Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 6. Kinh Mahāli

Mahālisutta

1. Về các Sứ giả Bà-la-môn

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính) trú gần Vesālī, tại Đại Lâm (Rừng Lớn), trong ngôi nhà có mái nhọn.451 Khi ấy, có nhiều sứ giả bà-la-môn (brahmins / giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ) từ Kosala và Magadha đang ở Vesālī vì một vài công việc.452 Họ nghe rằng:

“Hình như sa-môn (ascetics / những người tu hành khổ hạnh, từ bỏ đời sống thế tục) Gotama—một người dòng Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya—đang trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có mái nhọn.453 Ngài có tiếng tốt đồn xa như vầy: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán (perfected / người đã hoàn thiện, đạt đến sự giải thoát hoàn toàn), Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / người đã đi qua một cách tốt đẹp, bậc thiện lành), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc thầy cao cả nhất hướng dẫn những người muốn tu tập), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn.’ Ngài đã tự mình chứng ngộ thế giới này—với các vị trời, Ma-la (Māras / các thế lực ma quỷ, những trở ngại cho sự tu tập), và chư thiên (divinities / các vị trời), dân chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, trời và người—và Ngài làm cho người khác biết đến. Ngài thuyết giảng một giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn từ rõ ràng. Và Ngài trình bày một phạm hạnh (spiritual practice / đời sống tu tập thanh tịnh) hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Thật tốt lành khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy.”

Rồi họ đến ngôi nhà có mái nhọn trong Đại Lâm để yết kiến Đức Phật.

Lúc bấy giờ, Tôn giả (Venerable / bậc đáng kính, dùng cho các vị Tỳ kheo) Nāgita là thị giả của Đức Phật. Các sứ giả bà-la-môn đến gặp Tôn giả và nói: “Thưa ngài Nāgita, hiện nay ngài Gotama ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến ngài.”

"Không phải lúc để yết kiến Đức Phật; Ngài đang nhập thất (retreat / lui về một nơi yên tĩnh để chuyên tâm tu tập)."454

Thế là ngay tại đó, các sứ giả bà-la-môn ngồi xuống một bên, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ chỉ đi sau khi đã được yết kiến ngài Gotama.”

6. KINH MAHÀLI

(Mahàli Sutta)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly) ở giảng đường Trùng Các, rừng Ðại Lâm. Lúc bấy giờ, một số đông sứ giả Bà-la-môn nước Kosala (Câu-tất-la) và nước Magadha (Makiệt-đà), đang ở tại Vesali vì một vài công việc. Những vị sứ giả ấy được nghe như sau: “Này các Tôn giả, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca hiện nay đang trú tại Vesali, ở giảng đường Trùng Các, rừng Ðại Lâm. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh”. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý”.

2. Những vị sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và ở Magadha ấy đi đến giảng đường tại rừng Ðại Lâm. Lúc bấy giờ, đại đức Nàgita là thị giả đức Thế Tôn. Những vị sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và ở Magadha ấy đi đến chỗ đại đức Nàgita ở và thưa:

− Tôn giả Nàgita, hiện nay Tôn giả Gotama ở tại đâu, chúng tôi muốn yết kiến Tôn giả Gotama.

− Các Hiền giả, nay không phải thời yết kiến đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn đang chỉ tịnh. Những sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha liền ngồi xuống tại một bên và nói: “Sau khi được yết kiến Tôn giả Gotama, chúng tôi mới đi”.

2. Về Oṭṭhaddha người Licchavi

Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với một hội chúng Licchavi đông đảo cũng đến gặp Tôn giả Nāgita tại ngôi nhà có mái nhọn. Ông đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Tôn giả Nāgita,455 “Thưa ngài Nāgita, hiện nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Ngài.”

“Không phải lúc để yết kiến Đức Phật; Ngài đang nhập thất.”

Thế là ngay tại đó, Oṭṭhaddha cũng ngồi xuống một bên, nghĩ rằng: “Tôi sẽ chỉ đi sau khi đã được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.”

Rồi sa-di (novice / người mới xuất gia, đang trong giai đoạn tập sự) Sīha đến gặp Tôn giả Nāgita. Vị ấy đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Tôn giả Nāgita,456 "Thưa Tôn giả Kassapa, những sứ giả bà-la-môn từ Kosala và Magadha này, cùng với Oṭṭhaddha người Licchavi và một hội chúng Licchavi đông đảo, đã đến đây để yết kiến Đức Phật. Thật tốt nếu những người này được yết kiến Đức Phật."457

"Vậy thì, Sīha, con hãy tự mình bạch với Đức Phật."458

“Vâng, thưa Tôn giả,” Sīha đáp. Vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và bạch với Ngài về những người đang chờ yết kiến, rồi nói thêm: “Bạch Thế Tôn, thật tốt nếu những người này được yết kiến Đức Phật.”

“Vậy thì, Sīha, con hãy trải một chỗ ngồi trong bóng mát của tịnh xá.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Sīha đáp, và vị ấy đã làm như vậy.

Rồi Đức Phật đi ra khỏi tịnh xá và ngồi trong bóng mát của tịnh xá trên chỗ ngồi đã được trải sẵn.459 Sau đó, các sứ giả bà-la-môn đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.460 Sau khi chào hỏi và chuyện trò xã giao xong, họ ngồi xuống một bên.

Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với một hội chúng Licchavi đông đảo cũng đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Oṭṭhaddha bạch với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, vài ngày trước, Sunakkhatta người Licchavi đến gặp con và nói:461 ‘Mahāli, chẳng bao lâu nữa là tôi đã sống nương tựa vào Đức Phật được ba năm. Tôi thấy được những cảnh sắc chư thiên khả ái, thuộc về dục lạc, và kích thích, nhưng tôi không nghe được những âm thanh chư thiên khả ái, thuộc về dục lạc, và kích thích.’462 Những âm thanh chư thiên mà Sunakkhatta không nghe được: những âm thanh như vậy có thật sự tồn tại hay không?”

3. Otthadda (Môi thỏ) người Licchavi cùng với một số đông dân chúng Licchavi cũng đi đến Trùng Các giảng đường, rừng Ðại Lâm gặp đại đức Nàgita, đảnh lễ vị này rồi đứng một bên. Otthadda người Licchavi thưa với đại đức Nàgita:

− Hiện nay đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở tại đâu, chúng con muốn yết kiến đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

− Màhàli, nay không phải thời yết kiến đức Thế Tôn, Ðức Thế Tôn đang chỉ tịnh.

Otthadda người Licchavi liền ngồi xuống một bên tại chỗ ấy và nói:

− Sau khi được yết kiến đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác con mới đi.

4. Khi ấy Sa-di Sìha đến đại đức Nàgita, đảnh lễ đại đức và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Sa-di Sìha nói với đại đức Nàgita:

− Bạch Ðại đức Kassapa (Ca-diếp) một số đông sứ giả Bà-La-môn ở Kosala và Magadha đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn; Otthada người Licchavi cũng đến đây với số đông dân chúng Licchavi để yết kiến đức Thế Tôn. Ðại đức Kassapa, lành thay, nếu những vị này được yết kiến đức Thế Tôn.

− Vậy Sìha hãy thưa với đức Thế Tôn.

− Thưa vâng, bạch Ðại đức!

Sa-di Sìha vâng theo lời dạy của đại đức Nàgita, đến tại chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên. Sa-di Sìha sau khi đứng một bên liền bạch đức Thế Tôn:

− Bạch đức Thế Tôn, một số đông sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Otthadda, người Licchavi cùng một số đông dân chúng Licchavi đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Lành thay nếu những vị này được yết kiến đức Thế Tôn!

− Nay Sìha, hãy dọn chỗ ngồi trong bóng mát, trước mặt ngôi tịnh xá.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Sa-di Sìha vâng theo lời dạy đức Thế Tôn, sắp đặt một chỗ ngồi trong bóng mát trước mặt ngôi tịnh xá, và đức Thế Tôn đi ra khỏi tịnh xá và ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn trong bóng mát, trước mặt ngôi tịnh xá.

5. Rồi các sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha đến tại chỗ đức Phật, nói lên những lời chúc tụng thân hữu và xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Otthadda người Licchavi cùng với một số lớn dân Licchavi cũng đến tại chỗ đức Phật, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Otthadda người Licchavi thưa với Thế Tôn:

− Bạch Ðại đức, hai ba ngày về trước, Sunakkhatta, dòng họ Licchavi đến chỗ con ở và nói với con: “Này Mahàli, từ khi tôi sống gần đức Phật, không lâu quá ba năm, tôi được thấy những thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không được nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi”. Bạch Thế Tôn, những thiên âm mà Sunakkhatta dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, không hiểu những thiên âm ấy có thật hay không có thật?

2.1. Định một hướng

"Những âm thanh như vậy thật sự có tồn tại, nhưng Sunakkhatta không nghe được chúng."463

“Bạch Thế Tôn, đâu là nguyên nhân, đâu là lý do khiến Sunakkhatta không nghe được chúng, dù chúng thật sự tồn tại?”

"Này Mahāli, hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo đã phát triển định (immersion / sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, thiền định) về hướng đông theo một khía cạnh: để thấy các cảnh sắc chư thiên nhưng không nghe các âm thanh chư thiên.464 Khi họ đã phát triển định cho mục đích đó, họ thấy các cảnh sắc chư thiên nhưng không nghe các âm thanh chư thiên. Tại sao vậy? Bởi vì đó là như vậy đối với một vị Tỳ kheo phát triển định theo cách đó.

Hơn nữa, hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo đã phát triển định về hướng nam theo một khía cạnh … hướng tây … hướng bắc … trên, dưới, ngang … Đó là như vậy đối với một vị Tỳ kheo phát triển định theo cách đó.

Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo đã phát triển định về hướng đông theo một khía cạnh: để nghe các âm thanh chư thiên nhưng không thấy các cảnh sắc chư thiên. Khi họ đã phát triển định cho mục đích đó, họ nghe các âm thanh chư thiên nhưng không thấy các cảnh sắc chư thiên. Tại sao vậy? Bởi vì đó là như vậy đối với một vị Tỳ kheo phát triển định theo cách đó.

Hơn nữa, hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo đã phát triển định về hướng nam theo một khía cạnh … hướng tây … hướng bắc … trên, dưới, ngang … Đó là như vậy đối với một vị Tỳ kheo phát triển định theo cách đó.

Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo đã phát triển định về hướng đông theo cả hai khía cạnh: để nghe các âm thanh chư thiên và thấy các cảnh sắc chư thiên. Khi họ đã phát triển định cho mục đích đó, họ thấy các cảnh sắc chư thiên và nghe các âm thanh chư thiên. Tại sao vậy? Bởi vì đó là như vậy đối với một vị Tỳ kheo phát triển định theo cách đó.

Hơn nữa, hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo đã phát triển định về hướng nam theo cả hai khía cạnh … hướng tây … hướng bắc … trên, dưới, ngang … Đó là như vậy đối với một vị Tỳ kheo phát triển định theo cách đó. Đây là nguyên nhân, này Mahāli, đây là lý do tại sao Sunakkhatta không thể nghe được những âm thanh chư thiên khả ái, thuộc về dục lạc, và kích thích, mặc dù chúng thực sự tồn tại."

“Chắc hẳn các Tỳ kheo phải sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật vì mục đích chứng đạt sự phát triển định như vậy?”

“Không, Mahāli, các Tỳ kheo không sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta vì mục đích chứng đạt sự phát triển định như vậy.465 Có những điều khác cao thượng hơn, vì những điều đó mà các Tỳ kheo sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.”

− Này Mahàli những thiên âm mà Sunakkhatta dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, những thiên âm ấy có thật, không phải không có.

6. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, những thiên âm mà Sunakkhatta, dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, những thiên âm ấy có thật, không phải là không có.

− Này Mahàli, có Tỷ-kheo tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này thấy được về phía Ðông các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông, chỉ với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

7. Lại nữa, này Mahàli, có vị Tỷ-kheo tu định nhứt hướng, hướng về phía Nam… về phía Tây… về phía Bắc… phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này thấy được về phía Trên, Dưới, Ngang, các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, chỉ với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. 8. Này Mahàli, có vị Tỷ-kheo tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này nghe được về phía Ðông các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì vị Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông, chỉ với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

9. Lại nữa, này Mahàli, có Tỷ-kheo tu định nhứt hướng, hướng về phía Nam… hướng về phía Tây… hướng về phía Bắc… phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú phấn khởi. Vì vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này nghe được, phía Trên, Dưới, Ngang, các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không thấy được các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang chỉ với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

10. Này Mahàli, có Tỷ-kheo tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nên vị này hướng về phía Ðông thấy được các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và nghe được các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

11. Này Mahàli, có vị Tỷ-kheo tu định nhị hướng, hướng về phía Nam… hướng Tây… hướng về phía Bắc… về phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhị hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nên vị này hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì cớ sao? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhị hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Này Mahàli, do nhân này, do duyên này, những thiên âm ấy có thật, không phải là không có.

12. - Bạch Thế Tôn, như vậy có phải muốn chứng được các pháp định thiền định ấy mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?

− Này Mahàli, không phải muốn chứng được các pháp thiền định ấy mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta. Này Mahàli, có những pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn. Vì muốn chứng được những pháp ấy, các vị Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta.

2.2. Bốn Thánh Quả

“Bạch Thế Tôn, vậy những điều cao thượng hơn đó là gì?”

"Thứ nhất, này Mahāli, với sự đoạn trừ ba kiết sử (fetters / những trói buộc, ràng buộc của tâm), một vị Tỳ kheo là bậc nhập lưu (stream-enterer / người đã bước vào dòng thánh, Tu-đà-hoàn), không còn bị tái sinh vào đọa xứ (underworld / các cõi khổ, cảnh giới thấp kém), chắc chắn giác ngộ (bound for awakening / nhất định sẽ đạt được giác ngộ).466 Đây là một trong những điều cao thượng hơn mà vì đó các Tỳ kheo sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

Hơn nữa, một vị Tỳ kheo—với sự đoạn trừ ba kiết sử, và làm suy yếu tham (greed / lòng ham muốn), sân (hate / lòng căm ghét, tức giận), và si (delusion / sự mê lầm, không sáng suốt)—là bậc nhất lai (once-returner / người chỉ còn tái sinh một lần nữa, Tư-đà-hàm). Họ chỉ trở lại thế giới này một lần duy nhất, rồi chấm dứt khổ đau. Đây cũng là một trong những điều cao thượng hơn.

Hơn nữa, với sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc thuộc cõi Dục), một vị Tỳ kheo được hóa sinh (reborn spontaneously / sinh ra một cách tự nhiên, không qua thai bào) và sẽ nhập Niết-bàn tại đó (become extinguished there / đạt được sự tịch diệt, giải thoát hoàn toàn tại cõi ấy), bất hoàn (not liable to return from that world / không còn quay trở lại từ cõi đó, A-na-hàm).467 Đây cũng là một trong những điều cao thượng hơn.

Hơn nữa, một vị Tỳ kheo đã chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát (undefiled freedom of heart / sự giải thoát của tâm khỏi các ô nhiễm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát nhờ trí tuệ) ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những phiền não, ô nhiễm làm rỉ chảy tâm).468 Đây cũng là một trong những điều cao thượng hơn.

Đây là những điều cao thượng hơn, mà vì đó các Tỳ kheo sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta."

13. - Bạch Thế Tôn, những pháp ấy, cao thượng hơn, thù thắng hơn là gì mà các vị Tỷ-kheo vì muốn chứng được những pháp ấy sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?

− Này Mahàli, ở đây Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không đọa ác thú, chắc chắn đạt quả Bồ-đề. Này Mahàli, pháp này cao thượng và thù thắng hơn, vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta. Lại nữa, này Mahàli, Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử làm nhẹ bớt tham, sân, si, thành bậc Nhứt lai, còn phải sanh lại trong đời này một lần nữa trước khi diệt hẳn khổ đau. Này Mahàli, pháp này cao thượng hơn và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta.

Lại nữa, này Mahàli, vị Tỷ-kheo đã đoạn dứt năm hạ phần kiết sử, thành vị hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đây, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Này Mahàli, pháp này cao thượng và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.

Này Mahàli, những pháp cao thượng và thù thắng này, vì muốn chứng được pháp ấy, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.

2.3. Bát Chánh Đạo

“Bạch Thế Tôn, vậy có con đường và pháp hành nào để chứng ngộ những điều này không?”

“Có, Mahāli.”

“Vậy, đó là gì?”

“Đó chính là Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh chân chính) này, tức là:469 chánh kiến (right view / hiểu biết đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / sự chú tâm, ghi nhớ đúng đắn), và chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn).470 Đây là con đường và pháp hành để chứng ngộ những điều này.”

14. - Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy?

− Này Mahàli, có con đường, có đạo lộ đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy.

− Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy?

− Ðó là con đường Thánh có tám ngành: Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Mahàli, con đường này, đạo lộ này đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy.

2.4. Về Hai Vị Xuất Gia

"Có một lần, Mahāli, Ta đang ở gần Kosambī, tại tu viện của Ghosita.471 Khi ấy, có hai người xuất gia—du sĩ Muṇḍiya và Jāliya, đệ tử của vị khổ hạnh dùng bát gỗ—đến và chào hỏi Ta.472 Sau khi chào hỏi và chuyện trò xã giao xong, họ đứng sang một bên và nói với Ta: ‘Thưa Tôn giả Gotama, linh hồn (soul / mạng sống, cái được cho là linh hồn) và thân thể (body / cơ thể vật chất) là một, hay linh hồn và thân thể là khác nhau?’473

‘Này các Tôn giả, hãy lắng nghe và suy ngẫm kỹ, Ta sẽ nói.’

‘Vâng, thưa Tôn giả,’ họ đáp.

Ta đã nói thế này: ‘Hãy xem trường hợp khi một bậc Như Lai (Realized One / bậc đã đến như vậy, đã đi như vậy; một danh hiệu của Phật) xuất hiện trên thế gian, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác … Đó là cách một vị Tỳ kheo thành tựu về giới (ethics / các quy tắc đạo đức, giới luật). …

Vị ấy nhập và trú trong sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất). Khi một vị Tỳ kheo biết và thấy như vậy, có thích hợp để nói về vị ấy rằng: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau” không?’

‘Thưa Tôn giả, là thích hợp.’474

‘Nhưng này các Tôn giả, Ta biết và thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau”. …

Vị ấy nhập và trú trong nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai) … tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba) … tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Khi một vị Tỳ kheo biết và thấy như vậy, có thích hợp để nói về vị ấy rằng: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau” không?’

‘Thưa Tôn giả, là thích hợp.’

‘Nhưng này các Tôn giả, Ta biết và thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau”. …

Vị ấy hướng tâm, chú tâm đến tri kiến (knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy rõ) … Khi một vị Tỳ kheo biết và thấy như vậy, có thích hợp để nói về vị ấy rằng: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau” không?’

‘Thưa Tôn giả, là thích hợp.’

‘Nhưng này các Tôn giả, Ta biết và thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau”. …

Vị ấy hiểu rõ: “… không còn gì nữa cho trạng thái này.” Khi một vị Tỳ kheo biết và thấy như vậy, có thích hợp để nói về vị ấy rằng: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau” không?’

‘Thưa Tôn giả, là không thích hợp.’475

‘Nhưng này các Tôn giả, Ta biết và thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói: “Linh hồn và thân thể là một” hay “Linh hồn và thân thể là khác nhau”.’"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Oṭṭhaddha người Licchavi hoan hỷ, tín thọ lời Đức Phật dạy.

15. Này Mahàli, một thời Ta ở Kosambi vườn Ghositàràma. Lúc bấy giờ có hai người xuất gia. Mandissa một vị du sĩ và Jàliya đệ tử của Dàrupattika, đến tại chỗ Ta ở, nói lên những lời chúc tụng thân hữu và xã giao với Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, hai vị xuất gia nói với Ta như sau:

− Này Hiền giả, mạng căn và thân thể là một hay là khác?

− Này Hiền giả, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Vâng, Hiền giả!

Hai vị xuất gia trả lời Ta như thế và Ta nói như sau:

16. - Này Hiền giả, ở đây Như Lai sanh ra đời, vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác … (tương tự như kinh “Sa-môn quả”, đoạn kinh 41-82) … Này Hiền giả, như vậy vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh… chứng và an trú Sơ thiền. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay khác” không?

Này Hiền giả, Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, nhưng Ta không nói: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

17. Chứng và an trú đệ nhị thiền… đệ tam thiền… đệ tứ thiền. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay khác” không?

Này Hiền giả, Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

18. Vị Tỷ-kheo ấy hướng tâm, dẫn tâm đến tri kiến. Này Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác” không?

Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

19. Vị ấy biết: “Sau đời này sẽ không có đời khác nữa”. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác” không?

Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo biết như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”. Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Ðức Thế Tôn thuyết như vậy. Otthadda người Licchavi hoan hỷ tín họ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-