DN 2. Thành Quả Của Sa-môn
(Sāmaññaphalasutta)
1. Cuộc Thảo Luận Với Các Quan Đại Thần Của Vua
[Tôi nghe như vầy.150] Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, tại vườn xoài của Y sĩ Jīvaka Komārabhacca, cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia) lớn gồm 1.250 vị tỳ khưu (mendicants / người khất thực, tu sĩ Phật giáo).151
Khi ấy, vào ngày Bố-tát (sabbath / ngày sám hối và tụng giới của Tăng đoàn)—ngày rằm Komudī, tức ngày rằm tháng tư—Vua Ajātasattu (A-xà-thế) của xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), con trai của công chúa Videha (Tỳ-đề-ha), đang ngự trên lầu thượng của lâu đài hoàng gia, xung quanh là các quần thần.152
Bấy giờ, Vua Ajātasattu của xứ Magadha, con trai của công chúa Videha, thốt lên lời cảm hứng này:153 "Ôi, chư khanh, đêm trăng này thật vô cùng thú vị, thật đẹp, thật huy hoàng, thật đáng yêu, thật ấn tượng.154 Nay, ta nên đến đảnh lễ vị sa-môn (ascetic / người tu hành khổ hạnh, từ bỏ đời sống thế tục) hay bà-la-môn (brahmin / người thuộc giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ) nào, để khi đảnh lễ vị ấy, tâm ta được an tịnh?"155
Khi vua vừa dứt lời, một vị đại thần tâu lên:156 “Tâu Đại vương, ngài Pūraṇa Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp) là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.157 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.158
Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, sa-môn Gosāla (Mạt-già-lê Cù-xá-ly) với cây gậy tre là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.159 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.
Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, ngài Ajita Kesakambala (A-di-đa Kê-sa-thâu-bà-la) với chiếc y bằng lông tóc là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.160 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.
Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, ngài Pakudha Kaccāyana (Ca-chiên-diên Phù-đà) là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.161 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.
Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, ngài Sañjaya Belaṭṭhiputta (San-xà-dạ Tỳ-la-thê-tử) là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.162 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.
Một vị đại thần khác tâu lên: “Tâu Đại vương, vị sa-môn Ni-kiền-tử Nātaputta (Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử) thuộc dòng dõi Ñātika là vị lãnh đạo một giáo phái, một hội chúng, và là thầy của một hội chúng. Ngài là một người sáng lập giáo phái nổi tiếng, được nhiều người coi là bậc thánh. Ngài đã xuất gia lâu năm, tuổi cao, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời.163 Xin Đại vương hãy đến đảnh lễ vị ấy. Hy vọng khi làm vậy, tâm Đại vương sẽ được an tịnh.” Nhưng khi vị ấy nói xong, nhà vua vẫn im lặng.