cơ sở của sự giải thoát thứ năm.

Năm nhận thức làm chín muồi sự giải thoát — nhận thức về sự không bền vững, nhận thức về sự đau khổ trong cái không bền vững, nhận thức về sự không có cốt lõi trong cái đau khổ, nhận thức về sự hoàn toàn từ bỏ, nhận thức về sự cạn hết đắm nhiễm.

Này các hiền giả, đây là năm Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

xxv) Năm giải thoát xứ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh. Ðó là giải thoát xứ thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tính. Ðó là giải thoát xứ thứ tư.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ khoe nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ năm.

xxvi) Năm giải thoát thành thục tưởng: Vô thường tưởng, khổ tưởng trong vô thường, vô ngã tưởng trong khổ, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng.

Này các Hiền giả, năm pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

6. Nhóm Sáu (Chakka)

Này các hiền giả, có sáu Điều (pháp / dhammā) đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau (kết tập / saṅgāyitabbaṁ) […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Sáu Điều đó là gì?

Sáu trường (xứ / āyatanāni) bên trong — trường mắt, trường tai, trường mũi, trường lưỡi, trường thân, trường giác quan trí não (ý / manāyatanaṁ).

Sáu trường bên ngoài — trường hình ảnh (sắc / rūpāyatanaṁ), trường âm thanh, trường mùi, trường vị, trường vật xúc chạm, trường Điều (pháp / dhammāyatanaṁ).

Sáu nhóm ‘Cái Biết’ (thức / viññāṇakāyā) — ‘cái biết’ ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññāṇaṁ), ‘cái biết’ ở tai, ‘cái biết’ ở mũi, ‘cái biết’ ở lưỡi, ‘cái biết’ ở thân, ‘Cái Biết’ ở trí não (ý thức / manoviññāṇaṁ).

Sáu nhóm Xúc (phassakāyā) — Xúc ở mắt, Xúc ở tai, Xúc ở mũi, Xúc ở lưỡi, Xúc ở thân, Xúcgiác quan trí não.

Sáu nhóm cảm giác (thọ / vedanākāyā) — cảm giác sinh ra từ Xúc ở mắt, cảm giác sinh ra từ Xúc ở tai, cảm giác sinh ra từ Xúc ở mũi, cảm giác sinh ra từ Xúc ở lưỡi, cảm giác sinh ra từ Xúc ở thân, cảm giác sinh ra từ Xúcgiác quan trí não.

Sáu nhóm nhận thức (tưởng / saññākāyā) — nhận thức về hình ảnh, nhận thức về âm thanh, nhận thức về mùi, nhận thức về vị, nhận thức về vật xúc chạm, nhận thức về Điều.

Sáu nhóm ý định (tư / sañcetanākāyā) — ý định về hình ảnh, ý định về âm thanh, ý định về mùi, ý định về vị, ý định về vật xúc chạm, ý định về Điều.

Sáu nhóm sự thèm khát (ái / taṇhākāyā) — sự thèm khát hình ảnh, sự thèm khát âm thanh, sự thèm khát mùi, sự thèm khát vị, sự thèm khát vật xúc chạm, sự thèm khát Điều.

Sáu pháp

2. Này các Hiền giả, có sáu pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là sáu?

i) Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ.

ii) Sáu ngoại xứ: Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ.

iii) Sáu thức thân: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.

iv) Sáu xúc thân: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.

v) Sáu thọ thân: Nhãn xúc sở sanh thọ, nhĩ xúc sở sanh thọ, tỷ xúc sở sanh thọ, thiệt xúc sở sanh thọ, thân xúc sở sanh thọ, ý xúc sở sanh thọ.

vi) Sáu tưởng thân: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

vii) Sáu tư thân: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.

viii) Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái.

Sáu sự thiếu tôn kính. Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Điều dạy; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Tăng đoàn; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với sự rèn luyện; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với sự sáng suốt (không phóng dật / appamāde); sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với sự tiếp đón ân cần.

Sáu sự tôn kính. Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo sống có tôn kính, có vâng lời đối với Bậc Đạo Sư; sống có tôn kính, có vâng lời đối với Điều dạy; sống có tôn kính, có vâng lời đối với Tăng đoàn; sống có tôn kính, có vâng lời đối với sự rèn luyện; sống có tôn kính, có vâng lời đối với sự sáng suốt; sống có tôn kính, có vâng lời đối với sự tiếp đón ân cần.

ix) Sáu không cung kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận học Pháp; sống không cung kính bất phóng dật, không tùy thuận bất phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận sự lễ phép xã giao.

x) Sáu cung kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo sống cung kính, tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính, tùy thuận Pháp; sống cung kính, tùy thuận Tăng; sống cung kính tùy thuận học Pháp; sống cung kính, tùy thuận bất phóng dật; sống cung kính, tùy thuận lễ phép xã giao.

Sáu sự tiếp cận bằng thanh thản (hỷ / somanassūpavicārā). Sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, vị ấy tiếp cận hình ảnh là cơ sở của sự thanh thản; sau khi nghe âm thanh bằng tai… sau khi ngửi mùi bằng mũi… sau khi nếm vị bằng lưỡi… sau khi chạm vào vật xúc chạm bằng thân… Sau khi nhận biết Điều bằng giác quan trí não, vị ấy tiếp cận Điều là cơ sở của sự thanh thản.

Sáu sự tiếp cận bằng ưu phiền (ưu / domanassūpavicārā). Sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, vị ấy tiếp cận hình ảnh là cơ sở của sự ưu phiền… Sau khi nhận biết Điều bằng giác quan trí não, vị ấy tiếp cận Điều là cơ sở của sự ưu phiền.

xi) Sáu sư tư đến hỷ: Khi mắt thấy sắc, hoan hỷ khởi lên, sắc ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi hương… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân chạm xúc… Khi ý nhận pháp, hoan hỷ khởi lên, pháp ấy được suy tư.

xii) Sáu suy tư đến ưu: Khi mắt thấy sắc, ưu khởi lên, sắc ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi hương… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân chạm xúc… Khi ý nhận pháp, ưu khởi lên, pháp ấy được suy tư.

xiii) Sáu suy tư đến xả: Khi mắt thấy sắc, xả khởi lên, sắc ấy được suy tư… Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi hương… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân chạm xúc… Khi ý nhận pháp, xả khởi lên, pháp ấy được suy tư.

Sáu sự tiếp cận bằng bình thản (xả / upekkhūpavicārā). Sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, vị ấy tiếp cận hình ảnh là cơ sở của sự bình thản… Sau khi nhận biết Điều bằng giác quan trí não, vị ấy tiếp cận Điều là cơ sở của sự bình thản.

Sáu Điều đáng ghi nhớ (sāraṇīyā dhammā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo thiết lập hành động qua thân đi kèm Tâm yêu thương (từ / mettaṁ) đối với những người đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Điều này đáng ghi nhớ, tạo ra sự yêu mến, tạo ra sự tôn trọng, dẫn đến sự gắn kết, không tranh cãi, hòa hợp và thống nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo thiết lập hành động qua lời nói đi kèm Tâm yêu thương đối với những người đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Điều này đáng ghi nhớ… dẫn đến sự thống nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo thiết lập hành động qua ý nghĩ đi kèm Tâm yêu thương đối với những người đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Điều này đáng ghi nhớ… dẫn đến sự thống nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, đối với những lợi lộc đúng Quy luật, đạt được đúng Quy luật, cho đến những thứ nằm trong bình bát, Tỳ-kheo chia sẻ không giữ riêng những lợi lộc như vậy, cùng thọ dụng chung với những người đồng tu có đạo đức. Điều này đáng ghi nhớ… dẫn đến sự thống nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, đối với những đạo đức không bị đứt đoạn, không bị sứt mẻ, không bị tì vết, không bị vấy bẩn, mang tính tự do, được người trí khen ngợi, không bị bám víu, dẫn đến Định, Tỳ-kheo sống bình đẳng về đạo đức trong những đạo đức như vậy với những người đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Điều này đáng ghi nhớ… dẫn đến sự thống nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, đối với quan điểm thuộc về bậc thánh, dẫn đến sự thoát ly, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn, Tỳ-kheo sống bình đẳng về quan điểm trong quan điểm như vậy với những người đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Điều này đáng ghi nhớ, tạo ra sự yêu mến, tạo ra sự tôn trọng, dẫn đến sự gắn kết, không tranh cãi, hòa hợp và thống nhất.

xiv) Sáu hòa kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Sáu gốc rễ của sự tranh cãi (vivādamūlāni). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo hay tức giận, hay thù hằn. Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào hay tức giận, hay thù hằn, người ấy sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Điều dạy; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Tăng đoàn; không làm viên mãn sự rèn luyện. Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư… không làm viên mãn sự rèn luyện, người ấy tạo ra sự tranh cãi trong Tăng đoàn. Sự tranh cãi đó đem lại sự không lợi ích cho số đông, sự không hạnh phúc cho số đông, vì mục đích tai hại, không lợi ích, đau khổ cho chư thiên và loài người. Này các hiền giả, nếu các vị thấy một gốc rễ của sự tranh cãi như vậy bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, này các hiền giả, các vị phải nỗ lực để hoàn toàn từ bỏ chính gốc rễ của sự tranh cãi ác hại đó. Này các hiền giả, nếu các vị không thấy một gốc rễ của sự tranh cãi như vậy bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, này các hiền giả, các vị phải thực hành để gốc rễ của sự tranh cãi ác hại đó không chảy vào trong tương lai. Như vậy là có sự hoàn toàn từ bỏ gốc rễ của sự tranh cãi ác hại này. Như vậy là có sự không chảy vào trong tương lai của gốc rễ của sự tranh cãi ác hại này.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo hay che giấu lỗi lầm, hay cố chấp… hay ghen tị, hay bủn xỉn… hay gian xảo, hay lừa dối… có mong muốn ác hại, có quan điểm sai lầm… bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ lấy, khó buông bỏ… Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào bám víu vào quan điểm của mình, cố chấp giữ lấy, khó buông bỏ, người ấy sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Điều dạy; sống thiếu tôn kính, không vâng lời đối với Tăng đoàn; không làm viên mãn sự rèn luyện. Này các hiền giả, Tỳ-kheo nào sống thiếu tôn kính… người ấy tạo ra sự tranh cãi trong Tăng đoàn. Sự tranh cãi đó đem lại sự không lợi ích cho số đông… Này các hiền giả, nếu các vị thấy một gốc rễ của sự tranh cãi như vậy bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, này các hiền giả, các vị phải nỗ lực để hoàn toàn từ bỏ chính gốc rễ của sự tranh cãi ác hại đó. Này các hiền giả, nếu các vị không thấy một gốc rễ của sự tranh cãi như vậy bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, này các hiền giả, các vị phải thực hành để gốc rễ của sự tranh cãi ác hại đó không chảy vào trong tương lai. Như vậy là có sự hoàn toàn từ bỏ gốc rễ của sự tranh cãi ác hại này. Như vậy là có sự không chảy vào trong tương lai của gốc rễ của sự tranh cãi ác hại này.

xv) Sáu tránh căn: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo phẫn nộ, uất hận. Này các Hiền giả, vị này phẫn nộ, uất hận, sống không cung kính, không tùy thuận vị Ðạo Sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sống không cung kính không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc, khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích, và khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc, mà đau khổ. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là ngăn chặn nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo che dấu và giả dối… tật đố và xan tham… lừa đảo và lường gạt… ác dục và tà kiến…

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ rất khó rời bỏ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc, khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích, khiến chư Thiên vào loài Người không hạnh phúc, mà đau khổ. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ ác tránh căn ấy, như vậy là ngăn chận nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.

Sáu nguyên tố (giới / dhātuyo) — nguyên tố Đất, nguyên tố Nước, nguyên tố Lửa, nguyên tố Gió, nguyên tố Không Gian, nguyên tố ‘Cái Biết’.

Sáu nguyên tố để thoát khỏi (xuất ly giới / nissaraṇiyā dhātuyo). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo có thể nói như vầy: ‘Sự giải thoát tâm bằng Tâm yêu thương đã được tôi phát triển, làm cho viên mãn, dùng làm cỗ xe, dùng làm nền tảng, thiết lập vững chắc, tích lũy, bắt đầu tốt đẹp; nhưng ác ý vẫn bao trùm lấy tâm tôi’. Người ấy cần được nói rằng: ‘Đừng nói như vậy, thưa hiền giả đừng nói như vậy, đừng vu khống Thế Tôn, vu khống Thế Tôn là không tốt, Thế Tôn sẽ không nói như vậy. Này hiền giả, điều này là không thể, không có cơ sở, rằng khi sự giải thoát tâm bằng Tâm yêu thương đã được phát triển, làm cho viên mãn, dùng làm cỗ xe, dùng làm nền tảng, thiết lập vững chắc, tích lũy, bắt đầu tốt đẹp, mà ác ý vẫn bao trùm lấy tâm người ấy, điều này không thể xảy ra. Này hiền giả, đây chính là sự thoát khỏi ác ý, tức là sự giải thoát tâm bằng Tâm yêu thương’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có thể nói như vầy: ‘Sự giải thoát tâm bằng Tâm thông cảm đã được tôi phát triển… nhưng sự làm hại vẫn bao trùm lấy tâm tôi’. Người ấy cần được nói rằng: ‘Đừng nói như vậy… Này hiền giả, điều này là không thể… Này hiền giả, đây chính là sự thoát khỏi sự làm hại, tức là sự giải thoát tâm bằng Tâm thông cảm’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có thể nói như vầy: ‘Sự giải thoát tâm bằng Tâm cùng vui đã được tôi phát triển… nhưng sự không hài lòng vẫn bao trùm lấy tâm tôi’. Người ấy cần được nói rằng: ‘Đừng nói như vậy… Này hiền giả, điều này là không thể… Này hiền giả, đây chính là sự thoát khỏi sự không hài lòng, tức là sự giải thoát tâm bằng Tâm cùng vui’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có thể nói như vầy: ‘Sự giải thoát tâm bằng Tâm bình thản đã được tôi phát triển… nhưng đắm nhiễm (tham / rāgo) vẫn bao trùm lấy tâm tôi’. Người ấy cần được nói rằng: ‘Đừng nói như vậy… Này hiền giả, điều này là không thể… Này hiền giả, đây chính là sự thoát khỏi đắm nhiễm, tức là sự giải thoát tâm bằng Tâm bình thản’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có thể nói như vầy: ‘Sự giải thoát tâm không chạy theo hình dáng (vô tướng / animittā) đã được tôi phát triển… nhưng ‘Cái Biết’ chạy theo hình dáng vẫn khởi lên trong tôi’. Người ấy cần được nói rằng: ‘Đừng nói như vậy… Này hiền giả, điều này là không thể… Này hiền giả, đây chính là sự thoát khỏi mọi hình dáng, tức là sự giải thoát tâm không chạy theo hình dáng’.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có thể nói như vầy: ‘Ý nghĩ “Tôi là” đã biến mất trong tôi, tôi không còn thấy “Tôi là cái này”, nhưng mũi tên nghi ngờ và do dự vẫn bao trùm lấy tâm tôi’. Người ấy cần được nói rằng: ‘Đừng nói như vậy… Này hiền giả, điều này là không thể, không có cơ sở, rằng khi ý nghĩ “Tôi là” đã biến mất, không còn thấy “Tôi là cái này”, mà mũi tên nghi ngờ và do dự vẫn bao trùm lấy tâm người ấy, điều này không thể xảy ra. Này hiền giả, đây chính là sự thoát khỏi mũi tên nghi ngờ và do dự, tức là sự nhổ bỏ tận gốc rễ sự kiêu ngạo “Tôi là”’.

xvi) Sáu giới: Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.

xvii) Sáu xuất ly giới: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trí, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.

Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú tôi”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi”. Sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn “tôi có mặt”, mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.

Sáu sự vô thượng (anuttariyāni) — sự vô thượng của việc nhìn thấy, sự vô thượng của việc nghe, sự vô thượng của việc đạt được, sự vô thượng của sự rèn luyện, sự vô thượng của sự phục vụ, sự vô thượng của việc nhớ lại.

Sáu cơ sở của việc nhớ lại (anussatiṭṭhānāni) — nhớ lại Đức Phật, nhớ lại Điều dạy, nhớ lại Tăng đoàn, nhớ lại đạo đức, nhớ lại sự cho đi, nhớ lại chư thiên.

Sáu trạng thái trú ngụ thường xuyên (satatavihārā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, không vui mừng cũng không buồn bã, an trú với Tâm bình thản, chú tâmnhận biết rõ ràng. Sau khi nghe âm thanh bằng tai… Sau khi nhận biết Điều bằng giác quan trí não, không vui mừng cũng không buồn bã, an trú với Tâm bình thản, chú tâmnhận biết rõ ràng.

xviii) Sáu vô thượng: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, học giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng.

xix) Sáu niệm xứ: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên.

xx) Sáu hằng trú: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, giác tỉnh; tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tinh giác.

Sáu loại sinh ra (chaḷābhijātiyo). Này các hiền giả, ở đây, có người sinh ra trong loại đen (ác), lại sinh ra Điều đen. Lại nữa, này các hiền giả, ở đây, có người sinh ra trong loại đen, lại sinh ra Điều trắng (thiện). Lại nữa, này các hiền giả, ở đây, có người sinh ra trong loại đen, lại sinh ra Niết-bàn không đen không trắng. Lại nữa, này các hiền giả, ở đây, có người sinh ra trong loại trắng, lại sinh ra Điều trắng. Lại nữa, này các hiền giả, ở đây, có người sinh ra trong loại trắng, lại sinh ra Điều đen. Lại nữa, này các hiền giả, ở đây, có người sinh ra trong loại trắng, lại sinh ra Niết-bàn không đen không trắng.

Sáu nhận thức thuộc phần xuyên thấu (nibbedhabhāgiyā saññā) — nhận thức về sự không bền vững, nhận thức về sự đau khổ trong cái không bền vững, nhận thức về sự không có cốt lõi trong cái đau khổ, nhận thức về sự hoàn toàn từ bỏ, nhận thức về sự cạn hết đắm nhiễm, nhận thức về sự hết (diệt / nirodhasaññā).

Này các hiền giả, đây là sáu Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

xxi) Sáu sanh loại: Này các Hiền giả, ở đây có người hắc sanh và sống tạo hắc pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có người hắc sanh và sống tạo bạch pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có người hắc sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắn phi bạch pháp. Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo bạch pháp. Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo hắc pháp. Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắc phi bạch pháp.

xxii) Sáu quyết trạch phần thưởng: Vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, vô tham tưởng, diệt tưởng.

Này các Hiền giả, sáu pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

7. Nhóm Bảy (Sattaka)

Này các hiền giả, có bảy Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Bảy Điều đó là gì?

Bảy tài sản của bậc thánh (ariyadhanāni) — tài sản niềm tin, tài sản đạo đức, tài sản biết xấu hổ, tài sản biết sợ lỗi, tài sản nghe học, tài sản cho đi, tài sản sự hiểu biết.

Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ (giác chi / bojjhaṅgā) — dấu hiệu trí nhớ không quên, dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích, dấu hiệu Nỗ Lực, dấu hiệu sự hân hoan, Dấu hiệu cơ thể lắng dịu, dấu hiệu Định, dấu hiệu Tâm cân bằng.

Bảy yếu tố hỗ trợ Định (định tư cụ / samādhiparikkhārā) — Nhìn thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappo), Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā), Hành động Thiện (chánh nghiệp / sammākammanto), Đời sống Thiện (chánh mạng / sammāājīvo), Nỗ lực Thiện (chánh tinh tấn / sammāvāyāmo), chú tâm Thiện (chánh niệm / sammāsati).

Bảy pháp

8. Này các Hiền giả, có bảy pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là bảy?

i) Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.

ii) Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi.

iii) Bảy định cụ: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm.

Bảy Điều của người không tốt (asaddhammā) — này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo không có niềm tin, không biết xấu hổ, không biết sợ lỗi, ít nghe học, lười biếng, quên lãng, thiếu sự hiểu biết.

Bảy Điều của người tốt (saddhammā) — này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo có niềm tin, biết xấu hổ, biết sợ lỗi, nghe học nhiều, phát động nỗ lực, thiết lập chú tâm, có sự hiểu biết.

Bảy Điều của bậc chân nhân (sappurisadhammā) — này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo biết Điều dạy, biết ý nghĩa, biết bản thân, biết chừng mực, biết thời điểm, biết hội chúng, biết con người.

Bảy cơ sở của sự không lười biếng (niddasavatthūni). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo có mong muốn mãnh liệt trong việc tiếp nhận sự rèn luyện, và trong tương lai tình yêu đối với việc tiếp nhận sự rèn luyện không phai nhạt. Vị ấy có mong muốn mãnh liệt trong việc xem xét Điều dạy, và trong tương lai tình yêu đối với việc xem xét Điều dạy không phai nhạt. Vị ấy có mong muốn mãnh liệt trong việc điều phục sự mong cầu, và trong tương lai tình yêu đối với việc điều phục sự mong cầu không phai nhạt. Vị ấy có mong muốn mãnh liệt trong việc sống tĩnh cư, và trong tương lai tình yêu đối với việc sống tĩnh cư không phai nhạt. Vị ấy có mong muốn mãnh liệt trong việc phát động nỗ lực, và trong tương lai tình yêu đối với việc phát động nỗ lực không phai nhạt. Vị ấy có mong muốn mãnh liệt trong việc chú tâm và thận trọng, và trong tương lai tình yêu đối với việc chú tâm và thận trọng không phai nhạt. Vị ấy có mong muốn mãnh liệt trong việc xuyên thấu quan điểm, và trong tương lai tình yêu đối với việc xuyên thấu quan điểm không phai nhạt.

Bảy nhận thứcnhận thức về sự không bền vững, nhận thức về sự không có cốt lõi, nhận thức về sự không đẹp đẽ, nhận thức về sự nguy hiểm, nhận thức về sự hoàn toàn từ bỏ, nhận thức về sự cạn hết đắm nhiễm, nhận thức về sự hết.

Bảy sức mạnh — sức mạnh niềm tin, sức mạnh nỗ lực, sức mạnh biết xấu hổ, sức mạnh biết sợ lỗi, sức mạnh chú tâm, sức mạnh Định, sức mạnh sự hiểu biết.

iv) Bảy phi diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đải, thất niệm, liệt tuệ.

v) Bảy diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo có lòng tín, có tàm, có quý, đa văn, tinh tấn, niệm được an trú, có trí tuệ.

vi) Bảy thượng nhân pháp: Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo tri pháp, tri nghĩa, tự tri, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân.

vii) Bảy thù diệu sự: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai; tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai; tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai; tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai; tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai; tha thiết quán sát tư niệm và khát vọng quán sát tư niệm trong tương lai; tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.

viii) Bảy tưởng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưỡng, hoạn nạn tưởng, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng.

ix) Bảy lực: Tín lực, tinh tấn lực, tàm lực, quý lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.

Bảy nơi an trú của ‘Cái Biết’ (thức trú / viññāṇaṭṭhitiyo). Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể khác nhau và nhận thức khác nhau, ví dụ như một số loài người và một số chư thiên ở các cõi thấp. Đây là nơi an trú của ‘Cái Biết’ thứ nhất.

Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể khác nhau nhưng nhận thức giống nhau, ví dụ như chư thiên cõi Phạm chúng mới sinh ra. Đây là nơi an trú của ‘Cái Biết’ thứ hai.

Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể giống nhau nhưng nhận thức khác nhau, ví dụ như chư thiên cõi Quang Âm. Đây là nơi an trú của ‘Cái Biết’ thứ ba.

Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể giống nhau và nhận thức giống nhau, ví dụ như chư thiên cõi Biến Tịnh. Đây là nơi an trú của ‘Cái Biết’ thứ tư.

Này các hiền giả, có những chúng sinh do hoàn toàn vượt qua nhận thức về hình ảnh, do sự tan biến của nhận thức về sự va chạm, do không suy nghĩ đến nhận thức về sự đa dạng, nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, đi đến cõi Không Gian là Vô Tận. Đây là nơi an trú của ‘Cái Biết’ thứ năm.

Này các hiền giả, có những chúng sinh do hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, đi đến cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận. Đây là nơi an trú của ‘Cái Biết’ thứ sáu.

Này các hiền giả, có những chúng sinh do hoàn toàn vượt qua cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, đi đến cõi Không Có Vật Gì. Đây là nơi an trú của ‘Cái Biết’ thứ bảy.

x) Bảy thức trú: Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó là loại thức trú thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại thức trú thứ tư. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ năm. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ sáu. Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì cả”. Ðó là loại thức trú thứ bảy.

Bảy hạng người đáng nhận phẩm vật (puggalā dakkhiṇeyyā) — người được giải thoát cả hai phần, người được giải thoát bằng sự hiểu biết, người chứng nghiệm bằng cơ thể, người đạt được quan điểm, người được giải thoát bằng niềm tin, người đi theo Điều dạy, người đi theo niềm tin.

Bảy khuynh hướng ngầm (anusayā) — khuynh hướng ngầm của đắm nhiễm sự dễ chịu giác quan, khuynh hướng ngầm của sự ghét bỏ, khuynh hướng ngầm của quan điểm, khuynh hướng ngầm của sự nghi ngờ, khuynh hướng ngầm của sự ngạo mạn, khuynh hướng ngầm của đắm nhiễm tồn tại, khuynh hướng ngầm của Không Hiểu Biết.

Bảy xiềng xích (saṁyojanāni) — xiềng xích của sự thuận theo, xiềng xích của sự ghét bỏ, xiềng xích của quan điểm, xiềng xích của sự nghi ngờ, xiềng xích của sự ngạo mạn, xiềng xích của đắm nhiễm tồn tại, xiềng xích của Không Hiểu Biết.

Bảy cách giải quyết tranh chấp (adhikaraṇasamathā) để giải quyết và lắng dịu các tranh chấp phát sinh — cần phải đưa ra cách giải quyết trước mặt, cần phải đưa ra cách giải quyết dựa trên chú tâm, cần phải đưa ra cách giải quyết đối với người không bị điên, cần phải thực hiện theo sự thừa nhận, quyết định theo số đông, quyết định đối với người có tội, cách giải quyết như cỏ che lấp.

Này các hiền giả, đây là bảy Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Kết thúc phần tụng đọc thứ hai.

xi) Bảy loại người đáng kính trọng: Câu phần giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín giải thoát, Tùy pháp hành, Tùy tín hành.

xii) Bảy tùy miên: Dục ái tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên.

xiii) Bảy kiết sử: Ái kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử, vô minh kiết sử.

xiv) Bảy diệt tránh pháp: Có khả năng đình chỉ, trừ diệt các tránh pháp đang khởi lên: Ưng dữ hiện tiền tỳ ni, ưng dữ ức niệm tỳ ni, ưng dữ bất si tỳ ni, ưng dữ tự ngôn trị, đa mích tội tướng, đa nhơn mích tội, như thảo phú địa.

Này các Hiền giả, bảy pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

8. Nhóm Tám (Aṭṭhaka)

Này các hiền giả, có tám Điều (pháp / dhammā) đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau (kết tập / saṅgāyitabbaṁ) […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Tám Điều đó là gì?

Tụng Phẩm III

Tám pháp

1. “Này các Hiền giả, có tám pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là tám?

Tám sự sai trái (micchattā) — quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhi), suy nghĩ sai, lời nói sai, hành động sai, đời sống sai, nỗ lực sai, chú tâm sai, Định sai.

Tám sự đúng đắn (sammattā) — Nhìn thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappo), Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā), Hành động Thiện (chánh nghiệp / sammākammanto), Đời sống Thiện (chánh mạng / sammāājīvo), Nỗ lực Thiện (chánh tinh tấn / sammāvāyāmo), chú tâm Thiện (chánh niệm / sammāsati), Định thiện (chánh định / sammāsamādhi).

Tám hạng người đáng nhận phẩm vật (puggalā dakkhiṇeyyā) — người đã Nhập dòng, người đang thực hành để chứng nghiệm quả Nhập dòng; người Nhất lai, người đang thực hành để chứng nghiệm quả Nhất lai; người Bất lai, người đang thực hành để chứng nghiệm quả Bất lai; bậc A-la-hán, người đang thực hành để chứng nghiệm quả A-la-hán.

i) Tám tà: Tà tri kiến, ta tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.

ii) Tám chánh: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

iii) Tám người đáng cung kính: Hạng Dự lưu, hạng đã thành tựu và chứng Dự lưu quả; hạng Nhất lai, hạng đã thành tựu và chứng Nhất lai quả; hạng Bất lai, hạng đã thành tựu và chứng Bất lai quả; hạng A la hán và hạng đã thành tựu A la hán quả.

Tám cơ sở của sự lười biếng (kusītavatthūni). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo có một công việc phải làm. Người ấy nghĩ: ‘Ta sẽ có một công việc phải làm, nhưng khi làm việc cơ thể ta sẽ mệt mỏi, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực để đạt được điều chưa đạt được, để hiểu được điều chưa hiểu được, để chứng nghiệm điều chưa chứng nghiệm. Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đã làm xong một công việc. Người ấy nghĩ: ‘Ta đã làm xong một công việc, khi làm việc cơ thể ta đã mệt mỏi, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ hai.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có một chặng đường phải đi. Người ấy nghĩ: ‘Ta sẽ có một chặng đường phải đi, nhưng khi đi đường cơ thể ta sẽ mệt mỏi, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ ba.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đã đi xong một chặng đường. Người ấy nghĩ: ‘Ta đã đi xong một chặng đường, khi đi đường cơ thể ta đã mệt mỏi, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ tư.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đi khất thực trong làng hay thị trấn nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay ngon. Người ấy nghĩ: ‘Ta đi khất thực trong làng hay thị trấn nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay ngon, cơ thể ta mệt mỏi và không thích hợp để làm việc, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ năm.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đi khất thực trong làng hay thị trấn và nhận được đủ thức ăn thô hay ngon. Người ấy nghĩ: ‘Ta đi khất thực trong làng hay thị trấn và nhận được đủ thức ăn thô hay ngon, cơ thể ta nặng nề và không thích hợp để làm việc, giống như đậu ngâm nước, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ sáu.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo bị một căn bệnh nhẹ. Người ấy nghĩ: ‘Ta bị một căn bệnh nhẹ này; có lý do để nằm xuống, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ bảy.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo vừa mới khỏi bệnh, khỏi bệnh chưa lâu. Người ấy nghĩ: ‘Ta vừa mới khỏi bệnh, khỏi bệnh chưa lâu, cơ thể ta yếu ớt và không thích hợp để làm việc, thôi ta hãy nằm xuống’. Người ấy nằm xuống, không phát động nỗ lực để đạt được điều chưa đạt được, để hiểu được điều chưa hiểu được, để chứng nghiệm điều chưa chứng nghiệm. Đây là cơ sở của sự lười biếng thứ tám.

iv) Tám giải đãi sự: Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: “Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được, như vậy là giải đãi sự thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, một việc đã được vị Tỷ kheo làm. Vị này nghĩ: “Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… như vậy là giải đãi sự thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, con đường vị Tỷ kheo đã đi. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ tư.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta bị mệt mỏi không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn. Như vậy là giải đãi sự thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đố ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: “Nay ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bẹnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được. Như vậy là giải đãi sự thứ tám.

Tám cơ sở của sự phát động nỗ lực (ārambhavatthūni). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo có một công việc phải làm. Người ấy nghĩ: ‘Ta sẽ có một công việc phải làm, nhưng khi làm việc sẽ không dễ để suy nghĩ đến lời dạy của chư Phật, thôi ta hãy phát động nỗ lực để đạt được điều chưa đạt được, để hiểu được điều chưa hiểu được, để chứng nghiệm điều chưa chứng nghiệm’. Người ấy phát động nỗ lực để đạt được điều chưa đạt được, để hiểu được điều chưa hiểu được, để chứng nghiệm điều chưa chứng nghiệm. Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ nhất.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đã làm xong một công việc. Người ấy nghĩ: 'Ta đã làm xong một công việc, khi làm việc ta đã không thể suy nghĩ đến lời dạy của chư Phật, thôi ta hãy phát động nỗ lực… Người ấy phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ hai.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có một chặng đường phải đi. Người ấy nghĩ: 'Ta sẽ có một chặng đường phải đi, nhưng khi đi đường sẽ không dễ để suy nghĩ đến lời dạy của chư Phật. Thôi ta hãy phát động nỗ lực… Người ấy phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ ba.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đã đi xong một chặng đường. Người ấy nghĩ: 'Ta đã đi xong một chặng đường, khi đi đường ta đã không thể suy nghĩ đến lời dạy của chư Phật, thôi ta hãy phát động nỗ lực… Người ấy phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ tư.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đi khất thực trong làng hay thị trấn nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay ngon. Người ấy nghĩ: 'Ta đi khất thực trong làng hay thị trấn nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay ngon, cơ thể ta nhẹ nhàng và thích hợp để làm việc, thôi ta hãy phát động nỗ lực… Người ấy phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ năm.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo đi khất thực trong làng hay thị trấn và nhận được đủ thức ăn thô hay ngon. Người ấy nghĩ: 'Ta đi khất thực trong làng hay thị trấn và nhận được đủ thức ăn thô hay ngon, cơ thể ta mạnh mẽ và thích hợp để làm việc, thôi ta hãy phát động nỗ lực… Người ấy phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ sáu.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo bị một căn bệnh nhẹ. Người ấy nghĩ: 'Ta bị một căn bệnh nhẹ này, có khả năng căn bệnh của ta sẽ trở nên tồi tệ hơn, thôi ta hãy phát động nỗ lực… Người ấy phát động nỗ lực… Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ bảy.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo vừa mới khỏi bệnh, khỏi bệnh chưa lâu. Người ấy nghĩ: ‘Ta vừa mới khỏi bệnh, khỏi bệnh chưa lâu, có khả năng căn bệnh của ta sẽ tái phát, thôi ta hãy phát động nỗ lực để đạt được điều chưa đạt được, để hiểu được điều chưa hiểu được, để chứng nghiệm điều chưa chứng nghiệm’. Người ấy phát động nỗ lực để đạt được điều chưa đạt được, để hiểu được điều chưa hiểu được, để chứng nghiệm điều chưa chứng nghiệm. Đây là cơ sở của sự phát động nỗ lực thứ tám.

v) Tám tinh tấn sự: Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm, vị ấy nghĩ: “Có công việc, ta sẽ phải làm, nếu ta làm việc, thì không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Như vậy là tinh tấn sự thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: “Ta đã làm xong công việc. Khi ta làm công việc, ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta phải cố gắng tinh tấn…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Ðây là con đường mà ta có thể sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã đi con đường. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường ấy. Khi ta đi con đường, ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ tư.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân ta mạnh, có thể làm việc, vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: “Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của ta có thể trở lại. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, và chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Ðó là tinh tấn sự thứ tám.

Tám cơ sở của việc cho đi (dānavatthūni). Cho đi vì bị xúc phạm, cho đi vì sợ hãi, cho đi vì nghĩ ‘người này đã cho tôi’, cho đi vì nghĩ ‘người này sẽ cho tôi’, cho đi vì nghĩ ‘cho đi là tốt’, cho đi vì nghĩ ‘tôi nấu ăn, những người này không nấu ăn, thật không phải nếu tôi nấu ăn mà không cho những người không nấu ăn’, cho đi vì nghĩ ‘khi tôi cho đi món quà này, tiếng tốt của tôi sẽ được đồn xa’. Cho đi để trang điểm tâm, để trang bị cho tâm.

vi) Tám bố thí sự: Có người đến, nên bố thí. Vì sợ, nên bố thí. Vì “người ấy cho tôi”, nên bố thí. Vì “người ấy sẽ cho tôi”, nên bố thí. Vì suy nghĩ: “Bố thí là tốt lành”, nên bố thí. Vì suy nghĩ: “Ta nấu, họ không nấu. Thật không phải, nếu ta nấu mà không cho gì những người không nấu”, nên bố thí. Vì suy nghĩ: “Nay ta bố thí, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được truyền đi”, nên bố thí. Vì muốn trang nghiêm tâm và tư trợ tâm, nên bố thí.

Tám sự tái sinh do việc cho đi (dānūpapattiyo). Này các hiền giả, ở đây, có người cho sa-môn hay bà-la-môn thức ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc bôi, giường nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy mong cầu điều mình đã cho. Người ấy thấy một gia chủ giàu có thuộc giai cấp vua chúa, hoặc gia chủ giàu có thuộc giai cấp bà-la-môn, hoặc gia chủ giàu có thuộc giai cấp thường dân, được cung cấp đầy đủ năm sợi dây trói buộc của bản năng, đang tận hưởng chúng. Người ấy nghĩ: ‘Ôi, mong sao sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với những gia chủ giàu có thuộc giai cấp vua chúa, hoặc gia chủ giàu có thuộc giai cấp bà-la-môn, hoặc gia chủ giàu có thuộc giai cấp thường dân’. Người ấy giữ ý nghĩ đó, quyết tâm với ý nghĩ đó, phát triển ý nghĩ đó; ý nghĩ đó của người ấy hướng đến điều thấp kém, không được phát triển cao hơn, sẽ dẫn đến sự tái sinh ở nơi đó. Và điều này ta nói là dành cho người có đạo đức, không phải cho người thiếu đạo đức. Này các hiền giả, ước nguyện của người có đạo đức được thành tựu vì sự trong sạch.

Lại nữa, này các hiền giả, ở đây có người cho sa-môn hay bà-la-môn thức ăn, thức uống… giường nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy mong cầu điều mình đã cho. Người ấy nghe nói: ‘Chư thiên cõi Tứ Thiên Vương sống lâu, xinh đẹp, có nhiều hạnh phúc’. Người ấy nghĩ: ‘Ôi, mong sao sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với chư thiên cõi Tứ Thiên Vương’. Người ấy giữ ý nghĩ đó, quyết tâm với ý nghĩ đó, phát triển ý nghĩ đó; ý nghĩ đó của người ấy hướng đến điều thấp kém, không được phát triển cao hơn, sẽ dẫn đến sự tái sinh ở nơi đó. Và điều này ta nói là dành cho người có đạo đức, không phải cho người thiếu đạo đức. Này các hiền giả, ước nguyện của người có đạo đức được thành tựu vì sự trong sạch.

Lại nữa, này các hiền giả, ở đây có người cho sa-môn hay bà-la-môn thức ăn, thức uống… giường nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy mong cầu điều mình đã cho. Người ấy nghe nói: ‘Chư thiên cõi Đao Lợi… chư thiên cõi Dạ Ma… chư thiên cõi Đâu Suất… chư thiên cõi Hóa Lạc… chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại sống lâu, xinh đẹp, có nhiều hạnh phúc’. Người ấy nghĩ: ‘Ôi, mong sao sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại’. Người ấy giữ ý nghĩ đó, quyết tâm với ý nghĩ đó, phát triển ý nghĩ đó; ý nghĩ đó của người ấy hướng đến điều thấp kém, không được phát triển cao hơn, sẽ dẫn đến sự tái sinh ở nơi đó. Và điều này ta nói là dành cho người có đạo đức, không phải cho người thiếu đạo đức. Này các hiền giả, ước nguyện của người có đạo đức được thành tựu vì sự trong sạch.

Lại nữa, này các hiền giả, ở đây có người cho sa-môn hay bà-la-môn thức ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc bôi, giường nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy mong cầu điều mình đã cho. Người ấy nghe nói: ‘Chư thiên cõi Phạm chúng sống lâu, xinh đẹp, có nhiều hạnh phúc’. Người ấy nghĩ: ‘Ôi, mong sao sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, ta được tái sinh cùng với chư thiên cõi Phạm chúng’. Người ấy giữ ý nghĩ đó, quyết tâm với ý nghĩ đó, phát triển ý nghĩ đó; ý nghĩ đó của người ấy hướng đến điều thấp kém, không được phát triển cao hơn, sẽ dẫn đến sự tái sinh ở nơi đó. Và điều này ta nói là dành cho người có đạo đức, không phải cho người thiếu đạo đức; dành cho người đã cạn hết đắm nhiễm, không phải cho người còn đắm nhiễm. Này các hiền giả, ước nguyện của người có đạo đức được thành tựu vì đã cạn hết đắm nhiễm.

vii) Tám thí sanh: Này các Hiền giả, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được bố thí trở lại. Người này thấy người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Ba la môn có nhiều tài sản, hay người gia chủ có nhiều tài sản, được sung mãn, cụ túc, thụ hưởng năm món dục lạc. Vị này nghĩ: “Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh là một trong những người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Bà la môn có nhiều tài sản hay người gia chủ có nhiều tài sản”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh. Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: “Tứ Ðại Thiên vương thọ mạng lâu dài, đẹp trai và nhiều an lạc”. Vị này nghĩ: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Tứ Ðại Thiên vương”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: “Chư Thiên Tam thập tam thiên… chư Thiên Dạ ma… chư Thiên Ðâu suất… chư Thiên Hóa Lạc… chư Thiên Tha Hóa Tự tại được sống lâu, đẹp trai, được nhiều an lạc”. Vị này nghĩ: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng chư Thiên Thoa Hóa Tự tại”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh. Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thì cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: “Chư Thiên Phạm Chúng thọ mạng lâu dàu, đẹp trai và nhiều an lạc”. Vị này nghĩ: “Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Phạm Chúng thiên”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

Tám hội chúng (parisā) — hội chúng vua chúa, hội chúng bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng sa-môn, hội chúng chư thiên cõi Tứ Thiên Vương, hội chúng chư thiên cõi Đao Lợi, hội chúng Ma vương, hội chúng Phạm thiên.

Tám Điều của thế gian (lokadhammā) — được lợi và mất lợi, được danh tiếng và mất danh tiếng, bị chê bai và được khen ngợi, hạnh phúcđau khổ.

viii) Tám chúng: Chúng Sát đế lỵ, chúng Bà la môn, chúng Gia chủ, chúng Sa môn, chúng Tứ Ðại Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng (Thiên) Ma, chúng Phạm thiên.

ix) Tám thế gian pháp: Ðắc, bất đắc, danh văn, ác văn, phỉ báng, tán thán, lạc, khổ.

Tám trường chinh phục (abhibhāyatanāni). Một người có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài nhỏ bé, đẹp hay xấu, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ nhất.

Một người có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài vô lượng, đẹp hay xấu, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ hai.

Một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài nhỏ bé, đẹp hay xấu, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ ba.

Một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài vô lượng, đẹp hay xấu, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ tư.

Một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu xanh, có sắc xanh, có biểu hiện xanh, có ánh sáng xanh. Giống như bông hoa lanh màu xanh, có sắc xanh, có biểu hiện xanh, có ánh sáng xanh; hoặc giống như tấm vải Bārāṇasī được làm nhẵn cả hai mặt, màu xanh, có sắc xanh, có biểu hiện xanh, có ánh sáng xanh; cũng vậy, một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu xanh, có sắc xanh, có biểu hiện xanh, có ánh sáng xanh, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ năm.

Một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu vàng, có sắc vàng, có biểu hiện vàng, có ánh sáng vàng. Giống như bông hoa kaṇikāra màu vàng, có sắc vàng, có biểu hiện vàng, có ánh sáng vàng; hoặc giống như tấm vải Bārāṇasī được làm nhẵn cả hai mặt, màu vàng, có sắc vàng, có biểu hiện vàng, có ánh sáng vàng; cũng vậy, một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu vàng, có sắc vàng, có biểu hiện vàng, có ánh sáng vàng, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ sáu.

Một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu đỏ, có sắc đỏ, có biểu hiện đỏ, có ánh sáng đỏ. Giống như bông hoa dâm bụt màu đỏ, có sắc đỏ, có biểu hiện đỏ, có ánh sáng đỏ; hoặc giống như tấm vải Bārāṇasī được làm nhẵn cả hai mặt, màu đỏ, có sắc đỏ, có biểu hiện đỏ, có ánh sáng đỏ; cũng vậy, một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu đỏ, có sắc đỏ, có biểu hiện đỏ, có ánh sáng đỏ, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ bảy.

Một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu trắng, có sắc trắng, có biểu hiện trắng, có ánh sáng trắng. Giống như ngôi sao mai màu trắng, có sắc trắng, có biểu hiện trắng, có ánh sáng trắng; hoặc giống như tấm vải Bārāṇasī được làm nhẵn cả hai mặt, màu trắng, có sắc trắng, có biểu hiện trắng, có ánh sáng trắng; cũng vậy, một người không có nhận thức về hình ảnh bên trong, nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài màu trắng, có sắc trắng, có biểu hiện trắng, có ánh sáng trắng, người ấy có nhận thức như vầy: ‘Sau khi chinh phục chúng, tôi biết, tôi thấy’. Đây là trường chinh phục thứ tám.

x) Tám thắng xứ: Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.

Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như bông bandhujĩvaka màu đỏ - như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng - như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thứ rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám.

Tám sự giải thoát (vimokkhā). Người có hình ảnh nhìn thấy các hình ảnh. Đây là sự giải thoát thứ nhất.

Người không có nhận thức về hình ảnh bên trong nhìn thấy các hình ảnh bên ngoài. Đây là sự giải thoát thứ hai.

Người ấy hướng tâm đến cái đẹp. Đây là sự giải thoát thứ ba.

Do hoàn toàn vượt qua nhận thức về hình ảnh, do sự tan biến của nhận thức về sự va chạm, do không suy nghĩ đến nhận thức về sự đa dạng, nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận. Đây là sự giải thoát thứ tư.

Do hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận. Đây là sự giải thoát thứ năm.

Do hoàn toàn vượt qua cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì. Đây là sự giải thoát thứ sáu.

Do hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, vị ấy đạt đến và an trú trong xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”. Đây là sự giải thoát thứ bảy.

Do hoàn toàn vượt qua xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, vị ấy đạt đến và an trú trong sự chấm dứt nhận thứccảm giác. Đây là sự giải thoát thứ tám.

Này các hiền giả, đây là tám Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

xi) Tám giải thoát: Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là giải thoát thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là giải thoát thứ hai.

Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là giải thoát thứ ba.

Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên” chứng và trú Không vô biên xứ; đó là giải thoát thứ tư.

Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.

Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là giải thoát thứ sáu.

Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.

Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám.

Này các Hiền giả, tám pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

9. Nhóm Chín (Navaka)

Này các hiền giả, có chín Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn; ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Chín Điều đó là gì?

Chín pháp

2. Này các Hiền giả, có chín pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là chín?

Chín cơ sở của sự oán giận (āghātavatthūni). Người ấy ôm lòng oán giận vì nghĩ: ‘Người này đã làm hại tôi’; ôm lòng oán giận vì nghĩ: ‘Người này đang làm hại tôi’; ôm lòng oán giận vì nghĩ: ‘Người này sẽ làm hại tôi’; ôm lòng oán giận vì nghĩ: ‘Người này đã làm hại người mà tôi yêu mến, vừa lòng’… đang làm hại… sẽ làm hại; ôm lòng oán giận vì nghĩ: ‘Người này đã làm lợi cho người mà tôi ghét bỏ, không vừa lòng’… đang làm lợi… sẽ làm lợi.

Chín cách loại trừ sự oán giận (āghātapaṭivinayā). Người ấy loại trừ sự oán giận bằng cách nghĩ: ‘Người này đã làm hại tôi, làm sao có thể tránh được điều đó?’; loại trừ sự oán giận bằng cách nghĩ: ‘Người này đang làm hại tôi, làm sao có thể tránh được điều đó?’; loại trừ sự oán giận bằng cách nghĩ: ‘Người này sẽ làm hại tôi, làm sao có thể tránh được điều đó?’; loại trừ sự oán giận bằng cách nghĩ: ‘Người này đã làm hại người mà tôi yêu mến, vừa lòng… đang làm hại… sẽ làm hại, làm sao có thể tránh được điều đó?’; loại trừ sự oán giận bằng cách nghĩ: ‘Người này đã làm lợi cho người mà tôi ghét bỏ, không vừa lòng… đang làm lợi… sẽ làm lợi, làm sao có thể tránh được điều đó?’.

i) Chín xung đột sự: “Người ấy đã làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy đang làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy sẽ làm hại tôi”, xung đột khởi lên.

“Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến”… “người ấy đang làm hại… “ … “người ấy sẽ làm hại…”, xung đột khởi lên.

“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến”… “người ấy đang làm lợi…” …” người ấy sẽ làm lợi…”, xung đột khởi lên.

ii) Chín sự điều phục xung đột: “Người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?”. Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy, xung đột được điều phục.

“Người ấy đã làm hại người tôi thương…”, …” người ấy đang làm hại…”, …” người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.

“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến…”, …” người ấy đang làm lợi…”, …” người ấy sẽ làm lợi… Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.

Chín nơi cư trú của chúng sinh (sattāvāsā). Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể khác nhau và nhận thức khác nhau, ví dụ như một số loài người và một số chư thiên ở các cõi thấp. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ nhất.

Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể khác nhau nhưng nhận thức giống nhau, ví dụ như chư thiên cõi Phạm chúng mới sinh ra. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ hai.

Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể giống nhau nhưng nhận thức khác nhau, ví dụ như chư thiên cõi Quang Âm. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ ba.

Này các hiền giả, có những chúng sinh có cơ thể giống nhau và nhận thức giống nhau, ví dụ như chư thiên cõi Biến Tịnh. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ tư.

Này các hiền giả, có những chúng sinh không có nhận thức, không có cảm giác, ví dụ như chư thiên cõi Vô Tưởng. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ năm.

Này các hiền giả, có những chúng sinh do hoàn toàn vượt qua nhận thức về hình ảnh, do sự tan biến của nhận thức về sự va chạm, do không suy nghĩ đến nhận thức về sự đa dạng, nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, đi đến cõi Không Gian là Vô Tận. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ sáu.

Này các hiền giả, có những chúng sinh do hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, đi đến cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ bảy.

Này các hiền giả, có những chúng sinh do hoàn toàn vượt qua cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, đi đến cõi Không Có Vật Gì. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ tám.

Này các hiền giả, có những chúng sinh do hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, đi đến xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”. Đây là nơi cư trú của chúng sinh thứ chín.

iii) Chín chỗ an trú của loài hữu tình: Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.

Chín thời điểm không thích hợp, không đúng lúc để thực hành đời sống thánh thiện (akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya). Này các hiền giả, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, và Điều dạy được tuyên thuyết dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến Niết-bàn, dẫn đến sự giác ngộ, được tuyên thuyết bởi Bậc Đi Đến Tốt Đẹp. Nhưng người này lại tái sinh vào địa ngục. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ nhất để thực hành đời sống thánh thiện.

Lại nữa, này các hiền giả, Như Lai xuất hiện ở đời… Nhưng người này lại tái sinh vào cõi súc sinh. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ hai…

Lại nữa… tái sinh vào cõi ngạ quỷ. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ ba…

Lại nữa… tái sinh vào nhóm a-tu-la. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ tư…

Lại nữa… tái sinh vào một nhóm chư thiên sống lâu nào đó. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ năm…

Lại nữa… tái sinh ở những vùng biên địa hẻo lánh, giữa những người man rợ không hiểu biết, nơi không có sự lui tới của các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ sáu…

Lại nữa… tái sinh ở vùng trung tâm. Nhưng người này lại có quan điểm sai, có cái nhìn đảo ngược: ‘Không có kết quả của việc cho đi, không có kết quả của việc cúng tế, không có kết quả của việc dâng cúng, không có quả báo của những hành động thiện và ác, không có thế giới này, không có thế giới khác, không có mẹ, không có cha, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có những sa-môn, bà-la-môn ở đời đã đi đúng đường, thực hành đúng đắn, những người đã tự mình chứng nghiệm và tuyên bố về thế giới này và thế giới khác’. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ bảy…

Lại nữa… tái sinh ở vùng trung tâm. Nhưng người này lại thiếu sự hiểu biết, đần độn, câm điếc, không có khả năng hiểu được ý nghĩa của những lời nói tốt đẹp hay tồi tệ. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ tám…

Lại nữa, này các hiền giả, Như Lai không xuất hiện ở đời, không phải là Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, và Điều dạy không được tuyên thuyết dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến Niết-bàn, dẫn đến sự giác ngộ, không được tuyên thuyết bởi Bậc Đi Đến Tốt Đẹp. Và người này tái sinh ở vùng trung tâm, người này có sự hiểu biết, không đần độn, không câm điếc, có khả năng hiểu được ý nghĩa của những lời nói tốt đẹp hay tồi tệ. Đây là thời điểm không thích hợp, không đúng lúc thứ chín để thực hành đời sống thánh thiện.

iv) Phạm hạnh trú, chín bất thời bất tiết: Này các Hiền giả, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất. Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào bàng sanh. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ hai.

… sanh vào ngạ quỷ… bất thời bất tiết thứ ba.

…sanh vào hàng A tu la… bất thời bất tiết thứ tư.

…sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài… bất thời bất tiết thứ năm.

…sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà la môn đã chứng đạt chơn chánh, đã thực thành chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ tám.

Này các Hiền giả, lại nữa Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng Pháp không được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ chín.

Chín trạng thái an trú tuần tự (anupubbavihārā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo hoàn toàn rời bỏ khỏi sự dễ chịu giác quan, hoàn toàn rời bỏ khỏi những Điều không thiện, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Do lắng dịu chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý… đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai. Do cạn hết đắm nhiễm đối với hân hoan… đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba. Do hoàn toàn từ bỏ hạnh phúc… đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư. Do hoàn toàn vượt qua nhận thức về hình ảnh… đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận. Do hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận. Do hoàn toàn vượt qua cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì. Do hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, đạt đến và an trú trong xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”. Do hoàn toàn vượt qua xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, đạt đến và an trú trong sự chấm dứt nhận thứccảm giác.

v) Chín thứ đệ trú: Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ… Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… chứng và trú vào Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: “Không có sự vật gì tất cả”. Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.

Chín sự chấm dứt tuần tự (anupubbanirodhā). Đối với người đã nhập Thiền-na thứ nhất, nhận thức về sự dễ chịu giác quan bị chấm dứt. Đối với người đã nhập Thiền-na thứ hai, chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý bị chấm dứt. Đối với người đã nhập Thiền-na thứ ba, hân hoan bị chấm dứt. Đối với người đã nhập Thiền-na thứ tư, hơi thở vào và hơi thở ra bị chấm dứt. Đối với người đã nhập cõi Không Gian là Vô Tận, nhận thức về hình ảnh bị chấm dứt. Đối với người đã nhập cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nhận thức về cõi Không Gian là Vô Tận bị chấm dứt. Đối với người đã nhập cõi Không Có Vật Gì, nhận thức về cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận bị chấm dứt. Đối với người đã nhập xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, nhận thức về cõi Không Có Vật Gì bị chấm dứt. Đối với người đã nhập sự chấm dứt nhận thứccảm giác, nhận thứccảm giác bị chấm dứt.

Này các hiền giả, đây là chín Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

vi) Chín thứ đệ diệt: Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt; thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.

Này các Hiền giả, chín pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

10. Nhóm Mười (Dasaka)

Này các hiền giả, có mười Điều (pháp / dhammā) đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau (kết tập / saṅgāyitabbaṁ) […lặp lại…] vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Mười Điều đó là gì?

Mười pháp

3. Này Hiền giả, có mười pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là mười?

Mười Điều tạo nên chỗ nương tựa (nāthakaraṇā dhammā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo có đạo đức. Vị ấy sống được bảo vệ bởi giới luật Pātimokkha, có cách cư xử đúng đắn (oai nghi chánh hạnh / ācāragocarasampanno), thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt (aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī), rèn luyện và học tập theo các điều học (samādāya sikkhati sikkhāpadesu). Việc Tỳ-kheo có đạo đức, sống được bảo vệ bởi giới luật Pātimokkha, có cách cư xử đúng đắn, thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, rèn luyện và học tập theo các điều học, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo nghe học nhiều, ghi nhớ những gì đã nghe, tích lũy những gì đã nghe. Những Điều dạy nào tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự, tuyên bố đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn và trong sạch, những Điều dạy như vậy được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, ôn tập bằng lời nói, xem xét bằng ý nghĩ, thấu hiểu rõ ràng bằng quan điểm. Việc Tỳ-kheo nghe học nhiều… thấu hiểu rõ ràng bằng quan điểm, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có bạn tốt, có đồng hành tốt, có người thân cận tốt. Việc Tỳ-kheo có bạn tốt, có đồng hành tốt, có người thân cận tốt, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo dễ dạy, có những phẩm chất khiến người khác dễ dạy bảo, nhẫn nại, đón nhận lời khuyên bảo một cách kính trọng. Việc Tỳ-kheo dễ dạy… đón nhận lời khuyên bảo một cách kính trọng, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, đối với những công việc lớn nhỏ của những người đồng tu, Tỳ-kheo khéo léo, không lười biếng, có khả năng xem xét phương pháp phù hợp, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp xếp. Việc Tỳ-kheo đối với những công việc lớn nhỏ của những người đồng tu… có khả năng sắp xếp, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo yêu thích Điều dạy, có lời nói dễ thương, có niềm vui sướng lớn lao trong Thắng pháp (Abhidhamma) và Thắng luật (Abhivinaya). Việc Tỳ-kheo yêu thích Điều dạy… có niềm vui sướng lớn lao, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo bằng lòng với bất kỳ loại y phục, thức ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men chữa bệnh nào. Việc Tỳ-kheo bằng lòng… thuốc men chữa bệnh nào, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo sống phát động nỗ lực để hoàn toàn từ bỏ những Điều không thiện, để đạt được những Điều thiện, có sức mạnh, kiên định tiến bước, không trút bỏ gánh nặng đối với những Điều thiện. Việc Tỳ-kheo sống phát động nỗ lực… không trút bỏ gánh nặng đối với những Điều thiện, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có chú tâm, được trang bị chú tâm và sự thận trọng tối thượng, nhớ lại và nhớ lại những điều đã làm từ lâu, những lời đã nói từ lâu. Việc Tỳ-kheo có chú tâm… nhớ lại và nhớ lại, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

Lại nữa, này các hiền giả, Tỳ-kheo có sự hiểu biết, được trang bị sự hiểu biết về sự sinh ra và tan biến, sự hiểu biết của bậc thánh, có khả năng xuyên thấu, dẫn đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn. Việc Tỳ-kheo có sự hiểu biết… dẫn đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn, Điều này tạo nên chỗ nương tựa.

i) Mười hộ trì nhân pháp: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn… khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn… nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh… vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp… vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng… Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng… nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí… chơi chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Mười trường Kasiṇa (kasiṇāyatanāni). Một người nhận thức về Kasiṇa Đất, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, không phân chia, không giới hạn. Một người nhận thức về Kasiṇa Nước… Kasiṇa Lửa… Kasiṇa Gió… Kasiṇa Xanh… Kasiṇa Vàng… Kasiṇa Đỏ… Kasiṇa Trắng… Kasiṇa Không Gian… Kasiṇa ‘Cái Biết’, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, không phân chia, không giới hạn.

Mười con đường hành động không thiện (akusalakammapathā) — tước đoạt mạng sống, lấy của không cho, hành vi sai trái trong sự dễ chịu giác quan, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, lòng tham, ác ý, quan điểm sai.

Mười con đường hành động thiện (kusalakammapathā) — tránh xa việc tước đoạt mạng sống, tránh xa việc lấy của không cho, tránh xa hành vi sai trái trong sự dễ chịu giác quan, tránh xa việc nói dối, tránh xa việc nói lời chia rẽ, tránh xa việc nói lời thô ác, tránh xa việc nói lời phù phiếm, không có lòng tham, không ác ý, Nhìn thấy Thiện.

ii) Mười biến xứ: Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến… Một vị biết được hỏa biến… Một vị biết được phong biến… Một vị biết được thanh biến… Một vị biết được hoàng biến… Một vị biết được xích biến… Một vị biết được bạch biến… Một vị biết được hư không biến… Một vị biết được thức biến, trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.

iii) Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến.

iv) Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, lỳ tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si.

Mười trạng thái trú ngụ của bậc thánh (ariyavāsā). Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo đã từ bỏ năm yếu tố, được trang bị sáu yếu tố, có một sự bảo vệ, có bốn chỗ nương tựa, đã loại trừ các sự thật cá nhân, đã hoàn toàn từ bỏ các sự tìm kiếm, có suy nghĩ không vẩn đục, có hoạt động của cơ thể được lắng dịu, có tâm được giải thoát tốt đẹp, có sự hiểu biết được giải thoát tốt đẹp.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo đã từ bỏ năm yếu tố? Này các hiền giả, ở đây, đối với Tỳ-kheo, muốn thỏa mãn bản năng đã được từ bỏ, ác ý hãm hại đã được từ bỏ, uể oải, buồn ngủ đã được từ bỏ, bồn chồn, hối hận đã được từ bỏ, nghi ngờ đã được từ bỏ. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo đã từ bỏ năm yếu tố.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo được trang bị sáu yếu tố? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo sau khi thấy hình ảnh bằng mắt, không vui mừng cũng không buồn bã, an trú với Tâm bình thản, chú tâmnhận biết rõ ràng. Sau khi nghe âm thanh bằng tai… Sau khi nhận biết Điều bằng giác quan trí não, không vui mừng cũng không buồn bã, an trú với Tâm bình thản, chú tâmnhận biết rõ ràng. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo được trang bị sáu yếu tố.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo có một sự bảo vệ? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo được trang bị tâm được bảo vệ bởi chú tâm. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo có một sự bảo vệ.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo có bốn chỗ nương tựa? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo thận trọng suy xét sử dụng một thứ, thận trọng suy xét chịu đựng một thứ, thận trọng suy xét tránh né một thứ, thận trọng suy xét loại trừ một thứ. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo có bốn chỗ nương tựa.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo đã loại trừ các sự thật cá nhân? Này các hiền giả, ở đây, đối với Tỳ-kheo, bất kỳ sự thật cá nhân nào của các sa-môn, bà-la-môn khác nhau, tất cả chúng đều bị đẩy lùi, bị loại trừ, bị vứt bỏ, bị nôn mửa, bị giải thoát, bị từ bỏ, bị buông xả. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo đã loại trừ các sự thật cá nhân.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo đã hoàn toàn từ bỏ các sự tìm kiếm? Này các hiền giả, ở đây, đối với Tỳ-kheo, sự tìm kiếm sự dễ chịu giác quan đã được từ bỏ, sự tìm kiếm tồn tại đã được từ bỏ, sự tìm kiếm đời sống thánh thiện đã được lắng dịu. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo đã hoàn toàn từ bỏ các sự tìm kiếm.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo có suy nghĩ không vẩn đục? Này các hiền giả, ở đây, đối với Tỳ-kheo, suy nghĩ về sự dễ chịu giác quan đã được từ bỏ, suy nghĩ về ác ý đã được từ bỏ, suy nghĩ về sự làm hại đã được từ bỏ. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo có suy nghĩ không vẩn đục.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo có hoạt động của cơ thể được lắng dịu? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo do hoàn toàn từ bỏ hạnh phúchoàn toàn từ bỏ đau khổ, do sự tan biến của thanh thảnưu phiền từ trước, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái cảm giác không dễ chịu không khó chịu, có sự trong sạch của Tâm bình thảnchú tâm. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo có hoạt động của cơ thể được lắng dịu.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo có tâm được giải thoát tốt đẹp? Này các hiền giả, ở đây, đối với Tỳ-kheo, tâm được giải thoát khỏi đắm nhiễm, tâm được giải thoát khỏi ám ảnh khó chịu, tâm được giải thoát khỏi Sự u mê. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo có tâm được giải thoát tốt đẹp.

Và này các hiền giả, thế nào là Tỳ-kheo có sự hiểu biết được giải thoát tốt đẹp? Này các hiền giả, ở đây, Tỳ-kheo biết rõ: ‘Đắm nhiễm đã được ta từ bỏ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ bị chặt đứt, làm cho không thể tồn tại, không còn khả năng sinh ra trong tương lai’. Biết rõ: ‘Ám ảnh khó chịu đã được ta từ bỏ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ bị chặt đứt, làm cho không thể tồn tại, không còn khả năng sinh ra trong tương lai’. Biết rõ: ‘Sự u mê đã được ta từ bỏ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ bị chặt đứt, làm cho không thể tồn tại, không còn khả năng sinh ra trong tương lai’. Như vậy, này các hiền giả, là Tỳ-kheo có sự hiểu biết được giải thoát tốt đẹp.

v) Mười Thánh cư: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ trì, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi. Này các hiền giả, như vậy là đoạn trừ năm chi.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tại nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo một hộ trì? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo thành tựu sự hộ trì về niệm. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo một hộ trì.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo có thực hiện bốn y? Này các Hiền giả,vị Tỷ kheo sau khi suy tư, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp; sau khi suy tư tránh xa một pháp. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo thực hiện bốn y.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều? Này các Hiền giả, ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỷ kheo đều loại bỏ, phóng xả. Này các Hiền giả, như vậy gọi là Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược.

Này các Hiền giả, thể nào là vị Tỷ kheo, thân hành được khinh an? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ- kheo thân hành được khinh an.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ- kheo, tâm thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ- kheo tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ kheo tâm thiện giải thoat.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo biết rằng: “Tham tâm của ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Sân tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Si tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát.

Mười Điều của người không còn phải học (asekkhā dhammā) — Nhìn thấy Thiện của người không còn phải học, Suy nghĩ Thiện của người không còn phải học, Lời nói Thiện của người không còn phải học, Hành động Thiện của người không còn phải học, Đời sống Thiện của người không còn phải học, Nỗ lực Thiện của người không còn phải học, chú tâm Thiện của người không còn phải học, Định thiện của người không còn phải học, sự hiểu biết đúng đắn của người không còn phải học, sự giải thoát đúng đắn của người không còn phải học.

Này các hiền giả, đây là mười Điều đã được tuyên thuyết chân chính bởi Thế Tôn, Bậc Biết, Bậc Thấy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn. Ở đây, tất cả cần phải tụng đọc cùng nhau, không nên tranh cãi, để đời sống thánh thiện này được kéo dài và tồn tại lâu dài, điều đó sẽ đem lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người."

Rồi Thế Tôn thức dậy và gọi Tôn giả Sāriputta: “Lành thay, lành thay, này Sāriputta. Lành thay, này Sāriputta, ông đã thuyết giảng bài kinh Tụng Đọc Cùng Nhau cho các Tỳ-kheo.”

Tôn giả Sāriputta đã nói những lời này, và Bậc Đạo Sư đã hài lòng. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời dạy của Tôn giả Sāriputta.

Kết thúc Kinh Tụng Đọc Cùng Nhau, bài kinh thứ mười.

vi) Mười pháp vô học: Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm. vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.

Này các Hiền giả, mười pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu dài, vì hạnh phúc cho mọi loài, vì an lạc cho mọi loài, vì lòng thương tưởng cho dời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

4. Rồi Thế Tôn ngồi dậy và bảo tôn giả Sàriputta:

− Lành thay, lành thay Sàriputta! Này Sàriputta, Ngươi đã khéo giảng, khéo tụng kinh này cho chúng Tỷ kheo.

Tôn giả Sàriputta thuyết giảng như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp thuận. Các vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của tôn giả Sàriputta.

-ooOoo-