DN 3. Kinh Ambaṭṭha
Ambaṭṭhasutta
[Như vầy tôi nghe.292] Một thời Đức Phật đang du hành ở xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / đoàn thể của các vị xuất gia) lớn gồm năm trăm vị tỳ khưu. Ngài đến một ngôi làng của các vị Bà-la-môn (brahmins / giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ) xứ Kosala tên là Icchānaṅgala.293 Ngài trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala.
1. Pokkharasāti
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti đang sống ở Ukkaṭṭhā. Đó là một lộc ấp của vua ban (crown property / đất đai vua ban cho) do vua Pasenadi xứ Kosala ban tặng, trù phú, đông đúc chúng sanh, đầy đủ cỏ, gỗ, nước và ngũ cốc, một ân tứ của nhà vua, một khu vườn được ban cho một vị Bà-la-môn.294 Pokkharasāti nghe được rằng:
"Dường như Sa-môn Gotama (ascetic Gotama / nhà tu khổ hạnh Gotama)—một người dòng Thích Ca (Sakyan / người thuộc dòng tộc Thích Ca, dòng tộc của Đức Phật), xuất gia từ gia tộc Thích Ca—đã đến Icchānaṅgala và đang trú tại một khu rừng gần đó. Ngài có tiếng lành đồn xa (good reputation / danh tiếng tốt đẹp được lan truyền) như sau: ‘Thế Tôn (Blessed One / Bhagavā, bậc được tôn kính trên đời, người có đầy đủ phước đức và trí tuệ) ấy là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã giác ngộ hoàn toàn, diệt tận phiền não, xứng đáng được cúng dường), Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ chân lý một cách viên mãn và đúng đắn), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ (minh) và đức hạnh (hạnh)), Thiện Thệ (holy / Sugata, bậc đã đi qua một cách tốt đẹp đến Niết-bàn, không còn trở lại vòng luân hồi), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết rõ thế gian và con đường thoát khỏi thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao có khả năng giáo hóa chúng sanh, như người nài ngựa giỏi điều phục ngựa chứng), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / Buddha, bậc đã giác ngộ), Thế Tôn.’ Ngài đã tự mình chứng ngộ (realized with his own insight / tự mình hiểu rõ và đạt được bằng trí tuệ) thế giới này—cùng với các vị trời, Ma vương (Māras / các thế lực cản trở sự giác ngộ), và Phạm thiên (divinities / các vị trời ở cõi sắc giới và vô sắc giới), quần chúng này cùng với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người—và Ngài tuyên thuyết cho người khác biết.295 Ngài thuyết một giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối (good in the beginning, good in the middle, and good in the end / hoàn thiện từ đầu đến cuối), có ý nghĩa, có văn từ. Và Ngài khai thị một phạm hạnh (spiritual practice / đời sống tu tập thanh tịnh) hoàn toàn viên mãn, trong sạch. Lành thay, được thấy các bậc A-la-hán như vậy."296