Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 2. Thành Quả Của Sa-môn

(Sāmaññaphalasutta)

1. Cuộc Thảo Luận Với Các Quan Đại Thần Của Vua

[Tôi nghe như vầy.150] Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, tại vườn xoài của Y sĩ Jīvaka Komārabhacca, cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia) lớn gồm 1.250 vị tỳ khưu (mendicants / người khất thực, tu sĩ Phật giáo).151

Khi ấy, vào ngày Bố-tát (sabbath / ngày sám hối và tụng giới của Tăng đoàn)—ngày rằm Komudī, tức ngày rằm tháng tư—Vua Ajātasattu (A-xà-thế) của xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), con trai của công chúa Videha (Tỳ-đề-ha), đang ngự trên lầu thượng của lâu đài hoàng gia, xung quanh là các quần thần.152

Bấy giờ, Vua Ajātasattu của xứ Magadha, con trai của công chúa Videha, thốt lên lời cảm hứng này:153 "Ôi, chư khanh, đêm trăng này thật vô cùng thú vị, thật đẹp, thật huy hoàng, thật đáng yêu, thật ấn tượng.154 Nay, ta nên đến đảnh lễ vị sa-môn (ascetic / người tu hành khổ hạnh, từ bỏ đời sống thế tục) hay bà-la-môn (brahmin / người thuộc giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ) nào, để khi đảnh lễ vị ấy, tâm ta được an tịnh?"155

Khi vua vừa dứt lời, một vị đại thần tâu lên:156 “Tâu Đại vương, ngài Pūraṇa Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp) là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.157 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.158

Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, sa-môn Gosāla (Mạt-già-lê Cù-xá-ly) với cây gậy tre là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.159 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.

Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, ngài Ajita Kesakambala (A-di-đa Kê-sa-thâu-bà-la) với chiếc y bằng lông tóc là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.160 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.

Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, ngài Pakudha Kaccāyana (Ca-chiên-diên Phù-đà) là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.161 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.

Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, ngài Sañjaya Belaṭṭhiputta (San-xà-dạ Tỳ-la-thê-tử) là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.162 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.

Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, vị sa-môn Ni-kiền-tử Nātaputta (Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử) thuộc dòng dõi Ñātika là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.163 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.

2. KINH SA MÔN QỦA

(Sàmannaphala Sutta)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) nơi vườn xoài của Jìvaka (Kỳ-bà) Komàrabhacca, cùng với đại chúng Tỷ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Lúc bấy giờ Ajàtasattu (A-xà-thế) con bà Vihehi (Vi-đề-hi) vua xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) nhân lễ Bố Tát vào ngày rằm tháng tư Komudi (cây súng) đang ngồi trên lầu cao trang nghiêm, chung quanh có nhiều đại thần hậu hạ. Lúc bấy giờ Ajàtasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát cảm hứng nói rằng: “Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Samôn hay Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?”. Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Pùrana Kassapa (Phú-la Ca-diếp) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

3. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Makkhali Gosàla (Mặc-già-lê Cù-xá-lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương chiêm bái Makkhali Gosàla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosàla có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

4. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Ajita Kesakambàli này. Chiêm bái Ajita Kesakambàli có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, còn bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

5. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đà Ca-chiên-nê) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pakudha Kaccàyana này. Chiêm bái Pakudha Kaccayana này có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

6. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Sanjaya Belathiputta (Tán-nhã-di Tỳ-la-phê-phất) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Sanjaya Belathiputta này. Chiêm bái Sanjaya Belathiputta này có thể khiến tâm Ðại vương tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

7. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, còn bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Nigantha Nàtaputta này. Chiêm bái Nigantha Nàtaputta có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.

2. Cuộc Thảo Luận Với Y Sĩ Jīvaka Komārabhacca

Lúc bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đang ngồi im lặng không xa nhà vua.164 Nhà vua bèn hỏi: “Này Jīvaka thân hữu, vì sao khanh im lặng?”

“Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính trên đời), bậc A-la-hán (perfected one / người đã đạt đến sự giải thoát hoàn toàn), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính), đang trú tại vườn xoài của thần cùng với một Tăng đoàn lớn gồm 1.250 vị tỳ khưu.165 Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: 'Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người trọn vẹn cả về trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đã đi qua con đường tốt đẹp, đã đến nơi an lạc), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết rõ thế gian), Vô Thượng Sĩ (supreme guide for those who wish to train / bậc thầy cao cả nhất cho những ai muốn tu tập), Điều Ngự Trượng Phu (trainer of tamable men / người có khả năng giáo hóa chúng sinh), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc đã giác ngộ), Thế Tôn.'166 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ Ngài. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.”

“Vậy thì, Jīvaka thân hữu, hãy cho chuẩn bị voi.”

“Vâng, tâu Đại vương,” Jīvaka đáp. Ông cho chuẩn bị khoảng năm trăm con voi cái, cùng với con voi đực của vua để cưỡi. Rồi ông báo cho vua: “Voi đã sẵn sàng, tâu Đại vương. Xin Đại vương đi khi nào thấy thuận tiện.”

Rồi Vua Ajātasattu cho các cung nữ cưỡi lên mỗi con trong số năm trăm voi cái, trong khi vua cưỡi con voi đực của mình. Cùng với đoàn tùy tùng cầm đuốc, vua khởi hành với đầy đủ nghi trượng hoàng gia từ thành Vương Xá đến vườn xoài của Jīvaka.167

Nhưng khi đến gần vườn xoài, nhà vua trở nên kinh hãi, sợ sệt, lông tóc dựng đứng. Vua nói với Jīvaka: "Jīvaka thân hữu, ta hy vọng khanh không lừa dối ta! Ta hy vọng khanh không phản bội ta! Ta hy vọng khanh không giao ta cho kẻ thù! Làm sao mà một Tăng đoàn lớn gồm 1.250 vị tỳ khưu lại không có một tiếng ho, tiếng hắng giọng hay bất kỳ tiếng động nào?"168

"Xin Đại vương đừng sợ, đừng sợ! Thần không lừa dối Đại vương, không phản bội Đại vương, hay giao Đại vương cho kẻ thù. Xin Đại vương cứ tiến tới, cứ tiến tới! Kia là những ngọn đèn đang chiếu sáng trong giảng đường."169

8. Lúc bấy giờ Jìvaka Komàrabhacca ngồi yên lặng cách Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với Jìvaka Komàrabhacca:

− Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?

− Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỷ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.

− Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.

− Vâng, tâu Ðại vương.

9. Jìvaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, các kiệu voi đã sẵn sàng. Ngài hãy làm những gì Ngài xem là phải thời”. Khi bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, còn mình thì leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của Jìvaka Komàrabhacca.

10. Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:

− Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?

− Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.

3. Câu Hỏi Về Quả Báo Của Đời Sống Sa-môn

Vua Ajātasattu cưỡi voi đi xa đến mức địa hình cho phép, rồi xuống voi và đi bộ đến cửa giảng đường, nơi vua hỏi Jīvaka: "Này Jīvaka thân hữu, Đức Phật ở đâu?"170

“Kia là Đức Phật, tâu Đại vương, kia là Đức Phật! Ngài đang ngồi tựa vào cột chính giữa, hướng về phía đông, ở phía trước Tăng đoàn tỳ khưu.”

Nhà vua tiến đến Đức Phật và đứng sang một bên.171 Vua nhìn quanh Tăng đoàn tỳ khưu, im lặng đến mức như một hồ nước tĩnh lặng, trong veo, và thốt lên cảm hứng ngữ: “Mong sao con trai ta, Thái tử Udāyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà), cũng được hưởng sự an tịnh như Tăng đoàn tỳ khưu đang có đây!”

“Tâm Đại vương đang hướng về người thân yêu phải không?” 172

“Bạch Thế Tôn, con yêu thương con trai của con, Thái tử Udāyibhadda. Mong sao nó cũng được hưởng sự an tịnh như Tăng đoàn tỳ khưu đang có đây!”

Rồi nhà vua đảnh lễ Đức Phật, chắp tay hướng về Tăng đoàn, và ngồi xuống một bên. Vua bạch Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Ngài một điều, nếu Ngài có thời gian để trả lời.”

“Xin Đại vương cứ hỏi điều ngài muốn.”

"Bạch Thế Tôn, có nhiều ngành nghề khác nhau.173 Bao gồm người quản tượng, kỵ binh, người đánh xe ngựa, cung thủ, người cầm cờ hiệu, phụ tá, người hầu bàn, tướng lĩnh, vương tử, lính xung kích, dũng sĩ, anh hùng, lính mặc áo da, và con của nô lệ.174 Cũng có những người làm bánh, thợ cạo, người phục vụ nhà tắm, đầu bếp, người kết hoa, thợ nhuộm, thợ dệt, thợ đan rổ, thợ gốm, kế toán viên, người đếm bằng ngón tay, hoặc những người theo bất kỳ nghề nghiệp tương tự nào. Tất cả những người này đều sống nhờ vào quả báo của nghề nghiệp của họ, hiện rõ trong đời này.175 Nhờ đó, họ tự làm cho mình vui vẻ và hài lòng. Họ làm cho cha mẹ, con cái và vợ chồng, bạn bè và đồng nghiệp của họ vui vẻ và hài lòng. Và họ thiết lập sự cúng dường cao thượng (uplifting religious donation / sự dâng cúng mang lại phước báu) cho các sa-môn và bà-la-môn, một sự cúng dường đưa đến cõi trời, chín muồi trong hạnh phúc, và dẫn đến cõi trời.176 Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ ra một quả báo của đời sống sa-môn cũng hiện rõ trong đời này không?"177

"Đại vương, ngài có nhớ đã từng hỏi câu này với các sa-môn và bà-la-môn khác không?"178

“Bạch Thế Tôn, con có nhớ.”

"Nếu Đại vương không phiền, hãy cho Ta biết họ đã trả lời như thế nào."179

“Không có gì phiền phức khi có một vị như Thế Tôn đang ngự ở đây.”

“Vậy thì, Đại vương hãy nói đi.”

11. Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:

− Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?

− Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỷ-kheo.

12. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỷ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: “Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-dibạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỷ-kheo này vậy”.

− Ðại vương, hình như tâm trí của Ðại vương nặng nhiều về tình thương thì phải?

− Bạch Thế Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng hoàng tử Udàyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của chúng Tỷ-kheo này vậy.

13. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỷ-kheo, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề này, nếu Ngài cho phép con hỏi.

− Ðại vương cứ hỏi tùy theo ý muốn của Ðại vương.

14. - Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại từ công nghiệp chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ cho rõ ràng kết quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

15. - Này Ðại vương, Ðại vương có nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác chăng?

− Bạch Ngài, con nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với Sa-môn, Bà-la-môn khác.

− Này Ðại vương, hãy nói lại cho nghe, các vị ấy đã trả lời với Ðại vương như thế nào, nếu Ðại vương không thấy gì trở ngại.

− Bạch Thế Tôn, con không thấy gì trở ngại đối với đức Thế Tôn và các bậc như đức Thế Tôn.

− Vậy Ðại vương hãy nói đi.

3.1. Học Thuyết Của Pūraṇa Kassapa

"Bạch Thế Tôn, có một lần, con đến gặp Pūraṇa Kassapa và chào hỏi ông ấy. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, con ngồi xuống một bên và hỏi ông ấy cùng một câu hỏi.180

Ông ấy nói với con: ‘Đại vương, người hành động không làm gì sai khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, gây đau khổ, áp bức, hăm dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Họ không làm gì sai khi họ giết chóc, trộm cắp, phá nhà, cướp của, trộm cắp ở những ngôi nhà hẻo lánh, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ngài dùng một luân xa (chakram / một loại vũ khí hình đĩa có cạnh sắc) bén như dao cạo để biến tất cả chúng sinh trên trái đất này thành một đống thịt, thì không có điều ác nào phát sinh từ đó, và không có kết quả xấu nào.181 Nếu ngài đi dọc theo bờ nam sông Hằng để giết chóc, cắt xẻo, tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, thì không có điều ác nào phát sinh từ đó, và không có kết quả xấu nào. Nếu ngài đi dọc theo bờ bắc sông Hằng để bố thí, cúng tế và khuyến khích người khác làm như vậy, thì không có công đức nào phát sinh từ đó, và không có kết quả tốt đẹp nào. Trong việc bố thí, sự tự chủ, sự chế ngự, và sự chân thật không có công đức hay kết quả của công đức.’

Và như vậy, khi con hỏi Pūraṇa Kassapa về quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, ông ấy đã trả lời bằng thuyết vô hành (doctrine of inaction / học thuyết cho rằng hành động không tạo ra kết quả thiện ác).182 Giống như người được hỏi về xoài thì trả lời bằng mít, hoặc được hỏi về mít thì trả lời bằng xoài.183 Con nghĩ: 'Làm sao một người như ta lại có thể trách mắng một sa-môn hay bà-la-môn sống trong lãnh thổ của mình?'184 Vì vậy, con không tán thành cũng không bác bỏ lời nói đó của Pūraṇa Kassapa. Con không hài lòng, nhưng không bày tỏ sự không hài lòng của mình. Không chấp nhận cũng không phản bác lời ông ấy nói, con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.185

16. - Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pùrana Kassapa, khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pùrana Kassapa và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pùrana Kassapa: “Ngài Kassapa, cũng như các công nghệ, chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực, hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

17. Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đã nói với con: “Này Ðại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo”. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Pùrana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Purana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp, bạch Thế Tôn, con nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng?” Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Pùrana Kassapa. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng như không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.2. Học Thuyết Của Sa-môn Gosāla Với Cây Gậy Tre

Bạch Thế Tôn, có một lần, con đến gặp sa-môn Gosāla với cây gậy tre và chào hỏi ông ấy. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, con ngồi xuống một bên và hỏi ông ấy cùng một câu hỏi.

Ông ấy nói: ‘Đại vương, không có nguyên nhân hay lý do nào cho sự ô nhiễm của chúng sinh. Chúng sinh bị ô nhiễm mà không có nguyên nhân hay lý do.186 Không có nguyên nhân hay lý do nào cho sự thanh tịnh của chúng sinh. Chúng sinh được thanh tịnh mà không có nguyên nhân hay lý do. Người ta không hành động theo ý muốn của mình, không hành động theo ý muốn của người khác, không hành động theo ý muốn của một cá nhân. Không có sức mạnh, không có năng lực, không có sức mạnh hay nghị lực của con người.187 Tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, tất cả hữu tình, tất cả linh hồn đều thiếu sự kiểm soát, sức mạnh và năng lực. Được nhào nặn bởi định mệnh, hoàn cảnh và bản chất, họ trải qua khoái lạc và đau khổ trong sáu nẻo luân hồi (six classes of rebirth / sáu cõi mà chúng sinh có thể tái sinh vào: trời, người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục).188 Có 1,4 triệu loại thai sanh chính, và 6.000, và 600. Có 500 nghiệp, và năm, và ba. Có nghiệp và nửa nghiệp. Có 62 con đường, 62 tiểu kiếp, sáu nẻo luân hồi, và tám giai đoạn trong đời người. Có 4.900 sa-môn phái Ājīvaka (Tà Mệnh Ngoại Đạo), 4.900 du sĩ, và 4.900 sa-môn lõa thể. Có 2.000 căn, 3.000 địa ngục, và 36 cõi bụi trần. Có bảy phôi có tưởng, bảy phôi vô tưởng, và bảy phôi không có kết. Có bảy vị trời, bảy hạng người, và bảy dạ xoa. Có bảy hồ, bảy sông, 700 sông, bảy vách đá, và 700 vách đá. Có bảy giấc mơ và 700 giấc mơ. Có 8,4 triệu đại kiếp mà qua đó kẻ ngu và người trí luân hồi trước khi chấm dứt khổ đau.189 Và ở đây không có chuyện như thế này: “Bằng giới hay hạnh (precept or observance / các quy tắc đạo đức hoặc các thực hành tu tập) này, hoặc khổ hạnh nhiệt thành (fervent austerity / sự ép xác tu khổ hạnh một cách mãnh liệt) này, hoặc đời sống tâm linh này, ta sẽ ép buộc những nghiệp chưa chín phải trổ quả, hoặc loại bỏ những nghiệp cũ bằng cách trải nghiệm kết quả của chúng từng chút một,” vì điều đó là không thể.190 Khoái lạc và đau khổ đã được phân định. Luân hồi chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian giới hạn, vì vậy không có tăng hay giảm, không có tốt hơn hay tệ hơn. Giống như khi bạn ném một cuộn chỉ, nó lăn đi và tự bung ra. Cũng vậy, sau khi luân hồi, kẻ ngu và người trí sẽ chấm dứt khổ đau.’

Và như vậy, khi con hỏi sa-môn Gosāla với cây gậy tre về quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, ông ấy đã trả lời bằng thuyết thanh tịnh qua luân hồi (doctrine of purification through transmigration / học thuyết cho rằng sự thanh tịnh đạt được qua một quá trình luân hồi cố định).191 Giống như người được hỏi về xoài thì trả lời bằng mít, hoặc được hỏi về mít thì trả lời bằng xoài. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như ta lại có thể trách mắng một sa-môn hay bà-la-môn sống trong lãnh thổ của mình?’ Vì vậy, con không tán thành cũng không bác bỏ lời nói đó của sa-môn Gosāla với cây gậy tre. Con không hài lòng, nhưng không bày tỏ sự không hài lòng của mình. Không chấp nhận cũng không phản bác lời ông ấy nói, con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

19. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Makkhali Gosàla (Mạt-già-lê-cù-xá-lợi). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào tụng thân hữu và xã giao với Makkhali Gosàla và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Makkhali Gosàla: “Ngài Gosàla, cũng như các công kỹ nghệ chức nghiệp như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Samôn chăng?”

20. Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đã nói với con: “Này Ðại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng. Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa. Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ý), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài Naga, hai nghìn căn, ba nghìn cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau”.

21. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng? “Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Makkhali Gosàla; không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.3. Học Thuyết Của Ajita Với Chiếc Y Bằng Lông Tóc

Bạch Thế Tôn, có một lần, con đến gặp Ajita với chiếc y bằng lông tóc và chào hỏi ông ấy. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, con ngồi xuống một bên và hỏi ông ấy cùng một câu hỏi.

Ông ấy nói: ‘Đại vương, không có ý nghĩa gì trong việc bố thí, cúng tế, hay dâng cúng. Không có quả báo hay kết quả của nghiệp thiện và ác. Không có đời sau. Không có cái gọi là cha và mẹ, hay chúng sinh hóa sinh (beings that are reborn spontaneously / chúng sinh sinh ra một cách tự nhiên, không qua thai bào). Và không có sa-môn hay bà-la-môn nào hành xử đúng đắn, tu tập đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác.192 Con người này được tạo thành từ tứ đại (four principal states / bốn yếu tố chính cấu tạo nên vật chất: đất, nước, lửa, gió). Khi họ chết, phần đất trong thân họ hòa nhập và kết hợp với thực thể đất. Phần nước trong thân họ hòa nhập và kết hợp với thực thể nước. Phần lửa trong thân họ hòa nhập và kết hợp với thực thể lửa. Phần gió trong thân họ hòa nhập và kết hợp với thực thể gió. Các căn chuyển vào hư không.193 Bốn người khiêng một cái kiệu mang xác đi. Dấu chân của họ chỉ đường đến nghĩa địa. Xương trở nên trắng xóa. Những lễ vật dâng cúng cho các vị thần đều kết thúc trong tro bụi. Bố thí là học thuyết của kẻ ngu đần. Khi bất kỳ ai khẳng định một giáo lý tích cực nào đó thì đó chỉ là những lời vô nghĩa rỗng tuếch, sai lầm. Cả kẻ ngu và người trí đều bị hủy diệt và tiêu vong khi thân xác họ tan rã, và không tồn tại sau khi chết.’

Và như vậy, khi con hỏi Ajita với chiếc y bằng lông tóc về quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, ông ấy đã trả lời bằng thuyết đoạn diệt (doctrine of annihilationism / học thuyết cho rằng con người hoàn toàn biến mất sau khi chết, không có sự tái sinh hay đời sau). Giống như người được hỏi về xoài thì trả lời bằng mít, hoặc được hỏi về mít thì trả lời bằng xoài. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như ta lại có thể trách mắng một sa-môn hay bà-la-môn sống trong lãnh thổ của mình?’ Vì vậy, con không tán thành cũng không bác bỏ lời nói đó của Ajita với chiếc y bằng lông tóc. Con không hài lòng, nhưng không bày tỏ sự không hài lòng của mình. Không chấp nhận cũng không phản bác lời ông ấy nói, con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

22. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa-xí-xá-khâm-bà-la) khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Ajita Kesakambàli, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Ajita Kesakambala: “Ngài Ajita Kesakambàli, cũng như các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể chỉ cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

23. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Ajita Kesakambàli đã nói với con: “Này Ðại vương, không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Samôn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết. “

24. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambàli đã trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài, hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambàli đã trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Ajita Kesakambàli . Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.4. Học Thuyết Của Pakudha Kaccāyana

Bạch Thế Tôn, có một lần, con đến gặp Pakudha Kaccāyana và chào hỏi ông ấy. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, con ngồi xuống một bên và hỏi ông ấy cùng một câu hỏi.

Ông ấy nói: ‘Đại vương, bảy thực thể này không được tạo ra, không được phát sinh, không được sáng tạo, không có người sáng tạo, bất biến, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ.194 Chúng không di chuyển, không suy thoái, không cản trở lẫn nhau. Chúng không thể gây ra khoái lạc, đau khổ, hay cả khoái lạc và đau khổ cho nhau. Bảy thứ đó là gì? Các thực thể đất, nước, lửa, gió; khoái lạc, đau khổ, và linh hồn là thứ bảy.195 Bảy thực thể này không được tạo ra, không được phát sinh, không được sáng tạo, không có người sáng tạo, bất biến, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ. Chúng không di chuyển, không suy thoái, không cản trở lẫn nhau. Chúng không thể gây ra khoái lạc, đau khổ, hay cả khoái lạc và đau khổ cho nhau. Và ở đây không có ai giết người hay khiến người khác giết; không có ai học hỏi hay giáo dục người khác; không có ai hiểu biết hay giúp người khác hiểu biết.196 Nếu ngài chém đầu ai đó bằng một thanh gươm sắc, ngài không lấy đi mạng sống của ai cả. Thanh gươm chỉ đơn thuần đi qua khoảng trống giữa bảy thực thể.’

Và như vậy, khi con hỏi Pakudha Kaccāyana về quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, ông ấy đã trả lời một cách hoàn toàn khác. Giống như người được hỏi về xoài thì trả lời bằng mít, hoặc được hỏi về mít thì trả lời bằng xoài. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như ta lại có thể trách mắng một sa-môn hay bà-la-môn sống trong lãnh thổ của mình?’ Vì vậy, con không tán thành cũng không bác bỏ lời nói đó của Pakudha Kaccāyana. Con không hài lòng, nhưng không bày tỏ sự không hài lòng của mình. Không chấp nhận cũng không phản bác lời ông ấy nói, con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

25. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đả-ca-chiên-diên). Khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pakudha Kaccàyana và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pakudha Kaccayana: “Ngài Pakudha Kaccayana, cũng như các công nghệ chức nghiệp, như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

26. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Pakudha Kaccàyana nói với con: “Này Ðại vương, có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc. Bảy thân ấy là gì? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này khômg bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây không có người giết hại, hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưởi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi”.

27. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccàyana đả trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccayana đả trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn, hay Bàla-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, không cật nạn, bỏ lời nói của Pakudha Kaccayana. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi và đứng dậy ra về.

3.5. Học Thuyết Của Sa-môn Ni-kiền-tử Thuộc Dòng Dõi Ñātika

Bạch Thế Tôn, có một lần, con đến gặp vị sa-môn Ni-kiền-tử Nātaputta và chào hỏi ông ấy. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, con ngồi xuống một bên và hỏi ông ấy cùng một câu hỏi.

Ông ấy nói: ‘Đại vương, hãy xem xét một vị sa-môn Ni-kiền-tử người bị chế ngự bởi bốn sự ràng buộc (restrained in the fourfold constraint / bị kiểm soát bởi bốn loại giới luật của Kỳ-na giáo).197 Và làm thế nào một vị sa-môn Ni-kiền-tử bị chế ngự bởi bốn sự ràng buộc? Đó là khi một vị sa-môn Ni-kiền-tử bị chế ngự trong tất cả những gì cần phải chế ngự, bị kiềm chế trong tất cả những gì cần phải kiềm chế, đã rũ bỏ điều ác trong tất cả những gì cần phải chế ngự, và bị hạn chế trong tất cả những gì cần phải chế ngự.198 Đó là cách một vị sa-môn Ni-kiền-tử bị chế ngự bởi bốn sự ràng buộc. Khi một vị sa-môn Ni-kiền-tử bị chế ngự bởi bốn sự ràng buộc, vị ấy được gọi là người không còn phiền não, người tự chứng ngộ, tự chủ, và kiên định.’

Và như vậy, khi con hỏi vị sa-môn Ni-kiền-tử Nātaputta về quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, ông ấy đã trả lời bằng bốn sự ràng buộc. Giống như người được hỏi về xoài thì trả lời bằng mít, hoặc được hỏi về mít thì trả lời bằng xoài. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như ta lại có thể trách mắng một sa-môn hay bà-la-môn sống trong lãnh thổ của mình?’ Vì vậy, con không tán thành cũng không bác bỏ lời nói đó của vị sa-môn Ni-kiền-tử Nātaputta. Con không hài lòng, nhưng không bày tỏ sự không hài lòng của mình. Không chấp nhận cũng không phản bác lời ông ấy nói, con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

28. Bạch Thế Tôn, một thời con đến Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Nigantha Nàtaputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Nigantha Nàtaputta: “Ngài Aggivessana, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư, … (như trên) … Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn ?”

29. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con: “Này Ðại vương, một người Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Ðại vương, một Nigantha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp. Này Ðại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, vì một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatto (một vị đã đi đến đích), Yatatto (một vị đã điều phục tự tâm) và Thitatto (một vị đã an trú được tự tâm)”.

30. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi đến kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigantha Nàtaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigantha Nàtaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn cấm giới. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Nigantha Nàtaputta. Không tán thán không cật nạn, dù không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

3.6. Học Thuyết Của Sañjaya Belaṭṭhiputta

Bạch Thế Tôn, có một lần, con đến gặp Sañjaya Belaṭṭhiputta và chào hỏi ông ấy. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, con ngồi xuống một bên và hỏi ông ấy cùng một câu hỏi.

Ông ấy nói: ‘Giả sử ngài hỏi tôi có thế giới khác hay không. Nếu tôi tin là có, tôi sẽ nói như vậy. Nhưng tôi không nói nó là thế này. Tôi không nói nó là thế kia. Tôi không nói nó là cách khác. Tôi không nói nó không phải vậy. Và tôi cũng không phủ nhận nó không phải vậy.199 Giả sử ngài hỏi tôi có phải không có thế giới khác… có phải vừa có vừa không có thế giới khác… có phải vừa không có cũng không không có thế giới khác… có phải có chúng sinh hóa sinh… có phải không có chúng sinh hóa sinh… có phải vừa có vừa không có chúng sinh hóa sinh… có phải vừa không có cũng không không có chúng sinh hóa sinh… có phải có quả báo và kết quả của nghiệp thiện và ác… có phải không có quả báo và kết quả của nghiệp thiện và ác… có phải vừa có vừa không có quả báo và kết quả của nghiệp thiện và ác… có phải vừa không có cũng không không có quả báo và kết quả của nghiệp thiện và ác… có phải một bậc giác ngộ (realized one / người đã đạt được sự hiểu biết tối thượng) vẫn tồn tại sau khi chết… có phải một bậc giác ngộ không còn tồn tại sau khi chết… có phải một bậc giác ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết… có phải một bậc giác ngộ vừa không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Nếu tôi tin là có, tôi sẽ nói như vậy. Nhưng tôi không nói nó là thế này. Tôi không nói nó là thế kia. Tôi không nói nó là cách khác. Tôi không nói nó không phải vậy. Và tôi cũng không phủ nhận nó không phải vậy.’

Và như vậy, khi con hỏi Sañjaya Belaṭṭhiputta về quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, ông ấy đã trả lời một cách lươn lẹo (answered with flip-flopping / trả lời một cách trốn tránh, không dứt khoát). Giống như người được hỏi về xoài thì trả lời bằng mít, hoặc được hỏi về mít thì trả lời bằng xoài. Con nghĩ: ‘Đây là người ngu ngốc và đần độn nhất trong tất cả các sa-môn và bà-la-môn này! Làm sao ông ta có thể trả lời một cách lươn lẹo khi được hỏi về quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này?’ Con nghĩ: ‘Làm sao một người như ta lại có thể trách mắng một sa-môn hay bà-la-môn sống trong lãnh thổ của mình?’ Vì vậy, con không tán thành cũng không bác bỏ lời nói đó của Sañjaya Belaṭṭhiputta. Con không hài lòng, nhưng không bày tỏ sự không hài lòng của mình. Không chấp nhận cũng không phản bác lời ông ấy nói, con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

31. Bạch Thế Tôn, một hôm con đến Sanjaya Belatthiputta (Tán-nhã-di-Tỳ-la-lê-phất). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào chúc tụng thân hữu và xã giao với Sanjaya Belatthiputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Sanjaya Belatthiputta: “Ngài Sanjaya, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư… (như trên)… Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”

32. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với con: “Nếu anh hỏi: “Có một thế giới khác hay không?” Nếu tôi nghĩ “Có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: “Không có một thế giới khác phải không?” Nếu tôi nghĩ: “Không có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Không có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi “Không có một thế giới khác phải không?” (… như trên… ) “Cũng có và cũng không có một thế giới khác?” “Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?”, “Có loại hữu tình hóa sanh?”, “Không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?”, “Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?”, “Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Như Lai có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?”. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Tôi có thể trả lời : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.”

33. Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi trái mít lại trả lời trái xoài . Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, Bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Sanjaya Belatthiputta. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn. Không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

4. Quả Báo Của Đời Sống Sa-môn

4.1. Quả Báo Thứ Nhất Của Đời Sống Sa-môn

Và vì vậy con hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn, có nhiều ngành nghề khác nhau. Bao gồm người quản tượng, kỵ binh, người đánh xe ngựa, cung thủ, người cầm cờ hiệu, phụ tá, người hầu bàn, tướng lĩnh, vương tử, lính xung kích, dũng sĩ, anh hùng, lính mặc áo da, và con của nô lệ. Cũng có những người làm bánh, thợ cạo, người phục vụ nhà tắm, đầu bếp, người kết hoa, thợ nhuộm, thợ dệt, thợ đan rổ, thợ gốm, kế toán viên, người đếm bằng ngón tay, hoặc những người theo bất kỳ nghề nghiệp tương tự nào. Tất cả những người này đều sống nhờ vào quả báo của nghề nghiệp của họ, hiện rõ trong đời này. Nhờ đó, họ tự làm cho mình vui vẻ và hài lòng. Họ làm cho cha mẹ, con cái và vợ chồng, bạn bè và đồng nghiệp của họ vui vẻ và hài lòng. Và họ thiết lập sự cúng dường cao thượng cho các sa-môn và bà-la-môn, một sự cúng dường đưa đến cõi trời, chín muồi trong hạnh phúc, và dẫn đến cõi trời. Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ ra một quả báo của đời sống sa-môn cũng hiện rõ trong đời này không?"

"Ta có thể, Đại vương.200 Vậy thì, Ta sẽ hỏi lại ngài về điều này, và ngài có thể trả lời tùy ý.201 Đại vương nghĩ sao? Giả sử ngài có một người là nô lệ, một người làm công. Họ dậy trước ngài và đi ngủ sau ngài, luôn sẵn lòng phục vụ, cư xử tốt đẹp, nói năng lịch sự, và luôn nhìn ngài với vẻ kính trọng.202 Họ sẽ nghĩ: 'Kết quả và quả báo của nghiệp thiện thật không thể tin được, thật tuyệt vời! 203 Vì Vua Ajātasattu này là một con người, và ta cũng vậy.204 Thế mà ngài lại vui hưởng, được cung phụng và đáp ứng năm loại dục lạc (five kinds of sensual stimulation / sự hưởng thụ qua năm giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc) như một vị trời. Trong khi đó, ta là nô lệ của ngài, người làm công của ngài. Ta dậy trước ngài và đi ngủ sau ngài, luôn sẵn lòng phục vụ, cư xử tốt đẹp, nói năng lịch sự, và luôn nhìn ngài với vẻ kính trọng. Ta thực sự nên làm những việc thiện.205 Tại sao ta không cạo bỏ râu tóc, đắp y màu đất, và xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà (go forth from the lay life to homelessness / từ bỏ cuộc sống thế tục để trở thành người tu hành không gia đình)?'206

Sau một thời gian, đó là điều họ làm. Sau khi xuất gia, họ sẽ sống chế ngự thân, khẩu, ý, biết đủ với thức ăn và y áo, vui thích nơi vắng vẻ.207 Và giả sử người của ngài báo cáo tất cả những điều này cho ngài. Ngài có nói với họ: ‘Hãy mang người đó đến cho ta! Hãy để họ một lần nữa làm nô lệ, người làm công của ta’ không?"

"Không, bạch Thế Tôn. Thay vào đó, con sẽ đảnh lễ vị ấy, đứng dậy khi vị ấy đến, và mời vị ấy ngồi. Con sẽ mời vị ấy nhận y áo, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh. Và con sẽ tổ chức sự bảo vệ và hộ trì hợp pháp cho vị ấy."208

"Đại vương nghĩ sao? Nếu vậy, có quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này hay không?"209

"Rõ ràng, bạch Thế Tôn, là có."210

“Đây là quả báo đầu tiên của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, mà Ta chỉ ra cho ngài.”

34. Vậy nên bạch Thế Tôn, con cũng hỏi Thế Tôn. bạch Thế Tôn, cũng như các công nghệ chức nghiệp. Như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên soái, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dũng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản, các công nghệ chức nghiệp khác. Chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bàla-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

− Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương.

35. Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nô bộc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương). Người ấy nghĩ: “Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả dị thục của các công đức. Ðức vua Ajàtasattu, con của bà Videhi của nước Magadha, là người, tôi đây là người. Vị vua Ajàtasattu con bà Videhi, của nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần, còn tôi là người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của vua). Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia, ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình xuất gia tu đạo”. Và người nô lệ ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, sống chế ngự lời nói, sống chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỉ sống an tịnh. Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương. “Ðại vương có biết chăng? Có người nô bộc của Ðại vương, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương). Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống trong an tịnh”. Này Ðại vương, Ðại vương có nói như sau chăng?: “Người ấy hãy lại với ta, hãy làm lại người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái chú ý từng nét mặt?”

36. - Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.

− Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy, thì đó có phải chăng là kết quả thiết thực hiện tại hạnh Sa-môn?

− Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.

− Này Ðại vương đó là kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa-môn mà Ta đã trình bày.

4.2. Quả Báo Thứ Hai Của Đời Sống Sa-môn

"Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ ra một quả báo khác của đời sống sa-môn cũng hiện rõ trong đời này không?"211

"Ta có thể, Đại vương. Vậy thì, Ta sẽ hỏi lại ngài về điều này, và ngài có thể trả lời tùy ý. Đại vương nghĩ sao? Giả sử ngài có một người là nông dân, một gia chủ, một người lao động chăm chỉ, người tích lũy tài sản.212 Họ sẽ nghĩ: ‘Kết quả và quả báo của nghiệp thiện thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Vì Vua Ajātasattu này là một con người, và ta cũng vậy. Thế mà ngài lại vui hưởng, được cung phụng và đáp ứng năm loại dục lạc như một vị trời. Trong khi đó, ta là một nông dân, một gia chủ, một người lao động chăm chỉ, người tích lũy tài sản. Ta thực sự nên làm những việc thiện. Tại sao ta không cạo bỏ râu tóc, đắp y màu đất, và xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà?’

Sau một thời gian, họ từ bỏ tài sản lớn hay nhỏ, và gia đình quyến thuộc lớn hay nhỏ. Họ cạo bỏ râu tóc, đắp y màu đất, và xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà.213 Sau khi xuất gia, họ sẽ sống chế ngự thân, khẩu, ý, biết đủ với thức ăn và y áo, vui thích nơi vắng vẻ. Và giả sử người của ngài báo cáo tất cả những điều này cho ngài. Ngài có nói với họ: ‘Hãy mang người đó đến cho ta! Hãy để họ một lần nữa làm nông dân, gia chủ, người lao động chăm chỉ, người tích lũy tài sản’ không?"

“Không, bạch Thế Tôn. Thay vào đó, con sẽ đảnh lễ vị ấy, đứng dậy khi vị ấy đến, và mời vị ấy ngồi. Con sẽ mời vị ấy nhận y áo, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh. Và con sẽ tổ chức sự bảo vệ và hộ trì hợp pháp cho vị ấy.”

“Đại vương nghĩ sao? Nếu vậy, có quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này hay không?”

“Rõ ràng, bạch Thế Tôn, là có.”

“Đây là quả báo thứ hai của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, mà Ta chỉ ra cho ngài.”

37. - Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác hơn nữa của hạnh Sa-môn?

− Này Ðại vương, có thể được. Này Ðại vương. Ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương. Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Người ấy nghĩ: “Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả vị thục của các công đức. Vị vua Ajàtasattu, con của bà Videhi, nước Magadha, là người, tôi cũng là người. Vị vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần. Còn tôi là người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo”. Và người nông phu ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh. Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương: “Ðại vương có biết chăng? Có người nông phu của Ðại vương, người gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh”. Này Ðại vương, Ðại vương có nói: “Người hãy đến lại với ta, hãy làm lại người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố”?

38. - Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính nể người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bịnh. Và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.

− Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy thời đó có phải là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?

− Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.

− Này Ðại vương, đó là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, mà Ta trình bày.

4.3. Những Quả Báo Cao Thượng Hơn Của Đời Sống Sa-môn

“Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ ra một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo này không?”

"Ta có thể, Đại vương. Vậy thì, hãy lắng nghe và khéo chú tâm, Ta sẽ nói."214

“Vâng, bạch Thế Tôn,” nhà vua đáp.

Đức Phật nói như sau:

"Hãy xem xét khi một Như Lai (Realized One / Tathāgata, bậc đã đến như vậy, đã đi như vậy, một danh hiệu của Phật) xuất hiện trên thế gian, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.215 Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác thế giới này—với các vị trời, Ma vương (Māras / các thế lực cản trở sự giác ngộ), và chư thiên, chúng sinh bao gồm các sa-môn, bà-la-môn, trời và người—và Ngài tuyên thuyết cho những người khác biết.216 Ngài tuyên thuyết giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và Ngài khai thị một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh.217

Một gia chủ nghe giáo pháp đó, hoặc con của một gia chủ, hoặc một người tái sinh trong một gia đình tốt.218 Họ có niềm tin (faith / tín, sự tin tưởng vững chắc) vào Như Lai và suy ngẫm: ‘Đời sống tại gia chật hẹp và ô uế, đời sống xuất gia rộng mở. Thật không dễ cho người sống tại gia để sống đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh, như một vỏ ốc được đánh bóng. Tại sao ta không cạo bỏ râu tóc, đắp y màu đất, và xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà?’

Sau một thời gian, họ từ bỏ tài sản lớn hay nhỏ, và gia đình quyến thuộc lớn hay nhỏ. Họ cạo bỏ râu tóc, đắp y màu đất, và xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà.

Một khi đã xuất gia, họ sống chế ngự trong giới luật của tu sĩ (monastic code / các quy tắc ứng xử và kỷ luật dành cho người xuất gia), hành xử tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, họ giữ gìn các giới luật đã thọ nhận. Họ hành động khéo léo bằng thân và khẩu. Họ có đời sống thanh tịnh và thành tựu về giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức). Họ thu thúc lục căn (guard the sense doors / kiểm soát sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), có chánh niệm và tỉnh giác (mindfulness and situational awareness / sự chú tâm vào hiện tại và sự nhận biết rõ ràng về những gì đang xảy ra), và biết đủ.219

39. Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác nữa của hạnh Sa-môn, vi diệu hơn, thù thắng hơn những kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn vừa kể trên?

− Này Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, hãy lóng tai nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Vâng, Thế Tôn. Vua Ajàtasattu con bà Videhi vua xứ Magadha trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói:

40. - Này Ðại vương, nay ở đời, Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí thế giới này với thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên Nhơn, lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

41. Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

42. Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.

4.3.1. Giới Đức

4.3.1.1. Phần Ngắn Về Giới Đức

Và này Đại vương, làm thế nào một vị Tỷ-kheo (mendicant / vị tỳ khưu nam đã thọ cụ túc giới) thành tựu về giới? Đó là khi một vị Tỷ-kheo từ bỏ sát sinh, từ bỏ roi gậy và đao kiếm. Vị ấy biết xấu hổ và có lòng từ, sống đầy lòng thương xót đối với tất cả chúng sinh.220 Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ trộm cắp. Vị ấy chỉ lấy những gì được cho, và chỉ mong đợi những gì được cho. Vị ấy giữ mình trong sạch bằng cách không trộm cắp.221 Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ việc không trong sạch. Vị ấy sống đời phạm hạnh, tách biệt, tránh hành vi tình dục thô tục.222 Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ nói dối. Vị ấy nói sự thật và giữ vững sự thật. Vị ấy trung thực và đáng tin cậy, và không lừa dối thế gian bằng lời nói của mình.223 Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ nói chia rẽ. Vị ấy không lặp lại ở nơi này những gì đã nghe ở nơi khác để chia rẽ mọi người. Thay vào đó, vị ấy hòa giải những người chia rẽ, ủng hộ sự đoàn kết, vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, nói những lời thúc đẩy sự hòa hợp. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ nói lời thô ác. Vị ấy nói năng ôn hòa, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, dễ mến và được mọi người chấp nhận. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ nói chuyện vô ích. Lời nói của vị ấy đúng lúc, đúng sự thật, có ý nghĩa, phù hợp với giáo pháp và sự tu tập. Vị ấy nói những điều đúng lúc, có giá trị, hợp lý, ngắn gọn và lợi ích. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ việc làm hại cây cối và hạt giống. Vị ấy ăn một bữa mỗi ngày, không ăn vào ban đêm và vào thời gian không thích hợp (phi thời). Vị ấy từ bỏ xem các buổi trình diễn nhảy múa, ca hát và âm nhạc. Vị ấy từ bỏ việc làm đẹp và trang điểm bằng vòng hoa, hương liệu và phấn son. Vị ấy từ bỏ giường cao và sang trọng.224 Vị ấy từ bỏ nhận vàng bạc, ngũ cốc sống, thịt sống, phụ nữ và các cô gái, nô lệ nam nữ, dê và cừu, gà và lợn, voi, bò, ngựa đực và ngựa cái, và ruộng đất. Vị ấy từ bỏ việc chạy việc vặt và đưa tin; mua bán; làm giả cân, kim loại hoặc thước đo; hối lộ, gian lận, lừa đảo và hai mặt; cắt xẻo, giết người, bắt cóc, cướp bóc, cướp phá và bạo lực. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Phần ngắn về giới đức đã xong.

43. Ðại Vương! Thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Ðại Vương, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

44. Tỷ-kheo từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Tỷ-kheo ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác. Vị ấy nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

45. Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm. Từ bỏ ăn phi thời. Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn kịch. Từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn. Từ bỏ nhận vàng và bạc. Từ bỏ nhận các hạt sống. Từ bỏ nhận thịt sống. Từ bỏ nhận đàn bà con gái. Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai. Từ bỏ nhận cừu và dê. Từ bỏ nhận gia cầm và heo. Từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Từ bỏ nhận ruộng nương, đất đai. Từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Từ bỏ buôn bán. Từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Từ bỏ làm thương tổn, sát hại câu thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

4.3.1.2. Phần Giữa Về Giới Đức

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn làm hại cây cối và hạt giống. Bao gồm các loại cây được nhân giống từ rễ, thân, cành giâm, hoặc khớp nối; và những loại từ hạt giống thông thường là thứ năm. Vị ấy từ bỏ việc làm hại cây cối và hạt giống như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn tích trữ hàng hóa để sử dụng riêng. Bao gồm những thứ như thực phẩm, đồ uống, quần áo, xe cộ, giường chiếu, hương liệu và những thứ thuộc về thịt. Còn vị ấy từ bỏ việc tích trữ những hàng hóa như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn xem các buổi trình diễn. Bao gồm những thứ như nhảy múa, ca hát, âm nhạc, biểu diễn và kể chuyện; vỗ tay, chiêng và trống ấm; các cuộc thi sắc đẹp; xiếc trên sào và các màn trình diễn rửa xương của những người làm nghề với xác chết; các trận đấu của voi, ngựa, trâu, bò đực, dê, cừu đực, gà và chim cút; đấu gậy, quyền anh và đấu vật; chiến đấu, điểm danh các lực lượng vũ trang, đội hình chiến đấu và duyệt binh. Còn vị ấy từ bỏ các buổi trình diễn như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia cờ bạc gây ra sự sao nhãng (negligence / phóng dật, sự lơ là, không chú tâm). Bao gồm những thứ như cờ đam tám hoặc mười hàng, cờ đam trên không, nhảy lò cò, trò chơi nhặt que, trò chơi trên bàn, đánh khăng, rút thăm, xúc xắc, sáo lá, cày đồ chơi, nhào lộn, chong chóng, thước đo đồ chơi, xe đồ chơi, cung đồ chơi, đoán từ theo âm tiết, đoán ý nghĩ của người khác và bắt chước nhạc cụ. Còn vị ấy từ bỏ cờ bạc như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn sử dụng giường cao và sang trọng. Bao gồm những thứ như ghế sofa, trường kỷ, chăn len—có lông xù, nhiều màu, màu trắng, thêu hoa, chần bông, thêu hình thú, có tua rua kép hoặc đơn—và chăn lụa nạm đá quý, cũng như ga trải giường bằng lụa, thảm dệt, thảm cho voi, ngựa hoặc xe ngựa, thảm da linh dương, và những tấm trải bằng da hươu tốt, có tán che phía trên và gối đỏ ở hai đầu. Còn vị ấy từ bỏ giường chiếu như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào việc làm đẹp và trang điểm bằng vòng hoa, hương liệu và phấn son. Bao gồm những thứ như thoa các sản phẩm làm đẹp bằng cách xức dầu, xoa bóp, tắm và chà xát; gương, thuốc mỡ, vòng hoa, hương liệu và phấn son; phấn phủ, kem nền, vòng tay, băng đô, gậy đi bộ hoặc hộp đựng sang trọng, kiếm, ô, dép sang trọng, khăn xếp, đồ trang sức, phất trần và áo choàng trắng có tua rua dài. Còn vị ấy từ bỏ việc làm đẹp và trang điểm như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào những cuộc nói chuyện thấp kém. Bao gồm các chủ đề như nói về vua chúa, kẻ cướp và các quan đại thần; nói về quân đội, các mối đe dọa và chiến tranh; nói về thức ăn, đồ uống, quần áo và giường chiếu; nói về vòng hoa và hương liệu; nói về gia đình, xe cộ, làng mạc, thị trấn, thành phố và quốc gia; nói về phụ nữ và anh hùng; nói chuyện ngoài đường và bên giếng; nói về người đã khuất; nói chuyện tạp nham; những câu chuyện về đất liền và biển cả; và nói về việc tái sinh ở nơi này hay nơi khác. Còn vị ấy từ bỏ những cuộc nói chuyện thấp kém như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào các cuộc tranh luận. Họ nói những điều như: ‘Ông không hiểu giáo pháp và sự tu tập này. Tôi hiểu giáo pháp và sự tu tập này. Cái gì, ông hiểu giáo pháp và sự tu tập này ư? Ông đang thực hành sai. Tôi đang thực hành đúng. Tôi nói đúng chủ đề, ông thì không. Ông nói sau những gì đáng lẽ phải nói trước. Ông nói trước những gì đáng lẽ phải nói sau. Những gì ông đã suy nghĩ rất nhiều đều đã bị bác bỏ. Học thuyết của ông đã bị bác bỏ. Tiếp tục đi, hãy cứu lấy học thuyết của ông! Ông bị mắc kẹt rồi; hãy tự mình thoát ra khỏi tình huống này—nếu ông có thể!’ Còn vị ấy từ bỏ những cuộc nói chuyện tranh luận như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào việc chạy việc vặt và đưa tin. Bao gồm việc chạy việc vặt cho các nhà cai trị, các quan đại thần, quý tộc, bà-la-môn, gia chủ hoặc các hoàng tử nói rằng: ‘Hãy đi đến đây, đi đến đó. Lấy cái này, mang cái kia từ đó về.’ Còn vị ấy từ bỏ những việc vặt như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn tham gia vào việc lừa dối, tâng bốc, ám chỉ và coi thường, và sử dụng những thứ vật chất để theo đuổi những thứ vật chất khác. Còn vị ấy từ bỏ sự lừa dối và tâng bốc như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Phần giữa về giới đức đã xong.

46. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt cây sanh, hạt giống từ chiết cây sanh, và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn vị ấy thì không làm hại hạt giống hay cây cỏ nào. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

47. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn vị ấy thì từ bỏ cất chứa các vật trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

48. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chơn chánh như múa, hát, nhạc kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn vị ấy thì từ bỏ các du hí không chơn chánh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

49. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí. Như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, cày với chiếc cày giả, nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ chơi bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiết trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn vị ấy thì từ bỏ đánh bài cà các loại giải trí như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

50. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế trường kỷ, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm khảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, mền voi, mền ngựa, mền xe, mền bằng da sơn dương khâu lại với nhau, mền bằng da con sơn dương khâu lại gọi là Kadali, tấm thảm với lều che phía trên, ghế dài có gối đầu, gối chân màu đỏ. Còn vị ấy thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

51. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt và sáp mặt, vòng tay tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn vị ấy thì không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

52. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống nói những câu chuyện vô ích tầm thường như câu chuyện nói về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại vương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn vị ấy thì từ bỏ nói những chuyện vô ích, tầm thường kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

53. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp như nói: “Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi nói mới thật đúng chánh kiến. Lời tôi nói mới tương ưng, lời nói của người không tương ưng. Những điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau. Những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Chủ kiến của ngươi đã bị bài bác, câu nói của ngươi đã bị thách đấu. Ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí”. Còn vị ấy thì từ bỏ những cuộc biện luận, tranh chấp kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

54. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới như cho các vua, các đại thần của vua, cho các vị Sát-đếlỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ cho các thanh niên và nói rằng: “Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia, mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia”. Còn vị ấy thì từ bỏ đưa các tin tức và đứng làm môi giới. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

55. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siễm nịnh, gợi ý, dèm pha, cầu lợi. Còn vị ấy thì từ bỏ nói lời lừa đảo và siểm nịnh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

4.3.1.3. Phần Dài Về Giới Đức

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng (low lore, by wrong livelihood / những hiểu biết thấp kém và cách sinh sống không chân chính). Bao gồm các lĩnh vực như xem tướng tay chân, xem điềm báo, bói toán các điềm trời, giải mộng, xem tướng người, xem lỗ trên vải bị chuột gặm, cúng lửa, cúng bằng muỗng, cúng trấu, bột gạo, gạo, bơ sữa hoặc dầu; cúng tế bằng miệng, tế máu, xem chỉ tay; phong thủy cho việc xây dựng nhà cửa, ruộng đất và nghĩa địa; trừ tà, ma thuật đất, thuật thôi miên rắn, các loại độc dược; kiến thức về bọ cạp, chuột, chim và quạ; tiên tri tuổi thọ, tụng kinh bảo vệ và xem điềm báo từ động vật hoang dã. Còn vị ấy từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc xem tướng đá quý, vải vóc, gậy gộc, gươm đao, giáo mác, cung tên, vũ khí, phụ nữ, đàn ông, bé trai, bé gái, nô lệ nam nữ, voi, ngựa, trâu, bò đực, bò cái, dê, cừu đực, gà, chim cút, kỳ đà, thỏ, rùa hoặc hươu nai. Còn vị ấy từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc đưa ra những lời tiên đoán rằng nhà vua sẽ xuất quân hay lui quân; hoặc vua của chúng ta sẽ tấn công và vua của kẻ thù sẽ rút lui, hoặc ngược lại; hoặc vua của chúng ta sẽ chiến thắng và vua của kẻ thù sẽ bị đánh bại, hoặc ngược lại; và do đó sẽ có chiến thắng cho một bên và thất bại cho bên kia. Còn vị ấy từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc đưa ra những lời tiên đoán rằng sẽ có nguyệt thực, nhật thực hoặc sao thực; rằng mặt trời, mặt trăng và các vì sao sẽ giao hội hoặc xung đối; rằng sẽ có mưa sao băng, bầu trời rực lửa, động đất hoặc sấm sét trên trời; rằng sẽ có sự mọc lên, lặn xuống, tối đi, sáng lên của mặt trăng, mặt trời và các vì sao. Và nó cũng bao gồm việc đưa ra những lời tiên đoán về kết quả của tất cả các hiện tượng đó. Còn vị ấy từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc tiên đoán liệu sẽ có nhiều mưa hay hạn hán; dư dả thức ăn hay nạn đói; mùa màng bội thu hay thất bát; an ninh hay nguy hiểm; bệnh tật hay khỏe mạnh. Nó cũng bao gồm các nghề nghiệp như số học, kế toán, tính toán, thi ca và vũ trụ học. Còn vị ấy từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm việc sắp đặt cho việc cưới hỏi; cho việc đính hôn và ly hôn; và cho việc rải gạo vào trong hoặc ra ngoài trong lễ cưới. Nó cũng bao gồm việc niệm chú cầu may mắn hoặc xui xẻo, điều trị thai nhi bị kẹt, trói lưỡi hoặc khóa hàm; bùa hộ mệnh cho tay và tai; hỏi gương, một cô gái hoặc một vị thần như một nhà tiên tri; thờ mặt trời, thờ Đại Phạm Thiên, thổi lửa và cầu khẩn Siri, nữ thần may mắn. Còn vị ấy từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi thọ dụng thực phẩm do tín thí cúng dường, vẫn còn kiếm sống bằng tà thuật, tà mạng. Bao gồm các nghi lễ cầu xin, cầu nguyện, cúng cô hồn, cúng đất, cầu mưa, giải quyết tài sản, và chuẩn bị và thánh hiến các địa điểm xây nhà, và các nghi lễ liên quan đến việc súc miệng và tắm rửa, và cúng tế. Nó cũng bao gồm việc cho uống thuốc xổ, thuốc nhuận tràng, thuốc long đờm và thuốc trừ đờm; nhỏ dầu tai, thuốc bổ mắt, thuốc nhỏ mũi, thuốc mỡ và thuốc đối trị; phẫu thuật bằng kim và dao mổ, điều trị trẻ em, kê đơn thuốc rễ cây và bó thuốc lá. Còn vị ấy từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về giới đức của vị ấy.

Một vị Tỷ-kheo thành tựu giới đức như vậy không thấy nguy hiểm từ bất cứ đâu liên quan đến sự chế ngự giới luật của mình. Giống như một vị vua đã đánh bại kẻ thù của mình. Vị ấy không thấy nguy hiểm từ kẻ thù ở bất cứ đâu. Cũng vậy, một vị Tỷ-kheo thành tựu giới đức như vậy không thấy nguy hiểm từ bất cứ đâu liên quan đến sự chế ngự giới luật của mình. Khi có được toàn bộ phạm vi giới đức cao thượng này, vị ấy trải nghiệm một hạnh phúc không bị chê trách (blameless happiness / niềm vui trong sạch, không gây lỗi lầm) bên trong mình.225 Đó là cách một vị Tỷ-kheo thành tựu về giới đức.

Phần dài về giới đức đã xong.

56. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hạt cải v. v… vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu quỷ ma, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bò cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn vị ấy thì tránh xa những tà hạnh kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

57. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tướng đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn vị ấy thì tránh xa những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

58. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: “Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lùi quân, vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối, vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự bại trận cho phe bên kia”. Còn vị ấy thì từ bỏ những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

59. Trong khi có một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: “Sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhật thực, sẽ có tinh thực, mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao bằng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động, sẽ có sấm trời, mặt trăng mặt trời các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhật thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời các sao mọc lặn sáng mờ sẽ có kết quả như thế này”. Còn vị ấy thì tránh xa không tự nuôi sống bằng tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

60. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng tà mạng, như đoán trước: “Sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ bị hiểm họa, sẽ có bệnh, sẽ không có bệnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình”. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

61. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ về nhà, sắp đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

62. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà bằng đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ tắm, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bệnh cho mắt, làm thầy thuốc, mổ xẻ chữa bệnh cho con nít, cho thuốc uống bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

63. Và như vậy, Ðại vương, vị Tỷ-kheo ấy, nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Ðại vương, như một vị Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.

4.3.2. Thiền Định

4.3.2.1. Thu Thúc Giác Quan

Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo thu thúc các giác quan?226 Khi một vị Tỷ-kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt, vị ấy không nắm bắt tướng chung và tướng riêng (features and details / các đặc điểm tổng quát và các chi tiết cụ thể của đối tượng). Nếu nhãn căn không được chế ngự, các pháp bất thiện xấu ác như tham ái và ưu phiền (covetousness and displeasure / lòng ham muốn và sự buồn bực, khó chịu) sẽ xâm chiếm. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự chế ngự, bảo vệ nhãn căn, và đạt được sự chế ngự của nó.227 Khi vị ấy nghe một âm thanh bằng tai… Khi vị ấy ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi vị ấy nếm một vị bằng lưỡi… Khi vị ấy cảm nhận một sự xúc chạm bằng thân… Khi vị ấy biết một ý niệm bằng tâm, vị ấy không nắm bắt tướng chung và tướng riêng. Nếu ý căn không được chế ngự, các pháp bất thiện xấu ác như tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự của nó. Khi có được sự thu thúc các giác quan cao thượng này, vị ấy trải nghiệm một an lạc không tỳ vết (unsullied bliss / niềm vui thuần khiết, không bị ô nhiễm) bên trong mình.228 Đó là cách một vị Tỷ-kheo thu thúc các giác quan.

64. Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Ðại vương, khi mắc thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo hộ trì các căn.

4.3.2.2. Chánh Niệm (Quan sát và ghi nhớ) và Tỉnh Giác (Biết rõ)

Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo có chánh niệm và tỉnh giác?229 Đó là khi một vị Tỷ-kheo hành động với tỉnh giác khi đi ra và trở về; khi nhìn về phía trước và sang hai bên; khi co duỗi các chi; khi mang y bát; khi ăn, uống, nhai và nếm; khi đi tiểu và đại tiện; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói và giữ im lặng.230 Đó là cách một vị Tỷ-kheo có chánh niệm và tỉnh giác.

65. Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác? Ðại vương, ở đây, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác.

4.3.2.3. Biết Đủ

Và làm thế nào một vị Tỷ-kheo biết đủ? Đó là khi một vị Tỷ-kheo biết đủ với y áo để chăm sóc thân thể và vật thực khất thực để nuôi bụng. Dù đi đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo những thứ này.231 Vị ấy giống như một con chim: dù bay đi đâu, đôi cánh là gánh nặng duy nhất của nó. Cũng vậy, một vị Tỷ-kheo biết đủ với y áo để chăm sóc thân thể và vật thực khất thực để nuôi bụng. Dù đi đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo những thứ này. Đó là cách một vị Tỷ-kheo biết đủ.

66. Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo biết đủ? Ở đây Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ðại vương, cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Ðại vương, vị Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Như vậy, này Ðại vương, là Tỷ-kheo biết đủ.

4.3.2.4. Từ Bỏ 5 Phiền nhiễu (Triền cái)

Khi có được toàn bộ phạm vi giới đức cao thượng này, sự thu thúc các giác quan cao thượng này, chánh niệm và tỉnh giác cao thượng này, và sự biết đủ cao thượng này,232 vị ấy thường lui tới một nơi ở vắng vẻ—một khu rừng hoang, gốc cây, ngọn đồi, khe núi, hang núi, nghĩa địa, khu rừng, ngoài trời, đống rơm. Sau bữa ăn, vị ấy trở về từ nơi khất thực, ngồi kiết già, giữ thân thẳng, và thiết lập chánh niệm trước mặt.233

Từ bỏ tham ái (covetousness / lòng ham muốn, sự dính mắc) đối với thế gian, vị ấy thiền với tâm thoát khỏi tham ái, gột rửa tâm khỏi tham ái.234 Từ bỏ tức giận (ill will / sự tức giận, ác ý) và ác tâm, vị ấy thiền với tâm thoát khỏi tức giận, đầy lòng thương xót đối với tất cả chúng sinh, gột rửa tâm khỏi tức giận.235 Từ bỏ tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ (dullness and drowsiness / hôn trầm và thụy miên, trạng thái tâm trí mệt mỏi, lười biếng và buồn ngủ), vị ấy thiền với tâm thoát khỏi tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, nhận biết ánh sáng, tỉnh thức và nhận biết, gột rửa tâm khỏi tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ.236 Từ bỏ tâm bất an và hối tiếc (restlessness and remorse / trạo cử và hối quá, trạng thái tâm không yên, dao động và hối hận về những điều đã làm hoặc chưa làm), vị ấy thiền không còn bồn chồn, tâm an tịnh bên trong, gột rửa tâm khỏi tâm bất an và hối tiếc.237 Từ bỏ nghi ngờ (doubt / vicikicchā, sự hoài nghi, thiếu niềm tin), vị ấy thiền đã vượt qua nghi ngờ, không còn do dự về các pháp thiện, gột rửa tâm khỏi nghi ngờ.238

Giả sử một người mắc nợ phải lao động,239 và những nỗ lực của người ấy đã thành công. Người ấy sẽ trả hết món nợ ban đầu và còn đủ tiền để nuôi sống vợ con. Nghĩ về điều này, người ấy sẽ tràn đầy hân hoan và hạnh phúc.

Giả sử có một người bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng. Họ sẽ chán ăn và suy nhược cơ thể. Nhưng sau một thời gian, họ sẽ khỏi bệnh, lấy lại được khẩu vị và sức khỏe. Nghĩ về điều này, họ sẽ tràn đầy hân hoan và hạnh phúc.

Giả sử một người bị giam trong tù. Nhưng sau một thời gian, họ được thả ra khỏi tù, an toàn và khỏe mạnh, không mất mát tài sản. Nghĩ về điều này, họ sẽ tràn đầy hân hoan và hạnh phúc.

Giả sử một người là nô lệ. Họ không phải là chủ của chính mình, mà bị ràng buộc với người khác, không thể đi đến nơi họ muốn. Nhưng sau một thời gian, họ sẽ được giải thoát khỏi cảnh nô lệ. Họ sẽ là chủ của chính mình, không bị ràng buộc với người khác, một cá nhân được giải phóng có thể đi đến nơi họ muốn. Nghĩ về điều này, họ sẽ tràn đầy hân hoan và hạnh phúc.

Giả sử có một người giàu có và tài sản đang đi trên một con đường sa mạc, nguy hiểm, không có gì để ăn. Nhưng sau một thời gian, họ đã vượt qua sa mạc một cách an toàn, đến một ngôi làng, một nơi trú ẩn không còn nguy hiểm. Nghĩ về điều này, họ sẽ tràn đầy hân hoan và hạnh phúc.

Cũng vậy, chừng nào năm chướng ngại này chưa được từ bỏ bên trong mình, một vị Tỷ-kheo coi chúng như một món nợ, một căn bệnh, một nhà tù, cảnh nô lệ, và một cuộc vượt sa mạc.240

Nhưng khi năm chướng ngại này được từ bỏ bên trong mình, một vị Tỷ-kheo coi đây là sự thoát khỏi nợ nần, sức khỏe tốt, sự giải thoát khỏi nhà tù, sự giải phóng, và cuối cùng là một nơi trú ẩn an toàn.241

67. Vị ấy, với giới uẩn cao quý này, với sự hộ trì các căn cao quý này, với chánh niệm tỉnh giác cao quý này, với hạnh biết đủ cao quý này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.

68. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên; với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm, thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

69. Này Ðại vương, như một người mắc nợ, liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ.

70. Này Ðại vương, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

71. Này Ðại vương, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian, được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

72. Này Ðại vương, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy, sau một thời gian, thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Nay ta thoát cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

73. Này Ðại vương, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc, thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Người ấy, sau một thời gian đã đi khỏi sa mạc, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

74. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc. Này Ðại vương, cũng như không mắc nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn, này Ðại vương, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi diệt trừ chúng.

Thấy rằng các chướng ngại đã được từ bỏ trong mình, hân hoan (joy / niềm vui ban đầu, sự phấn khởi) khởi lên. Khi hân hoan, niềm vui (rapture / hỷ, niềm vui thích, sự sung sướng mạnh mẽ hơn hân hoan) khởi lên. Khi tâm tràn đầy niềm vui, thân trở nên khinh an (tranquility / sự yên ổn, nhẹ nhàng của thân và tâm). Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy an ổn (bliss / lạc, sự sung sướng, hạnh phúc). Và khi an ổn, tâm trở nên định tĩnh (immersed / samādhi, trạng thái tâm tập trung cao độ, không dao động).242

4.3.2.5. Sơ Thiền

Hoàn toàn ly cách dục lạc (sensual pleasures / những thú vui của các giác quan), ly cách bất thiện pháp (unskillful qualities / các trạng thái tâm tiêu cực, không lành mạnh), vị ấy nhập và trú trong sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất), có niềm vui và an ổn do ly dục sinh, trong khi có tầm có tứ.243 Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và lan tỏa khắp thân mình bằng niềm vui và an ổn do ly dục sinh. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bởi niềm vui và an ổn do ly dục sinh.244

Giống như khi một người phục vụ nhà tắm khéo léo hoặc người học việc của họ đổ bột tắm vào một cái đĩa đồng, rắc nước từ từ. Họ nhào nặn cho đến khi viên bột tắm được thấm đẫm và bão hòa với độ ẩm, lan tỏa từ trong ra ngoài; nhưng không có độ ẩm nào rỉ ra ngoài.245 Cũng vậy, một vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và lan tỏa khắp thân mình bằng niềm vui và an ổn do ly dục sinh. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bởi niềm vui và an ổn do ly dục sinh. Này Đại vương, đây là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.246

75. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

76. Này Ðại vương, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.2.6. Nhị Thiền

Hơn nữa, khi tầm và tứ được lắng dịu, một vị Tỷ-kheo nhập và trú trong nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai), có niềm vui và an ổn do định sinh, với nội tĩnh nhất tâm (internal clarity and mind at one / sự yên lặng bên trong và tâm hợp nhất), không tầm không tứ.247 Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và lan tỏa khắp thân mình bằng niềm vui và an ổn do định sinh. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bởi niềm vui và an ổn do định sinh.

Giống như một hồ nước sâu được nuôi dưỡng bởi nước nguồn. Không có lối vào ở phía đông, tây, bắc, hay nam, và trời cũng không thường xuyên ban mưa đúng lúc.248 Nhưng dòng nước mát phun lên trong hồ thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và lan tỏa khắp hồ. Không có phần nào của hồ không được lan tỏa bởi nước mát.249

Cũng vậy, một vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và lan tỏa khắp thân mình bằng niềm vui và an ổn do định sinh. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bởi niềm vui và an ổn do định sinh. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

77. Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

78. Này Ðại vương, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.2.7. Tam Thiền

Hơn nữa, với sự phai nhạt của niềm vui, một vị Tỷ-kheo nhập và trú trong tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba), nơi vị ấy thiền với xả (equanimity / upekkhā, trạng thái tâm quân bình, không thiên vị), chánh niệm tỉnh giác, tự thân cảm nhận sự an ổn mà các bậc Thánh tuyên bố: 'Xả và chánh niệm, người ấy thiền trong an ổn.'250 Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và lan tỏa khắp thân mình bằng sự an ổn không còn niềm vui. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bởi sự an ổn không còn niềm vui.

Giống như một hồ sen xanh, sen hồng hoặc sen trắng. Một số trong chúng nảy mầm và phát triển trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, phát triển mạnh dưới nước. Từ ngọn đến gốc, chúng được thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và ngâm trong nước mát. Không có phần nào của chúng không được ngâm trong nước mát.251 Cũng vậy, một vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm đầy và lan tỏa khắp thân mình bằng sự an ổn không còn niềm vui. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bởi sự an ổn không còn niềm vui. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

79. Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và an trú thiền thứ ba. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

80. Này Ðại vương, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.2.8. Tứ Thiền

Hơn nữa, từ bỏ lạc và khổ, và chấm dứt hỷ và ưu trước đó, một vị Tỷ-kheo nhập và trú trong tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư), không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.252 Vị ấy ngồi lan tỏa khắp thân mình bằng tâm thanh tịnh, trong sáng. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bằng tâm thanh tịnh, trong sáng.253

Giống như một người ngồi quấn vải trắng từ đầu đến chân. Không có phần nào của thân thể không được bao phủ bởi vải trắng.254 Cũng vậy, vị ấy ngồi lan tỏa khắp thân mình bằng tâm thanh tịnh, trong sáng. Không có phần nào của thân thể không được lan tỏa bằng tâm thanh tịnh, trong sáng. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

81. Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

82. Này Ðại vương, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3. Tám Minh

4.3.3.1. Tri Kiến

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định (samādhi / sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất) như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến.255 Vị ấy hiểu rằng: 'Thân này của ta được hình thành. Nó được tạo thành từ tứ đại, do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, phải chịu sự vô thường, sự hao mòn và bào mòn, sự tan rã và hủy diệt.256thức (consciousness / viññāṇa, sự nhận biết, sự hay biết của tâm) này của ta bị dính mắc vào nó, bị trói buộc vào nó.'257

Giả sử có một viên ngọc lưu ly đẹp tự nhiên, tám mặt, được chế tác tinh xảo, trong suốt, sáng rõ, không vẩn đục, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp. Và nó được xâu bằng một sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu vàng.258 Và một người có mắt sáng sẽ cầm nó trong tay và xem xét: ‘Viên ngọc lưu ly này đẹp tự nhiên, tám mặt, được chế tác tinh xảo, trong suốt, sáng rõ, không vẩn đục, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp. Và nó được xâu bằng một sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu vàng.’

Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến.259 Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

83. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.

84. Này Ðại vương, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi giây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi giây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu và thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.2. Thân Do Ý Tạo

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và hướng tâm đến sự tạo thân khác bằng ý nghĩ.260 Từ thân này, vị ấy tạo ra một thân khác—được hình thành, do ý tạo, đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, không thiếu một giác quan nào.261

Giả sử một người rút một cây sậy ra khỏi vỏ của nó. Họ sẽ nghĩ: ‘Đây là cây sậy, đây là vỏ. Cây sậy và vỏ là những thứ khác nhau. Cây sậy đã được rút ra khỏi vỏ.’ Hoặc giả sử một người rút một thanh gươm ra khỏi vỏ của nó. Họ sẽ nghĩ: ‘Đây là thanh gươm, đây là vỏ. Thanh gươm và vỏ là những thứ khác nhau. Thanh gươm đã được rút ra khỏi vỏ.’ Hoặc giả sử một người lột da một con rắn. Họ sẽ nghĩ: ‘Đây là con rắn, đây là da lột. Con rắn và da lột là những thứ khác nhau. Con rắn đã được lột da.’

Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến sự tạo thân khác bằng ý nghĩ. Từ thân này, vị ấy tạo ra một thân khác—được hình thành, do ý tạo, đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, không thiếu một giác quan nào. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

85. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.

86. Này Ðại vương, ví như mọt người rút một cây lau ra ngoài vỏ. Người ấy nghĩ: Ðây là vỏ, đây là cây lau; vỏ khác, cây lau khác và cây lau từ vỏ rút ra. Này Ðại vương, ví như một người rút thanh kiếm từ bao kiếm; thanh kiếm khác, bao kiếm khác, và thanh kiếm từ nơi bao kiếm rút ra. Này Ðại vương, ví như một người lột xác một con rắn. Người ấy nghĩ: Ðây là con rắn, đây là xác rắn, con rắn khác, xác rắn khác, và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến sự hiện hóa một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý tạo thành, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.3. Thần Thông

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến các thần thông (psychic power / các năng lực siêu nhiên).262 Vị ấy sử dụng nhiều loại thần thông: tự nhân bản mình rồi lại hợp nhất; hiện ra rồi biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi non như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như lặn trong nước; đi trên mặt nước như đi trên đất liền; bay ngồi kiết già trên không trung như chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, những vật thể vô cùng mạnh mẽ và quyền năng; điều khiển thân thể đến tận cõi Phạm thiên (realm of divinity / cõi trời của Brahma).263

Giả sử một người thợ gốm khéo léo hoặc người học việc của họ có một ít đất sét đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ có thể tạo ra bất kỳ loại bình nào mà họ thích.264 Hoặc giả sử một người thợ chạm ngà khéo léo hoặc người học việc của họ có một ít ngà đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ có thể tạo ra bất kỳ loại đồ vật bằng ngà nào mà họ thích. Hoặc giả sử một người thợ kim hoàn khéo léo hoặc người học việc của họ có một ít vàng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ có thể tạo ra bất kỳ loại đồ vật bằng vàng nào mà họ thích.265

Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thần thông. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

87. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

88. Này Ðại vương, ví như một người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người thợ gốm, với đất sét khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử người thợ ngà, với ngà khéo đẽo dũa có thể làm các loại đồ ngà tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như người thợ vàng khéo tay hay đệ tử người thợ vàng, với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm các loại đồ vàng tùy theo sở thích. Cũng vậy này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các thần thông một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như còn chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

Này Ðại vương đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.4. Thiên Nhĩ Thông

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thiên nhĩ thông (clairaudience / khả năng nghe được âm thanh ở xa hoặc siêu nhiên).266 Với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của người và của trời, dù ở gần hay ở xa.267

Giả sử có một người đang đi trên đường. Họ sẽ nghe thấy tiếng trống, trống đất, tù và, trống ấm và trống tom-tom. Họ sẽ nghĩ: ‘Đó là tiếng trống,’ và ‘đó là tiếng trống đất,’ và 'đó là tiếng tù và, trống ấm và trống tom-tom.'268

Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thiên nhĩ thông. Với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của người và của trời, dù ở gần hay ở xa. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

89. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.

90. Này Ðại vương, ví như một người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng loa, tiếng xập xõa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: “Ðây là tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng xập xõa, tiếng kiểng”. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.5. Tha Tâm Thông

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tha tâm thông (comprehending the minds of others / khả năng biết được tâm của người khác).269 Vị ấy hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, sau khi đã thấu hiểu chúng bằng chính tâm của mình. Vị ấy hiểu tâm có tham (greed / rāga, lòng ham muốn) là ‘tâm có tham’, và tâm không có tham là ‘tâm không có tham’. Vị ấy hiểu tâm có sân (hate / dosa, lòng tức giận, thù hận)… tâm không có sân… tâm có si (delusion / moha, sự mê lầm, vô minh)… tâm không có si… tâm bị thu hẹp… tâm bị phân tán… tâm quảng đại… tâm không quảng đại… tâm không phải là tối thượng… tâm tối thượng… tâm có định… tâm không có định… tâm giải thoát… Vị ấy hiểu tâm chưa giải thoát là ‘tâm chưa giải thoát’.

Giả sử có một người phụ nữ hoặc đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, thích trang điểm, và họ soi bóng mình trong một chiếc gương sáng sạch hoặc một bát nước trong. Nếu họ có một vết bẩn, họ sẽ biết ‘Tôi có một vết bẩn,’ và nếu họ không có vết bẩn nào, họ sẽ biết 'Tôi không có vết bẩn nào.'270 Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tha tâm thông. Vị ấy hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, sau khi đã thấu hiểu chúng bằng chính tâm của mình. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

91. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:

Tâm có tham, biết là tâm có tham. Tâm không có tham, biết là tâm không có tham. Tâm có sân, biết là tâm có sân. Tâm không có sân, biết là tâm không có sân. Tâm có si, biết là tâm có si. Tâm không có si, biết là tâm không có si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng, Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng. Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định. Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát. 92. Này Ðại vương, ví như một người đàn bà, một người đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một thanh niên ưa trang sức, nhìn mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng suốt hay một chậu nước trong. Nếu mặt có tỳ vết, liền biết mặt có tỳ vết; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt không có tỳ vết. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của mọi người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:

Tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không có tham, biết tâm không có tham. Tâm có sân biết tâm có sân. Tâm không có sân, biết tâm không có sân. Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không có si, biết tâm không có si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải là đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng. Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định. Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát.

4.3.3.6. Túc Mạng Minh

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến túc mạng minh (recollection of past lives / khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ).271 Vị ấy nhớ lại nhiều loại kiếp sống quá khứ, đó là một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn lần tái sinh; nhiều kiếp thành/hoại của thế giới (eons of the world contracting/expanding / các chu kỳ hình thành và hủy diệt của vũ trụ), nhiều kiếp thành/hoại của thế giới. Vị ấy nhớ rằng: ‘Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận khoái lạc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời ở nơi đó, ta tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận khoái lạc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời ở nơi đó, ta tái sinh ở đây.’ Và cứ thế, vị ấy nhớ lại nhiều loại kiếp sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết.272

Giả sử một người rời khỏi làng quê của mình và đi đến một ngôi làng khác. Từ ngôi làng đó, họ sẽ đi đến một ngôi làng khác nữa. Và từ ngôi làng đó, họ sẽ trở về làng quê của mình. Họ sẽ nghĩ: 'Tôi đã đi từ làng quê của mình đến một ngôi làng khác. Ở đó tôi đứng như thế này, ngồi như thế kia, nói như thế này, hoặc giữ im lặng như thế kia. Từ ngôi làng đó, tôi đi đến một ngôi làng khác nữa. Ở đó tôi cũng đứng như thế này, ngồi như thế kia, nói như thế này, hoặc giữ im lặng như thế kia. Và từ ngôi làng đó, tôi trở về làng quê của mình.'273

Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến túc mạng minh. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

93. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

94. Này Ðại vương, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình. Người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Như vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp và thành kiếp. Vị ấy nhớ: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra chỗ nọ, tại đây, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.7. Thiên Nhãn Minh

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến về sự chết và tái sinh của chúng sinh (knowledge of the death and rebirth of sentient beings / khả năng thấy rõ sự chết đi và sinh lại của các loài hữu tình). Với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt lành hay nơi xấu xa. Vị ấy hiểu chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ: ‘Những chúng sinh thân yêu này đã làm những điều xấu bằng thân, khẩu và ý. Họ đã phỉ báng các bậc Thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân xác họ tan rã, sau khi chết, họ tái sinh ở nơi mất mát, nơi xấu xa, thế giới ngầm, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sinh thân yêu này đã làm những điều tốt bằng thân, khẩu và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân xác họ tan rã, sau khi chết, họ tái sinh ở nơi tốt lành, cõi trời.’ Và cứ thế, với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt lành hay nơi xấu xa. Vị ấy hiểu chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.274

Giả sử có một ngôi nhà sàn ở quảng trường trung tâm. Một người có mắt sáng đứng đó có thể thấy mọi người ra vào một ngôi nhà, đi dọc theo các đường phố và lối đi, và ngồi ở quảng trường trung tâm. Họ sẽ nghĩ: 'Đây là những người ra vào một ngôi nhà, đi dọc theo các đường phố và lối đi, và ngồi ở quảng trường trung tâm.'275

Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó.

95. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí huệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: “Này các Hiền giả, những Tôn giả này làm những điều ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.

96. Này Ðại vương, ví như một tòa lầu có thượng đài, giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: “Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa ngã tư, trên đài thượng”. Cũng vậy, này Ðại vương với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh.

Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: Này các Hiền giả, những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

4.3.3.8. Lậu Tận Minh

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến về sự đoạn tận các lậu hoặc (knowledge of the ending of defilements / khả năng biết rõ sự chấm dứt hoàn toàn các phiền não).276 Vị ấy thực sự hiểu: ‘Đây là khổ (suffering / dukkha, sự đau khổ, khôngสมบูรณ์, không vừa ý)’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ (origin of suffering / samudaya, nguyên nhân gây ra khổ, chủ yếu là ái dục)’ … ‘Đây là sự diệt khổ (cessation of suffering / nirodha, sự chấm dứt khổ, Niết-bàn)’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ (practice that leads to the cessation of suffering / magga, Bát Chánh Đạo)’.277 Vị ấy thực sự hiểu: ‘Đây là các lậu hoặc (defilements / āsava, những ô nhiễm tiềm ẩn làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu)’ … ‘Đây là nguồn gốc của các lậu hoặc’ … ‘Đây là sự chấm dứt các lậu hoặc’ … ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các lậu hoặc’.278 Biết và thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc của dục ái (sensuality / kāmāsava, sự ham muốn các dục lạc giác quan), hữu ái (desire to be reborn / bhavāsava, sự ham muốn tồn tại, tái sinh), và vô minh (ignorance / avijjāsava, sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, về bản chất của thực tại).279 Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.280 Vị ấy hiểu: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'281

Giả sử trong một thung lũng núi có một hồ nước trong suốt, sáng rõ và không vẩn đục. Một người có mắt sáng đứng trên bờ sẽ thấy những con sò, con hến, sỏi đá, và những đàn cá bơi lội hoặc đứng yên. Họ sẽ nghĩ: 'Hồ nước này trong suốt, sáng rõ và không vẩn đục. Và đây là những con sò, con hến, sỏi đá, và những đàn cá bơi lội hoặc đứng yên.'282

Cũng vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập vào định như thế này—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, và không dao động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến về sự đoạn tận các lậu hoặc. Này Đại vương, đây cũng là một quả báo của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này, tốt đẹp hơn và cao thượng hơn những quả báo trước đó. Và, này Đại vương, không có quả báo nào khác của đời sống sa-môn hiện rõ trong đời này mà tốt đẹp hơn và cao thượng hơn quả báo này."283

97. “Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật “đây là khổ”, biết như thật “đây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật “đây là khổ diệt”, biết như thật “đây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật “đây là những lậu hoặc”, biết như thật “đây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật “đây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật “đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.

98. Này Ðại vương, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật “đây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật “đây là khổ diệt”, biết như thật “đây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật “đây là những lậu hoặc”, biết như thật “đây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật “đây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật “đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước. Này Ðại vương, không có một quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn nào vi diệu và thù thắng hơn quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn này.

5. Vua Ajātasattu Tuyên Bố Mình Là Cư Sĩ Tại Gia

Khi Đức Phật vừa dứt lời, Vua Ajātasattu bạch với Ngài: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! 284 Như thể người ta dựng lại cái bị lật đổ, hoặc phơi bày cái bị che giấu, hoặc chỉ đường cho người lạc lối, hoặc thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y (go for refuge / tìm nơi nương tựa) Đức Phật, quy y Pháp (teaching / Dhamma, giáo lý của Đức Phật), và quy y Tăng đoàn tỳ khưu.285 Từ hôm nay trở đi, xin Đức Phật ghi nhớ con là một cư sĩ tại gia (lay follower / người Phật tử tu tại gia) đã quy y trọn đời.

Con đã phạm lỗi lầm, bạch Thế Tôn. Thật ngu si, dại dột, và bất thiện khi con đã tước đoạt mạng sống của cha mình, một vị vua công chính và có đạo đức, vì quyền lực.286 Xin Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm này của con, để con tự chế ngự trong tương lai."287

"Đúng vậy, Đại vương, ngài đã phạm lỗi lầm. Thật ngu si, dại dột, và bất thiện khi ngài đã tước đoạt mạng sống của cha mình, một vị vua công chính và có đạo đức, vì vương quyền.288 Nhưng vì ngài đã nhận ra lỗi lầm của mình, và đã xử lý nó một cách đúng đắn, Ta chấp nhận nó. Vì đó là sự tăng trưởng trong sự tu tập của bậc Thánh khi nhận ra lỗi lầm của mình, xử lý nó một cách đúng đắn, và cam kết tự chế ngự trong tương lai."289

Khi Đức Phật vừa dứt lời, Vua Ajātasattu bạch với Ngài: “Bạch Thế Tôn, bây giờ con phải đi. Con có nhiều phận sự, và nhiều việc phải làm.”

“Xin Đại vương đi khi nào thấy thuận tiện.”

Rồi nhà vua, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải, trước khi rời đi.

Ngay sau khi nhà vua rời đi, Đức Phật nói với các vị Tỷ-kheo: "Nhà vua đã bị tổn thương, các vị Tỷ-kheo,290 ông ấy đã bị hủy hoại. Nếu ông ấy không tước đoạt mạng sống của cha mình, một vị vua công chính và có đạo đức, thì pháp nhãn không tỳ vết, không ô nhiễm (stainless, immaculate vision of the Dhamma / sự thấy rõ giáo pháp một cách trong sạch, không còn che lấp) đã khởi lên trong ông ấy ngay tại chỗ ngồi đó."291

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các vị Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói.

99. Ðược nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: “Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chúng, con trọn đời quy ngưỡng. Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chơn chánh, để đạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn chận về tương lai”.

100. - Ðại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Ðại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chơn chánh, để đoạt vương quyền. Vì Ðại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng với Chánh pháp, Ta nhận tội ấy cho Ðại vương. Ðó là một sự tiến bộ, này Ðại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, thú tội đúng với Chánh pháp, và ngăn chận ở tương lai.

101. Ðược nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải cáo từ, chúng con có nhiều bổn phận, nhiều việc phải làm”.

− Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ ra là phải thời.

Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.

102. Lúc bấy giờ, khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi chưa bao lâu, Thế Tôn liền bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất ăn năn, này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất hối lỗi. Nếu vua ấy không hại mạng vua cha, một vị vua rất chân chánh, thì tại ngay chỗ ngồi này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn, không trần cấu, không ô uế.

Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-