Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 3. Kinh Ambaṭṭha

Ambaṭṭhasutta

[Như vầy tôi nghe.292] Một thời Đức Phật đang du hành ở xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / đoàn thể của các vị xuất gia) lớn gồm năm trăm vị tỳ khưu. Ngài đến một ngôi làng của các vị Bà-la-môn (brahmins / giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ) xứ Kosala tên là Icchānaṅgala.293 Ngài trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala.

1. Pokkharasāti

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti đang sống ở Ukkaṭṭhā. Đó là một lộc ấp của vua ban (crown property / đất đai vua ban cho) do vua Pasenadi xứ Kosala ban tặng, trù phú, đông đúc chúng sanh, đầy đủ cỏ, gỗ, nước và ngũ cốc, một ân tứ của nhà vua, một khu vườn được ban cho một vị Bà-la-môn.294 Pokkharasāti nghe được rằng:

"Dường như Sa-môn Gotama (ascetic Gotama / nhà tu khổ hạnh Gotama)—một người dòng Thích Ca (Sakyan / người thuộc dòng tộc Thích Ca, dòng tộc của Đức Phật), xuất gia từ gia tộc Thích Ca—đã đến Icchānaṅgala và đang trú tại một khu rừng gần đó. Ngài có tiếng lành đồn xa (good reputation / danh tiếng tốt đẹp được lan truyền) như sau: ‘Thế Tôn (Blessed One / Bhagavā, bậc được tôn kính trên đời, người có đầy đủ phước đức và trí tuệ) ấy là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã giác ngộ hoàn toàn, diệt tận phiền não, xứng đáng được cúng dường), Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ chân lý một cách viên mãn và đúng đắn), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ (minh) và đức hạnh (hạnh)), Thiện Thệ (holy / Sugata, bậc đã đi qua một cách tốt đẹp đến Niết-bàn, không còn trở lại vòng luân hồi), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết rõ thế gian và con đường thoát khỏi thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao có khả năng giáo hóa chúng sanh, như người nài ngựa giỏi điều phục ngựa chứng), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / Buddha, bậc đã giác ngộ), Thế Tôn.’ Ngài đã tự mình chứng ngộ (realized with his own insight / tự mình hiểu rõ và đạt được bằng trí tuệ) thế giới này—cùng với các vị trời, Ma vương (Māras / các thế lực cản trở sự giác ngộ), và Phạm thiên (divinities / các vị trời ở cõi sắc giới và vô sắc giới), quần chúng này cùng với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người—và Ngài tuyên thuyết cho người khác biết.295 Ngài thuyết một giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối (good in the beginning, good in the middle, and good in the end / hoàn thiện từ đầu đến cuối), có ý nghĩa, có văn từ. Và Ngài khai thị một phạm hạnh (spiritual practice / đời sống tu tập thanh tịnh) hoàn toàn viên mãn, trong sạch. Lành thay, được thấy các bậc A-la-hán như vậy."296

3. KINH AMBATTHA (A-MA-TRÚ)

(Ambattha Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành tại nước Kosala (Câu-tát-la), cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Icchànankala. Tại đây, Thế Tôn ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi ở tại Ukkattha, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, ngũ cốc phong phú, vốn là đất đai của vua, sau vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) cấp cho để hưởng một phần lợi tức.

2. Bà-la-môn Pokkharasàdi nghe đồn: Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Icchànankala, ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết, Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị Ala-hán như vậy thì rất quý”.

2. Đệ tử Ambaṭṭha

Lúc bấy giờ, Pokkharasāti có một học trò tên là Ambaṭṭha, là đệ tử nội trú (resident pupil / học trò ở cùng thầy). Anh ta là người đọc tụng và ghi nhớ các thánh điển, và đã thông thạo Tam Vệ-đà (three Vedas / ba bộ kinh Vệ-đà cổ của Bà-la-môn giáo), cùng với từ vựng và nghi lễ, âm vị học và từ loại học, và các tập truyện cổ (Itihāsa) là phần thứ năm. Anh ta thuộc lòng từng chữ và thông thạo ngữ pháp của chúng. Anh ta thông suốt về vũ trụ luận và các tướng của bậc đại nhân (marks of a great man / những đặc điểm phi thường của một người vĩ đại). Anh ta đã được thầy công nhận là bậc thầy về di sản kinh điển Tam Vệ-đà của thầy mình với những lời: “297 Những gì ta biết, con đều biết.298 Và những gì con biết, ta đều biết.”

Bấy giờ Pokkharasāti nói với Ambaṭṭha: "Này Ambaṭṭha thân mến, Sa-môn Gotama—một người dòng Thích Ca, xuất gia từ gia tộc Thích Ca—đã đến Icchānaṅgala và đang trú tại một khu rừng gần đó. Ngài có tiếng lành đồn xa như vậy… Lành thay, được thấy các bậc A-la-hán như vậy. Này Ambaṭṭha thân mến, xin con hãy đến gặp Sa-môn Gotama và tìm hiểu xem ngài ấy có đúng với danh tiếng của mình hay không. Qua con, ta sẽ biết về Tôn giả Gotama."299

“Thưa ngài, làm thế nào con có thể tìm hiểu xem Sa-môn Gotama có đúng với danh tiếng của ngài ấy hay không?”

“Này Ambaṭṭha thân mến, ba mươi hai tướng của bậc đại nhân đã được truyền lại trong các thánh điển của chúng ta. Một bậc đại nhân sở hữu những tướng này chỉ có hai cảnh giới (possible destinies / con đường tương lai) khả dĩ, không có con đường nào khác.300 Nếu ở đời tại gia, vị ấy sẽ trở thành một vị vua, một vua Chuyển Luân Thánh Vương (wheel-turning monarch / vị vua cai trị bằng chánh pháp, bánh xe pháp của ngài lăn đến đâu thì nơi đó được an bình), một vị vua công bằng và đức độ. Quyền lực của vị ấy bao trùm bốn phương, vị ấy đạt được sự ổn định trong nước, và sở hữu thất bảo (seven treasures / bảy báu vật của Chuyển Luân Thánh Vương).301 Vị ấy có bảy báu vật sau: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và vị tướng quân báu là thứ bảy. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai dũng mãnh, anh hùng, có khả năng đè bẹp quân đội của kẻ thù.302 Sau khi chinh phục vùng đất bao quanh bởi biển cả này, vị ấy cai trị bằng chánh pháp, không cần đến roi vọt hay gươm đao. Nhưng nếu vị ấy từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa, vị ấy sẽ trở thành một bậc A-la-hán, một vị Chánh Đẳng Chánh Giác, người vén lên bức màn che của thế gian. Nhưng, này Ambaṭṭha thân mến, ta là người truyền dạy thánh điển,303 còn con là người lãnh thọ.”

“Vâng, thưa ngài,” Ambaṭṭha đáp. Anh ta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu và đi nhiễu quanh Pokkharasāti theo chiều bên phải (respectfully circled, keeping him to his right / đi vòng quanh một cách tôn kính, giữ đối tượng ở bên phải mình). Anh ta lên một cỗ xe do ngựa cái kéo và cùng với vài thanh niên học trò, lên đường đến khu rừng gần Icchānaṅgala.304 Anh ta đi xe ngựa đến hết đoạn đường có thể đi, rồi xuống xe và đi bộ vào tịnh xá (monastery / nơi ở của các vị tu sĩ Phật giáo).

Lúc bấy giờ, một vài vị tỳ khưu đang kinh hành (walking mindfully / đi một cách chậm rãi và có ý thức) ở ngoài trời.305 Bấy giờ, học trò Ambaṭṭha đến gần các vị tỳ khưu ấy và nói: "Thưa các ngài, Tôn giả Gotama hiện đang ở đâu?306 Vì chúng tôi đến đây để gặp ngài."307

Các vị tỳ khưu ấy bèn nghĩ: "Ambaṭṭha này xuất thân từ một gia đình danh tiếng, và là học trò của Bà-la-môn Pokkharasāti nổi tiếng. Đức Phật sẽ không phiền khi thảo luận cùng với những người lịch sự như vậy."308

Họ nói với Ambaṭṭha: "Này Ambaṭṭha, kia là cốc (dwelling / nơi ở nhỏ của tu sĩ) của Ngài, cửa đang đóng. Hãy đến đó nhẹ nhàng, đừng vội vã; đi lên hiên nhà, hắng giọng và gõ vào cánh cửa. Đức Phật sẽ mở cửa."309

Vậy là anh ta đến gần cốc của Đức Phật, hắng giọng và gõ vào cánh cửa, và Đức Phật đã mở cửa. Ambaṭṭha và các thanh niên học trò bước vào cốc. Các thanh niên học trò chào hỏi Đức Phật, và sau khi chào hỏi và chuyện trò thân mật xong, họ ngồi xuống một bên. Nhưng trong khi Đức Phật đang ngồi, Ambaṭṭha lại vừa đi tới đi lui hoặc đứng mà nói vài lời xã giao này khác.

Đức Phật bèn nói với anh ta: "Này Ambaṭṭha, có phải đây là cách ngươi thảo luận với các vị Bà-la-môn lớn tuổi ? bậc thầy của các thầy, vừa đi tới đi lui hoặc đứng và nói vài lời xã giao này khác trong khi ta đang ngồi ?"310

3. Lúc bấy giờ, thanh niên Ambattha (A-ma-trú) là đệ tử của Bà-la-môn Pokkharasàdi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Vệ đà với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị này độc đáo về ba minh và được công nhận như vậy khiến các thân giáo sư phải nói: “Ðiều gì ta biết, ngươi cũng biết; điều gì ngươi biết, ta cũng biết”.

4. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với thanh niên Ambattha: “Này Ambattha thân yêu, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến tại Icchànankala trú tại Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, … Phật, Thế Tôn. Ngài đã chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý”. Này Ambattha thân yêu, hãy đi đến gặp Sa-môn Gotama, và tìm hiểu lời đồn về Tôn giả Gotama là như vậy hay không phải như vậy. Nhờ vậy, chúng ta sẽ được biết về Tôn giả Gotama”.

5. - Làm thế nào con được biết về Tôn giả Gotama, được biết lời đồn về Tôn giả Gotama như vậy là đúng hay không, có phải Tôn giả Gotama là như vậy, hay không phải như vậy?

− Ambattha thân yêu, theo truyền thống của chúng ta về ba mươi hai tướng của vị đại nhân, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn trong hai con đường, không có đường nào khác. Nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy châu báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, ma ni báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống, thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với chánh pháp, không dùng gậy, không dùng dao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời. Này Ambattha thân yêu, ta đã cho con chú thuật. Con đã nhận những chú thuật ấy.

6. - Thưa vâng.

Thanh niên Ambattha vâng theo lời của Bà-la-môn Pokkharasàdi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi, hướng thân về phía hữu, cỡi xe ngựa cái và cùng một số đông thanh niên khác đi đến khu rừng Icchànankala. Ði xe đến chỗ không còn đi được xe, Ambattha liền xuống xe đi bộ và đến tại tịnh xá.

7. Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Thanh niên Ambattha liền đến các Tỷ-kheo ấy và hỏi: “Các Hiền giả, nay Tôn gả Gotama ở tại chỗ nào? Chúng tôi đến đây để yết kiến Tôn giả Gotama”.

8. Các Tỷ-kheo liền nghĩ: “Thanh niên Ambattha này thuộc một gia đình có danh tiếng, là đệ tử của Bàla-môn Pokkharasàdi, một vị cũng có danh tiếng. Một cuộc đối thoại như vậy giữa Thế Tôn và con một quý tộc như vậy, không có khó khăn gì”. Những Tỷ-kheo ấy nói với thanh niên Ambattha: “Này Ambattha, tịnh xá đóng cửa kia là chỗ ở của Ngài. Hãy đến đó một cách yên lặng, không vượt qua hành lang, đằng hắng và gõ vào thanh cửa, Thế Tôn sẽ mở cửa cho ông”.

9. Thanh niên Ambattha liền đi đến tịnh xá đóng cửa ấy một cách yên lặng, không vượt quá hành lang, đằng hắng và gõ vào thanh cửa. Thế Tôn mở cửa và thanh niên Ambattha bước vào. Các thanh niên khác cũng bước theo, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn thanh niên Ambattha thời đi qua đi lại, thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi.

10. Lúc bấy giờ Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha:

− Có phải, đối với các bậc Bà-la-môn trưởng lão, đứng tuổi, các bậc giáo sư và tổ sư, ngươi cũng nói chuyện như vậy, như ngươi đã đi qua lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi?

2.1. Lần đầu dùng từ “Hạ tiện”

"Không, Tôn giả Gotama. Vì một người Bà-la-môn nói chuyện với một người Bà-la-môn khác thì dù cả hai đang đi, đứng, ngồi hay nằm đều là hợp lẽ. Nhưng đối với những kẻ đầu trọc (shavelings / những người cạo đầu, ý miệt thị), Sa-môn giả hiệu (fake ascetics / những người tu hành không chân chính), hạ tiện (primitives / những kẻ thấp kém, mọi rợ), con cháu đen đúa sinh từ chân của bà con chúng ta (black spawn from the feet of our kinsman / ám chỉ dòng dõi thấp kém theo thần thoại Bà-la-môn, nơi giai cấp Thủ-đà-la được cho là sinh ra từ chân của Phạm Thiên, tổ tiên của Bà-la-môn), tôi nói chuyện với họ cũng như tôi nói chuyện với Tôn giả Gotama vậy."311

"Nhưng này Ambaṭṭha, ngươi đến đây hẳn là có mục đích. Ngươi nên tập trung vào điều đó. Ambaṭṭha này tuy không đủ tư cách, lại tự cho mình là đủ tư cách. Đó chẳng phải là thiếu tư cách thì là gì?"312

Khi Ngài nói vậy, Ambaṭṭha trở nên tức giận và khó chịu với Đức Phật vì bị nói là không đủ tư cách. Anh ta thậm chí còn công kích và nói xấu chính Đức Phật, rằng: “Sa-môn Gotama sẽ thua cuộc!” Anh ta nói với Đức Phật: “Gotama, dòng họ Thích Ca thật thô lỗ, hung hăng, dễ nổi nóng và hay tranh cãi.313 Họ là những kẻ hạ tiện, và mãi mãi là những kẻ hạ tiện! Họ không tôn kính, quý trọng, sùng kính, cúng dường hay tôn thờ các vị Bà-la-môn.314 Việc dòng họ Thích Ca—những kẻ hạ tiện—không tôn kính, quý trọng, sùng kính, cúng dường hay tôn thờ các vị Bà-la-môn là không đúng đắn, không thích hợp.”

Và đó là lần đầu tiên Ambaṭṭha miệt thị dòng họ Thích Ca bằng từ “hạ tiện”.

2.2. Lần thứ hai dùng từ “Hạ tiện”

“Nhưng này Ambaṭṭha, dòng họ Thích Ca đã làm gì sai với ngươi?”

“Có một lần, Tôn giả Gotama, tôi đến Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu / kinh đô của dòng họ Thích Ca) để lo một vài công việc cho thầy tôi, Bà-la-môn Pokkharasāti. Tôi đến gặp những người Thích Ca tại nghị trường (town hall / nơi hội họp công cộng) của họ. Lúc đó, một vài người Thích Ca và các vương tử Thích Ca đang ngồi trên ghế cao, chọc lét nhau bằng ngón tay, cười khúc khích và nô đùa với nhau. Thực tế, họ thậm chí còn dám cười nhạo tôi, và không mời tôi ngồi. Việc dòng họ Thích Ca—những kẻ hạ tiện—không tôn kính, quý trọng, sùng kính, cúng dường hay tôn thờ các vị Bà-la-môn là không đúng đắn, không thích hợp.”

Và đó là lần thứ hai Ambaṭṭha miệt thị dòng họ Thích Ca bằng từ “hạ tiện”.

2.3. Lần thứ ba dùng từ “Hạ tiện”

"Ngay cả một con chim cút nhỏ, này Ambaṭṭha, cũng nói năng tùy thích trong tổ của nó. Ca-tỳ-la-vệ là đất của dòng họ Thích Ca, này Ambaṭṭha. Tôn giả Ambaṭṭha không đáng phải nổi nóng vì một chuyện nhỏ nhặt như vậy."315

“Này Gotama, có bốn giai cấp: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, và Thủ-đà-la (four classes: aristocrats, brahmins, peasants, and menials / bốn giai cấp chính trong xã hội Ấn Độ cổ: chiến sĩ quý tộc, tu sĩ học giả, thường dân, và tiện dân). Ba trong số các giai cấp này—Sát-đế-lỵ, Phệ-xá, và Thủ-đà-la—thực ra chỉ thành công khi phục vụ cho giai cấp Bà-la-môn. Việc dòng họ Thích Ca—những kẻ hạ tiện—không tôn kính, quý trọng, sùng kính, cúng dường hay tôn thờ các vị Bà-la-môn là không đúng đắn, không thích hợp.”

Và đó là lần thứ ba Ambaṭṭha miệt thị dòng họ Thích Ca bằng từ “hạ tiện”.

− Không phải vậy, này Gotama. Phải đi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đi. Phải đứng mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đứng. Phải ngồi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang ngồi. Phải nằm mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang nằm. Chỉ với những vị Sa-môn hèn hạ, trọc đầu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân của bà con ta, thì ta mới nói chuyện như vậy, như với ngươi, Gotama”.

11. - Này Ambattha, hình như ngươi đến đây với một ý định gì? Ngươi hãy khéo tác ý đến mục đích đã đưa ngươi đến đây. Thanh niên Ambattha này thật vô giáo dục, dầu nó tự cho là có giáo dục. Như vậy là vô giáo dục, có gì khác nữa!

12. Thanh niên Ambattha bị Thế Tôn gọi là vô giáo dục như vậy, liền phẫn nộ, tức tối, muốn nhục mạ Thế Tôn, phỉ báng Thế Tôn, công kích Thế Tôn, và nghĩ: “Sa-môn Gotama có ác ý đối với ta”, liền nói với Thế Tôn:

− Này Gotama, thô bạo là dòng họ Thích ca; này Gotama, ác độc là dòng họ Thích ca; này Gotama, khinh suất là dòng họ Thích ca; này Gotama hung dữ là dòng họ Thích ca. Là đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, dòng họ Thích ca không kính nhường Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi dòng họ Thích ca này, những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy, thanh niên Ambattha lần đầu tiên đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện. .

13. - Này Ambattha, dòng họ Thích ca đã làm gì phật lòng ngươi?

− Này Gotama, một thời ta đi đến Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) có việc phải làm cho thầy ta là Bà-la-môn Pokkharasàdi, và đến tại công hội trường của dòng họ Thích. Lúc bấy giờ một số đông dòng họ Thích ca và thanh niên Thích ca đang ngồi trên ghế cao tại công hội trường. Chúng cười với nhau, dùng ngón tay thọc cù nôn với nhau, ta nghĩ chắc chắn ta là mục tiêu cho chúng đùa giỡn với nhau, lại không ai mời ta ngồi. Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi chúng Thích ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy thanh niên Ambattha lần thứ hai đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện.

14. - Này Ambattha, cũng như con chim cáy, con chim cáy con có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó. Này Ambattha, Kapilavatthu thuộc dòng họ Thích ca. Thật không xứng để cho Ambattha phải phật lòng vì một vấn đề nhỏ mọn này.

15. - Này Gotama, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà-la. Này Gotama, trong bốn giai cấp này, ba giai cấp Sát-đế-lỵ, Phệ-xá và Thủ-đà-la là để hầu hạ hạng Bà-la-môn . Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp khi chúng Thích-ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn .

Như vậy, thanh niên Ambattha lần thứ ba đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện.

2.4. Từ “Con trai của nữ tỳ” được sử dụng

Bấy giờ Đức Phật khởi ý nghĩ: “Ambaṭṭha này hạ thấp dòng họ Thích Ca quá nhiều khi gọi họ là những kẻ hạ tiện. Sao ta không hỏi anh ta về gia tộc (clan / dòng họ) của chính mình?”

Đức Phật bèn nói với anh ta: "Này Ambaṭṭha, gia tộc của ngươi là gì?"316

"Tôi thuộc dòng Kaṇhāyana, Gotama."317

"Nhưng, nhớ lại tên và gia tộc xưa của cha mẹ ngươi, dòng họ Thích Ca là con cháu của những người chủ, trong khi ngươi là hậu duệ của con trai một nữ tỳ của dòng họ Thích Ca.318 Nhưng dòng họ Thích Ca coi vua Okkāka là ông tổ của họ.319

Ngày xưa, vua Okkāka, muốn chuyển quyền kế vị ngai vàng cho con trai của vị hoàng hậu được yêu quý nhất, đã trục xuất các vị hoàng tử lớn tuổi khỏi vương quốc—Okkāmukha, Karakaṇḍa, Hatthinika, và Sinisūra. Họ đến sống bên một ao sen trên sườn núi Hy Mã Lạp Sơn, nơi có một khu rừng cây sakhua (sala) lớn.320 Vì sợ làm ô uế dòng dõi, họ đã kết hôn với chính chị em ruột (saka) của mình.321

Bấy giờ vua Okkāka hỏi các vị đại thần và cố vấn: 'Thưa các khanh, các hoàng tử hiện đang ở đâu?'322

‘Tâu Đại vương, có một ao sen trên sườn núi Hy Mã Lạp Sơn, bên một khu rừng cây sakhua lớn. Họ đã định cư ở đó. Vì sợ làm ô uế dòng dõi, họ đang kết hôn với chính chị em ruột của mình.’

Khi ấy, này Ambaṭṭha, vua Okkāka đã thốt lên lời cảm thán tự đáy lòng (heartfelt sentiment / lời nói chân thành xuất phát từ trái tim): 'Các hoàng tử quả thật là những người Thích Ca (Sakyans)! Các hoàng tử quả thật là những người Thích Ca ưu tú nhất!'323 Từ ngày đó, dòng họ Thích Ca được công nhận và vua Okkāka là thủy tổ của họ.

Vua Okkāka có một nữ tỳ (slavegirl / người hầu gái, nô lệ nữ) tên là Disā.324 Bà sinh ra một cậu bé tên là ‘Kaṇha’ (Đen).325 Khi mới sinh, cậu bé Kaṇha nói: 'Mẹ ơi, rửa cho con, tắm cho con! Hãy tẩy sạch vết nhơ này khỏi người con! Con sẽ có ích cho mẹ!'326 Trong khi ngày nay người ta thấy yêu tinh (goblins / loài ma quỷ nhỏ) thì nhận ra đó là yêu tinh, thì thời đó người ta gọi yêu tinh là ‘Kaṇha’ (những đứa trẻ đen).

Họ nói: ‘Nó vừa sinh ra đã biết nói—một đứa trẻ đen đã ra đời! Một yêu tinh đã ra đời!’ Từ ngày đó, dòng họ Kaṇhāyana được hình thành, và cậu bé ấy là thủy tổ của họ. Đó là cách mà, khi nhớ lại tên và gia tộc xưa của cha mẹ ngươi, dòng họ Thích Ca là con cháu của những người chủ, trong khi ngươi là hậu duệ của con trai một nữ tỳ của dòng họ Thích Ca."

Khi Ngài nói vậy, các thanh niên học trò kia nói với Ngài: “Thưa Tôn giả Gotama, xin đừng hạ thấp Ambaṭṭha quá nhiều khi gọi anh ta là con trai của nữ tỳ.327 Anh ta xuất thân cao quý, là người lịch thiệp, có học thức, phát âm chuẩn, và sắc sảo. Anh ta có khả năng tranh luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này.”

Đức Phật bèn nói với họ: “Này các thanh niên học trò, nếu các ngươi nghĩ rằng Ambaṭṭha xuất thân thấp hèn, không phải người lịch thiệp, vô học, ăn nói vụng về, ngu dốt, và không có khả năng tranh luận với ta về vấn đề này, thì hãy để anh ta qua một bên và các ngươi có thể tranh luận với ta. Nhưng nếu các ngươi nghĩ rằng anh ta xuất thân cao quý, là người lịch thiệp, có học thức, phát âm chuẩn, sắc sảo, và có khả năng tranh luận với ta về vấn đề này, thì các ngươi nên đứng sang một bên và để anh ta tranh luận với ta.”

“Anh ấy có khả năng tranh luận với ngài. Chúng tôi sẽ im lặng, và để Ambaṭṭha tranh luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này.”

Đức Phật bèn nói với Ambaṭṭha: “Này Ambaṭṭha, có một câu hỏi hợp lý được đặt ra. Ngươi sẽ không thích, nhưng ngươi vẫn phải trả lời. Nếu ngươi không trả lời—bằng cách lảng tránh vấn đề, giữ im lặng, hoặc bỏ đi—đầu ngươi sẽ vỡ tan thành bảy mảnh ngay tại đây.328 Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Theo những gì ngươi đã nghe từ các vị Bà-la-môn lớn tuổi, bậc thầy của các thầy, nguồn gốc của dòng họ Kaṇhāyana là gì, và ai là thủy tổ của họ?”

Khi Ngài nói vậy, Ambaṭṭha giữ im lặng.

Lần thứ hai, Đức Phật đặt câu hỏi, và lần thứ hai Ambaṭṭha giữ im lặng.

Đức Phật bèn nói với anh ta: “Hãy trả lời ngay, Ambaṭṭha. Bây giờ không phải là lúc để im lặng. Nếu ai đó không trả lời một câu hỏi hợp lý khi được Đức Phật hỏi đến lần thứ ba, đầu của họ sẽ vỡ tan thành bảy mảnh ngay tại đó.”

Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Kim Cang Thủ (Vajirapāṇī / vị thần cầm chày kim cương, một vị hộ pháp), tay cầm một cây chùy sắt khổng lồ, rực lửa, chói sáng và nóng bỏng, đứng trên không trung phía trên Ambaṭṭha, nghĩ rằng,329 “Nếu Ambaṭṭha này không trả lời khi được hỏi đến lần thứ ba, ta sẽ đánh vỡ đầu hắn thành bảy mảnh ngay tại đó!” Cả Đức Phật và Ambaṭṭha đều có thể nhìn thấy Dạ-xoa Kim Cang Thủ.

Ambaṭṭha kinh hãi, choáng váng và khiếp sợ. Tìm đến Đức Phật để xin nơi ẩn náu, sự bảo vệ và nơi nương tựa, anh ta ngồi xuống gần Đức Phật và nói: “Ngài nói gì vậy? Xin hãy lặp lại câu hỏi.”

“Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Theo những gì ngươi đã nghe từ các vị Bà-la-môn lớn tuổi, bậc thầy của các thầy, nguồn gốc của dòng họ Kaṇhāyana là gì, và ai là thủy tổ của họ?”

“Tôi đã nghe, thưa Tôn giả Gotama, rằng sự việc đúng như ngài nói. Đó là nguồn gốc của dòng họ Kaṇhāyana, và đó là thủy tổ của họ.”

16. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: “Thanh niên Ambattha này đã phỉ báng dòng họ Thích-ca đê tiện một cách quá đáng. Nay ta phải hỏi dòng họ của nó”. Rồi Thế Tôn hỏi thanh niên Ambattha:

− Dòng họ ngươi là gì?

− Này Gotama, dòng họ ta là Kanhàyana.

− Này Ambattha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ Thích ca là thầy của ngươi. Và ngươi là con của một nữ tỳ của dòng họ Thích ca. Này thanh niên Ambattha, tổ tiên của Thích ca là vua Okkàka. Thuở xưa, này Ambattha, vua Okkàka muốn trao vương vị cho hoàng tử con bà hoàng hậu chính mà vua thương yêu, bèn đuổi ra khỏi nước những người con đầu của mình là Okkàmukha, Karandu, Hatthiniya, Sinipura. Bị tẩn xuất khỏi nước, những hoàng tử này đến sống tại một khu rừng lớn bên một hồ nước, trên sườn núi Hy-mã-lạp sơn. Vì sợ huyết thống của mình bị lẫn lộn với huyết thống khác, các vị hoàng tử này ăn nằm với những người chị của mình.

− Này Ambattha, một hôm vua Okkàka nói với vị đại thần tùy tùng: “Này các khanh, các hoàng tử hiện nay ở đâu?” - “Bạch Ðại vương, có một khu rừng lớn, bên một hồ nước trên sườn núi Hy-mã-lạp-sơn. Nay các hoàng tử ở tại chỗ ấy. Các hoàng tử, vì sợ huyết thống của mình lẫn lộn huyết thống khác nên ăn nằm với những người chị của mình”.

− Này Ambattha, vua Okkàka liền cảm hứng thốt lời tụng hân hoan: “Các hoàng tử thật là những Sakya (cứng như lõi cây sồi), các hoàng tử thật là những Sakya xuất chúng”. Này Ambattha, từ đó trở đi, các hoàng tử được gọi là Sakya và vua Okkàka là vua tổ của dòng họ Thích-ca. Này Ambattha, vua ấy có một nữ tỳ lên là Disà. Nữ tỳ này sinh hạ một người con da đen. Vừa mới sinh, Kanha liền nói: “Này mẹ, hãy rửa cho con; này mẹ hãy tắm cho con; này mẹ hãy gội sạch đồ bất tịnh này. Và con sẽ giúp ích cho mẹ”. Này Ambattha, vì người ta gọi những ác quỷ là ác quỷ nên người ta cũng gọi Kanhà là ác quỷ. Chúng nói như thế này: “Ðứa trẻ này, vừa mới sanh đã nói. Một Kanha vừa mới sanh”. Này Ambattha, từ đó trở đi chữ Kanhàyanà được biết đến. Và Kanha là tổ phụ của dòng họ Kanhàyana. Này Ambattha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ Thích-ca là thầy của ngươi, và ngươi là con một nữ tỳ của dòng họ Thích ca.

17. Khi Thế Tôn nói vậy, những thanh niên nói với Thế Tôn:

− Này Gotama, chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ. Này Gotama, thanh niên Ambattha sinh vào quý tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này.

18. Thế Tôn liền nói với những thanh niên ấy.

− Nếu những thanh niên các ngươi nghĩ: “Thanh niên Ambattha không được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambattha không thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha không phải là bậc đa văn, thanh niên Ambattha không phải là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha không phải là nhà bác học, thanh niên Ambattha không thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này”, thời thanh niên Ambattha hãy đứng ra một bên và để các thanh niên biện luận với Ta về vấn đề này. Nếu các ngươi nghĩ: “Thanh niên Ambattha được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Gotama về vấn đề này”, thời các ngươi hãy đứng ra một bên và để thanh niên Ambattha biện luận với ta về vấn đề này.

19. - Này Gotama, thanh niên Ambattha được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambattha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambattha là bậc đa văn, thanh niên Ambattha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambattha là nhà bác học, thanh niên Ambattha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này. Chúng tôi sẽ đứng im lặng. Thanh niên Ambattha sẽ cùng với Gotama biện luận về vấn đề này.

20. Thế Tôn liền nói với thanh niên Ambattha:

− Này Ambattha, câu hỏi hợp lý này được đem ra hỏi ngươi dầu không muốn, ngươi cũng phải trả lời. Nếu ngươi không trả lời, hoặc trả lời tránh qua một vấn đề khác, hoặc giữ im lặng, hoặc bỏ đi, thời ngay tại chỗ, đầu ngươi sẽ bị bể ra làm bảy mảnh. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các Bàla-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?

Nghe nói vậy thanh niên Ambattha giữ im lặng. Lần thứ hai Thế Tôn nói với thanh niên Ambattha:

− Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các nguồn gốc của dòng họ kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?

Lần thứ hai thanh niên Ambattha giữ im lặng. Thế Tôn lại nói với thanh niên Ambattha:

− Ambattha, nay ngươi phải trả lời, nay không phải thời ngươi giữ im lặng nữa. Này Ambattha ai được Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.

21. Lúc bấy giờ, thần Dạ xoa Vajirapàni đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói đứng trên đầu của thanh niên Ambattha với ý định: “Nếu Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà thanh niên Ambattha không trả lời, thời ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh”. Chỉ có Thế Tôn và thanh niên Ambattha mới thấy thần Dạ xoa Vajirapàni. Thanh niên Ambattha thấy vị thần ấy liền sợ hãi, hoảng hốt, lông dựng ngược, chỉ tìm sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm sự hỗ trợ nơi Thế Tôn, liền cúi rạp mình xuống và bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama đã nói gì? Mong Tôn giả Gotama nói lại cho.

− Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?

− Tôn giả Gotama, con đã có nghe, đúng như Tôn giả Gotama đã nói. Chính từ đó nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà. Vị ấy là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà.

2.5. Thảo luận về dòng dõi của Ambaṭṭha

Khi anh ta nói vậy, các thanh niên học trò kia làm ầm lên: “Hóa ra Ambaṭṭha xuất thân thấp hèn, không phải người lịch thiệp, là con trai của một nữ tỳ dòng Thích Ca, và dòng họ Thích Ca là con cháu của chủ nhân của anh ta! Và dường như Sa-môn Gotama chỉ nói sự thật, dù chúng ta đã dám trách mắng ngài!”

Bấy giờ Đức Phật khởi ý nghĩ: “Những thanh niên học trò này hạ thấp Ambaṭṭha khi gọi anh ta là con trai của nữ tỳ. Sao ta không giúp anh ta thoát khỏi tình thế này?”

Đức Phật bèn nói với các thanh niên học trò: "Này các thanh niên học trò, đừng hạ thấp Ambaṭṭha khi gọi anh ta là con trai của nữ tỳ. Cậu bé Kaṇha (Đen) đó là một vị tiên nhân lỗi lạc (eminent sage / nhà hiền triết nổi tiếng, có năng lực siêu phàm).330 Cậu ấy đã đến một xứ ở phương nam và học thuộc lòng Thần chú. Sau đó, cậu ấy đến gặp vua Okkāka và xin cưới công chúa Maddarūpī, con gái của vua.331

Vua nói với cậu: ‘Thằng con của nữ tỳ này là cái thá gì mà dám hỏi cưới con gái ta!’ Tức giận và khó chịu, vua lắp một mũi tên sắc bén vào cung.332 Nhưng vua không thể bắn mũi tên đi mà cũng không thể hạ cung xuống.

Bấy giờ các vị đại thần và cố vấn đến gặp tiên nhân Kaṇha và nói: ‘Xin tiên nhân tha cho nhà vua, xin tha cho ngài!’

'Nhà vua sẽ được an toàn. Nhưng nếu vua bắn mũi tên xuống đất, sẽ có động đất trên toàn vương quốc.'333

‘Xin tiên nhân tha cho nhà vua và tha cho đất nước!’

‘Cả vua và đất nước sẽ được an toàn. Nhưng nếu vua bắn mũi tên lên trời, sẽ không có mưa trên toàn vương quốc trong bảy năm.’

'Xin tiên nhân tha cho nhà vua, tha cho đất nước, và xin hãy cho mưa xuống!'334

'Cả vua và đất nước sẽ được an toàn, và mưa sẽ rơi. Và nếu nhà vua bắn mũi tên vào thái tử, thái tử sẽ được an toàn và bình an vô sự.'335

Các vị đại thần bèn nói với vua Okkāka:336 ‘Vua Okkāka phải bắn mũi tên vào thái tử. Thái tử sẽ được an toàn và bình an vô sự.’

Vua Okkāka bèn bắn mũi tên vào thái tử. Và thái tử đã được an toàn và bình an vô sự. Bấy giờ nhà vua kinh hãi, choáng váng và khiếp sợ. Sợ hãi trước sự trừng phạt của thần linh, vua đã gả công chúa Maddarūpī cho cậu.337

Này các thanh niên học trò, xin đừng hạ thấp Ambaṭṭha quá nhiều khi gọi anh ta là con trai của nữ tỳ. Cậu bé Kaṇha đó là một vị tiên nhân lỗi lạc."

22. Khi nghe nói vậy, các thanh niên liền la hét lớn:

− Người ta nói thanh niên Ambattha là tiện sanh, người ta nói thanh niên Ambattha là con dòng không phải quý phái; người ta nói thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ của dòng họ Thích-ca; người ta nói dòng họ Thích-ca là chủ của thanh niên Ambattha. Chúng tôi không nghĩ rằng Sa-môn Gotama mà lời nói bao giờ cũng chân thực, lại không phải là người có thể tin được.

23. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ rằng: “Các thanh niên đã phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ rồi. Nay Ta hãy giải tỏa cho Ambattha”. Rồi Thế Tôn nói với các thanh niên:

− Các thanh niên, các ngươi chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambattha là con một nữ tỳ. Kanha ấy trở thành một tu sĩ vĩ đại. Vị này đi về miền Nam, học các chú thuật Phạm thiên, rồi về yết kiến vua Okkàka và yêu cầu gả công chúa Khuddarùpi cho mình. Vua Okkàka vừa giận, vừa tức, mắng rằng: “Ngươi là ai, con đứa nữ tỳ của ta mà dám xin con gái Khuddarùpi của ta”, và vua liền lắp tên vào cung. Nhưng vua không thể bắn tên đi, cũng không thể cất mũi tên xuống. Khi bấy giờ, các thanh niên thị giả, các đại thần và tùy tùng đến thưa với ẩn sĩ Kanhà: - “Ðại đức, hãy để cho vua an toàn! Ðại đức, hãy để cho vua được an toàn!” - “Nhà vua sẽ được an toàn, và nếu nhà vua bắn mũi tên xuống đất, thời toàn thể quốc độ nhà vua sẽ bị hạn, khô héo!” - “Ðại đức hãy để cho vua được an toàn! Hãy để cho quốc độ được an toàn!” - “Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn! Nhưng nếu nhà vua bắn tên lên trời, thời toàn thể quốc độ sẽ không mưa trong bảy năm!” - “Ðại đức, hãy để cho nhà vua được an toàn, hãy để cho quốc độ được an toàn! Và hãy để cho trời mưa!” - “Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn và trời sẽ mưa. Nhưng vua hãy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử cũng sẽ được an toàn!”.

Khi bấy giờ, các thị giả trẻ tuổi, các đại thần nói với Okkàka: “Okkàka hãy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử sẽ được an toàn”.

Vua Okkàka nhắm cây cung đến phía thái tử và một sợi lông của thái tử cũng được an toàn. Vua Okkàka hoảng sợ, khiếp đảm sự trừng phạt, thuận cho con gái Khuddàrùpi. Này các thanh niên, chớ có phỉ báng thanh niên Ambattha một cách quá đáng là con của một nữ tỳ. Kanha là một vị ẩn sĩ vĩ đại.

3. Sự vượt trội của giai cấp Sát-đế-lỵ

Bấy giờ Đức Phật nói với Ambaṭṭha: “Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Giả sử một chàng trai Sát-đế-lỵ ăn nằm với một cô gái Bà-la-môn, và họ có một người con trai. Người con đó có được các vị Bà-la-môn mời ngồi và dâng nước không?”

“Thưa Tôn giả Gotama, có ạ.”

“Và các vị Bà-la-môn có cho người đó ăn trong lễ cúng tế tổ tiên (offering of food for ancestors / lễ cúng dường thức ăn cho người đã khuất), lễ cúng dường cháo sữa (offering of a dish of milk-rice / lễ cúng món cháo nấu bằng sữa), lễ tế lễ (sacrifice / nghi lễ cúng thần linh, thường có sát sinh), hay trong tiệc đãi khách không?”

“Thưa có.”

“Và các vị Bà-la-môn có dạy thánh điển cho người đó hay không?”

“Thưa có.”

"Và người ấy có bị cấm tiếp xúc với phụ nữ (của giai cấp Bà-la-môn) hay không?"338

“Thưa không.”

“Và giai cấp Sát-đế-lỵ có làm lễ tấn phong làm vua (anoint him as king / thực hiện nghi lễ xức dầu để công nhận là vua) cho người đó không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama. Tại sao vậy? Bởi vì dòng dõi bên mẹ không tương xứng.”

“Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Giả sử một chàng trai Bà-la-môn ăn nằm với một cô gái Sát-đế-lỵ, và họ có một người con trai. Người con đó có được các vị Bà-la-môn mời ngồi và dâng nước không?”

“Thưa Tôn giả Gotama, có ạ.”

“Và các vị Bà-la-môn có cho người đó ăn trong lễ cúng tế tổ tiên, lễ cúng dường cháo sữa, lễ tế lễ, hay trong tiệc đãi khách không?”

“Thưa có.”

“Và các vị Bà-la-môn có dạy thánh điển cho người đó hay không?”

“Thưa có.”

“Và người ấy có bị cấm tiếp xúc với phụ nữ (của giai cấp Bà-la-môn) hay không?”

“Thưa không.”

“Và giai cấp Sát-đế-lỵ có làm lễ tấn phong làm vua cho người đó không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama. Tại sao vậy? Bởi vì dòng dõi bên cha không tương xứng.”

“Như vậy, Ambaṭṭha, giai cấp Sát-đế-lỵ là cao hơn và giai cấp Bà-la-môn là thấp hơn, dù so sánh nữ với nữ hay nam với nam. Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Giả sử các vị Bà-la-môn vì lý do nào đó mà cạo đầu một người Bà-la-môn, bắt mang một bao tro, và trục xuất người đó khỏi xứ sở hay thành phố. Người đó có được các vị Bà-la-môn mời ngồi và dâng nước không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

“Và các vị Bà-la-môn có cho người đó ăn trong lễ cúng tế tổ tiên, lễ cúng dường cháo sữa, lễ tế lễ, hay trong tiệc đãi khách không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

“Và các vị Bà-la-môn có dạy thánh điển cho người đó hay không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

“Và người ấy có bị cấm tiếp xúc với phụ nữ (của giai cấp Bà-la-môn) hay không?”

“Thưa có.”

“Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Giả sử giai cấp Sát-đế-lỵ vì lý do nào đó mà cạo đầu một người Sát-đế-lỵ, bắt mang một bao tro, và trục xuất người đó khỏi xứ sở hay thành phố. Người đó có được các vị Bà-la-môn mời ngồi và dâng nước không?”

“Thưa Tôn giả Gotama, có ạ.”

“Và các vị Bà-la-môn có cho người đó ăn trong lễ cúng tế tổ tiên, lễ cúng dường cháo sữa, lễ tế lễ, hay trong tiệc đãi khách không?”

“Thưa có.”

“Và các vị Bà-la-môn có dạy thánh điển cho người đó hay không?”

“Thưa có.”

“Và người ấy có bị cấm tiếp xúc với phụ nữ (của giai cấp Bà-la-môn) hay không?”

“Thưa không.”

"Đến mức này, Ambaṭṭha, người Sát-đế-lỵ đó đã rơi xuống tận cùng, đầu bị cạo, phải mang bao tro, và bị trục xuất khỏi thành phố hay xứ sở. Tuy nhiên, giai cấp Sát-đế-lỵ vẫn cao hơn và giai cấp Bà-la-môn vẫn thấp hơn. Phạm thiên Sanaṅkumāra (divinity Sanaṅkumāra / vị trời Phạm thiên tên Sanaṅkumāra) cũng đã nói bài kệ này:339

‘Sát-đế-lỵ là ưu việt nhất trong những người
lấy dòng dõi làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu về trí tuệ và đức hạnh
là bậc nhất trong trời và người.’

Bài kệ đó được Phạm thiên Sanaṅkumāra khéo nói, không phải vụng nói; khéo thuyết, không phải vụng thuyết, có lợi ích, không có hại, và đã được Ta chấp thuận. Vì Ta cũng nói như vầy:

Sát-đế-lỵ là ưu việt nhất trong những người
lấy dòng dõi làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu về trí tuệ và đức hạnh
là bậc nhất trong trời và người."

24. Khi bấy giờ, Như Lai nói với thanh niên Ambattha: − Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một thanh niên Sát-đế-lỵ cưới một thiếu nữ Bà-la-môn . Do sự sum họp ấy, một người con trai được sinh. Một người sanh từ một thanh niên Sát-đế-lỵ và một thiếu nữ Bàla-môn có thể thọ lãnh chỗ ngồi hãy nước giữa những người Bà-la-môn không?

− Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.

− Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng món đồ ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

− Tôn giả Gotama, có mời.

− Và những người Bà-la-môn có dạy các chú thuật hay không?

− Tôn giả Gotama, có dạy.

− Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng hay mở cửa?

− Tôn giả Gotama, mở cửa.

− Và những người Sát-đế-lỵ có quán đảnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

− Tôn giả Gotama, thưa không.

− Tại sao không?

− Vì nó không được sinh (là Sát đế lỵ) từ mẫu hệ.

25. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây một thanh niên Bà-la-môn cưới một thiếu nữ Sát-đế-lỵ. Do sự sum họp này, một người con trai được sanh. Một người sanh từ một thanh niên Bà-la-môn và một thiếu nữ Sát-đế-lỵ có thể thọ lãnh chỗ ngồi hay nước giữa những Bà-la-môn hay không?

− Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.

− Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng theo thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

− Tôn giả Gotama, có mời.

− Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?

− Tôn giả Gotama, có dạy.

− Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?

− Tôn giả Gotama, chúng mở cửa.

− Và những người Sát-đế-lỵ có làm lễ quán đỉnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?

− Tôn giả Gotama, thưa không. − Tại sao vậy?

− Tôn giả Gotama, vì không được sinh (là Sát đế lỵ) từ phụ hệ.

26. - Này Ambattha, nếu so sánh đàn bà với đàn bà, đàn ông với đàn ông, thì giai cấp Sát đế lỵ là ưu, Bà-la-môn là liệt. Này Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, giả sử do một nguyên nhân gì những người Bà-la-môn cạo đầu một người Bà-la-môn, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất ngươi ấy ra khỏi nước hay thành phố. Người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi và nước giữa những người Bà-la-môn không?

− Tôn giả, không được.

− Và những người Bà-la-môn, có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?

− Tôn giả Gotama, không có mời.

− Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?

− Tôn giả Gotama, không dạy.

− Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?

− Tôn giả Gotama, đóng cửa.

27. - Ambattha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây giả sử do một nguyên nhân gì, những người Sát đế lỵ cạo đầu một người Sát đế lỵ, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi và nước uống giữa những người Bà-la-môn không?

− Tôn giả Gotama, được thọ lãnh.

− Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết, hay dùng những món ăn cúng dường, hoặc đồ ăn cúng cho thiên thần, hay đồ ăn gửi đến như những tặng phẩm không?

− Tôn giả Gotama, có mời.

− Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?

− Tôn giả Gotama, có dạy:

− Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?

− Tôn giả Gotama, mở cửa.

− Này Ambattha, đến như vậy là sự đọa lạc tột cùng của người Sát-đế-lỵ, đã bị những người Sát-đế-lỵ cạo đầu, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, như vậy, này Ambattha, khi người Sát-đế-lỵ bị đọa lạc tột cùng, các Sát đế lỵ vẫn giữ phần ưu thắng và các Bà-la-môn vẫn ở địa vị hạ liệt.

28. - Này Ambattha, bài kệ này do Phạm thiên Sanam Kumàra thuyết:

“Ðối với chúng sanh tin tưởng ở giai cấp,
Sát-đế-lỵ chiếm địa vị tối thắng ở nhân gian.
Những vị nào giới hạnh và trí tuệ đầy đủ,
vị này chiếm địa vị tối thắng giữa Người và chư Thiên”.

Phần tụng đọc thứ nhất.

4. Trí tuệ và Đức hạnh

"Nhưng thưa Tôn giả Gotama, hạnh (conduct / cách hành xử, đức hạnh) đó là gì, và minh (knowledge / trí tuệ, sự hiểu biết sáng suốt) đó là gì?"340

"Này Ambaṭṭha, trong minh và hạnh tối thượng (supreme knowledge and conduct / trí tuệ và đức hạnh cao nhất) không có sự bàn luận về dòng dõi, gia tộc hay sự kiêu hãnh—341 ‘Ngươi xứng với ta’ hay ‘Ngươi không xứng với ta.’ Bất cứ nơi nào có việc cưới gả thì đều có sự bàn luận như vậy. Bất cứ ai chấp trước vào những vấn đề về dòng dõi, gia tộc hay sự kiêu hãnh, hoặc vào việc cưới gả, thì đều xa rời minh và hạnh tối thượng. Sự chứng ngộ minh và hạnh tối thượng xảy ra khi ngươi đã từ bỏ những điều đó."342

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, hạnh đó là gì, và minh đó là gì?”

"Này Ambaṭṭha, đó là khi một bậc Như Lai (Realized One / Tathāgata, bậc đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Phật) xuất hiện trên đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài tự mình chứng ngộ thế giới này—cùng với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, quần chúng này cùng với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người—và Ngài tuyên thuyết cho người khác biết. Ngài thuyết một giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn từ. Và Ngài khai thị một phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, trong sạch. Một vị cư sĩ (householder / người tại gia tu tập theo Phật pháp) nghe giáo pháp đó, hoặc con cái của một vị cư sĩ, hoặc người nào đó tái sinh trong một gia đình tốt. Họ phát sinh niềm tin nơi bậc Như Lai và suy ngẫm …343

Hoàn toàn ly dục (secluded from sensual pleasures / xa lìa các ham muốn của giác quan), ly bất thiện pháp (secluded from unskillful qualities / xa lìa các trạng thái tâm tiêu cực, bất lợi), họ nhập và trú trong sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất, trạng thái tâm định tĩnh kèm theo tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm) … Đây thuộc về hạnh của vị ấy.

Hơn nữa, khi có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó) được lắng dịu, một vị tỳ khưu nhập và trú trong nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai, không còn tầm và tứ, chỉ có hỷ, lạc, nhất tâm) … Đây thuộc về hạnh của vị ấy.

Hơn nữa, với sự phai nhạt của niềm vui, họ nhập và trú trong tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba, không còn hỷ, chỉ có lạc, xả, niệm, định) … Đây thuộc về hạnh của vị ấy.

Hơn nữa, xả an ổn và khổ, và diệt trừ hỷ và ưu đã có từ trước, họ nhập và trú trong tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư, chỉ còn xả và niệm thanh tịnh, định vững chắc) … Đây thuộc về hạnh của vị ấy. Đây chính là hạnh đó.

Khi tâm của vị ấy đã nhập vào định (concentration / samādhi / sự tập trung tâm ý vào một đối tượng, sự định tĩnh) như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các phiền não phụ, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và không lay động—vị ấy hướng tâm và suy nghĩ về trí tuệ và sự thấy biết. Đây thuộc về minh của vị ấy. … Vị ấy hiểu rõ: ‘Không còn gì phải làm thêm ở đây nữa.’ Đây thuộc về minh của vị ấy. Đây chính là minh đó.

Vị tỳ khưu này được gọi là ‘người thành tựu về minh’, và cũng là ‘người thành tựu về hạnh’, và cũng là ‘người thành tựu về minh và hạnh’. Và, này Ambaṭṭha, không có sự thành tựu nào về minh và hạnh cao hơn hay tốt đẹp hơn điều này.

Tụng Phẩm II

1. - Tôn giả Gotama, nghĩa chữ Giới hạnh trong bài kệ ấy là gì? Nghĩa chữ Tuệ trong bài kệ ấy là gì?

− Này Ambattha, một vị đã thành tựu vô thượng trí đức không có luận nghị đến sự thọ sanh, không có luận nghị đến giai cấp hay không có luận nghị đến ngã mạn với lời nói: “Ngươi bằng ta hay ngươi không bằng ta”. Chỗ nào nói đến cưới hỏi hay rước dâu đi, hay cả hai, chỗ đó mới có luận nghị đến sự thọ sanh, luận nghị đến giai cấp hay luận nghị đến ngã mạn với lời nói: “Ngươi bằng ta hay không bằng ta”.

Này Ambattha, những ai còn chấp trước lý thuyết thọ sanh, còn chấp trước lý thuyết giai cấp, còn chấp trước lý thuyết kiêu mạn, hoặc còn chấp trước cưới hỏi rước dâu, những người ấy còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức. Này Ambattha, không chấp trước lý thuyết thọ sanh, không chấp trước lý thuyết giai cấp, không chấp trước lý thuyết kiêu mạn, không chấp trước cưới hỏi, đưa dâu, người ấy tức chứng ngộ vô thượng trí đức.

2. - Tôn giả Gotama, thế nào là Giới đức trong bài kệ ấy? Thế nào là Trí tuệ trong bài kệ ấy?

− Ở đây, này Ambattha, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc:

… (xin xem kinh “Sa-môn quả” - kinh số 2, từ đoạn số 40 đến số 98, tới câu: “Không có đời sống nào khác nữa” chỉ khác danh từ xưng hô và câu kết từng đoạn. Như đoạn này, câu kết là “Như vậy, này Ambattha, là vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh”.)

Này Ambattha, như vậy gọi là Tỷ-kheo thành tựu trí tuệ, thành tựu giới đức, thành tựu giới đức và trí tuệ. Này Ambattha, không có sự thành tựu trí đức nào khác siêu việt hơn, cao thượng hơn sự thành tựu trí đức này.

5. Bốn Nguyên Nhân Từ Bỏ

Có bốn nguyên nhân này khiến người ta từ bỏ minh và hạnh tối thượng này.344 Bốn nguyên nhân nào? Thứ nhất, hãy xem một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, không đạt được minh và hạnh tối thượng này, đã đi vào vùng hoang dã mang theo đồ đạc bằng đòn gánh, nghĩ rằng mình sẽ sống bằng cách lượm trái cây rụng.345 Thực ra, họ chỉ trở thành người phục vụ cho một người đã thành tựu minh và hạnh.346 Đây là nguyên nhân thứ nhất của việc từ bỏ minh và hạnh tối thượng này.

Hơn nữa, hãy xem một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, không đạt được minh và hạnh tối thượng này hoặc không sống bằng cách lượm trái cây rụng, đã đi vào vùng hoang dã mang theo cuốc và giỏ, nghĩ rằng mình sẽ sống bằng cách đào củ và hái trái.347 Thực ra, họ chỉ trở thành người phục vụ cho một người đã thành tựu minh và hạnh. Đây là nguyên nhân thứ hai của việc từ bỏ minh và hạnh tối thượng này.

Hơn nữa, hãy xem một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, không đạt được minh và hạnh tối thượng này, hoặc không sống bằng cách lượm trái cây rụng, hoặc không sống bằng cách đào củ và hái trái, đã dựng một nhà lửa ở gần làng hay thị trấn và ở đó thờ lửa thiêng. Thực ra, họ chỉ trở thành người phục vụ cho một người đã thành tựu minh và hạnh. Đây là nguyên nhân thứ ba của việc từ bỏ minh và hạnh tối thượng này.

Hơn nữa, hãy xem một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, không đạt được minh và hạnh tối thượng này, hoặc không sống bằng cách lượm trái cây rụng, hoặc không sống bằng cách đào củ và hái trái, hoặc không thờ lửa thiêng, đã dựng một nhà lửa bốn cửa ở ngã tư đường và ở đó, nghĩ rằng: ‘Khi một Sa-môn hay Bà-la-môn từ bốn phương đến, ta sẽ tôn kính họ hết mức có thể.’ Thực ra, họ chỉ trở thành người phục vụ cho một người đã thành tựu minh và hạnh. Đây là nguyên nhân thứ tư của việc từ bỏ minh và hạnh tối thượng này. Đây là bốn nguyên nhân của việc từ bỏ minh và hạnh tối thượng này.

Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Minh và hạnh tối thượng này có được thấy trong truyền thống của các ông không?"348

“Không, thưa Tôn giả Gotama. Tôi và truyền thống của tôi làm sao sánh được với minh và hạnh tối thượng? Chúng tôi còn xa vời lắm.”

“Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Vì các ông không đạt được minh và hạnh tối thượng này, liệu các ông cùng truyền thống của mình có đi vào vùng hoang dã mang theo đồ đạc bằng đòn gánh, nghĩ rằng sẽ sống bằng cách lượm trái cây rụng không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

“Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Liệu các ông cùng truyền thống của mình… có đi vào vùng hoang dã mang theo cuốc và giỏ, nghĩ rằng sẽ sống bằng cách đào củ và hái trái không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

“Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Liệu các ông cùng truyền thống của mình… có dựng một nhà lửa ở gần làng hay thị trấn và ở đó thờ lửa thiêng không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

“Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Liệu các ông cùng truyền thống của mình… có dựng một nhà lửa bốn cửa ở ngã tư đường và ở đó, nghĩ rằng: ‘Khi một Sa-môn hay Bà-la-môn từ bốn phương đến, ta sẽ tôn kính họ hết mức có thể’ không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

"Vậy là các ông cùng truyền thống của mình không chỉ thua kém minh và hạnh tối thượng, mà thậm chí còn thua kém cả bốn nguyên nhân từ bỏ minh và hạnh tối thượng. Nhưng thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasāti, đã nói với ngươi rằng: ‘Những kẻ đầu trọc, Sa-môn giả hiệu, hạ tiện, con cháu đen đúa sinh từ chân của bà con chúng ta này làm sao sánh được với việc nói chuyện với các vị Bà-la-môn Tam Minh (ba loại trí tuệ đặc biệt của Bà-la-môn)?’ Tuy nhiên, chính ông ta cũng chưa hoàn thành được một trong những sự từ bỏ đó! Thấy chưa, Ambaṭṭha, thầy của ngươi Pokkharasāti đã sai lầm với ngươi như thế nào.

3. Này Ambattha, có bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này. Thế nào là bốn? Này Ambattha, ở đấy có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, lại mang dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống”. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ nhất đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Lại nữa, này Ambattha ở đây có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, và chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, lại mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta chỉ ăn củ, rễ và trái cây để sống”. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ hai đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Lại nữa, này Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây để sống và chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, lại nhen lửa tại cuối làng hay sống thờ lửa ấy. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha đó là nguyên nhân thứ ba đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này. Lại nữa Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt được pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, chưa thấu đạt pháp tôn thờ lửa, lại xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngã tư đường, sống và nguyện: “Từ bốn phương nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại, thì ta sẽ cúng dường, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta”. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ tư đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Này Ambattha đó là bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

4. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi và thầy ngươi có được xem là đã thành tựu vô thượng trí đức này không? - Bạch không, Tôn giả Gotama. Con và thầy con là gì, Tôn giả Gotama, để có thể so sánh với sự thành tựu vô thượng trí đức. Tôn giả Gotama, con và thầy con còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức.

− Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, nhà ngươi có đem theo dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta và thầy ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống?”

− Bạch không, Tôn giả Gotama.

− Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, ngươi có mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta và thầy ta chỉ ăn rễ và trái cây để sống không?”

− Bạch không, Tôn giả Gotama.

− Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, ngươi có nhen lửa tại cuối làng hay cuối xóm và sống thờ lửa ấy với thầy ngươi không?”

− Bạch không, Tôn giả Gotama.

− Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống và chưa thấu đạt sự thờ lửa, ngươi và thầy ngươi có xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngã tư đường với lời nguyện: “Từ bốn phương, nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại - thì ta sẽ cúng dường tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta không?”

− Bạch không, Tôn giả Gotama.

− Này Ambattha, như vậy ngươi và thầy ngươi còn khiếm khuyết sự thành tựu vô thượng trí đức này, còn khiếm khuyết bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này, Ambattha, thế mà những lời này lại do thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi thốt ra: “Những hạng Sa-môn giả hiệu, đầu trọc, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân bà con ta là ai mà có thể đàm luận với những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vệ đà”. Một vị tự mình chưa thành tựu được những pháp đưa đến sự thất bại (cho những pháp cao thượng hơn). Này Ambattha, ngươi xem, thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đã lỗi lầm như thế nào?

6. Giống như các bậc Thánh hiền xưa

Pokkharasāti sống nhờ lộc ấp do vua Pasenadi xứ Kosala ban tặng. Nhưng nhà vua thậm chí còn không cho ông ta diện kiến trực tiếp. Khi ông ta tham vấn, ông ta làm vậy sau một bức màn.349 Tại sao nhà vua lại không cho một người được nhận sự cúng dường thực phẩm hợp pháp của mình được diện kiến trực tiếp? Thấy chưa, Ambaṭṭha, thầy của ngươi Pokkharasāti đã sai lầm với ngươi như thế nào.

Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Giả sử vua Pasenadi đang hội ý với các tướng lĩnh hay tù trưởng khi đang ngồi trên cổ voi hay trên lưng ngựa, hoặc khi đang đứng trên thảm trên xe ngựa.350 Và giả sử vua xuống khỏi chỗ đó và đứng sang một bên. Rồi một người làm công hay nô bộc của họ đến, đứng vào cùng chỗ đó và tiếp tục cuộc hội ý: ‘Đây là điều vua Pasenadi nói, và đây cũng là điều vua nói.’ Mặc dù người đó nói lời của vua và đưa ra lời khuyên của vua,351 điều đó có đủ tư cách để người đó trở thành vua hay quan đại thần của vua không?"

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

"Cũng vậy, Ambaṭṭha, các vị tiên nhân cổ xưa (ancient seers / những nhà hiền triết, đạo sĩ thời xưa) của Bà-la-môn là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu. Họ là những người sáng tác và truyền bá các thánh ca. Tập thánh ca của họ đã được hát, truyền bá và biên soạn từ thời cổ đại; và ngày nay, các vị Bà-la-môn vẫn tiếp tục hát và tụng nó, tụng những gì đã được tụng và dạy những gì đã được dạy.352 Ngươi có thể tưởng tượng rằng, vì ngươi đã học thuộc lòng các thánh ca của họ trong truyền thống của mình, điều đó khiến ngươi trở thành một vị tiên nhân hay một người đang trên con đường trở thành một vị tiên nhân. Nhưng điều đó là không thể.

Ngươi nghĩ sao, Ambaṭṭha? Theo những gì ngươi đã nghe từ các vị Bà-la-môn lớn tuổi, bậc thầy của các thầy, liệu những vị tiên nhân Bà-la-môn cổ xưa đó—tắm gội sạch sẽ và xức dầu thơm, tóc râu chải chuốt, trang điểm bằng châu báu, hoa tai và vòng tay, mặc y phục trắng—có hưởng thụ năm thứ dục lạc (five kinds of sensual stimulation / năm loại kích thích giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc), được cung phụng đầy đủ, giống như các ông ngày nay trong truyền thống của mình không?"

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

“Họ có ăn cơm gạo ngon nấu chín, với thịt sạch được trang trí, đã nhặt bỏ hạt đen, dùng với nhiều loại canh và nước sốt, giống như các ông ngày nay trong truyền thống của mình không?”

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

"Họ có vui đùa với những cô gái mặc yếm khoe đường cong, giống như các ông ngày nay trong truyền thống của mình không?"353

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

"Họ có đi lại bằng xe ngựa do ngựa cái bờm thắt bím kéo, dùng roi dài quất ngựa thúc đi, giống như các ông ngày nay trong truyền thống của mình không?"354

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

"Họ có để những người đàn ông mang gươm dài canh gác trong các pháo đài có hào sâu và rào chắn, giống như các ông ngày nay trong truyền thống của mình không?"355

“Không, thưa Tôn giả Gotama.”

"Vậy, Ambaṭṭha, trong truyền thống của chính ngươi, ngươi không phải là tiên nhân cũng không phải là người đang trên con đường trở thành tiên nhân. Bất cứ ai có bất kỳ nghi ngờ hay phân vân nào về Ta, hãy hỏi Ta và Ta sẽ giải tỏa những nghi ngờ của họ bằng câu trả lời của Ta."356

6. Này Ambattha, Bà-la-môn Pokkharasàdi hưởng thọ sự cung cấp của vua Pasenadi nước Kosala. Vua Pasenadi nước Kosala cũng không cho phép thầy ngươi diện kiến. Nếu vua hội nghị với thầy ngươi thời chỉ nói thầy ngươi ngang qua một tấm màn. Này Ambattha, tại sao vua Pasenadi nước Kosala lại không cho phép thầy ngươi diện kiến, người mà vua cung cấp thực phẩm thuần tịnh chân chánh. Này Ambattha, ngươi xem thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đã lỗi lầm như thế nào?

7. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Như vua Pasenadi nước Kosala hoặc ngồi trên cổ voi, hoặc ngồi trên lưng ngựa, hoặc đứng trên lưng ngựa, hoặc đứng trên tấm thảm xe cùng các vị đại thần hay vương tử, luận bàn quốc sự. Nếu vua rời khỏi chỗ ấy hay đứng qua bên, một người Thủ đà hay đầy tớ của một người Thủ đà đến. Người này cũng đứng tại chỗ ấy, cũng luận bàn quốc sự và nói: “Vua Pasenadi nước Kosala đã nói như vậy”. Dầu người ấy nói như lời nói của vua, luận bàn như lời luận bàn của vua, người ấy có thể là vua hay là bị phó vương không?

− Không thể được, Tôn giả Gotama.

8. - Này Ambattha, nhà ngươi cũng vậy. Thuở xưa, những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm, những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka (A sá ca), Vàmaka (Bà-ma), Vàmadeva (Bà-ma -đề-bà), Vessàmitta (Tì-bà-thẩm-sá), Yamataggi (Gia-bà -đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-la). Bhàradvàja (Bạt-la-đà thẩm-xà), Vàsettha (Bà-masá) Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cửu). Dầu ngươi có thể nói “Ta, một đệ tử, học thuộc lòng những chú thuật của các vị ấy”, chỉ với điều kiện này, ngươi có thể được xem là một vị ẩn sĩ hay đã chứng địa vị của một ẩn sĩ không? Việc này không thể có được.

9. Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có được nghe những vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, những vị giáo sư và tổ sư nói đến không? thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả của chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn, cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu. Những vị ấy có khéo tắm, khéo chải chuốt, tóc và râu khéo sửa soạn, trang điểm với vòng hoa và ngọc, mặc toàn đồ trắng, tận hưởng và tham đắm năm món dục lạc, như người và thầy của ngươi hiên nay không?

− Không có vậy. Tôn giả Gotama.

10. - Các vị ẩn sĩ ấy có dùng cơm nấu từ gạo trắng thượng hạng mà các hạt đen được gạn bỏ ra, dùng các món canh, các món đồ ăn nhiều loại không, như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

− Không có vậy, Tôn giả Gotama.

− Hay các vị ấy được những thiếu nữ có đường eo và thắt lưng có tua hầu hạ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

− Không có vậy, Tôn giả Gotama.

− Hay những vị ấy đi trên những xe do những con ngựa cái có bờm, đuôi được bện và dùng những cây roi và gậy dài như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

− Không có vậy, Tôn giả Gotama.

− Hay những vị ấy sống được che chở trong những thành lũy có những chiến hào bao bọc, có những cửa thành hạ xuống, có những chiến sĩ mang gươm dài hộ vệ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không? − Không có vậy, Tôn giả Gotama.

− Như vậy, này Ambattha, ngươi và thầy ngươi không phải là một ẩn sĩ, không giống đời sống của nhà ẩn sĩ. Này Ambattha, nếu có gì nghi ngờ, có gì phân vân về Ta, hãy hỏi Ta và Ta sẽ trả lời.

7. Thấy được hai tướng

Bấy giờ Đức Phật ra khỏi cốc của Ngài và bắt đầu kinh hành,357 Ambaṭṭha cũng làm như vậy. Rồi trong khi đi bên cạnh Đức Phật, Ambaṭṭha quan sát kỹ thân thể của Ngài để tìm ba mươi hai tướng của bậc đại nhân.358 Anh ta thấy tất cả các tướng trừ hai tướng mà anh ta còn nghi ngờ: liệu mã âm tàng (private parts are covered in a foreskin / bộ phận sinh dục nam được bao bọc trong da) và lưỡi rộng dài (largeness of the tongue / lưỡi lớn và dài, có thể chạm đến tai và trán).

Bấy giờ Đức Phật khởi ý nghĩ: “Học trò Ambaṭṭha này thấy tất cả các tướng trừ hai tướng mà anh ta còn nghi ngờ: liệu mã âm tàng và lưỡi rộng dài.” Rồi Đức Phật dùng thần lực (psychic power / năng lực siêu nhiên) của Ngài để khiến Ambaṭṭha thấy được mã âm tàng của Ngài.359 Và Ngài thè lưỡi ra liếm qua lại hai lỗ tai và hai lỗ mũi, và che kín cả vầng trán bằng lưỡi.

Bấy giờ Ambaṭṭha nghĩ: “Sa-môn Gotama sở hữu đầy đủ ba mươi hai tướng, không thiếu một tướng nào.”

Anh ta nói với Đức Phật: “Thưa ngài, bây giờ tôi phải đi. Tôi có nhiều việc phải làm.”

“Này Ambaṭṭha, ngươi hãy đi khi nào thấy thuận tiện.” Rồi Ambaṭṭha lên cỗ xe do ngựa cái kéo và rời đi.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti đã từ Ukkaṭṭhā ra đi cùng với một nhóm đông các vị Bà-la-môn và đang ngồi trong khu vườn của mình chỉ để đợi Ambaṭṭha. Rồi Ambaṭṭha vào khu vườn. Anh ta đi xe ngựa đến hết đoạn đường có thể đi, rồi xuống xe và đi bộ đến gặp Bà-la-môn Pokkharasāti. Anh ta cúi đầu và ngồi xuống một bên, và Pokkharasāti nói với anh ta:

“Này Ambaṭṭha thân mến, ta hy vọng con đã gặp Tôn giả Gotama?”

“Thưa ngài, con đã gặp.”

“Vậy, ngài ấy có đúng với danh tiếng của mình hay không?”

“Thưa ngài, có. Tôn giả Gotama sở hữu đầy đủ ba mươi hai tướng, không thiếu một tướng nào.”

“Và con có thảo luận gì với ngài ấy không?”

“Thưa có.”

“Và con đã thảo luận những gì với ngài ấy?” Rồi Ambaṭṭha kể lại cho Pokkharasāti tất cả những gì họ đã thảo luận.

Bấy giờ Pokkharasāti nói với Ambaṭṭha: "Ôi, thằng học giả giả danh chết tiệt của chúng ta, thằng học giả rởm, kẻ giả vờ thông thạo Tam Vệ-đà! Một kẻ hành xử như thế này, sau khi thân hoại mạng chung (when their body breaks up, after death / sau khi chết), đáng lẽ phải tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (place of loss, a bad place, the underworld, hell / những nơi tái sinh khổ đau sau khi chết).360 Chỉ vì ngươi liên tục công kích Tôn giả Gotama như vậy mà ngài ấy cứ liên tục đưa ra những lời buộc tội chống lại chúng ta!"361 Tức giận và khó chịu, ông ta đá Ambaṭṭha ngã nhào,362 và muốn đi gặp Đức Phật ngay lập tức.

11. Lúc bấy giờ, Thế Tôn ra khỏi tịnh xá và bắt đầu đi kinh hành. Thanh niên Ambattha đi theo sau Thế Tôn đang đi kinh hành và tìm đếm ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.

12. Khi bấy giờ, Thế Tôn nghĩ rằng: “Thanh niên Ambattha này thấy ở nơi ta gần đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”.

Thế Tôn liền dùng thần thông khiến thanh niên Ambattha thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán. Lúc bấy giờ, thanh niên Ambattha liền nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, không phải không đầy đủ”. Và nói với Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, nay chúng tôi xin đi, chúng tôi rất bận, có nhiều việc cần phải làm”.

− Này Ambattha, hãy làm những gì ngươi nghĩ là phải thời.

Rồi thanh niên Ambattha leo lên xe do ngựa cái kéo và ra đi.

13. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi ra khỏi Ukkattha với một đại chúng Bà-la-môn, ngồi tại hoa viên của mình và chờ đợi thanh niên Ambattha. Khi thanh niên Ambattha đi đến hoa viên, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi. Ðến xong, thanh niên Ambattha đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi và ngồi xuống một bên. Sau khi thanh niên Ambattha ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói:

14. - Này Ambattha thân mến, ngươi đã thấy Sa-môn Gotama chưa?

− Chúng con thấy Tôn giả Gotama rồi.

− Này Ambattha thân mến, có phải Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đã truyền đi, chớ không phải khác?

− Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đã truyền đi, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama là như vậy, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, chớ không phải thiếu.

− Này Ambattha thân mến, con có cùng với Tôn giả Gotama đàm luận không?

− Con có đàm luận với Tôn giả Gotama.

− Này Ambattha thân mến, cuộc đàm luận ấy như thế nào?

Thanh niên Ambattha liền thuật cho Bà-la-môn Pokkharasàdi rõ tất cả cuộc hội đàm với Tôn giả Gotama.

15. Nghe nói như vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với thanh niên Ambattha:

− Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta. Người ta nói những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác, đọa xứ, địa ngục. Này Ambattha, ngươi càng công kích Tôn giả Gotama bao nhiêu, lại càng bị Tôn giả Gotama lật tẩy chúng ta bấy nhiêu. Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta! Người ta nói, những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác, đọa xứ, địa ngục.

Bà-la-môn Pokkharasàdi tức giận, bực bội, dùng chân đá thanh niên Ambattha bổ lộn nhào rồi lập tức muốn đi gặp đến Thế Tôn.

8. Pokkharasāti đến thăm Đức Phật

Bấy giờ các vị Bà-la-môn kia nói với Pokkharasāti: "Hôm nay đã quá muộn để đến thăm Sa-môn Gotama. Ngài có thể đến thăm vào ngày mai."363

Vậy là Pokkharasāti cho chuẩn bị các món ăn ngon, tươi và nấu chín tại nhà mình. Rồi ông lên xe ngựa, cùng với những người hầu cầm đuốc, từ Ukkaṭṭhā lên đường đến khu rừng gần Icchānaṅgala.364 Ông đi xe ngựa đến hết đoạn đường có thể đi, rồi xuống xe và đi bộ vào tịnh xá. Ông đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và chuyện trò thân mật xong, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật: “Tôn giả Gotama, có phải đệ tử nội trú của tôi, học trò Ambaṭṭha, đã đến đây không?”

“Thưa Bà-la-môn, anh ta đã đến.”

“Và ngài có thảo luận gì với anh ta không?”

“Có.”

"Và ngài đã thảo luận những gì với anh ta?"365 Rồi Đức Phật kể lại cho Pokkharasāti tất cả những gì họ đã thảo luận.

Bấy giờ Pokkharasāti nói với Đức Phật: "Ambaṭṭha là một kẻ ngu dốt, thưa Tôn giả Gotama. Xin Tôn giả hãy tha thứ cho nó."366

"Mong cho học trò Ambaṭṭha được an vui, này Bà-la-môn."367

Rồi Pokkharasāti quan sát kỹ thân thể của Đức Phật để tìm ba mươi hai tướng của bậc đại nhân. Ông thấy tất cả các tướng trừ hai tướng mà ông còn nghi ngờ: liệu mã âm tàng và lưỡi rộng dài.

Bấy giờ Đức Phật khởi ý nghĩ: “Pokkharasāti thấy tất cả các tướng trừ hai tướng mà ông còn nghi ngờ: liệu mã âm tàng và lưỡi rộng dài.” Rồi Đức Phật dùng thần lực của Ngài để khiến Pokkharasāti thấy được mã âm tàng của Ngài. Và Ngài thè lưỡi ra liếm qua lại hai lỗ tai và hai lỗ mũi, và che kín cả vầng trán bằng lưỡi.

Pokkharasāti nghĩ: “Sa-môn Gotama sở hữu đầy đủ ba mươi hai tướng, không thiếu một tướng nào.”

Ông nói với Đức Phật: “Xin Tôn giả Gotama cùng Tăng đoàn tỳ khưu nhận lời mời dùng bữa hôm nay của tôi được không?” Đức Phật im lặng nhận lời (consented with silence / sự đồng ý bằng cách không nói gì, một cách chấp nhận trong Phật giáo).

Rồi, biết Đức Phật đã nhận lời, Pokkharasāti báo giờ với Ngài: “Đã đến giờ, thưa Tôn giả Gotama, bữa ăn đã sẵn sàng.” Bấy giờ, vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang theo y bát, cùng Tăng đoàn tỳ khưu đến nhà của Pokkharasāti, và ngồi vào chỗ ngồi đã dọn sẵn.368 Rồi Pokkharasāti tự tay dâng cúng và làm cho Đức Phật hài lòng bằng những món ăn ngon, tươi và nấu chín, trong khi các thanh niên học trò của ông phục vụ Tăng đoàn. Khi Đức Phật đã dùng bữa xong và rửa tay và bát, Pokkharasāti lấy một chiếc ghế thấp và ngồi xuống một bên.

Bấy giờ Đức Phật thuyết pháp tuần tự (taught him step by step / giảng dạy theo trình tự từ thấp đến cao), với bài pháp về bố thí, giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), và các cõi trời. Ngài giải thích sự nguy hại của các dục lạc (drawbacks of sensual pleasures / những tác hại của việc ham muốn các thú vui giác quan), sự thấp kém và ô nhiễm của chúng, và lợi ích của sự xuất ly (benefit of renunciation / những điều tốt đẹp của việc từ bỏ, thoát khỏi ràng buộc).369 Và khi Đức Phật biết tâm của Pokkharasāti đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn triền cái (hindrances / năm pháp cản trở tâm định: tham dục, sân hận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, nghi ngờ), hân hoan và có niềm tin, Ngài đã giải thích pháp yếu đặc biệt của chư Phật: khổ, tập, diệt, đạo (Four Noble Truths / Tứ Diệu Đế: sự thật về khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến chấm dứt khổ).370 Giống như tấm vải sạch không còn vết bẩn dễ dàng thấm thuốc nhuộm, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn thanh tịnh, không tỳ vết (stainless, immaculate vision of the Dhamma / con mắt trí tuệ thấy rõ giáo pháp một cách trong sạch, không còn ô nhiễm) đã khởi lên trong Bà-la-môn Pokkharasāti:371 "Phàm cái gì có sanh khởi, cái đó đều có đoạn diệt."372 (Pháp (Dhamma / Giáo pháp của Đức Phật, chân lý))

9. Pokkharasāti Tuyên Bố Mình Là Cư Sĩ

Bấy giờ Pokkharasāti thấy Pháp, đạt đến Pháp, hiểu rõ Pháp, và thâm nhập Pháp. Ông vượt qua mọi nghi ngờ, thoát khỏi sự do dự, và trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư (Teacher / một danh xưng tôn kính dành cho Đức Phật). Ông nói với Đức Phật: "Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay! Như người dựng lại cái bị lật đổ, hay phơi bày cái bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Tôn giả Gotama cũng đã làm cho Giáo Pháp trở nên rõ ràng bằng nhiều cách như vậy. Cùng với con cái, vợ, đoàn tùy tùng và các quan đại thần của tôi, tôi xin quy y (go for refuge / nương tựa vào Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng) Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn tỳ khưu. Từ hôm nay trở đi, xin Tôn giả Gotama hãy ghi nhớ tôi là một upasaka (lay follower / nam cận sự, người tại gia theo Phật) đã quy y trọn đời.

Cũng như Tôn giả Gotama đến thăm các gia đình tín tâm khác ở Ukkaṭṭhā, xin Ngài hãy đến thăm gia đình tôi.373 Các chàng trai và cô gái Bà-la-môn ở đó sẽ đảnh lễ ngài, đứng dậy khi ngài đến, dâng ghế và nước, và phát sinh niềm tin trong tâm. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ."374

"Thật tốt khi ông nói vậy, này gia chủ."375

16. Khi ấy, những người Bà-la-môn này thưa với Bà-la-môn Pokkharasàdi: “Hôm nay thì giờ đã quá trễ để đi thăm Sa-môn Gotama. Ngày mai Tôn giả Pokkharasàdi hãy đi thăm Sa-môn Gotama”.

Tuy vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi vẫn cho làm các món ăn thượng vị, loại cứng loại mềm tại nhà riêng, chở trên các xe, và dưới ánh sáng của những ngọn đuốc từ Ukkattha đi ra và đi đến khóm rừng Icchànankala. Vị này đi xe cho đến chỗ còn đi xe được rồi xuống xe đi bộ đến Thế Tôn. Khi đi đến, liền nói với Thế Tôn những lời hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với Thế Tôn:

17. - Tôn giả Gotama, đệ tử của chúng tôi, thanh niên Ambattha có đến đây không?

− Này Bà-la-môn, đệ tử ngươi, thanh niên Ambattha có đến đây.

− Tôn giả Gotama, Ngài có cùng với thanh niên Ambattha đàm luận không?

− Này Bà-la-môn, ta có đàm luận với thanh niên Ambattha.

− Tôn giả Gotama, cuộc đàm luận của Ngài với thanh niên Ambattha như thế nào?

Cuộc đàm luận với thanh niên Ambattha như thế nào, Thế Tôn kể lại tất cả cho Bà-la-môn Pokkharasàdi.

Nghe nói vậy, Bà-la-môn nói với Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, thanh niên Ambattha thật là ngu si! Tôn giả Gotama, hãy tha thứ cho thanh niên Ambattha!

− Này Bà-la-môn, cầu cho thanh niên Ambattha được hạnh phúc.

18. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi tìm đếm ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn. Bà-la-môn thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, hai tướng là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.

19. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: rằng: “Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân ở nơi Ta, trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”. Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi nghĩ rằng: “Sa môn Gotama có đầy ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, không phải không đầy đủ”, liền nói với Thế Tôn: “Hôm nay xin mời Tôn giả Gotama cùng chúng Tỷ-kheo đến dùng cơm với con. Thế Tôn nhận lời với sự im lặng.

20. Khi Bà-la-môn Pokkharasàdi được biết Thế Tôn đã nhân lời liền báo thì giờ cho Thế Tôn: Tôn giả Gotama, cơm đã sẵn sàng. Khi ấy Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn Pokkharasàdi. Khi đi đến, liền ngồi trên chỗ soạn sẵn. Bà-la-môn Pokkharasàdi tự tay làm cho Thế Tôn thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, còn các thanh niên Bà-la-môn thì tiếp đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi, sau khi biết Thế Tôn dùng cơm đã xong, đã rửa tay và bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên.

21. Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi một bên nghe, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Pokkharasàdi đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Pokkharasàdi: “Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt”.

22. Khi ấy Bà-la-môn Pokkharasàdi, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Pokkharasàdi liền bạch Phật:

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Tôn giả Gotama, con, con của con, vợ của con, tùy tùng của con, bạn hữu của con, xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Như Tôn giả Gotama đến thăm các gia đình cư sĩ khác ở Ukkattha, mong Tôn giả Gotama cũng đến thăm các gia đình Pokkharasàdi. Tại đây, các thanh nam hay thanh nữ Bà-la-môn sẽ đảnh lễ Thế Tôn Gotama, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi, hoặc mời nước, hoặc khiến tâm hoan hỷ. Như vậy chúng sẽ hưởng hạnh phúc, lợi ích trong một thời gian lâu dài.

− Này Bà-la-môn lời ngươi nói thật là chí thiện.

-ooOoo-