Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 1. Kinh Lưới Trời

(Brahmajālasutta)

1. Bàn về các Du Sĩ

Như vầy tôi nghe.1 Một thời Thế Tôn đang du hành trên đường giữa Rājagaha (thành Vương Xá) và Nāḷandā cùng với một đại chúng Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo) gồm năm trăm vị tỳ khưu (mendicants / người khất thực, tu sĩ Phật giáo).^2 Du sĩ Suppiya cũng đang đi trên cùng con đường đó, cùng với người đệ tử thường trú của ông, học trò Brahmadatta.^3 Trong khi đó, Suppiya đã chỉ trích Đức Phật, Pháp (teaching / giáo pháp, lời dạy của Đức Phật), và Tăng đoàn bằng nhiều cách,^4 nhưng đệ tử của ông là Brahmadatta lại tán thán bằng nhiều cách.^5 Và thế là cả thầy lẫn trò đi theo sau Đức Phật và Tăng đoàn các tỳ khưu, trực tiếp đối nghịch nhau.

Rồi Đức Phật nghỉ đêm tại nhà nghỉ hoàng gia ở Ambalaṭṭhikā cùng với Tăng đoàn các tỳ khưu.^6 Suppiya và Brahmadatta cũng làm như vậy. Ở đó, Suppiya cũng chỉ trích Đức Phật, Pháp, và Tăng đoàn bằng nhiều cách, nhưng đệ tử của ông là Brahmadatta lại tán thán bằng nhiều cách. Và thế là cả thầy lẫn trò tiếp tục trực tiếp đối nghịch nhau.

Sau đó, một vài vị tỳ khưu thức dậy lúc rạng đông và ngồi lại với nhau trong đình nghỉ, nơi chủ đề về sự phán xét được đề cập đến:^7

“Thật không thể tin được, chư hiền, thật đáng kinh ngạc làm sao khi những xác tín đa dạng của chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán (perfected one / người đã đạt được sự giải thoát hoàn toàn), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và viên mãn) thấu hiểu một cách rõ ràng.^8 Bởi vì Suppiya này chỉ trích Đức Phật, Pháp, và Tăng đoàn bằng nhiều cách, trong khi đệ tử của ông là Brahmadatta lại tán thán bằng nhiều cách. Và thế là cả thầy lẫn trò đi theo sau Đức Phật và Tăng đoàn các tỳ khưu, trực tiếp đối nghịch nhau.”

Khi Đức Phật biết được cuộc thảo luận này về sự phán xét giữa các tỳ khưu, Ngài đã đến đình nghỉ, nơi Ngài ngồi trên tọa cụ đã trải sẵn và nói với các tỳ khưu,^9 “Này các tỳ khưu, các ông vừa ngồi nói chuyện gì vậy? Cuộc nói chuyện nào còn dang dở?”^10

Các tỳ khưu kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra, và nói thêm,^11 “Đây là cuộc nói chuyện của chúng con còn dang dở khi Thế Tôn đến.”

“Này các tỳ khưu, nếu người khác chỉ trích Ta, Pháp, hay Tăng đoàn, các ông đừng tự làm cho mình sân hận (ill will / sự tức giận, ác ý), cay đắng, và bực bội.^12 Các ông sẽ nổi giận và khó chịu, điều đó sẽ là một chướng ngại (obstacle / điều cản trở) cho chính các ông mà thôi.^13 Nếu người khác chỉ trích Ta, Pháp, hay Tăng đoàn, mà các ông nổi giận và khó chịu, liệu các ông có thể hiểu được họ nói đúng hay sai không?”^14

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Nếu người khác chỉ trích Ta, Pháp, hay Tăng đoàn, các ông nên giải thích rằng điều gì không đúng sự thật thì thực sự là không đúng sự thật: ‘Vì lý do này điều đó không đúng sự thật, vì lý do này điều đó sai. Không có điều như vậy nơi chúng tôi, điều đó không được tìm thấy nơi chúng tôi.’

Nếu người khác tán thán Ta, Pháp, hay Tăng đoàn, các ông đừng tự làm cho mình vui mừng, hân hoan, và phấn khích. Các ông sẽ vui mừng, hân hoan, và phấn khích, điều đó sẽ là một chướng ngại cho chính các ông mà thôi. Nếu người khác tán thán Ta, Pháp, hay Tăng đoàn, các ông nên thừa nhận rằng điều gì đúng sự thật thì thực sự là đúng sự thật: ‘Vì lý do này điều đó đúng sự thật, vì lý do này điều đó chính xác. Có điều như vậy nơi chúng tôi, điều đó được tìm thấy nơi chúng tôi.’

1. KINH PHẠM VÕNG

(Brahmajàla Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ ngoại đạo cũng đi trên con đường giữa Ràjagaha và Nalandà cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ ngoại đạo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi đi sau lưng đức Phật và chúng Tỷ-kheo.

2. Rồi Thế Tôn đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với chúng Tỷ-kheo. Suppiya, du sĩ ngoại đạo cũng đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Tại đây, du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn người đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời tương phản nhau trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.

3. Và khi đêm vừa mới tàn, một số lớn chư Tăng, sau khi thức dậy, đã ngồi họp tại một gian nhà hình tròn và câu chuyện sau đây được bàn đến giữa chư Tăng.

− Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.

4. Lúc bấy giờ Thế Tôn được biết câu chuyện đang bàn giữa chư Tăng, liền đến tại gian nhà hình tròn và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-Kheo :

− Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì được bàn đến trong khi các ngươi ngồi họp tại chỗ này? Vấn đề gì đã được bỏ dở chưa nói xong?

Nghe nói như vậy, các Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn! Tại đây, khi đêm vừa mới tàn, chúng con sau khi dậy, ngồi họp tại nơi gian nhà hình tròn và giữa chúng con, câu chuyện sau đây được bàn đến: “Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo”. Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang bàn đến nửa chừng của chúng con khi Thế Tôn đến!

5. - Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?

− Bạch Thế Tôn, không thể được!

− Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - “Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi”.

6. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: “Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi”.

7. Này các Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai?

2. Giới Hạnh

2.1. Tiểu Phẩm về Giới Hạnh

Khi một phàm phu (ordinary person / người ít học) nói lời tán thán bậc Như Lai (Realized One / bậc đã đến như vậy, một danh hiệu của Đức Phật), họ chỉ nói về những chi tiết nhỏ nhặt, không đáng kể, chỉ thuộc về giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức).^15 Và những chi tiết nhỏ nhặt, không đáng kể, chỉ thuộc về giới đức mà một phàm phu nói đến là gì?^16

Sa-môn Gotama (ascetic Gotama / tu sĩ Gotama) đã từ bỏ việc giết hại sinh vật. Ngài đã từ bỏ gậy và kiếm. Ngài biết xấu hổ (scrupulous / tàm / có lòng hổ thẹn với tội lỗi) và từ ái, sống đầy lòng thương xót tất cả chúng sanh.’^17 Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.^18

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc trộm cắp. Ngài chỉ lấy những gì được cho, và chỉ mong đợi những gì được cho. Ngài giữ mình trong sạch bằng cách không trộm cắp.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ hành vi không trong sạch (dâm dục). Ngài sống độc thân, phạm hạnh, tách biệt, tránh xa hành vi thô tục của tình dục.’^19 Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc nói dối. Ngài nói sự thật và giữ vững sự thật. Ngài trung thực và đáng tin cậy, không lừa dối thế gian bằng lời nói của mình.’^20 Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói chia rẽ. Ngài không lặp lại ở nơi này những gì đã nghe ở nơi khác để gây chia rẽ mọi người. Thay vào đó, Ngài hòa giải những người chia rẽ, ủng hộ sự đoàn kết, vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, nói những lời thúc đẩy sự hòa hợp.’^21 Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói thô ác. Ngài nói năng ôn hòa, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, dễ mến và làm hài lòng mọi người.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc nói lời vô ích. Lời nói của Ngài hợp thời, đúng sự thật, và có ý nghĩa, phù hợp với Pháp và Luật (teaching and training / giáo pháp và giới luật). Ngài nói những điều đúng lúc, có giá trị, hợp lý, súc tích, và lợi ích.’^22 Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Sa-môn Gotama từ bỏ việc làm hại cây cỏ và hạt giống.’^23

‘Ngài ăn một bữa trong ngày, không ăn ban đêm và không ăn phi thời.’^24

‘Ngài từ bỏ việc xem các buổi trình diễn múa, hát, và âm nhạc.’^25

‘Ngài từ bỏ việc trang điểm và tô điểm bản thân bằng vòng hoa, hương liệu, và phấn sáp.’^26

‘Ngài từ bỏ giường cao và sang trọng.’^27

‘Ngài từ bỏ việc nhận vàng bạc,^28 lúa gạo sống,^29 thịt sống, phụ nữ và thiếu nữ, nô tỳ nam nữ,^30 dê và cừu,^31 gà và heo, voi, bò, ngựa đực, ngựa cái, và ruộng đất.’^32

‘Ngài từ bỏ việc làm người đưa tin, chạy việc vặt;^33 mua bán;^34 gian lận trong cân, kim loại, hay thước đo; hối lộ, lừa đảo, gian trá, và hai lòng; cắt xén thân thể, giết người, bắt cóc, cướp bóc, và bạo lực.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

Hết tiểu phẩm về giới hạnh.

(Tiểu Giới)

8. Sa-môn Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. - Này các Tỷ-kheo, đó là lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ lấy của không cho, tránh xa sự lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp. - Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ tà hạnh, tịnh tu phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

9. Sa-môn Gotama từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người nầy; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Sa-môn Gotama sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, Samôn Gotama nói những lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu. Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói ỷ ngữ, tránh xa lời nói ỷ ngữ, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. - Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

10. Sa-môn Gotama không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ; Sa-môn Gotama dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Sa-môn Gotama từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Sa-môn Gotama từ bỏ không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Sa-môn Gotama từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận vàng và bạc. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận các hạt giống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận thịt sống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận đàn bà, con gái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận cừu và dê. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận gia cầm và heo. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai. Sa-môn Gotama từ bỏ không phái người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Sa-môn Gotama từ bỏ không buôn bán. Sa-môn Gotama từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Sa-môn Gotama từ bỏ các tà hạnh, như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Sa-môn Gotama từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. - Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

2.2. Trung Phẩm về Giới Hạnh

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn làm hại cây cỏ và hạt giống.^35 Bao gồm các loại cây trồng từ rễ, thân, cành giâm, hoặc mắt ghép; và loại thứ năm là từ hạt giống thông thường.^36 Sa-môn Gotama từ bỏ việc làm hại cây cỏ và hạt giống như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn tích trữ đồ dùng cho riêng mình.^37 Bao gồm những thứ như thức ăn, thức uống, quần áo, xe cộ, giường nệm, hương liệu, và những thứ thuộc về xác thịt. Sa-môn Gotama từ bỏ việc tích trữ những đồ dùng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn xem các buổi trình diễn. Bao gồm những thứ như múa, hát, âm nhạc, kịch nghệ, và kể chuyện; vỗ tay, chiêng trống, và trống trận; các cuộc thi sắc đẹp; biểu diễn nhào lộn trên sào và các màn rửa xương của những người làm nghề với xác chết; các trận đấu voi, ngựa, trâu, bò đực, dê, cừu đực, gà, và chim cút; đấu gậy, quyền anh, và đấu vật; chiến đấu, điểm danh các lực lượng vũ trang, đội hình chiến đấu, và duyệt binh.^38 Sa-môn Gotama từ bỏ việc xem các buổi trình diễn như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia cờ bạc gây ra sao nhãng (negligence / phóng dật / sự lơ là, không chú tâm).^39 Bao gồm những thứ như cờ bàn tám hoặc mười hàng, cờ không gian, nhảy lò cò, trò gắp thẻ, các trò chơi trên bàn, đánh khăng, rút thăm, xúc xắc, thổi kèn lá, đồ chơi hình cái cày, nhào lộn, chong chóng, đồ chơi đo lường, xe đồ chơi, cung đồ chơi, đoán chữ từ âm tiết, đoán ý nghĩ người khác, và bắt chước nhạc cụ.^40 Sa-môn Gotama từ bỏ việc cờ bạc như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn sử dụng giường cao và sang trọng. Bao gồm những thứ như ghế sofa, trường kỷ, thảm len—loại có lông xù, nhiều màu, màu trắng, thêu hoa, chần bông, thêu hình thú, có tua rua hai bên hoặc một bên—và các tấm phủ bằng lụa nạm đá quý, cũng như khăn trải giường bằng lụa, thảm dệt, thảm lót cho voi, ngựa, hoặc xe ngựa, thảm da linh dương, và các tấm trải bằng da nai tốt, có mái che ở trên và gối đỏ ở hai đầu. Sa-môn Gotama từ bỏ việc sử dụng giường như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn trang điểm và tô điểm bản thân bằng vòng hoa, hương liệu, và phấn sáp. Bao gồm những thứ như thoa các sản phẩm làm đẹp bằng cách xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, và chà xát; gương soi, thuốc mỡ, vòng hoa, hương liệu, và phấn sáp; phấn phủ, kem nền, vòng tay, băng đô, gậy chống hoặc hộp đựng sang trọng, kiếm, dù che, dép sang trọng, khăn xếp, đồ trang sức, phất trần, và áo choàng trắng có tua rua dài. Sa-môn Gotama từ bỏ việc trang điểm và tô điểm như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào ngôn ngữ thấp kém (low talk / tiracchānakathā / những câu chuyện vô ích, không đưa đến giải thoát). Bao gồm các chủ đề như^41 chuyện về vua chúa, trộm cướp, và các quan đại thần; chuyện về quân đội, các mối đe dọa, và chiến tranh; chuyện về thức ăn, thức uống, quần áo, và giường ngủ; chuyện về vòng hoa và hương liệu; chuyện về gia đình, xe cộ, làng mạc, thị trấn, thành phố, và quốc gia; chuyện về phụ nữ và anh hùng; chuyện ngoài đường và chuyện giếng nước; chuyện về người đã khuất; chuyện tạp nham; truyện kể về đất liền và biển cả; và chuyện về việc tái sanh ở nơi này hay nơi khác.^42 Sa-môn Gotama từ bỏ ngôn ngữ thấp kém như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào các cuộc tranh luận. Họ nói những điều như: “Ông không hiểu Pháp và Luật này. Tôi hiểu Pháp và Luật này. Sao, ông hiểu Pháp và Luật này à? Ông đang thực hành sai. Tôi đang thực hành đúng. Tôi nói đúng chủ đề, ông thì không. Ông nói sau những gì đáng lẽ phải nói trước. Ông nói trước những gì đáng lẽ phải nói sau. Những gì ông đã suy nghĩ kỹ lưỡng đều đã bị bác bỏ. Học thuyết của ông đã bị réfuter. Tiếp tục đi, hãy bảo vệ học thuyết của ông! Ông bị mắc kẹt rồi; hãy tự thoát ra khỏi đây—nếu ông có thể!” ^43 Sa-môn Gotama từ bỏ những cuộc nói chuyện tranh luận như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn làm người đưa tin, chạy việc vặt. Bao gồm việc chạy việc vặt cho vua chúa, quan lại, quý tộc, Bà-la-môn, gia chủ, hoặc các hoàng tử nói rằng: “Hãy đi đến đây, hãy đi đến đó. Hãy mang cái này đi, hãy mang cái kia từ đó về.”^44 Sa-môn Gotama từ bỏ việc chạy việc vặt như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào việc lừa dối, tâng bốc, nói bóng gió, chê bai, và dùng vật chất để theo đuổi vật chất khác.^45 Sa-môn Gotama từ bỏ việc lừa dối và tâng bốc như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

Hết trung phẩm về giới hạnh.

(Trung Giới)

11. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối. Như các hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ ngành cây sanh, hạt giống từ đất sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn Sa-môn Gotama thì không làm hại hột giống hay cây cối nào. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

12. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật. Như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không cất chứa các vật trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

13. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chân chánh như múa, hát, nhạc, kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ các loại du hí không chân chánh như trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

14. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiếu trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

15. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế dài, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm bằng da sơn dương khâu lại với nhau, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

16. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm. Như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương, kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt, sáp mặt, vòng tay, tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

17. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống nói những câu chuyện vô ích, tầm thường như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn Sa-môn Gotama từ bỏ không nói những câu chuyện vô ích, tầm thường kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

18. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp, như nói: “Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi mới thật đúng chánh kiến; lời nói của tôi mới tương ưng, lời nói của ngươi không tương ưng; lời nói của ngươi không tương ưng, những điều đáng nói trước ngươi lại nói sau, những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước, chủ kiến của ngươi đã bị bài bác; câu nói của ngươi đã bị thách đấu; ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy; nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí”. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những cuộc biện luận tranh chấp đã kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

19. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới, như cho các vua, cho các đại thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ, cho các thanh niên và nói rằng: “Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia; mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia”. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không cho đưa các tin tức và tự đứng làm môi giới. Như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

20. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ý, dèm pha, lấy lợi cầu lợi. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không lừa đảo và siểm nịnh như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

2.3. Đại Phẩm về Giới Hạnh

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng (low lore, by wrong livelihood / kiến thức thấp kém, cách mưu sinh không chân chính).^46 Bao gồm các lĩnh vực như xem tướng tay chân, xem điềm báo, giải đoán các hiện tượng thiên văn, giải mộng, xem tướng người, xem lỗ chuột gặm trên vải, cúng lửa, cúng bằng muỗng, cúng trấu, bột gạo, gạo, bơ lỏng, hoặc dầu; cúng bằng miệng, tế thần bằng máu, xem chỉ tay; xem phong thủy cho nhà cửa, ruộng đất, và nghĩa địa; trừ tà, ma thuật đất, thuật bắt rắn, độc dược; bùa chú về bọ cạp, chuột, chim, và quạ; tiên tri tuổi thọ, tụng kinh bảo vệ, và xem điềm từ thú hoang.^47 Sa-môn Gotama từ bỏ tà thuật, tà mạng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc xem các dấu hiệu của đá quý, vải vóc, gậy gộc, kiếm, giáo, cung tên, vũ khí, phụ nữ, đàn ông, bé trai, bé gái, nô tỳ nam nữ, voi, ngựa, trâu, bò đực, bò cái, dê, cừu đực, gà, chim cút, kỳ đà, thỏ, rùa, hoặc nai.^48 Sa-môn Gotama từ bỏ tà thuật, tà mạng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc đưa ra những dự đoán rằng nhà vua sẽ xuất quân hay lui quân; hoặc vua của chúng ta sẽ tấn công và vua địch sẽ rút lui, hoặc ngược lại; hoặc vua của chúng ta sẽ chiến thắng và vua địch sẽ bị đánh bại, hoặc ngược lại; và do đó sẽ có chiến thắng cho một bên và thất bại cho bên kia. Sa-môn Gotama từ bỏ tà thuật, tà mạng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc đưa ra những dự đoán rằng sẽ có nguyệt thực, nhật thực, hoặc sao băng; rằng mặt trời, mặt trăng, và các vì sao sẽ trùng tụ hoặc đối nghịch; rằng sẽ có mưa sao băng, bầu trời rực lửa, động đất, hoặc sấm sét trên trời; rằng sẽ có sự mọc, lặn, tối đi, sáng lên của mặt trăng, mặt trời, và các vì sao. Và nó cũng bao gồm việc đưa ra những dự đoán về kết quả của tất cả các hiện tượng đó.^49 Sa-môn Gotama từ bỏ tà thuật, tà mạng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc dự đoán liệu sẽ có nhiều mưa hay hạn hán; đủ ăn hay đói kém; mùa màng bội thu hay thất bát; an ninh hay nguy hiểm; bệnh tật hay khỏe mạnh. Nó cũng bao gồm các nghề như số học, kế toán, tính toán, làm thơ, và thế giới học.^50 Sa-môn Gotama từ bỏ tà thuật, tà mạng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc sắp đặt cho việc cưới hỏi; cho việc đính hôn và ly hôn; và cho việc rải gạo vào trong hoặc ra ngoài trong lễ cưới. Nó cũng bao gồm việc làm phép may rủi, chữa thai nghén khó, làm câm lưỡi, hoặc khóa hàm; bùa tay, bùa tai; hỏi gương, hỏi đồng nữ, hoặc hỏi thần linh để xin lời sấm; thờ mặt trời, thờ Đại Phạm Thiên, thổi lửa, và cầu khẩn Siri, nữ thần may mắn.^51 Sa-môn Gotama từ bỏ tà thuật, tà mạng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn, trong khi hưởng dụng vật thực do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm các nghi lễ cầu an, cầu xin, cúng cô hồn, cúng đất, cầu mưa, giải quyết tranh chấp tài sản, và chuẩn bị và thánh hóa đất cất nhà, và các nghi lễ liên quan đến súc miệng, tắm rửa, và cúng dường. Nó cũng bao gồm việc cho thuốc xổ, thuốc tẩy, thuốc long đờm, và thuốc trị đờm; nhỏ dầu tai, thuốc mắt, thuốc mũi, thuốc xoa bóp, và thuốc đắp; phẫu thuật bằng kim dao, chữa bệnh trẻ em, kê đơn thuốc rễ cây, và bó thuốc lá.^52 Sa-môn Gotama từ bỏ tà thuật, tà mạng như vậy.’ Đó là lời tán thán của một phàm phu đối với Như Lai.

Đây là những chi tiết nhỏ nhặt, không đáng kể, chỉ thuộc về giới đức mà một phàm phu nói đến khi họ tán thán Như Lai.

Hết đại phẩm về giới hạnh.

(Ðại Giới)

21. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hột cải v.v… vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế dầu, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu ma quỷ, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bọ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa những tà hạnh kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

22. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống mình bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tường đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.

− Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

23. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước: Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lui quân; vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối; vua ngoại bang sẽ tấn công, vua bản xứ sẽ triệt thối; vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ bại trận; vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự thất bại cho phe bên kia. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.

− Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

24. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhựt thực, sẽ có tinh thực; mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng, mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động đất, sẽ có sấm trời, mặt trăng, mặt trời, các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhựt thực sẽ có kết quả như thế này, tinh thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương hướng sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có những kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng, mặt trời, các sao mọc, lặn, mờ, sáng, sẽ có kết quả như thế này. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa, không tự nuôi sống bằng những tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

25. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ có hiểm họa, sẽ có bịnh, sẽ không có bịnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà hạnh kể trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

26. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng. Như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rể, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến cho người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến cho tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng, thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai. 27. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bịnh đau mắt, làm thầy thuốc mổ xẻ, chữa bịnh cho con nít, cho uống thuốc làm bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

Này các Tỷ-kheo, đấy là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai.

3. Các Quan Điểm

3.1. Các Thuyết về Quá Khứ

Có những pháp khác—sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận suông, vi tế, chỉ người có trí tuệ (astute / tuệ / sự hiểu biết thấu đáo) mới có thể lãnh hội—mà Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (own insight / abhiññā, sự hiểu biết siêu việt) rồi tuyên thuyết. Những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.^53 Và những pháp này là gì?

28. Này các Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, không thể nhận hiểu bởi luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến?

Có những Sa-môn và Bà-la-môn thuyết về quá khứ (theorize about the past / pubbantakappika, những người có quan điểm về quá khứ), và khẳng định nhiều giả thuyết khác nhau liên quan đến quá khứ dựa trên mười tám cơ sở. Và mười tám cơ sở mà họ dựa vào là gì?

3.1.1. Thuyết Thường Còn

Có những Sa-môn và Bà-la-môn là những thường kiến luận giả (eternalists / người chủ trương thuyết thường còn), họ khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn dựa trên bốn cơ sở.^54 Và bốn cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó—nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng (diligent / appamāda, sự không lơ là), cùng với như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ)—chứng được một trạng thái định tâm (immersion of the heart / Định / sự tập trung tâm ý) đến mức họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp (past lives / các đời sống quá khứ) của mình.^55 Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn lần tái sanh. Họ nhớ lại: ‘Ở đó, tôi tên là thế này, dòng họ tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi mệnh chung từ nơi đó, tôi được tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, tôi cũng tên là thế này, dòng họ tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi mệnh chung từ nơi đó, tôi được tái sanh ở đây.’ Và cứ thế họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết.^56

Họ nói: 'Ngã và thế giới là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ.^57 Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi những chúng sanh này lang thang, luân hồi, mệnh chung và tái sanh.^58 Tại sao vậy? Bởi vì nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý, tôi chứng được một trạng thái định tâm đến mức tôi nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Vì điều này tôi biết:^59

“Ngã và thế giới là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi những chúng sanh này lang thang, luân hồi, mệnh chung và tái sanh.”’ Đây là cơ sở thứ nhất mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn.

Và cơ sở thứ hai mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó—nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý—chứng được một trạng thái định tâm đến mức họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình. Đó là: một kiếp thành và kiếp hoại của thế giới (eon of the cosmos contracting and expanding / thời kỳ thế giới hình thành và hoại diệt); hai, ba, bốn, năm, hoặc mười kiếp thành và kiếp hoại của thế giới. Họ nhớ lại: ‘Ở đó, tôi tên là thế này, dòng họ tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi mệnh chung từ nơi đó, tôi được tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, tôi cũng tên là thế này, dòng họ tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi mệnh chung từ nơi đó, tôi được tái sanh ở đây.’ Và cứ thế họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết.^60

Họ nói: 'Ngã và thế giới là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi những chúng sanh này lang thang, luân hồi, mệnh chung và tái sanh. Tại sao vậy? Bởi vì nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý, tôi chứng được một trạng thái định tâm đến mức tôi nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Vì điều này tôi biết:

“Ngã và thế giới là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi những chúng sanh này lang thang, luân hồi, mệnh chung và tái sanh.”’ Đây là cơ sở thứ hai mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn.

Và cơ sở thứ ba mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó—nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý—chứng được một trạng thái định tâm đến mức họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình. Đó là: mười kiếp thành và kiếp hoại của thế giới; hai mươi, ba mươi, hoặc bốn mươi kiếp thành và kiếp hoại của thế giới. Họ nhớ lại: ‘Ở đó, tôi tên là thế này, dòng họ tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi mệnh chung từ nơi đó, tôi được tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, tôi cũng tên là thế này, dòng họ tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi mệnh chung từ nơi đó, tôi được tái sanh ở đây.’ Và cứ thế họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết.

Họ nói: 'Ngã và thế giới là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi những chúng sanh này lang thang, luân hồi, mệnh chung và tái sanh. Tại sao vậy? Bởi vì nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý, tôi chứng được một trạng thái định tâm đến mức tôi nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Vì điều này tôi biết:

“Ngã và thế giới là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi những chúng sanh này lang thang, luân hồi, mệnh chung và tái sanh.”’ Đây là cơ sở thứ ba mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn.

Và cơ sở thứ tư mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó dựa vào lý luận và suy xét. Họ nói về những gì họ đã suy luận ra bằng lý luận, theo một dòng suy xét, thể hiện quan điểm riêng của họ:^61 ‘Ngã và thế giới là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi những chúng sanh này lang thang, luân hồi, mệnh chung và tái sanh.’ Đây là cơ sở thứ tư mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn.

Đây là bốn cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn đều làm như vậy dựa trên một trong bốn cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác.^62

Như Lai hiểu rõ điều này: ‘Nếu các ông nắm giữ và bám víu vào những cơ sở cho các quan điểm này, nó sẽ dẫn đến cảnh giới như thế này, như thế kia trong đời sau.’^63 Ngài hiểu rõ điều này, và những gì vượt xa hơn điều này. Và vì ngài không rơi vào sùng tín và giáo điều (misapprehend that understanding / giới cấm thủ đối với sự hiểu biết đó / sự hiểu lầm và chấp thủ sai lầm vào sự hiểu biết đó) đối với sự hiểu biết đó, ngài đã tự mình chứng ngộ Niết-bàn (quenching / nibbāna / sự dập tắt phiền não, sự giải thoát).^64 Sau khi đã thực sự hiểu rõ sự sanh, sự diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ (feelings / vedanā / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính), Như Lai được giải thoát nhờ không còn chấp thủ (grasping / upādāna / sự bám víu, dính mắc).^65

Đây là những pháp—sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận suông, vi tế, chỉ người có trí tuệ mới có thể lãnh hội—mà Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi tuyên thuyết. Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

Phần tụng đọc thứ nhất.^66

(62 loại Tà kiến)

29. Này các Tỷ-kheo có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều sở kiến sai khác, với mười tám luận chấp. Và y chỉ theo gì, căn cứ theo gì, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về phía quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng ra nhiều sở kiến sai khác với mười tám luận chấp?

30. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: “Bản ngã về thế giới là thường còn” với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp?

31. Này các Tỷ-kheo, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định; khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, vô số trăm đời, vô số ngàn đời, vô số trăm ngàn đời, nhớ rằng: Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ, khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói rằng: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại hữu tình kia thời lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi do nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm… còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.

Này các Tỷ-kheo đó là lập trường thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những vị Sa-môn, Bàla-môn, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng bản ngã và thế giới là thường còn. 32. Trường hợp thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng bản ngã và thế giới là thường còn?

Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định, khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một thành kiếp hoại kiếp, hai thành kiếp hoại kiếp, ba thành kiếp hoại kiếp, mười thành kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này… còn những loại hữu tình kia lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.

Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những Sa-môn, Bà-la-môn , chủ trương Thường trú luận và chấp rằng, bản ngã và thế giới thường còn.

33. Trường hợp thứ ba, những Sa-môn hay Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và cho rừng bản ngã và thế giới là thường còn?

Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp hoại kiếp, hai mươi thành kiếp hoại kiếp, ba mươi thành kiếp hoại kiếp, bốn mươi thành kiếp hoại kiếp, năm mươi thành kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy, chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi nhờ nhiệt tâm… nên tâm nhập định như vậy. Khi tâm nhập định như vậy, tôi nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp, hoại kiếp… bốn mươi thành kiếp hoại kiếp”. Nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này… tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, trụ đá… còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.

Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới thường còn.

34. Trường hợp thứ tư, những Sa-môn, Bà-la-môn y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp bản ngã và thế giới thường còn?

Này các Tỷ-kheo, ở đời có Sa-môn hay Bà-la-môn, là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ của suy luận, và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này tuyên bố như thế này: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thời lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường còn”.

Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn.

35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn, với bốn luận chấp. Nếu có những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: “Bản ngã và thế giới là thường còn”, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

36. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai biết như vậy, Ngài lại biết hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm chứng được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

37. Những chấp pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy, Như Lai đã thắng tri, giác ngộ và tuyên thuyết; và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.1.2. Thuyết Một Phần Thường Còn

Có một số sa-mônbà-la-môn là những người theo thuyết một phần thường còn, họ khẳng định rằng tự ngã và thế giới một phần thường còn và một phần không thường còn dựa trên bốn cơ sở.^67 Và bốn cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Có một thời điểm, sau một thời gian rất dài đã trôi qua, thế giới này co lại.^68 Khi thế giới co lại, chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình, những sinh vật có cảm giác và nhận thức) hầu hết hướng về quang âm thiên (realm of streaming radiance / cõi trời Quang Âm, một trong các cõi trời Sắc Giới, nơi chúng sinh có thân thể phát sáng và giao tiếp bằng ánh sáng hoặc âm thanh vi diệu).^69 Ở đó, họ là những chúng sinh ý sinh (mind-made / do ý tạo ra, không phải do cha mẹ sinh ra), nuôi sống bằng niềm vui (feeding on rapture / hỷ thực, nuôi dưỡng bằng trạng thái hỷ lạc của thiền định), tự chiếu sáng (self-luminous / tự thân phát ra ánh sáng, không cần nguồn sáng bên ngoài), du hành trong hư không, thường hằng huy hoàng, và họ duy trì như vậy trong một thời gian rất dài.^70

Có một thời điểm, sau một thời gian rất dài đã trôi qua, thế giới này giãn nở.^71 Khi nó giãn nở, một cung điện Phạm thiên (empty mansion of divinity / cung điện trống không của một vị Phạm thiên, một loại chư thiên cao cấp) trống không xuất hiện.^72 Sau đó, một chúng sinh nào đó—do hết thọ mạng (lifespan / tuổi thọ) hoặc phước đức (merit / công đức, nghiệp tốt đã tạo)—mệnh chung từ chúng chư thiên quang âm đó và tái sinh vào cung điện Phạm thiên trống không ấy.^73 Ở đó, họ là những chúng sinh ý sinh, nuôi sống bằng niềm vui, tự chiếu sáng, du hành trong hư không, thường hằng huy hoàng, và họ duy trì như vậy trong một thời gian rất dài.

Nhưng sau khi ở một mình tại đó một thời gian dài, vị ấy trở nên bất mãn và lo âu:^74 ‘Ôi, giá như có những chúng sinh khác đến nơi này.’ Sau đó, những chúng sinh khác—do hết thọ mạng hoặc phước đức—mệnh chung từ chúng chư thiên quang âm đó và tái sinh vào cung điện Phạm thiên ấy cùng với vị chúng sinh kia.^75 Ở đó, họ cũng là những chúng sinh ý sinh, nuôi sống bằng niềm vui, tự chiếu sáng, du hành trong hư không, thường hằng huy hoàng, và họ duy trì như vậy trong một thời gian rất dài.

Bấy giờ, chúng sinh tái sinh ở đó đầu tiên nghĩ rằng: ‘Ta là Phạm Thiên (Divinity / vị trời tối cao trong một số quan niệm Ấn Độ cổ, thường được coi là đấng sáng tạo), Đại Phạm Thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Biến Kiến (Thấy Khắp), Đấng Quyền Năng, Thượng Đế Toàn Năng, Đấng Tạo Hóa, Đấng Sáng Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những chúng sinh đã sinh và những chúng sinh chưa sinh.^76 Những chúng sinh này do ta tạo ra! ^77 Tại sao vậy? Bởi vì đầu tiên ta đã nghĩ:

“Ôi, giá như có những chúng sinh khác đến nơi này.” Đó là tâm nguyện (heart’s wish / ước muốn chân thành từ trong tâm) của ta, và rồi những chúng sinh này đã đến nơi này.’^78

Và những chúng sinh tái sinh ở đó sau này cũng nghĩ rằng: ‘Đây hẳn là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Biến Kiến, Đấng Quyền Năng, Thượng Đế Toàn Năng, Đấng Tạo Hóa, Đấng Sáng Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những chúng sinh đã sinh và những chúng sinh chưa sinh. Và chúng ta được tạo ra bởi ngài. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta thấy rằng ngài đã tái sinh ở đây trước, còn chúng ta đến sau.’^79

Và chúng sinh tái sinh đầu tiên thì sống lâu hơn, đẹp đẽ hơn, và rực rỡ hơn những chúng sinh đến sau.

Có thể một trong những chúng sinh đó mệnh chung từ chúng ấy và tái sinh vào nơi này. Sau khi làm vậy, họ từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia. Nhờ nỗ lực nhiệt thành, kiên quyết, tận tâm, siêng năng, và như lý tác ý (right application of mind / suy tư với trí tuệ), họ trải nghiệm một sự nhập tâm (immersion of the heart / sự tập trung sâu sắc của tâm, trạng thái định tâm) đến mức họ nhớ lại được đời quá khứ đó, nhưng không xa hơn nữa.^80

Họ nói: ‘Vị ấy, người là Phạm Thiên—Đại Phạm Thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Biến Kiến, Đấng Quyền Năng, Thượng Đế Toàn Năng, Đấng Tạo Hóa, Đấng Sáng Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những chúng sinh đã sinh và những chúng sinh chưa sinh—chúng ta được tạo ra bởi vị ấy. Vị ấy là thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không hư hoại, tồn tại mãi mãi như vậy. Chúng ta, những người được tạo ra bởi vị Phạm Thiên đó, là vô thường (impermanent / không thường còn, luôn thay đổi), không trường tồn, đoản mệnh, phải chịu sự mệnh chung, và đã đến nơi này.’^81 Đây là cơ sở thứ nhất mà một số sa-môn và bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng tự ngã và thế giới một phần thường còn.

Và cơ sở thứ hai mà họ dựa vào là gì? Có những vị trời được gọi là ‘chư thiên Khidḍāpadosikā (gods named ‘depraved by play’ / chư thiên bị hư hỏng do vui đùa quá độ, một loại chư thiên ở cõi trời Dục Giới).’ Họ dành quá nhiều thời gian để cười đùa, vui chơi, và giải trí. Và khi làm vậy, họ mất sự tỉnh thức (lose their mindfulness / thất niệm, không còn duy trì sự chú tâm, nhận biết rõ ràng), và họ mệnh chung từ chúng chư thiên đó.^82

Có thể một trong những chúng sinh đó mệnh chung từ chúng ấy và tái sinh vào nơi này. Sau khi làm vậy, họ từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia. Nhờ nỗ lực nhiệt thành, kiên quyết, tận tâm, siêng năng, và như lý tác ý, họ trải nghiệm một sự nhập tâm đến mức họ nhớ lại được đời quá khứ đó, nhưng không xa hơn nữa.

Họ nói: ‘Những vị trời không bị hư hỏng do vui đùa thì không dành quá nhiều thời gian để cười đùa, vui chơi, và giải trí. Vì vậy, họ không mất sự tỉnh thức, và không mệnh chung từ chúng chư thiên đó. Họ là thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không hư hoại, tồn tại mãi mãi như vậy. Nhưng chúng ta, những người bị hư hỏng do vui đùa, đã dành quá nhiều thời gian để cười đùa, vui chơi, và giải trí. Khi làm vậy, chúng ta đã mất sự tỉnh thức, và mệnh chung từ chúng chư thiên đó. Chúng ta là vô thường, không trường tồn, đoản mệnh, phải chịu sự mệnh chung, và đã đến nơi này.’^83 Đây là cơ sở thứ hai mà một số sa-môn và bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng tự ngã và thế giới một phần thường còn.

Và cơ sở thứ ba mà họ dựa vào là gì? Có những vị trời được gọi là ‘chư thiên Manopadosikā (gods named ‘malevolent’ / chư thiên bị hư hỏng do ý nghĩ sân hận, một loại chư thiên ở cõi trời Dục Giới).’ Họ dành quá nhiều thời gian nhìn nhau chằm chằm, nên họ sinh lòng tức giận (grow angry with each other / sân hận, nổi giận) với nhau, và thân tâm họ trở nên mệt mỏi. Họ mệnh chung từ chúng chư thiên đó.^84

Có thể một trong những chúng sinh đó mệnh chung từ chúng ấy và tái sinh vào nơi này. Sau khi làm vậy, họ từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia. Nhờ nỗ lực nhiệt thành, kiên quyết, tận tâm, siêng năng, và như lý tác ý, họ trải nghiệm một sự nhập tâm đến mức họ nhớ lại được đời quá khứ đó, nhưng không xa hơn nữa.

Họ nói: ‘Những vị trời không có ý nghĩ xấu thì không dành quá nhiều thời gian nhìn nhau chằm chằm, nên họ không sinh lòng tức giận với nhau, thân tâm họ không trở nên mệt mỏi, và họ không mệnh chung từ chúng chư thiên đó. Họ là thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không hư hoại, tồn tại mãi mãi như vậy. Nhưng chúng ta, những người có ý nghĩ xấu, đã dành quá nhiều thời gian nhìn nhau chằm chằm, chúng ta đã sinh lòng tức giận với nhau, thân tâm chúng ta đã trở nên mệt mỏi, và chúng ta đã mệnh chung từ chúng chư thiên đó. Chúng ta là vô thường, không trường tồn, đoản mệnh, phải chịu sự mệnh chung, và đã đến nơi này.’ Đây là cơ sở thứ ba mà một số sa-môn và bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng tự ngã và thế giới một phần thường còn.

Và cơ sở thứ tư mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một số sa-môn hay bà-la-môn dựa vào lý luận và tìm hiểu. Họ nói về những gì họ đã suy diễn bằng lý luận, theo một dòng tìm hiểu, thể hiện quan điểm riêng của mình: ‘Cái gọi là “mắt”, “tai”, “mũi”, “lưỡi”, và cả “thân”: tự ngã đó là vô thường, không trường tồn, tạm bợ, có thể hư hoại. Cái gọi là ‘ý (mind / manas, một trong sáu giác quan, cơ quan suy nghĩ, phân biệt)’ hay ‘tâm (sentience / citta, trạng thái nhận biết, dòng tâm thức)’ hay ‘thức (consciousness / viññāṇa, sự nhận biết đối tượng qua các giác quan và ý)’: tự ngã đó là thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không hư hoại, tồn tại mãi mãi như vậy.’^85 Đây là cơ sở thứ tư mà một số sa-môn và bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng tự ngã và thế giới một phần thường còn.

Đây là bốn cơ sở mà những sa-môn và bà-la-môn đó khẳng định rằng tự ngã và thế giới một phần thường còn và một phần không thường còn. Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào khẳng định rằng tự ngã và thế giới một phần thường còn và một phần không thường còn đều làm vậy dựa trên một trong bốn cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác.

Đấng Như Lai hiểu rõ điều này: ‘Nếu các ngươi nắm giữ và chấp thủ (attach to / bám víu, dính mắc) vào những kiến xứ (grounds for views / cơ sở, nền tảng cho các quan điểm, tà kiến) này, nó sẽ dẫn đến cảnh giới như thế này, như thế kia trong đời sau.’ Ngài hiểu rõ điều này, và cả những gì vượt ngoài điều này. Và vì Ngài không hiểu sai sự hiểu biết đó, Ngài đã tự mình chứng ngộ Niết-bàn (quenching / sự tịch diệt, sự dập tắt hoàn toàn khổ đau và phiền não). Sau khi đã thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly khỏi các thọ (feelings / các cảm giác khổ, lạc, hoặc xả, một trong năm uẩn), Đấng Như Lai được giải thoát nhờ không chấp thủ (grasping / sự nắm giữ, bám víu vào các pháp thế gian).

Đây là những nguyên lý—sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài phạm vi lý luận, vi tế, chỉ những người sáng suốt mới có thể hiểu—mà Đấng Như Lai làm cho tỏ tường sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác (insight / sự hiểu biết thấu suốt thực tại, trí tuệ phát sinh từ thiền quán) của chính Ngài. Và những ai chân chính tán thán Đấng Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

Tụng Phẩm II

1. Này các Tỷ-kheo, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp?

2. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đấy, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài.

3. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

4. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác, cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung để làm bạn với vị hữu tình kia. Những loại hữu tình ở đấy cũng do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy, trong một thời gian khá dài.

5. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vị hữu tình đầu tiên sanh qua nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta sanh ra. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này - Chính do sở nguyện của ta mà những loài hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cũng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì sao vậy? Vì ta đã thấy vị này sanh trước ở đây rồi. Còn chúng ta thì sanh sau”

6. Này các Tỷ-kheo, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn và được ít quyền hơn. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mị định mạng, đấng Tự Tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ và chịu sự biến dịch”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

7. Trường hợp thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?

Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, các chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể chúng.

8. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy.

9. Vị ấy nói rằng: “Những chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, chúng sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên những chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

10. Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?

Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (bị nhiễm hoặc bởi tâm trí). Chúng sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân chúng mệt mỏi, tâm chúng mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh từ bỏ thân thể này của chúng.

11. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các vị hữu tình kia, khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, nhưng không nhớ xa hơn đời sống ấy.

12. Vị ấy nói rằng: “Những vị chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, chúng sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng không oán ghét nhau. Vì tâm trí chúng không oán ghét nhau, nên thân chúng không mệt mỏi, tâm chúng không mệt mỏi. Những hàng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi”. Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng ta thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

13. Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn, hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuộc theo thẩm sát, vị này tuyên bố như thế này: “Cái gọi là mắt, là tai, là mũi, là lưỡi, là thân, cái bản ngã ấy vô thường, không kiên cố, không thường trú, bị chuyển biến. Cái gọi là tâm, là ý, là thức, cái bản ngã ấy là thường còn, bất biến, thường trú, không bị chuyển biến, thường hằng như vậy mãi mãi”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

14. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

15. Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết rằng: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến. 16. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là Hữu biên Vô biên với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp?

3.1.3. Thế giới Có Biên hay Vô Biên

Có những Sa-môn và Bà-la-môn thuyết về giới hạn (theorize about size / antānantika, những người có quan điểm về sự hữu hạn hay vô hạn của thế giới), và khẳng định rằng thế giới là có biên hay vô biên dựa trên bốn cơ sở.^86 Và bốn cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó—nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý—chứng được một trạng thái định tâm đến mức họ thiền định và nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) thế giới là có biên.^87

Họ nói: 'thế giới là có biên và có giới hạn. Tại sao vậy? Bởi vì nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý, tôi chứng được một trạng thái định tâm đến mức tôi thiền định và nhận thức thế giới là có biên.^88 Vì điều này tôi biết:

“thế giới là có biên và có giới hạn.”’ Đây là cơ sở thứ nhất mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng thế giới là có biên hay vô biên.

Và cơ sở thứ hai mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó—nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý—chứng được một trạng thái định tâm đến mức họ thiền định và nhận thức thế giới là vô biên.^89

Họ nói: 'thế giới là vô biên và không có giới hạn. Những Sa-môn và Bà-la-môn nói rằng thế giới là có biên là sai.^90 thế giới là vô biên và không có giới hạn. Tại sao vậy? Bởi vì nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý, tôi chứng được một trạng thái định tâm đến mức tôi thiền định và nhận thức thế giới là vô biên. Vì điều này tôi biết:

“thế giới là vô biên và không có giới hạn.”’ Đây là cơ sở thứ hai mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng thế giới là có biên hay vô biên.

Và cơ sở thứ ba mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó—nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý—chứng được một trạng thái định tâm đến mức họ thiền định và nhận thức thế giới là có biên theo chiều dọc nhưng vô biên theo chiều ngang.^91

Họ nói: 'thế giới vừa có biên vừa vô biên. Những Sa-môn và Bà-la-môn nói rằng thế giới là có biên là sai, và những người nói rằng thế giới là vô biên cũng sai. thế giới vừa có biên vừa vô biên. Tại sao vậy? Bởi vì nhờ nỗ lực nhiệt tâm, kiên trì, chuyên chú, và không sao nhãng, cùng với như lý tác ý, tôi chứng được một trạng thái định tâm đến mức tôi thiền định và nhận thức thế giới là có biên theo chiều dọc nhưng vô biên theo chiều ngang. Vì điều này tôi biết:

“thế giới vừa có biên vừa vô biên.”’ Đây là cơ sở thứ ba mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng thế giới là có biên hay vô biên.

Và cơ sở thứ tư mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó dựa vào lý luận và suy xét. Họ nói về những gì họ đã suy luận ra bằng lý luận, theo một dòng suy xét, thể hiện quan điểm riêng của họ: ‘thế giới không có biên cũng không vô biên.^92 Những Sa-môn và Bà-la-môn nói rằng thế giới là có biên là sai, cũng như những người nói rằng thế giới là vô biên, và cả những người nói rằng thế giới vừa có biên vừa vô biên. thế giới không có biên cũng không vô biên.’ Đây là cơ sở thứ tư mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng thế giới là có biên hay vô biên.

Đây là bốn cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định rằng thế giới là có biên hay vô biên. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào khẳng định rằng thế giới là có biên hay vô biên đều làm như vậy dựa trên một trong bốn cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác.

Như Lai hiểu rõ điều này: ‘Nếu các ông nắm giữ và bám víu vào những cơ sở cho các quan điểm này, nó sẽ dẫn đến cảnh giới như thế này, như thế kia trong đời sau.’ Ngài hiểu rõ điều này, và những gì vượt xa hơn điều này. Và vì ngài không rơi vào sùng tín và giáo điều đối với sự hiểu biết đó, ngài đã tự mình chứng ngộ Niết-bàn. Sau khi đã thực sự hiểu rõ sự sanh, sự diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ, Như Lai được giải thoát nhờ không còn chấp thủ.

Đây là những pháp—sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận suông, vi tế, chỉ người có trí tuệ mới có thể lãnh hội—mà Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi tuyên thuyết. Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

17. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu biên. Vị ấy nói rằng: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng chung quanh. Vì sao vậy? Vì tôi, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống với tư tưởng thế giới là hữu biên. Do đó tôi biết rằng thế giới này là hữu biên, có một đường vòng chung quanh”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên và vô biên.

18. Trường hợp thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên và vô biên?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là vô biên. Vị ấy nói: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn”. Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng xung quanh”, những vị ấy nói không đúng sự thật. Thế giới này là vô biên, không có giới hạn. Tại sao vậy? Vì tôi nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống với tư tưởng thế giới là vô biên. Do đó tôi biết: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên.

19. Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu biên về phía trên, phía dưới và thế giới là Vô biên về phía bề ngang. Vị ấy nói: “Thế giới này là hữu biên và vô biên”. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng xung quanh, thì những vị ấy nói không đúng sự thật”. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là vô biên không có giới hạn thì những vị ấy nói không đúng sự thật. Thế giới này vừa là hữu biên, vừa là vô biên. Tại sao vậy? Vì rằng, tôi nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống ở trong đời với tư tưởng, thế giới là hữu biên về phía trên, phía dưới, và thế giới là vô biên về phía bề ngang. Do vậy tôi biết: “Thế giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên.

20. Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này tuyên bố như sau: “Thế giới này không phải là hữu biên, cũng không phải là vô biên. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên có giới hạn xung quanh”, những vị ấy nói không đúng sự thật. Lại những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là vô biên không có giới hạn” những vị ấy cũng nói không đúng sự thật. Lại những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên”, những vị ấy cũng nói không đúng sự thật. Thế giới này cũng không phải là hữu biên, cũng không phải là vô biên.

21. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương Hữu biên Vô biên luận với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

22. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.1.4. Những Người Ngụy Biện Bất Tận

Có những Sa-môn và Bà-la-môn là những ngụy biện luận giả (endless flip-floppers / amarāvikkhepika, người lý luận quanh co, không quyết đoán). Bất cứ khi nào họ được hỏi một câu hỏi, họ lại dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận dựa trên bốn cơ sở.^93 Và bốn cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó không thực sự hiểu rõ điều gì là thiện và điều gì là bất thiện.^94 Họ nghĩ: ‘Tôi không thực sự hiểu rõ điều gì là thiện và điều gì là bất thiện. Nếu tôi tuyên bố điều gì đó là thiện hay bất thiện, tôi có thể sai. Điều đó sẽ gây căng thẳng cho tôi, và sự căng thẳng đó sẽ là một chướng ngại.’ Vì vậy, do sợ hãi và ghê tởm việc nói dối, họ tránh tuyên bố điều gì đó là thiện hay bất thiện. Bất cứ khi nào họ được hỏi một câu hỏi, họ lại dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận:^95 ‘Tôi không nói nó như thế này. Tôi không nói nó như thế kia. Tôi không nói nó khác đi. Tôi không nói nó không phải vậy. Và tôi cũng không phủ nhận nó không phải vậy.’^96 Đây là cơ sở thứ nhất mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào khi dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận.

Và cơ sở thứ hai mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó không thực sự hiểu rõ điều gì là thiện và điều gì là bất thiện. Họ nghĩ: ‘Tôi không thực sự hiểu rõ điều gì là thiện và điều gì là bất thiện. Nếu tôi tuyên bố điều gì đó là thiện hay bất thiện, tôi có thể cảm thấy tham ái, tham lam, sân hận, hay ghê tởm.^97 Đó sẽ là sự chấp thủ của tôi. Điều đó sẽ gây căng thẳng cho tôi, và sự căng thẳng đó sẽ là một chướng ngại.’ Vì vậy, do sợ hãi và ghê tởm sự chấp thủ, họ tránh tuyên bố điều gì đó là thiện hay bất thiện. Bất cứ khi nào họ được hỏi một câu hỏi, họ lại dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận: ‘Tôi không nói nó như thế này. Tôi không nói nó như thế kia. Tôi không nói nó khác đi. Tôi không nói nó không phải vậy. Và tôi cũng không phủ nhận nó không phải vậy.’ Đây là cơ sở thứ hai mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào khi dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận.

Và cơ sở thứ ba mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó không thực sự hiểu rõ điều gì là thiện và điều gì là bất thiện. Họ nghĩ: ‘Tôi không thực sự hiểu rõ điều gì là thiện và điều gì là bất thiện. Giả sử tôi tuyên bố điều gì đó là thiện hay bất thiện. Có những Sa-môn, Bà-la-môn thông minh, sắc sảo, thiện nghệ trong học thuyết của người khác, thích bắt bẻ từng chi tiết nhỏ. Dường như họ sống để dùng trí tuệ của mình phá vỡ các xác tín.^98 Họ có thể truy vấn, ép hỏi, và chất vấn tôi về điều đó. Tôi sẽ bị bí bởi những câu chất vấn như vậy. Điều đó sẽ gây căng thẳng cho tôi, và sự căng thẳng đó sẽ là một chướng ngại.’ Vì vậy, do sợ hãi và ghê tởm sự tra xét, họ tránh tuyên bố điều gì đó là thiện hay bất thiện. Bất cứ khi nào họ được hỏi một câu hỏi, họ lại dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận: ‘Tôi không nói nó như thế này. Tôi không nói nó như thế kia. Tôi không nói nó khác đi. Tôi không nói nó không phải vậy. Và tôi cũng không phủ nhận nó không phải vậy.’ Đây là cơ sở thứ ba mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào khi dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận.

Và cơ sở thứ tư mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó ngu độn và khờ khạo.^99 Vì điều đó, bất cứ khi nào họ được hỏi một câu hỏi, họ lại dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận: ‘Giả sử ông hỏi tôi liệu có thế giới khác không. Nếu tôi tin rằng có, tôi sẽ nói vậy.^100 Nhưng tôi không nói nó như thế này. Tôi không nói nó như thế kia. Tôi không nói nó khác đi. Tôi không nói nó không phải vậy. Và tôi cũng không phủ nhận nó không phải vậy. Giả sử ông hỏi tôi liệu có không có thế giới khác không …^101 liệu có cả có và không có thế giới khác không …^102 liệu không có cũng không không có thế giới khác không …^103 liệu có chúng sanh hóa sanh không …^104 liệu không có chúng sanh hóa sanh không …^105 liệu có cả có và không có chúng sanh hóa sanh không …^106 liệu không có cũng không không có chúng sanh hóa sanh không …^107 liệu có quả và kết quả của nghiệp thiện ác không …^108 liệu không có quả và kết quả của nghiệp thiện ác không …^109 liệu có cả có và không có quả và kết quả của nghiệp thiện ác không …^110 liệu không có cũng không không có quả và kết quả của nghiệp thiện ác không …^111 liệu một bậc giác ngộ còn tồn tại sau khi chết không …^112 liệu một bậc giác ngộ không còn tồn tại sau khi chết không …^113 liệu một bậc giác ngộ vừa còn tồn tại vừa không còn tồn tại sau khi chết không …^114 liệu một bậc giác ngộ không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết không. Nếu tôi tin rằng có, tôi sẽ nói vậy.^115 Nhưng tôi không nói nó như thế này. Tôi không nói nó như thế kia. Tôi không nói nó khác đi. Tôi không nói nó không phải vậy. Và tôi cũng không phủ nhận nó không phải vậy.’ Đây là cơ sở thứ tư mà một số Sa-môn và Bà-la-môn dựa vào khi dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận.

Đây là bốn cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn ngụy biện đó dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận bất cứ khi nào họ được hỏi một câu hỏi. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào dùng đến những lời ngụy biện bằng lời nói và ngụy biện bất tận đều làm như vậy dựa trên một trong bốn cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác. Như Lai hiểu rõ điều này … Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

23. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Và những Samôn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp?

24. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không như thật biết “Ðây là thiện” không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện” và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc tôi trả lời: “Ðây là bất thiện”, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi . Nếu dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể bị sai lầm. Nếu tôi sai lầm thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn sẽ thành một chướng ngại cho tôi Như vậy, vì sợ sai lầm, vì chán ghét sai lầm, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời: “Ðây là bất thiện”. Khi hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

25. Trường hợp thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện”. Vì tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc tôi trả lời: “Ðây là bất thiện”, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi. Nếu dục, tham, sân hoặc hận khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể chấp thủ. Nếu tôi chấp thủ, thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn, thời thành một chướng ngại cho tôi

Như vậy, vì sợ chấp thủ, vì chán ghét chấp thủ, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời: “Ðây là bất thiện”. Khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”. Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

26. Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện”. Vì tôi không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện” và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc trả lời: “Ðây là bất thiện”, có những Sa-môn, Bà-la-môn, bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của chúng, chúng có thể đọ tài, chất vấn và cật nạn tôi. Nếu chúng đọ tài, chất vấn, cật nạn tôi, tôi có thể không giải đáp được cho chúng. Nếu tôi không giải đáp được cho chúng, thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn thời thành một chướng ngại cho tôi - Như vậy, vì sợ bị thử thách, vì chán ghét thử thách, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời. “Ðây là bất thiện”. Khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”. - Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

27. Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, vì đần độn ngu si, khi bị hỏi vấn đề nay hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Anh hỏi tôi có một thế giới khác hay không?” Nếu tôi nghĩ “Có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: “Không có một thế giới khác phải không?” Nếu tôi nghĩ: “Không có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Không có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi “Không có một thế giới khác phải không?” (… như trên… ) “Cũng có và cũng không có một thế giới khác?” “Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?”, “Có loại hữu tình hóa sanh?”, “Không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?”, “Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?”, “Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Như Lai có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?”. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Tôi có thể trả lời : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ tư, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

28. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Nếu có những Samôn hay Bà-la-môn nào chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

29. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.1.5. Thuyết Về Sự Khởi Sinh Ngẫu Nhiên

Có một số sa-môn và bà-la-môn chủ trương thuyết ngẫu nhiên. Họ khẳng định rằng tự ngã và thế giới khởi sinh một cách ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở. Và hai cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Có những vị trời được gọi là ‘chúng sanh vô tưởng’ (non-percipient beings / asaññasattā, chúng sanh ở cõi trời Vô Tưởng).^116 Khi nhận thức khởi sanh, họ mệnh chung từ cảnh giới chư thiên đó. Có thể một trong những chúng sinh đó mệnh chung từ cảnh giới ấy và tái sinh vào nơi này. Sau khi làm vậy, họ từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia. Nhờ nỗ lực nhiệt thành, kiên quyết, tận tâm, siêng năng, và như lý tác ý (right application of mind / suy tư với trí tuệ), họ trải nghiệm một sự nhập tâm (immersion of the heart / sự tập trung sâu sắc của tâm) đến mức họ nhớ lại được sự khởi sinh của nhận thức, nhưng không xa hơn nữa. Họ nói: ‘Tự ngã và thế giới khởi sinh một cách ngẫu nhiên. Tại sao vậy? Bởi vì trước đây ta không tồn tại, còn bây giờ, từ chỗ không tồn tại, ta đã chuyển hóa thành trạng thái tồn tại.’ Đây là cơ sở thứ nhất mà một số sa-môn và bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng tự ngã và thế giới khởi sinh một cách ngẫu nhiên.

Và cơ sở thứ hai mà họ dựa vào là gì? Đó là khi một số sa-môn hay bà-la-môn dựa vào lý luận và tìm hiểu. Họ nói về những gì họ đã suy diễn bằng lý luận, theo một dòng tìm hiểu, thể hiện quan điểm riêng của mình: ‘Tự ngã và thế giới khởi sinh một cách ngẫu nhiên.’ Đây là cơ sở thứ hai mà một số sa-môn và bà-la-môn dựa vào để khẳng định rằng tự ngã và thế giới khởi sinh một cách ngẫu nhiên.

Đây là hai cơ sở mà những sa-môn và bà-la-môn chủ trương thuyết ngẫu nhiên dùng để khẳng định rằng tự ngã và thế giới khởi sinh một cách ngẫu nhiên. Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào chủ trương thuyết ngẫu nhiên đều làm vậy dựa trên một trong hai cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác. Đấng Như Lai hiểu rõ điều này … Và những ai chân chính tán thán Đấng Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

30. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh?

31. Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xẩy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói : “Bản ngã và thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng tôi trước kia không có, nay tôi có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loài hữu tình”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh.

32. Trường hợp thứ hai, những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà biện luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị ấy tuyên bố : “Bản ngã và thế giới vô nhân sanh”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh.

33. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh, chúng sẽ chấp cả hai luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

34. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

Đây là mười tám cơ sở mà những sa-môn và bà-la-môn chủ trương về quá khứ dùng để khẳng định các giả thuyết khác nhau liên quan đến quá khứ.^117 Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào chủ trương về quá khứ đều làm vậy dựa trên một trong mười tám cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác.

Đấng Như Lai hiểu rõ điều này: ‘Nếu các ngươi nắm giữ và chấp thủ (attach to / bám víu, dính mắc) vào những cơ sở cho các kiến giải (views / quan điểm, tà kiến nếu không đúng) này, nó sẽ dẫn đến cảnh giới như thế này, như thế kia trong đời sau.’ Ngài hiểu rõ điều này, và cả những gì vượt ngoài điều này. Và vì Ngài không hiểu sai sự hiểu biết đó, Ngài đã tự mình chứng ngộ Niết-bàn (quenching / sự dập tắt hoàn toàn khổ đau). Sau khi đã thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly khỏi các thọ (feelings / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính), Đấng Như Lai được giải thoát nhờ không chấp thủ (grasping / nắm giữ, bám víu).

Đây là những nguyên lý—sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài phạm vi lý luận, vi tế, chỉ những người sáng suốt mới có thể hiểu—mà Đấng Như Lai làm cho tỏ tường sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác (insight / sự hiểu biết thấu suốt) của chính Ngài. Và những ai chân chính tán thán Đấng Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

Phần tụng đọc thứ hai.

35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp trên. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hoặc Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác, chúng sẽ chấp cả mười tám luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

36. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2. Các Thuyết về Tương Lai

Có những Sa-môn và Bà-la-môn thuyết về tương lai (theories about the future / aparantakappika, những người có quan điểm về tương lai), và khẳng định nhiều giả thuyết khác nhau liên quan đến tương lai dựa trên bốn mươi bốn cơ sở.^118 Và bốn mươi bốn cơ sở mà họ dựa vào là gì?

3.2.1. Sự Sống Có Nhận Thức Sau Khi Chết

Có những Sa-môn và Bà-la-môn nói rằng có sự sống sau khi chết, và khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng có nhận thức dựa trên mười sáu cơ sở. Và mười sáu cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Họ khẳng định: 'Ngã khỏe mạnh và có nhận thức sau khi chết, và nó có sắc …^119

vô sắc …

vừa có sắc vừa vô sắc …

không có sắc cũng không vô sắc …

có biên …

vô biên …

vừa có biên vừa vô biên …

không có biên cũng không vô biên …

có nhận thức đồng nhất …

có nhận thức đa dạng …

có nhận thức giới hạn …

có nhận thức vô lượng …

chỉ cảm thọ lạc …

chỉ cảm thọ khổ …

cảm thọ cả lạc lẫn khổ …

không cảm thọ lạc cũng không cảm thọ khổ.’

Đây là mười sáu cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng có nhận thức. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng có nhận thức đều làm như vậy dựa trên một trong mười sáu cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác. Như Lai hiểu rõ điều này … Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

37. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai đề xướng nhiều ý kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp?

38. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hữu tưởng sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, với mười sáu luận chấp?

Những vị này chủ trương : “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết có tưởng”. Chúng chủ trương : “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc …”, “Bản ngã cũng không có sắc và cũng không không có sắc …”, “Bản ngã là hữu biên…”, “Bản ngã là vô biên …”, “Bản ngã là hữu biên và vô biên”, “Bản ngã cũng không hữu biên và cũng không vô biên …”, “Bản ngã là nhất tưởng …”, “Bản ngã là dị tưởng …”. “Bản ngã là thiểu tưởng …”, “Bản ngã là vô lượng tưởng …”, “Bản ngã là thuần lạc …”, “Bản ngã là thuần khổ …”, “Bản ngã là khổ lạc”. Chúng chủ trương : “Bản ngã là không khổ không lạc, không có bệnh, sau khi chết có tưởng”.

3.2.2. Sự Sống Không Có Nhận Thức Sau Khi Chết

Có những Sa-môn và Bà-la-môn nói rằng có sự sống sau khi chết, và khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không có nhận thức dựa trên tám cơ sở. Và tám cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Họ khẳng định: 'Ngã khỏe mạnh và không có nhận thức sau khi chết, và nó có sắc …^120

vô sắc …

vừa có sắc vừa vô sắc …

không có sắc cũng không vô sắc …

có biên …

vô biên …

vừa có biên vừa vô biên …

không có biên cũng không vô biên.’

Đây là tám cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không có nhận thức. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không có nhận thức đều làm như vậy dựa trên một trong tám cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác. Như Lai hiểu rõ điều này … Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

39. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương hữu tưởng sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn này chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chúng sẽ chấp cả mười sáu luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

40. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sơ tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2.3. Sự Sống Không Phải Có Nhận Thức Cũng Không Phải Không Có Nhận Thức Sau Khi Chết

Có những Sa-môn và Bà-la-môn nói rằng có sự sống sau khi chết, và khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức dựa trên tám cơ sở.^121 Và tám cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Họ khẳng định: 'Ngã khỏe mạnh và không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết, và nó có sắc …

vô sắc …

vừa có sắc vừa vô sắc …

không có sắc cũng không vô sắc …

có biên …

vô biên …

vừa có biên vừa vô biên …

không có biên cũng không vô biên.’

Đây là tám cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức đều làm như vậy dựa trên một trong tám cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác. Như Lai hiểu rõ điều này … Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

Tụng Phẩm III

1. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp?

2. Những vị này chủ trương : “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng”, “Bản ngã không có sắc …”, “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc …”, “Bản ngã không có sắc và cũng không không có sắc …”, “Là hữu biên …”, “Là vô biên …”, “Là hữu biên và vô biên …”. Các vị này chấp bản ngã là phi hữu biên và phi vô biên, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng.

3. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. - Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hay Bàla-môn nào chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

4. Này các Tỷ-kheo. Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2.4. Thuyết Đoạn Diệt

Có những Sa-môn và Bà-la-môn là những đoạn kiến luận giả (annihilationists / người chủ trương thuyết đoạn diệt). Họ khẳng định sự đoạn diệt, sự hủy diệt, sự biến mất của một chúng sanh hiện hữu dựa trên bảy cơ sở.^122 Và bảy cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Có những Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này: ‘Ngã này có sắc, được tạo thành từ tứ đại (four principal states / bốn yếu tố vật chất chính: đất, nước, lửa, gió), và do cha mẹ sanh ra. Vì nó bị đoạn diệt và hủy hoại khi thân xác tan rã, và không tồn tại sau khi chết, đó là cách ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn.’^123 Đó là cách một số người khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận.^124 Nhưng không phải cái ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn như vậy. Có một cái ngã khác thuộc cõi trời, có sắc, thuộc dục giới, tiêu thụ vật thực đoàn.^125 Ông không biết hoặc không thấy điều đó. Nhưng tôi biết và thấy nó. Vì cái ngã này bị đoạn diệt và hủy hoại khi thân xác tan rã, và không tồn tại sau khi chết, đó là cách ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn.’^126 Đó là cách một số người khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn như vậy. Có một cái ngã khác thuộc cõi trời, có sắc, do ý sanh, đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót giác quan nào.^127 Ông không biết hoặc không thấy điều đó. Nhưng tôi biết và thấy nó. Vì cái ngã này bị đoạn diệt và hủy hoại khi thân xác tan rã, và không tồn tại sau khi chết, đó là cách ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn.’ Đó là cách một số người khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn như vậy. Có một cái ngã khác đã hoàn toàn vượt qua các nhận thức về sắc. Với sự chấm dứt các nhận thức về đối ngại, không tập trung vào các nhận thức đa dạng, ý thức rằng “không gian là vô biên”, nó được tái sanh vào Không Vô Biên Xứ (dimension of infinite space / cõi thiền vô sắc đầu tiên).^128 Ông không biết hoặc không thấy điều đó. Nhưng tôi biết và thấy nó. Vì cái ngã này bị đoạn diệt và hủy hoại khi thân xác tan rã, và không tồn tại sau khi chết, đó là cách ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn.’^129 Đó là cách một số người khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn như vậy. Có một cái ngã khác đã hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ. Ý thức rằng “thức là vô biên”, nó được tái sanh vào Thức Vô Biên Xứ (dimension of infinite consciousness / cõi thiền vô sắc thứ hai). Ông không biết hoặc không thấy điều đó. Nhưng tôi biết và thấy nó. Vì cái ngã này bị đoạn diệt và hủy hoại khi thân xác tan rã, và không tồn tại sau khi chết, đó là cách ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn.’ Đó là cách một số người khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn như vậy. Có một cái ngã khác đã hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ. Ý thức rằng “không có gì cả”, nó đã được tái sanh vào Vô Sở Hữu Xứ (dimension of nothingness / cõi thiền vô sắc thứ ba). Ông không biết hoặc không thấy điều đó. Nhưng tôi biết và thấy nó. Vì cái ngã này bị đoạn diệt và hủy hoại khi thân xác tan rã, và không tồn tại sau khi chết, đó là cách ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn.’ Đó là cách một số người khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn như vậy. Có một cái ngã khác đã hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ. Ý thức rằng “đây là tịch tịnh, đây là cao siêu”, nó đã được tái sanh vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi thiền vô sắc thứ tư).^130 Ông không biết hoặc không thấy điều đó. Nhưng tôi biết và thấy nó. Vì cái ngã này bị đoạn diệt và hủy hoại khi thân xác tan rã, và không tồn tại sau khi chết, đó là cách ngã này bị đoạn diệt một cách đúng đắn.’ Đó là cách một số người khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu.

Đây là bảy cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định sự đoạn diệt, sự hủy diệt, sự biến mất của một chúng sanh hiện hữu. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào khẳng định sự đoạn diệt, sự hủy diệt, sự biến mất của một chúng sanh hiện hữu đều làm như vậy dựa trên một trong bảy cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác. Như Lai hiểu rõ điều này … Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

5. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp?

6. Những vị này chấp: “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng… “, “Bản ngã là vô sắc… “, “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc… “, “Bản ngã là phi hữu sắc và cũng phi vô sắc… “, “Bản ngã là hữu biên… “, “Bản ngã là vô biên… “, “Bản ngã là hữu biên và vô biên… “.

7. Những vị này chấp rằng. Bản ngã là phi hữu biên và cũng phi vô biên, không có bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng, với tám luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, chủ trương phi hữu tưởng phi vô tưởng, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

8. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

9. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp?

10. Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hoặc Bà-la-môn chủ trương lý thuyết và ý kiến: “Vì bản ngã này có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh ra, khi thân hoại bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã này như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy một số người chủ trương sự đoạn diệt, sự tiêu thất và sự hủy hoại của loài hữu tình.

11. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có, nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác có thiên tánh, có sắc, thuộc dục giới, ăn các đồ ăn đoàn thực. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

12. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác có thiên tánh, có sắc, do ý tạo thành, mọi chi tiết tay chân lớn nhỏ đều đầy đủ, không khuyết một căn nào. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

13. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả sắc tưởng, diệt trừ các tưởng chống đối, không ức niệm các dị tưởng, nhận hiểu hư không là vô biên. Ðạt đến không vô biên xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

14. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả không vô biên xứ, nhận hiểu: Thức là vô biên. Ðạt đến Thức vô biên xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

15. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả Thức vô biên xứ, nhận hiểu: không có sở hữu. Ðạt đến Vô sở hữu xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

16. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả Vô sở hữu xứ, nhận hiểu: Ðây là tịch tịnh, đây là mỹ diệu. Ðạt đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

17. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài hữu tình, chúng chấp cả bảy luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

18. Này các Tỷ-kheo. Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri. Như vậy, Ngài tuệ ti hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết: và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2.5. Diệt Khổ Ngay Trong Đời Này

Có những Sa-môn và Bà-la-môn nói về sự diệt khổ ngay trong đời này. Họ khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này dựa trên năm cơ sở.^131 Và năm cơ sở mà họ dựa vào là gì?

Có những Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này: ‘Khi ngã này tự vui thú, được cung cấp và thỏa mãn với năm loại dục lạc (five kinds of sensual stimulation / pañcakāmaguṇa, sự thỏa mãn qua năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), đó là cách ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này.’^132 Đó là cách một số người khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì dục lạc là vô thường, khổ, và dễ hoại diệt. Sự suy tàn và hoại diệt của chúng làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, não.^133 Hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, ngã này nhập và trú trong Sơ thiền (first absorption / tầng thiền định đầu tiên), có niềm vuian ổn (bliss / lạc / cảm giác hạnh phúc, dễ chịu) do ly dục sanh, trong khi có tầm có tứ(placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó). Đó là cách ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này.’^134 Đó là cách một số người khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này như vậy.^135 Tại sao vậy? Bởi vì sự có tầm có tứ ở đó còn thô.^136 Nhưng khi tầm và tứ được lắng dịu, ngã này nhập và trú trong Nhị thiền (second absorption / tầng thiền định thứ hai), có niềm vui và an ổn do định sanh, với nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected/ không có sự hướng ý nghĩ đến đối tượng nào hay duy trì sự quan sát đối tượng nào). Đó là cách ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này.’ Đó là cách một số người khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì niềm vui và sự hân hoan cảm xúc ở đó còn thô. Nhưng với sự phai nhạt của niềm vui, ngã này nhập và trú trong Tam thiền (third absorption / tầng thiền định thứ ba), nơi nó thiền định với tâm xả, tỉnh thức và tỉnh giác, tự mình trải nghiệm sự an ổn mà các bậc Thánh (noble ones / những vị đã đạt được các Thánh đạo, Thánh quả) tuyên bố: “Xả và tỉnh thức, người ấy thiền định trong an ổn”. Đó là cách ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này.’ Đó là cách một số người khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này.

Nhưng người khác lại nói với họ: ‘Cái ngã mà ông nói đó quả có tồn tại, tôi không phủ nhận. Nhưng không phải cái ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì sự tham dự của tâm vào đó như là ‘an ổn’ được cho là còn thô.^137 Nhưng từ bỏ lạc và khổ, và chấm dứt các hỷ ưu trước đây, ngã này nhập và trú trong Tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền định thứ tư), không khổ không lạc, với xả niệm thanh tịnh. Đó là cách ngã này đạt được sự diệt khổ tối hậu ngay trong đời này.’ Đó là cách một số người khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này.

Đây là năm cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này đều làm như vậy dựa trên một trong năm cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác.^138 Như Lai hiểu rõ điều này … Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

Đây là bốn mươi bốn cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn thuyết về tương lai đó khẳng định nhiều giả thuyết khác nhau liên quan đến tương lai. Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào thuyết về tương lai đều làm như vậy dựa trên một trong bốn mươi bốn cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác. Như Lai hiểu rõ điều này … Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

19. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hiện tại Niết bàn luận, chấp sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp?

20. Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương và quan niệm: “Khi nào bản ngã này tận hưởng, sung mãn năm món dục lạc, như thế bản ngã ấy đạt đến tối thượng Niết Bàn của loài hữu tình”.

21. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì rằng tính của dục lạc và vô thường, khổ, biến dịch. Vì tánh của chúng là biến dịch, chuyển hóa, nên ưu, bi, khổ, muộn, não phát sanh. Khi nào bản ngã ấy ly các dục lạc, ly các ác pháp, đạt đến và an trú vào đệ nhất thiền; thiền định này có tầm, có tứ, có hỷ và có lạc, do ly dục sanh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.

22. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây thiền định ấy có tầm, có tứ nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy có tầm và tứ, đạt đến và an trú đệ nhị thiền. Thiền định này nội tâm yên tỉnh, trí chuyên nhất cảnh, không tầm, không tứ, hỷ lạc do định sanh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình. 23. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây tâm trí có hỷ và bị kích động nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy không tham hỷ, trú xã, chánh niệm, chánh trí, thân hưởng lạc mà các bậc thánh gọi là Hỷ niệm lạc trú - đạt đến và an trú đệ tam thiền. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy, có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.

24. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây tâm thọ lạc nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy xả lạc và xả khổ, diệt trừ hỷ và ưu về trước, đạt đến và an trú vào đệ tứ thiền. Thiền này không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.

25. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương Hiện tại Niết-bàn luận, chấp trước sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương Hiện tại Niết-bàn luận, chấp sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình, những vị này sẽ chấp cả năm luận chấp trên, hay một trong năm luận chấp trên, ngoài ra không còn một luận chấp nào khác nữa.

26. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

27. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, sẽ đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác. Chúng sẽ chấp bốn mươi bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

28. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sư tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Đây là sáu mươi hai cơ sở mà những Sa-môn và Bà-la-môn thuyết về quá khứ và tương lai đó khẳng định nhiều giả thuyết khác nhau liên quan đến quá khứ và tương lai.

Bất kỳ Sa-môn và Bà-la-môn nào thuyết về quá khứ hay tương lai đều làm như vậy dựa trên một trong sáu mươi hai cơ sở này. Ngoài ra không có cơ sở nào khác.

Như Lai hiểu rõ điều này: ‘Nếu các ông nắm giữ và bám víu vào những cơ sở cho các quan điểm này, nó sẽ dẫn đến cảnh giới như thế này, như thế kia trong đời sau.’^139 Ngài hiểu rõ điều này, và những gì vượt xa hơn điều này. Và vì ngài không rơi vào sùng tín và giáo điều đối với sự hiểu biết đó, ngài đã tự mình chứng ngộ Niết-bàn. Sau khi đã thực sự hiểu rõ sự sanh, sự diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ, Như Lai được giải thoát nhờ không còn chấp thủ.

Đây là những pháp—sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận suông, vi tế, chỉ người có trí tuệ mới có thể lãnh hội—mà Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi tuyên thuyết. Và những người thực sự tán thán Như Lai sẽ nói đúng về những điều này.

29. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về quá khứ tối sơ và luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Samôn hay Bà-la-môn nào, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác. Những vị ấy sẽ chấp sáu mươi hai luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa. 30. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mệnh như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

31. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

4. Cơ Sở cho các Khẳng Định về Ngã và Thế Giới

4.1. Lo Lắng và Trốn Tránh

Này, những điều này chỉ là cảm giác của những người không biết, không thấy, là sự lo lắng và trốn tránh của những người bị ái dục (craving / Ái / sự khao khát, ham muốn mãnh liệt) chi phối. Cụ thể là, khi những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn dựa trên bốn cơ sở …^140

một phần thường còn dựa trên bốn cơ sở …

có biên hay vô biên dựa trên bốn cơ sở …

hoặc họ dùng đến những lời ngụy biện dựa trên bốn cơ sở …

hoặc họ khẳng định rằng ngã và thế giới sanh khởi ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở …

họ thuyết về quá khứ dựa trên mười tám cơ sở này …

hoặc họ khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng có nhận thức dựa trên mười sáu cơ sở …

hoặc ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không có nhận thức dựa trên tám cơ sở …

hoặc ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức dựa trên tám cơ sở …

hoặc họ khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu dựa trên bảy cơ sở …

hoặc họ khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này dựa trên năm cơ sở …

họ thuyết về tương lai dựa trên bốn mươi bốn cơ sở này …

Khi những Sa-môn và Bà-la-môn đó thuyết về quá khứ và tương lai dựa trên sáu mươi hai cơ sở này, những điều này chỉ là cảm giác của những người không biết, không thấy, là sự lo lắng và trốn tránh của những người bị ái dục chi phối.

Kết luận

32. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

33. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

34. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

35. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

36. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

37. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

38. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

39. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

40. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

41. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

42. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

43. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

44. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

4.2. Do Xúc Làm Duyên

Này, những điều này do xúc (contact / Xúc / sự tiếp xúc giữa giác quan, đối tượng và thức) làm duyên. Cụ thể là, khi những Sa-môn và Bà-la-môn đó khẳng định rằng ngã và thế giới là thường còn dựa trên bốn cơ sở …^141

một phần thường còn dựa trên bốn cơ sở …

có biên hay vô biên dựa trên bốn cơ sở …

hoặc họ dùng đến những lời ngụy biện dựa trên bốn cơ sở …

hoặc họ khẳng định rằng ngã và thế giới sanh khởi ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở …

họ thuyết về quá khứ dựa trên mười tám cơ sở này …

hoặc họ khẳng định rằng ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng có nhận thức dựa trên mười sáu cơ sở …

hoặc ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không có nhận thức dựa trên tám cơ sở …

hoặc ngã tồn tại sau khi chết dưới dạng không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức dựa trên tám cơ sở …

hoặc họ khẳng định sự đoạn diệt của một chúng sanh hiện hữu dựa trên bảy cơ sở …

hoặc họ khẳng định sự diệt khổ tối hậu cho một chúng sanh hiện hữu ngay trong đời này dựa trên năm cơ sở …

họ thuyết về tương lai dựa trên bốn mươi bốn cơ sở này …

Khi những Sa-môn và Bà-la-môn đó thuyết về quá khứ và tương lai dựa trên sáu mươi hai cơ sở này, điều đó cũng do xúc làm duyên.

45. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

46. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

47. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

48. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi là do sự xúc chạm (của các căn).

49. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

50. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y chỉ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

51. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

52. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

53. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

54. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

55. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

56. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

57. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

4.3. Không Thể Có Được

Này, khi những Sa-môn và Bà-la-môn đó thuyết về quá khứ và tương lai dựa trên sáu mươi hai cơ sở này, không thể nào họ trải nghiệm những điều này mà không có xúc.^142

58. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

59. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới, là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

60. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

61. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

62. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

63. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y chỉ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

64. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

65. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

66. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

67. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương, trên, nếu không có cảm xúc.

68. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước hiên tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

69. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

70. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

4.4. Duyên Khởi

Này, khi những Sa-môn và Bà-la-môn đó thuyết về quá khứ và tương lai dựa trên sáu mươi hai cơ sở này, tất cả họ đều trải nghiệm điều này qua sự xúc chạm lặp đi lặp lại thông qua sáu xứ xúc chạm. Thọ của họ là điều kiện cho ái dục. Ái dục là điều kiện cho chấp thủ. Chấp thủ là điều kiện cho hữu (continued existence / Hữu / quá trình trở thành, sự hiện hữu). Hữu là điều kiện cho sanh (rebirth / Sanh / sự tái sanh). Sanh là điều kiện cho già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên.^143

71. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Ngụy biện luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, những Samôn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hiện tại Niết Bàn luận; những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ; những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Tất cả những vị này có những cảm thọ (những chủ trương trên) do sự xúc chạm qua sáu xúc xứ. Do duyên với những cảm thọ mà tham ái phát khởi; do duyên tham ái, thủ phát khởi; do duyên thủ, hữu phát khởi; do duyên hữu, sanh phát khởi, do duyên sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não phát khởi.

5. Chấm Dứt Luân Hồi

Khi một tỳ khưu thực sự hiểu rõ sự sanh, sự diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xứ xúc chạm, vị ấy hiểu rõ những gì vượt lên trên tất cả những điều này.^144

Tất cả những Sa-môn và Bà-la-môn này, những người thuyết về quá khứ hay tương lai, đều bị mắc kẹt trong lưới sáu mươi hai cơ sở này, đến nỗi bất cứ nơi nào họ xuất hiện, họ đều bị bắt và mắc kẹt trong chính tấm lưới này.^145

Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu chỗ xuất xứ, vị ấy sẽ có một sự hiểu biết vượt ra ngoài những điều trên.

72. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn nào luận bàn về quá khứ tối sơ, hay luận bàn về tương lai, hay luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.

Giả sử một người đánh cá khéo léo hoặc người học việc của ông ta giăng một tấm lưới mắt nhỏ qua một cái ao nhỏ. Họ sẽ nghĩ: ‘Bất kỳ sinh vật lớn nào trong ao này sẽ bị mắc kẹt trong lưới. Bất cứ nơi nào chúng xuất hiện, chúng đều bị bắt và mắc kẹt trong chính tấm lưới này.’^146 Cũng vậy, tất cả những Sa-môn và Bà-la-môn này, những người thuyết về quá khứ hay tương lai, đều bị mắc kẹt trong lưới sáu mươi hai cơ sở này, đến nỗi bất cứ nơi nào họ xuất hiện, họ đều bị bắt và mắc kẹt trong chính tấm lưới này.

Thân của Như Lai vẫn còn, nhưng nguồn tái sanh (conduit to rebirth / bhavanetti, dây dẫn đến tái sanh) của Ngài đã bị cắt đứt.^147 Chừng nào thân Ngài còn, Ngài sẽ được chư thiên và loài người nhìn thấy. Nhưng khi thân Ngài tan rã, sau khi mạng sống kết thúc, chư thiên và loài người sẽ không còn thấy Ngài nữa.

Khi cuống của một chùm xoài bị cắt, tất cả những quả xoài dính vào cuống sẽ theo đó mà rụng.^148 Cũng vậy, thân của Như Lai vẫn còn, nhưng nguồn tái sanh của Ngài đã bị cắt đứt. Chừng nào thân Ngài còn, Ngài sẽ được chư thiên và loài người nhìn thấy. Nhưng khi thân Ngài tan rã, sau khi mạng sống kết thúc, chư thiên và loài người sẽ không còn thấy Ngài nữa."

Khi Ngài nói xong, Tôn giả Ānanda bạch với Đức Phật: “Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật đáng kinh ngạc! Tên của bài thuyết pháp này là gì?”

“Vậy thì, Ānanda, con có thể ghi nhớ bài thuyết pháp này là ‘Lưới Ý Nghĩa’, hoặc ‘Lưới Giáo Pháp’, hoặc ‘Lưới Phạm Thiên’, hoặc ‘Lưới Tà Kiến’, hoặc ‘Chiến Thắng Vô Song Trong Trận Mạc’.”^149

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các tỳ khưu hoan hỷ, tán thán những gì Đức Phật đã nói. Và trong khi bài kinh này đang được thuyết giảng, hệ thống mười ngàn thế giới rung chuyển.

Này các Tỷ-kheo, cũng ví như người đánh cá lành nghề hay người học đánh cá vung lưới trên mặt hồ nước nhỏ có mắt sít sao. Người ấy nghĩ: “Những con cá lớn ở trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây”. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào, luận bàn về quá khứ tối sơ, hay luận bàn về tương lai, hay luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác, tất cả những vị này đều bị bao phủ trong lưới của sáu mươi hai luận chấp này; dầu có nhảy vọt lên, những vị này vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.

73. Này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến đời sống khác đã bị chấm dứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người còn có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.

Này các Tỷ-kheo, như nhánh có một chùm, xoài bị chặt đứt, tất cả trái xoài dính với nhánh ấy đều bị chung một số phận với nhánh kia. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.

74. Khi nghe nói vậy, đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn:

− Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Pháp môn này gọi là gì, bạch Thế Tôn?

− Này Ananda, pháp môn này gọi là “Lợi Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Pháp Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Phạm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Kiếm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Vô thượng Chiến thắng”, hãy như vậy mà phụng trì.

Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động.

-ooOoo-