Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 5. Với Kūṭadanta

Kūṭadanta

1. Các Bà-la-môn và Gia chủ ở Khāṇumata

[Như vầy tôi nghe.403]Một thời Đức Phật du hành trong xứ Ma-kiệt-đà cùng với một đại Tăng đoàn gồm năm trăm vị tỳ kheo khi Ngài đến một ngôi làng của các Bà-la-môn xứ Ma-kiệt-đà tên là Khāṇumata.404 Ở đó, Ngài trú gần Ambalaṭṭhikā.405

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta đang sống ở Khāṇumata. Đó là đất của vua ban do Vua Seniya Bimbisāra xứ Ma-kiệt-đà ban tặng, đông đúc chúng sinh, đầy cỏ, gỗ, nước và ngũ cốc, một khu vườn hoàng gia ban cho một vị Bà-la-môn.406 Lúc bấy giờ, Kūṭadanta đã chuẩn bị một cuộc đại tế lễ. Bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê và cừu đực—mỗi loại bảy trăm con—đã được dẫn đến trụ tế để làm vật hiến tế.407

Các Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata nghe rằng:

“Hình như Sa-môn Gotama—một người dòng Thích Ca, xuất gia từ dòng dõi Thích Ca—đã đến Khāṇumata và đang trú tại Ambalaṭṭhikā. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán (perfected / người đã đạt đến sự giải thoát hoàn toàn), một vị Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / vị Phật giác ngộ hoàn toàn và đúng đắn), bậc Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), bậc Thiện Thệ (holy / người đã đi qua một cách tốt đẹp, đạt đến Niết-bàn), bậc Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dẫn dắt những người cần được huấn luyện), bậc Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), bậc Phật (awakened / người đã giác ngộ), bậc Bạc-già-phạm (Bhagavā / Bậc Tôn Quý, Đấng Thế Tôn).’ Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, chúng sanh này với các Sa-môn và Bà-la-môn, chư thiên và loài người—và Ngài làm cho người khác biết đến. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, và toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và Ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.”

Sau đó, rời khỏi Khāṇumata, họ kết thành từng đoàn và tiến về Ambalaṭṭhikā.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta đã lui về tầng trên của ngôi nhà sàn dài của mình để nghỉ trưa. Ông thấy các Bà-la-môn và gia chủ đang tiến về Ambalaṭṭhikā, và nói với người quản gia của mình: “Này quản gia, tại sao các Bà-la-môn và gia chủ lại tiến về Ambalaṭṭhikā?”

“Sa-môn Gotama đã đến Khāṇumata và đang trú tại Ambalaṭṭhikā. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, một vị Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc Minh Hạnh Túc, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, bậc Thiên Nhân Sư, bậc Phật, bậc Bạc-già-phạm.’ Họ đang đi để yết kiến Tôn giả Gotama.”

Khi đó Kūṭadanta nghĩ: "Ta nghe nói Sa-môn Gotama biết cách thực hiện tế lễ với ba phương thức và mười sáu phụ trợ.408 Ta không biết về điều đó, nhưng ta muốn thực hiện một cuộc đại tế lễ. Sao ta không hỏi ngài ấy cách thực hiện tế lễ với ba phương thức và mười sáu phụ trợ?"409

Sau đó Kūṭadanta nói với người quản gia của mình: “Vậy thì, hãy đến gặp các Bà-la-môn và gia chủ và nói với họ: ‘Thưa quý vị, Bà-la-môn Kūṭadanta xin quý vị đợi một chút, vì ông ấy cũng sẽ đi yết kiến Sa-môn Gotama.’”

“Vâng, thưa ngài,” người quản gia đáp, và làm theo lời dặn.

5. KINH KÙTADANTA (CỨU-LA-ÐÀN-ÐẦU)

(Kùtadanta Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Magadha tên là Khànumata (Khứ-nậu-bà-đế). Và tại đây, đức Thế Tôn trú tại vườn Ambalatthikà ở Khànumata. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta ở tại Khànumata, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo phì nhiêu, một vương địa do vua Bimbisàra (Tần-bà-ta-la) vua nước Magadha cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp. Lúc bấy giờ, một đàn tế lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Kùtadanta, bảy trăm con trâu đực, bảy trăm con nghé đực lớn, và bảy trăm con nghé cái lớn, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu đã được dắt đến trụ tế lễ, cho đàn tế.

2. Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata được nghe: “Sa-môn Gotama, dòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành trong nước Magadha với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến tại Khànumata và trú tại vườn Ambalatthikà ở Khànumata. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,… Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên bố sự chứng ngộ ấy cho người khác. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, và giới thiệu đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy”. Rồi các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà.

3. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kùtadanta đi lên trên lầu để nghỉ trưa. Bà-la-môn Kùtadanta thấy các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà. Thấy vậy (Bà-la-môn Kùtadanta) liền gọi người gác cửa:

− Này người gác cửa, vì sao các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà?

− Tôn giả, có Sa-môn Gotama, dòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành trong nước Magadha với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đến tại Khànumata, và tại đấy trú ở Ambalatthikà. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Nay những người ấy đi đến yết kiến Tôn giả Gotama.

4. Bà-la-môn Kùtadanta liền suy nghĩ như sau: “Ta nghe nói: “Sa-môn Gotama am hiểu ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp”. Ta không biết ba cách thức tế tự và mười sáu pháp, và ta muốn cử hành lễ đại tế. Vậy ta hãy đến hỏi Sa-môn Gotama ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp”.

Rồi Bà-la-môn Kùtadanta gọi người giữ cửa kia:

− Này người giữ cửa, hãy đi đến các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, khi đến nơi, hãy nói với những Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata như sau: “Bà-la-môn Kùtadanta có nói: “Này các Hiền giả, hãy chờ đợi, Bà-la-môn Kùtadanta sẽ thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama”.

− Dạ vâng.

Người gác cửa ấy vâng theo lời bảo của Bà-la-môn Kùtadanta, đi đến các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, khi đến xong liền nói với Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata: “Bà-la-môn Kùtadanta có nói như vầy: “Này các Hiền giả, hãy chờ đợi Bà-la-môn Kùtadanta sẽ tự thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama”.

2. Phẩm Chất Của Kūṭadanta

Lúc bấy giờ, vài trăm vị Bà-la-môn đang cư trú tại Khāṇumata với ý định tham dự vào tế lễ của Kūṭadanta. Họ nghe rằng Kūṭadanta sẽ đi yết kiến Sa-môn Gotama. Họ đến gặp Kūṭadanta và nói với ông:

“Có thật là ngài định đến yết kiến Sa-môn Gotama không?”

“Vâng, thưa quý vị, đúng vậy.”

"Xin ngài đừng đi! Ngài đi yết kiến Sa-môn Gotama là không thích hợp. Vì nếu ngài làm vậy, danh tiếng của ngài sẽ giảm sút và danh tiếng của ông ấy sẽ tăng lên. Vì lý do này, ngài đi yết kiến Sa-môn Gotama là không thích hợp; Sa-môn Gotama đến yết kiến ngài mới là thích hợp.

Ngài xuất thân cao quý cả từ bên mẹ lẫn bên cha, dòng dõi thuần khiết, gia phả không thể chê trách và không tỳ vết cho đến bảy đời tổ phụ. Vì lý do này, ngài đi yết kiến Sa-môn Gotama là không thích hợp; Sa-môn Gotama đến yết kiến ngài mới là thích hợp.

Ngài giàu có, sung túc, và dư dả, với nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và ngũ cốc …

Ngài tụng đọc và ghi nhớ các thánh ca, và đã thông thạo ba tập Vệ-đà, cùng với từ vựng và nghi thức tế lễ, âm vị học và phân loại từ, và các thánh điển là phần thứ năm. Ngài biết từng từ một, và ngữ pháp của chúng. Ngài thông thạo vũ trụ luận và các tướng của bậc đại nhân. …

Ngài dung mạo ưa nhìn, đẹp đẽ, khả ái, với vẻ đẹp vượt trội. Ngài oai nghiêm và rực rỡ như một vị Thần, đáng để chiêm ngưỡng. …

Ngài có đạo đức, trưởng thành trong giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức). …

Ngài là người nói hay, phát âm tốt, với giọng nói trau chuốt, rõ ràng và mạch lạc, diễn đạt được ý nghĩa. …

Ngài dạy cho nhiều thầy giáo, và dạy ba trăm học trò trẻ tụng đọc các thánh ca. Nhiều học trò từ các quận huyện và quốc gia khác nhau đến vì các thánh ca, mong muốn học các thánh ca. …

Ngài già cả, lớn tuổi và cao niên, tuổi đã cao, và đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Sa-môn Gotama còn trẻ, và mới xuất gia. …

Ngài được Vua Bimbisāra xứ Ma-kiệt-đà tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng kính và quý mến …

và Bà-la-môn Pokkharasāti. …

Ngài sống ở Khāṇumata, một vùng đất của vua ban do Vua Seniya Bimbisāra xứ Ma-kiệt-đà ban tặng, đông đúc chúng sinh, đầy cỏ, gỗ, nước và ngũ cốc, một khu vườn hoàng gia ban cho một vị Bà-la-môn. Vì lý do này, ngài đi yết kiến Sa-môn Gotama là không thích hợp; Sa-môn Gotama đến yết kiến ngài mới là thích hợp."

5. Lúc bấy giờ có khoảng vài trăm Bà-la-môn ở Khànumata với ý định: “Chúng tôi sẽ dự lễ Ðại tế đàn của Bà-la-môn Kùtadanta”. Khi các vị Bà-la-môn này nghe: “Bà-la-môn Kùtadanta sẽ đến yết kiến Samôn Gotama”, những Bà-la-môn này đến Bà-la-môn Kùtadanta, khi đến nơi liền nói với Bà-la-môn Kùtadanta:

− Có phải Tôn giả Kùtadanta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama?

− Này các Hiền Giả, đó là ý định của ta, ta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama.

6. - Tôn giả Kùtadanta chớ có đến yết kiến Sa-môn Gotama. Thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Nếu Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, thì danh tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị hao tổn, danh tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng. Vì danh tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị hao tổn và danh tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng, do điểm này thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Trái lại thật xứng đáng cho Samôn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.

− Lại Tôn giả Kùtadanta thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vì Tôn giả Kùtadanta thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sinh; do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.

Lại Tôn giả Kùtadanta là nhà giàu có, đại phú, sung túc…

Lại Tôn giả Kùtadanta là nhà phúng tụng, là nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân.

Lại Tôn giả Kùtadanta đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô, tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng.

Lại Tôn giả Kùtadanta có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày.

Lại Tôn giả Kùtadanta thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác.

Lại Tôn giả Kùtadanta là bậc tôn sư trong các hàng tôn sư của nhiều người, dạy ba trăm thanh niên Bàla-môn tụng đọc chú thuật, thanh niên Bà-la-môn từ nhiều phương, từ nhiều nước, thiết tha với chú thuật, đến với Tôn giả Kùtadanta để học thuộc lòng các chú thuật.

Tôn giả Kùtadanta niên cao lạp lớn, bậc lão thành, đến tuổi trưởng thượng, còn Sa-môn Gotama thì trẻ tuổi, xuất gia chưa được nhiều năm.

Tôn giả Kùtadanta được vua Seniya Bimbisàra (Tần bà ta la) xứ Mangadha (Ma kiệt đà) kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

Tôn giả Kùtadanta được Bà-la-môn Pokkhatasàdi kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

Tôn giả Kùtadanta sống ở Khànumata, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước phì nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lãnh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha. Vì Tôn giả Kùtadanta sống ở Khànumata, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước phì nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lãnh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha, do điểm này thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.

3. Phẩm Chất Của Đức Phật

Khi họ nói xong, Kūṭadanta nói với các Bà-la-môn đó:

"Vậy thì, thưa quý vị, hãy nghe tại sao tôi đi yết kiến Sa-môn Gotama là thích hợp, và ngài ấy đến yết kiến tôi là không thích hợp. Ngài ấy xuất thân cao quý cả từ bên mẹ lẫn bên cha, dòng dõi thuần khiết, gia phả không thể chê trách và không tỳ vết cho đến bảy đời tổ phụ. Vì lý do này, Sa-môn Gotama đến yết kiến tôi là không thích hợp; đúng hơn, tôi đi yết kiến ngài ấy mới là thích hợp.

Khi xuất gia, ngài đã từ bỏ một gia tộc lớn. …

Khi xuất gia, ngài đã từ bỏ vô số vàng bạc, cả tiền đúc lẫn vàng khối, cất giữ trong hầm ngục và kho tàng. …

Ngài từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà cửa khi còn là một thanh niên, trẻ trung, với mái tóc đen nhánh, được ban phước với tuổi trẻ, đang trong thời kỳ sung mãn nhất của cuộc đời. …

Dù cha mẹ ngài không muốn, khóc lóc với khuôn mặt đẫm lệ, ngài đã cạo bỏ râu tóc, khoác y vàng nghệ, và từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà cửa. …

Ngài dung mạo ưa nhìn, đẹp đẽ, khả ái, với vẻ đẹp vượt trội. Ngài oai nghiêm và rực rỡ như một vị Thần, đáng để chiêm ngưỡng. …

Ngài có đạo đức, sở hữu giới đức cao thượng và thiện giới (skillful ethics / ứng dụng đạo đức một cách khéo léo). …

Ngài là người nói hay, phát âm tốt, với giọng nói trau chuốt, rõ ràng và mạch lạc, diễn đạt được ý nghĩa. …

Ngài là thầy của các bậc thầy. …

Ngài đã chấm dứt dục tham (sensual desire / ham muốn các dục), và thoát khỏi sự thất thường. …

Ngài dạy về hiệu quả của hành động và nghiệp báo. Ngài không muốn gây hại cho cộng đồng Bà-la-môn. …

Ngài xuất gia từ một gia tộc lỗi lạc thuộc dòng dõi quý tộc không gián đoạn. …

Ngài xuất gia từ một gia đình giàu có, sung túc và dư dả. …

Người ta từ những vùng đất xa xôi và những quốc gia xa xôi đến để hỏi đạo ngài. …

Nhiều ngàn vị trời đã quy y trọn đời nơi ngài. …

Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, một vị Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc Minh Hạnh Túc, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, bậc Thiên Nhân Sư, bậc Phật, bậc Bạc-già-phạm.’ …

Ngài có ba mươi hai tướng của bậc đại nhân. …

Ngài niềm nở, thân thiện, lịch sự, mỉm cười, cởi mở, là người bắt chuyện trước. …

Ngài được tứ chúng tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng kính và quý mến. …

Nhiều vị trời và người đều hết lòng kính mộ ngài. …

Khi ngài trú ngụ trong một làng hay thị trấn, các thực thể phi nhân không quấy nhiễu họ. …

Ngài lãnh đạo một giáo hội và một cộng đồng, và hướng dẫn một cộng đồng, và được cho là bậc tối thắng trong số các nhà sáng lập tôn giáo khác nhau. Ngài không có được danh tiếng theo cách của các Sa-môn và Bà-la-môn khác. Thay vào đó, ngài có được danh tiếng nhờ vào trí tuệ và đức hạnh tối thượng của mình. …

Vua Seniya Bimbisāra xứ Ma-kiệt-đà cùng vợ con đã quy y trọn đời nơi Sa-môn Gotama. …

Vua Pasenadi xứ Kosala cùng vợ con đã quy y trọn đời nơi Sa-môn Gotama. …

Bà-la-môn Pokkharasāti cùng vợ con đã quy y trọn đời nơi Sa-môn Gotama. …

Ngài được Vua Bimbisāra xứ Ma-kiệt-đà tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng kính và quý mến …

Vua Pasenadi xứ Kosala …

và Bà-la-môn Pokkharasāti.

Sa-môn Gotama đã đến Khāṇumata và đang trú tại Ambalaṭṭhikā. Bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến trú ngụ trong quận làng của chúng ta đều là khách của chúng ta, và nên được tôn kính và kính trọng như vậy. Vì lý do này, Tôn giả Gotama đến yết kiến tôi cũng không thích hợp, đúng hơn, tôi đi yết kiến ngài ấy mới là thích hợp. Đây là những lời tán thán Tôn giả Gotama mà tôi đã ghi nhớ. Nhưng những lời tán thán ngài không chỉ giới hạn ở đây, vì sự tán thán Tôn giả Gotama là vô lượng."

Khi ông nói xong, các Bà-la-môn kia nói với ông: “Theo những lời tán thán của Kūṭadanta, nếu Tôn giả Gotama ở cách xa trăm do-tuần (league / đơn vị đo lường cổ của Ấn Độ, khoảng 7-13km), thì một người thiện tín cũng đáng để đi yết kiến ngài, dù phải tự mang lương thực trong túi vải.”

“Vậy thì, thưa quý vị, tất cả chúng ta hãy cùng đi yết kiến Sa-môn Gotama.”

7. Nghe nói vậy, Bà-la-môn Kùtadanta nói với những vị Bà-la-môn ấy:

− Các Hiền giả, hãy nghe ta giải thích vì sao thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta. Này các Hiền giả, thật vậy Samôn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Này các Hiền giả, vì Samôn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vì điểm này, thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta, trái lại thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama xuất gia từ bỏ rất nhiều vàng bạc cả loại đang chôn dưới đất lẫn loại trên mặt đất.

Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama trong tuổi thanh niên tóc còn đen nhánh, trong tuổi trẻ đẹp của thời niên thiếu, đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama, dầu song thân không đồng ý, khóc than nước mắt thấm ướt cả mặt, vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đức hạnh, gìn giữ giới của bậc thánh, có thiện đức, dạy đủ thiện đức.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là bậc tôn sư các hàng tôn sư của nhiều người.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã diệt trừ tham dục, đã dứt bỏ mọi xao động của tâm.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành động, đặt trọng tâm vào chí thiện khi thuyết pháp với chúng Bà-la-môn.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc cao quý, từ dòng họ Sát-đế-lỵ thanh tịnh.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc khá giả, đại phú, tài sản sung mãn. Này các Hiền giả, thật vậy, dân chúng băng ngàn vượt biển (băng qua nhiều địa phương, băng qua nhiều quốc độ) đến hỏi đạo Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, thật vậy, có hàng ngàn thiên nhân đến quy y Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, thật vậy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền bá đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama nói lời chào đón, thân thiện, tao nhã, trang trọng, chân thực, thẳng thắn, lời nói có dẫn chứng.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được bốn chúng kính trọng tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ trọng vọng.

Này các Hiền giả, rất nhiều thiên nhân tín ngưỡng Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, thật vậy ở tại làng nào, thôn ấp nào, Sa-môn Gotama cư trú, tại làng ấy, tại thôn ấp ấy, các loài phi nhân không làm hại loài người.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là giáo hội chủ, giáo phái chủ, giáo phái sư, được tôn là tối thượng trong các giáo tổ.

Này các Hiền giả, danh tiếng của một số Sa-môn, Bà-la-môn dựa trên những bằng chứng không đâu, danh tiếng của Sa-môn Gotama dựa trên trí đức vô thượng của Ngài.

Này các Hiền giả, thật vậy, vua Seniya Bimbisàra nước Magadha, cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, đại thần đều quy y Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, thật vậy, vua Pasenadi nước Kosala cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, cận thần đều quy y Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, thật vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, cận thần đều quy y Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được vua Seniya Bimbisàra nước Magadha kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được vua Pasenadi nước Kosala kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được Bà-la-môn Pokkharasàdi kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ trọng vọng.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã đến Khànumata và đang ở tại Ambalatthikà. Những Samôn, những Bà-la-môn nào dến ruộng làng chúng ta đều là khách của chúng ta. Ðối với khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Này các Hiền giả, nay Gotama đã đến Khànumata đang ở tại Ambalatthikà, như vậy Sa-môn Gotama là khách của chúng ta. Và đã là khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, đó là những ưu điểm, mà ta được biết về Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama không phải có chừng ấy ưu điểm mà thôi. Tôn giả Gotama có đến vô lượng ưu điểm.

8. Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn ấy nói với Bà-la-môn Kùtadanta:

− Tôn giả Kùtadanta đã tán thán Sa-môn Gotama như vậy, dầu cho ai ở xa Tôn giả Gotama đến một trăm do tuần cũng đủ cho người ấy cùng gia tộc đi đến yết kiến Sa-môn Gotama, dầu phải đem theo lương thực. Vì vậy tất cả chúng tôi sẽ đi đến yết kiến Sa-môn Gotama.

4. Câu Chuyện Về Cuộc Tế Lễ Của Vua Mahāvijita

Sau đó Kūṭadanta cùng với một nhóm lớn Bà-la-môn đi yết kiến Đức Phật và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, ông ngồi xuống một bên. Trước khi ngồi xuống một bên, một số Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata đã đảnh lễ, một số chào hỏi và nói chuyện thân mật, một số chắp tay hướng về Đức Phật, một số xưng tên và dòng họ, trong khi một số giữ im lặng.

Kūṭadanta nói với Đức Phật: “Thưa Tôn giả Gotama, tôi nghe nói ngài biết cách thực hiện tế lễ với ba phương thức và mười sáu phụ trợ. Tôi không biết về điều đó, nhưng tôi muốn thực hiện một cuộc đại tế lễ. Xin ngài dạy tôi cách thực hiện tế lễ với ba phương thức và mười sáu phụ trợ.”

"Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và suy nghĩ với trí tuệ, Ta sẽ nói."410

“Vâng, thưa ngài,” Kūṭadanta đáp. Đức Phật nói điều này: "Này Bà-la-môn, ngày xưa, có một vị vua tên là Mahāvijita. Ngài giàu có, sung túc, và dư dả, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, nhiều tiền bạc và ngũ cốc, và kho tàng đầy ắp.411 Khi đó, trong lúc Vua Mahāvijita đang độc cư thiền tịnh, ý nghĩ này khởi lên trong tâm ngài:412 'Ta đã đạt được sự giàu sang của loài người, và trị vì sau khi chinh phục lãnh thổ rộng lớn này. Sao ta không tổ chức một cuộc đại tế lễ? Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ta.'413

Sau đó, ngài triệu tập vị Bà-la-môn chủ tế và nói với ông:414 ‘Vừa rồi, này Bà-la-môn, khi ta đang độc cư thiền tịnh, ý nghĩ này khởi lên trong tâm, “Ta đã đạt được sự giàu sang của loài người, và trị vì sau khi chinh phục lãnh thổ rộng lớn này. Sao ta không thực hiện một cuộc đại tế lễ? Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ta.” Này Bà-la-môn, ta muốn thực hiện một cuộc đại tế lễ. Xin hãy chỉ dạy cho ta. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ta.’

Khi ngài nói xong, vị Bà-la-môn chủ tế nói với ngài: 'Thưa Đại vương, vương quốc của ngài đang bị quấy nhiễu và áp bức. Cướp bóc làng mạc, thị trấn, và thành phố đã xảy ra, và nạn trộm cướp hoành hành trên các con đường lớn.415 Nhưng nếu Đại vương tăng thêm thuế trong khi vương quốc đang bị quấy nhiễu và áp bức như vậy, ngài sẽ không làm tròn bổn phận của mình.416

Bây giờ Đại vương có thể nghĩ, “Ta sẽ diệt trừ tai họa giặc cướp này bằng cách xử tử, bỏ tù, tịch thu tài sản, kết án hoặc trục xuất!” Nhưng đó không phải là cách đúng đắn để diệt trừ tai họa giặc cướp này.417 Những kẻ còn lại sau khi bị giết sẽ quay lại quấy nhiễu vương quốc của Đại vương.418

Thay vào đó, đây là một kế hoạch, dựa vào đó tai họa giặc cướp sẽ được nhổ tận gốc một cách đúng đắn.419 Vậy, Đại vương hãy cung cấp hạt giống và thức ăn gia súc cho những người trong vương quốc làm nghề trồng trọt và chăn nuôi.420 Đại vương hãy cung cấp vốn cho những người làm nghề buôn bán. Đại vương hãy đảm bảo lương thực và tiền lương cho những người phục vụ trong chính quyền. Khi đó, người dân, bận rộn với công việc của mình, sẽ không quấy nhiễu vương quốc.421 Ngân khố của Đại vương sẽ dồi dào.422 Khi đất nước được bảo đảm như một nơi trú ẩn an toàn, không còn bị quấy nhiễu và áp bức, người dân hạnh phúc, với niềm vui trong lòng, nhảy múa với con trẻ trên tay, sẽ sống như thể nhà cửa của họ luôn rộng mở.'423

Nhà vua đồng ý với lời khuyên của vị thượng tế và làm theo khuyến nghị của ông.424

Sau đó, nhà vua triệu tập vị Bà-la-môn chủ tế và nói với ông: ‘Ta đã diệt trừ tai họa giặc cướp. Và dựa vào kế hoạch của khanh, ngân khố của ta nay đã dồi dào. Vì đất nước được bảo đảm như một nơi trú ẩn an toàn, không còn bị quấy nhiễu và áp bức, người dân hạnh phúc, với niềm vui trong lòng, nhảy múa với con trẻ trên tay, sống như thể nhà cửa của họ luôn rộng mở. Này Bà-la-môn, ta muốn thực hiện một cuộc đại tế lễ. Xin hãy chỉ dạy cho ta. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ta.’

Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Ambalatthikà, đến tại chỗ đức Thế Tôn ở, khi đi đến, liền nói lời thân ái, chào đón, chúc tụng rồi ngồi xuống một bên. Các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, có người đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên, có người nói lời thân ái chào đón, chúc tụng với Sa-môn Gotama, rồi ngồi xuống một bên, có người chấp tay vái chào Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên, có người nói tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên, có người yên lặng ngồi xuống một bên.

9. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Kùtadanta bạch đức Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, tôi được nghe như sau: “Sa-môn am hiểu ba cách thức tế tự và mười sáu tế vật”. Tôi không biết đến ba tế tự và mười sáu tế vật và tôi muốn cử hành đại tế tự. Tốt đẹp thay nếu Tôn giả Gotama giảng cho tôi ba cách thức tế tự và mười sáu tế vật.

− Này Bà-la-môn, vậy người hãy nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói:

− Dạ vâng.

Bà-la-môn Kùtadanta trả lời đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn thuyết như sau:

10. - Này Bà-la-môn, thuở xưa có vị vua tên là Mahàvijita, giàu có, đại phú, tài sản sung mãn, có nhiều vàng bạc, có nhiều vật dụng, có nhiều tài vật ngũ cốc, kho tàng sung mãn. Này Bà-la-môn, một hôm trong khi vua Mahàvijita đang ngồi yên lặng tại một tịnh xứ, sự suy tư sau đây được khởi lên: “Ta nay đặng vô lượng tài sản thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hãy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ hưởng được hạnh phúc an lạc lâu ngày”. Này Bà-la-môn, vua Mahàvijita liền cho mời vị Bà-la-môn chủ tế và nói: “Này Bà-la-môn, trong khi ta đang ngồi yên lặng tại một tinh xứ, sự suy tư sau đây khởi lên: “Ta nay đặng vô lượng tài bảo thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hãy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. Này Bà-la-môn, ta muốn tổ chức đại tế đàn, khanh hãy khuyên ta như thế nào để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày?”

11. Này Bà-la-môn, khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn chủ tế tâu với vua Mahàvijita như sau: “Ðại vương, vương quốc (này) chịu tai ương, chịu ách nạn, đầy rẫy bọn cướp làng, đầy rẫy bọn cướp ấp, đầy rẫy bọn cướp đô thị, đầy rẫy bọn cướp đường. Trong quốc độ chịu tai ương, chịu ách nạn như vậy, nếu Tôn vương đánh thuế má mới, như vậy Tôn vương có ý nghĩ: “Ta hãy trừ diệt bọn giặc cỏ này, hoặc bằng tử hình, hoặc bằng cấm cố, hoặc bằng phạt vạ, hoặc bằng khiển trách, hoặc bằng tẩn xuất”. Nhưng bọn giặc cỏ này sẽ không được trừ diệt một cách hoàn toàn. Những bọn còn lại không bị hình phạt sau lại tiếp tục hoành hành vương quốc này. Nhưng nếu theo phương pháp sau đây bọn giặc cỏ ấy sẽ được trừ diệt một cách hoàn toàn: những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm vào nghề riêng của mình sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng”. - “Vâng, Tôn giả”.

− Này Bà-la-môn, vua Mahàvijita vâng theo lời khuyên của vị Bà-la-môn chủ tế: những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương Mahàvijita cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương Mahàvijita cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương Mahàvijita cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm về nghề của mình không còn nhiễu hại quốc độ nhà vua; ngân quỹ nhà vua được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp không có tai ương ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng.

12. Rồi này Bà-la-môn, vua Mahàvijita cho mời vị Bà-la-môn chủ tế và nói: “Này khanh, ta đã trừ diệt bọn giặc cỏ nhờ áp dụng phương pháp này, ngân quỹ của ta được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương ách nạn, và dân chúng hoan hỷ, vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng. Này Bà-la-môn, ta muốn tổ chức đại tế đàn, khanh hãy khuyên ta như thế nào để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày?” - “Vậy Tôn vương hãy cho mời tất cả những vị Sátđế-lỵ trong quốc độ nhà vua cùng với các chư hầu cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành và nói: “Này các khanh, ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. Ðối với tất cả những đại thần trong quốc độ nhà vua, cùng với quyến thuộc cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành… tất cả những gia chủ phú hào cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, Tôn vương hãy mời những vị ấy và nói: “Này các khanh, Ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng an lạc hạnh phúc lâu dài”.

4.1. Bốn Phụ Trợ

'Trong trường hợp đó, Đại vương hãy thông báo điều này khắp vương quốc cho các chư hầu quý tộc ở cả thành thị và nông thôn; các quan đại thần và cố vấn ở cả thành thị và nông thôn; các Bà-la-môn giàu có ở cả thành thị và nông thôn; và các gia chủ khá giả ở cả thành thị và nông thôn.425 “Ta muốn thực hiện một cuộc đại tế lễ. Xin quý vị chấp thuận, thưa các bậc hiền nhân; điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ta.”

Nhà vua đồng ý với lời khuyên của vị thượng tế và làm theo khuyến nghị của ông. Và tất cả những người được thông báo như vậy đều đáp lại rằng: ‘Xin Đại vương hãy thực hiện tế lễ! Đã đến lúc tế lễ rồi, thưa Đại vương.’ Và như vậy, bốn nhóm người đồng thuận này đã trở thành những phụ trợ cho cuộc tế lễ.426

Này Bà-la-môn, vua Mahàvijita nghe theo vị Bà-la-môn chủ tế cho mời tất cả những vị Sát-đế-lỵ trong quốc độ nhà vua cùng với các chư hầu cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành và nói: “Này các khanh, ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. - “Tôn vương hãy tổ chức tế đàn. Ðại vương, tế đàn này là hợp thời”.

Ðối với tất cả những đại thần trong quốc độ nhà vua cùng với quyến thuộc cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành… tất cả những vị Bà-la-môn và đại gia chủ cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành… tất cả những gia chủ phú hào cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, vua Mahàvijita mời những vị ấy và nói: “Này các khanh ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. - “Ðại vương hãy tổ chức tế đàn, Ðại vương, tế đàn này là hợp thời”.

Như vậy bốn đại chúng đã thừa nhận tế đàn trở thành những yếu kiện cho lễ tế đàn này.

4.2. Tám Phụ Trợ

Vua Mahāvijita sở hữu tám yếu tố.427

Ngài xuất thân cao quý cả từ bên mẹ lẫn bên cha, dòng dõi thuần khiết, gia phả không thể chê trách và không tỳ vết cho đến bảy đời tổ phụ.

Ngài dung mạo ưa nhìn, đẹp đẽ, khả ái, với vẻ đẹp vượt trội. Ngài oai nghiêm và rực rỡ như một vị Thần, đáng để chiêm ngưỡng.

Ngài giàu có, sung túc, và dư dả, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, nhiều tiền bạc và ngũ cốc, và kho tàng đầy ắp.

Ngài hùng mạnh, có một đội quân bốn binh chủng tuân lệnh và thực hiện mệnh lệnh. Ngài có lẽ sẽ chiến thắng kẻ thù chỉ bằng danh tiếng của mình.428

Ngài có niềm tin (faithful / tín, lòng tin tưởng vững chắc), rộng lượng, là người bố thí, cửa nhà ngài luôn rộng mở. Ngài là một nguồn hỗ trợ dồi dào, tạo phước với các Sa-môn và Bà-la-môn, cho người nghèo khổ, người lang thang, người cầu xin, và người ăn xin.

Ngài rất uyên bác trong nhiều lĩnh vực học thuật. Ngài hiểu ý nghĩa của các phát biểu khác nhau, nói rằng:429 ‘Đây là ý nghĩa của phát biểu đó; đó là ý nghĩa của phát biểu này.’

Ngài sáng suốt, có năng lực, và thông minh, có thể suy xét thấu đáo các vấn đề liên quan đến quá khứ, tương lai, và hiện tại.430

Đây là tám yếu tố mà Vua Mahāvijita sở hữu. Và như vậy, tám yếu tố này cũng trở thành những phụ trợ cho cuộc tế lễ.

13. Vua Mahàvijita có tám đức tánh sau đây: Thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Ðẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Là nhà giàu có, đại phú, sung túc tài sản, đầy rẫy vàng và bạc, đầy rẫy tài bảo, đầy rẫy sản nghiệp, ngũ cốc, thương khố sung mãn. Có uy lực, đầy đủ bốn loại quân chủng, chinh phục địch quân như với oai danh (của mình). Một vị có tín tâm, có từ tâm, một thí chủ, cửa nhà mở rộng, một giếng khơi cho Sa-môn, Bà-la-môn bần cùng nghèo khó, khất sĩ, một vị làm các công đức. Một vị bác học trong mọi vấn đề. Thông hiểu ý nghĩa của lời nói: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩ của lời nói này”. Một nhà bác học, tinh luyện, sáng suốt và có thể suy tư về những vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại. Vua Mahàvijita có đầy đủ tám đặc tánh này. Chính tám đặc tánh này làm những yếu kiện cho tế đàn ấy.

4.3. Bốn Phụ Trợ Nữa

Và vị Bà-la-môn chủ tế có bốn yếu tố.431

Ông xuất thân cao quý cả từ bên mẹ lẫn bên cha, dòng dõi thuần khiết, gia phả không thể chê trách và không tỳ vết cho đến bảy đời tổ phụ.

Ông tụng đọc và ghi nhớ các thánh ca, và đã thông thạo ba tập Vệ-đà, cùng với từ vựng và nghi thức tế lễ, âm vị học và phân loại từ, và các thánh điển là phần thứ năm. Ông biết từng từ một, và ngữ pháp của chúng. Ông thông thạo vũ trụ luận và các tướng của bậc đại nhân.

Ông có đạo đức, trưởng thành trong giới đức.

Ông sáng suốt và khôn ngoan, là người thứ nhất hoặc thứ hai cầm muỗng tế lễ.

Đây là bốn yếu tố mà vị Bà-la-môn chủ tế sở hữu. Và như vậy, bốn yếu tố này cũng trở thành những phụ trợ cho cuộc tế lễ.

14. Vị Bà-la-môn chủ tế có đầy đủ bốn đức tánh: Thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào, về vấn đề huyết thống thọ sanh - là nhà phúng tụng, là nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân, có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày - một vị bác học, tinh luyện, sáng suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai. Vị Bà-la-môn chủ tế có đầy đủ bốn đức tánh này, chính bốn đức tánh này làm những yếu kiện cho tế đàn ấy.

4.4. Ba Phương Thức

Tiếp theo, trước cuộc tế lễ, vị Bà-la-môn chủ tế đã dạy ba phương thức cho nhà vua. ‘Bây giờ, mặc dù Đại vương muốn thực hiện một cuộc đại tế lễ, ngài có thể có những hối tiếc nhất định, nghĩ rằng: “Ta sẽ mất một tài sản lớn,” hoặc432 “Ta đang mất một tài sản lớn,” hoặc “Ta đã mất một tài sản lớn.” Nhưng Đại vương không nên nuôi dưỡng những hối tiếc như vậy.’

Đây là ba phương thức mà vị Bà-la-môn chủ tế đã dạy cho nhà vua trước cuộc tế lễ.

15. Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước khi lễ đàn có giảng ba pháp cho vua Mahàvijita: “Trước khi muốn làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: “Thật vậy, một phần lớn tài sản của ta sẽ bị tiêu hao”, Tôn vương không nên có sự hối tiếc này. Trong khi đang làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: “Thật vậy, một phần lớn tài sản của ta bị tiêu hao”. Tôn vương không nên có sự hối tiếc này. Khi đã làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: “Thật vậy, một phần lớn tài sản của Ta bị tiêu hao”. Tôn vương không nên có sự hối tiếc này”.

Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước khi lễ đàn có giảng ba pháp cho vua Mahàvijita.

4.5. Mười Phương Diện

Tiếp theo, trước cuộc tế lễ, vị Bà-la-môn chủ tế đã xua tan sự hối tiếc của nhà vua về những người nhận lễ vật ở mười phương diện:433

'Sẽ có những người đến dự tế lễ là những người sát sinh và những người từ bỏ sát sinh. Đối với những người sát sinh, kết quả của việc đó là của riêng họ. Nhưng đối với những người từ bỏ sát sinh, chính vì lợi ích của họ mà Đại vương nên tế lễ, từ bỏ, hoan hỷ, và có được sự tự tin trong lòng.434

Sẽ có những người đến dự tế lễ là những người trộm cắp … tà dâm … nói dối … nói lời chia rẽ … nói lời thô ác … nói lời vô ích … tham lam … có sân hận (ill will / tâm trạng tức giận, ác ý) … có tà kiến và những người có chánh kiến. Đối với những người có tà kiến, kết quả của việc đó là của riêng họ. Nhưng đối với những người có chánh kiến, chính vì lợi ích của họ mà Đại vương nên tế lễ, từ bỏ, hoan hỷ, và có được sự tự tin trong lòng.’

Đây là mười phương diện mà vị thượng tế đã xua tan sự hối tiếc của nhà vua về những người nhận lễ vật trước cuộc tế lễ.

16. Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước lễ tế đàn để ngăn chặn sự hối tiếc theo mười cách có thể khởi lên đối với người tham dự (lễ tế đàn) đã nói với vua Mahàvijita: “Tôn vương, có những người sát sanh đến tại lễ tế đàn và có những người không sát sanh. Ở đây, đối với những người sát sanh, hãy để cho chúng yên. Ở đây, đối với những người không sát sanh, hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm của chúng được an vui hoan hỷ. Tôn vương, có những người lấy của không cho đến tại lễ tế đàn và có những người không lấy của không cho… có những người tà dâm và có những người không tà dâm, có những người nói láo và có những người không nói láo, có những người nói hai lưỡi, và có những người không nói hai lưỡi, có những người nói lời độc ác và có những người không nói lời độc ác, có những người nói lời phù phiếm và có những người không nói lời phù phiếm, có những người có lòng tham và có những người không có lòng tham, có những người có lòng sân và có những người không có lòng sân, có những người có tà kiến và có những người có chánh kiến. Ở đây, đối với những người có tà kiến hãy để chúng yên. Ðối với những người có chánh kiến, hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm của chúng được an vui, hoan hỷ”.

Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước lễ tế đàn đã ngăn chận sự hối tiếc theo mười cách có thể khởi lên đối với những người tham dự (lễ tế đàn).

4.6. Mười Sáu Phương Diện

Tiếp theo, trong khi nhà vua đang thực hiện cuộc đại tế lễ, vị Bà-la-môn thượng tế đã giáo dục, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho tâm trí nhà vua ở mười sáu phương diện:

'Bây giờ, trong khi Đại vương đang thực hiện cuộc đại tế lễ, có người có thể nói, “Vua Mahāvijita thực hiện một cuộc đại tế lễ, nhưng ngài đã không thông báo cho các chư hầu quý tộc ở thành thị và nông thôn.435 Đó là loại đại tế lễ mà vị vua này thực hiện.” Những người nói xấu Đại vương theo cách này là không có cơ sở. Vì Đại vương thực sự đã thông báo cho các chư hầu quý tộc ở thành thị và nông thôn. Xin Đại vương biết điều này như một lý do để tế lễ, từ bỏ, hoan hỷ, và có được sự tự tin trong lòng.

Trong khi Đại vương đang thực hiện cuộc đại tế lễ, có người có thể nói, “Vua Mahāvijita thực hiện một cuộc đại tế lễ, nhưng ngài đã không thông báo cho các chư hầu quý tộc; các quan đại thần và cố vấn; các Bà-la-môn giàu có; và các gia chủ khá giả. Đó là loại đại tế lễ mà vị vua này thực hiện.” Những người nói xấu Đại vương theo cách này là không có cơ sở. Vì Đại vương thực sự đã thông báo cho tất cả những người này.436 Xin Đại vương cũng biết điều này như một lý do để tế lễ, từ bỏ, hoan hỷ, và có được sự tự tin trong lòng.

Trong khi Đại vương đang thực hiện cuộc đại tế lễ, có người có thể nói rằng ngài không sở hữu tám yếu tố. Những người nói xấu Đại vương theo cách này là không có cơ sở. Vì Đại vương thực sự sở hữu tám yếu tố. Xin Đại vương cũng biết điều này như một lý do để tế lễ, từ bỏ, hoan hỷ, và có được sự tự tin trong lòng.

Trong khi Đại vương đang thực hiện cuộc đại tế lễ, có người có thể nói rằng vị thượng tế không sở hữu bốn yếu tố. Những người nói xấu Đại vương theo cách này là không có cơ sở. Vì vị thượng tế thực sự sở hữu bốn yếu tố. Xin Đại vương cũng biết điều này như một lý do để tế lễ, từ bỏ, hoan hỷ, và có được sự tự tin trong lòng.’

Đây là mười sáu phương diện mà vị thượng tế đã giáo dục, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho tâm trí nhà vua trong khi ngài đang thực hiện cuộc tế lễ.

Và này Bà-la-môn, trong cuộc tế lễ đó không có bò bị giết, không có dê hay cừu bị giết, và không có gà hay lợn bị giết. Không có sự tàn sát các loại sinh vật khác nhau. Không có cây nào bị đốn để làm trụ tế. Không có cỏ nào bị cắt để rải trên nơi tế lễ. Không có nô lệ, người hầu, hay công nhân nào làm việc dưới sự đe dọa trừng phạt và nguy hiểm, khóc lóc với khuôn mặt đẫm lệ. Những người muốn làm việc thì làm, còn những người không muốn thì không.437 Họ làm công việc họ muốn, và không làm những gì họ không muốn. Cuộc tế lễ được hoàn thành chỉ với bơ sữa tinh luyện, dầu, bơ, sữa đông, mật ong, và mật mía.438

Khi đó, các chư hầu quý tộc, các quan đại thần và cố vấn, các Bà-la-môn giàu có, và các gia chủ khá giả đến gặp nhà vua mang theo nhiều của cải và nói: 'Tâu Đại vương, số của cải dồi dào này đặc biệt dành riêng cho ngài; xin Bệ hạ nhận lấy!'439

‘Ta đã có đủ từ các khoản thuế thường xuyên. Số này hãy để cho các khanh; và đây, hãy nhận thêm nữa!’

Khi nhà vua từ chối, họ lui sang một bên để bàn kế hoạch: ‘Chúng ta không nên mang số của cải dồi dào này về nhà mình. Vua Mahāvijita đang thực hiện một cuộc đại tế lễ. Chúng ta hãy cúng dường như một cuộc tế lễ phụ trợ.’

Khi đó, các chư hầu quý tộc ở thành thị và nông thôn đã thiết lập các lễ vật ở phía đông của khu vực tế lễ. Các quan đại thần và cố vấn ở thành thị và nông thôn đã thiết lập các lễ vật ở phía nam của khu vực tế lễ. Các Bà-la-môn giàu có ở thành thị và nông thôn đã thiết lập các lễ vật ở phía tây của khu vực tế lễ. Các gia chủ khá giả ở thành thị và nông thôn đã thiết lập các lễ vật ở phía bắc của khu vực tế lễ.

Và này Bà-la-môn, trong cuộc tế lễ đó cũng không có bò bị giết, không có dê bị giết, và không có gà hay lợn bị giết. Không có sự tàn sát các loại sinh vật khác nhau. Không có cây nào bị đốn để làm trụ tế. Không có cỏ nào bị cắt để rải trên nơi tế lễ. Không có nô lệ, người hầu, hay công nhân nào làm việc dưới sự đe dọa trừng phạt và nguy hiểm, khóc lóc với khuôn mặt đẫm lệ. Những người muốn làm việc thì làm, còn những người không muốn thì không. Họ làm công việc họ muốn, và không làm những gì họ không muốn. Cuộc tế lễ được hoàn thành chỉ với bơ sữa tinh luyện, dầu, bơ, sữa đông, mật ong, và mật mía.

Và như vậy có bốn nhóm người đồng thuận, tám yếu tố mà Vua Mahāvijita sở hữu, bốn yếu tố mà vị thượng tế sở hữu, và ba phương thức. Này Bà-la-môn, đây được gọi là cuộc tế lễ được hoàn thành với ba phương thức và mười sáu phụ trợ."

Khi ngài nói điều này, các Bà-la-môn kia đã làm ồn ào lên,440 “Hoan hô một cuộc tế lễ như vậy! Hoan hô sự hoàn thành của một cuộc tế lễ như vậy!”

Nhưng Bà-la-môn Kūṭadanta ngồi im lặng.441 Vì vậy, các Bà-la-môn kia nói với ông: “Sao ông không tán thưởng những lời hay lẽ phải của Sa-môn Gotama?”

"Không phải là tôi không tán thưởng những gì ngài ấy nói. Nếu ai không tán thưởng những lời hay lẽ phải như vậy, đầu của họ sẽ nổ tung!

Nhưng, thưa quý vị, tôi nhận thấy rằng Sa-môn Gotama không nói: ‘Như vầy tôi nghe’ hay 'Nó phải như thế này.'442 Thay vào đó, ngài chỉ nói: ‘Khi ấy là như vậy, lúc đó là như thế này.’

Tôi nghĩ rằng Sa-môn Gotama vào thời điểm đó hẳn phải là Vua Mahāvijita, chủ nhân của cuộc tế lễ, hoặc là vị Bà-la-môn thượng tế đã hỗ trợ ngài thực hiện tế lễ.

Tôn giả Gotama có nhớ lại việc đã thực hiện một cuộc tế lễ như vậy, hoặc đã hỗ trợ nó, và rồi, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời không?"

"Ta có nhớ lại điều đó, này Bà-la-môn. Vì chính ta là vị Bà-la-môn chủ tế vào thời điểm đó đã hỗ trợ cuộc tế lễ."443

17. Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế khi vua đang làm lễ tế đàn, đã khuyên giáo, tưởng lệ,… kích thích và làm tâm (của vua) hoan hỷ với mười sáu phương pháp: “Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn nhưng không mời các vị Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành; Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật; Tôn vương đã có mời các vị Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành. Do vậy, Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không mời các vị đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành… Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành… cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành. Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật; Tôn vương đã có mời các vị cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành; Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức lễ tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh”. Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn nếu có người nói: “Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh”. Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn nhưng không đẹp trai khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô, tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng… không phải là nhà giàu có, đại phú, sung túc tài sản, đầy rẫy vàng và bạc, đầy rẫy tài bảo, đầy rẫy sản nghiệp ngũ cốc, thương khố sung mãn… không có uy lực, đầy đủ bốn loại quân chủng, chinh phục địch quân như với oai danh của mình… không có tín tâm, không có từ tâm, không phải một thí chủ, cửa nhà mở rộng, một giếng khơi cho Sa-môn, Bà-la-môn, bần cùng, nghèo khó, khất sĩ, một vị làm các công đức… không phải là vị bác học trong mọi vấn đề… không thông hiểu ý nghĩa của lời nói: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này… không phải là nhà bác học tinh luyện, sáng suốt và có thể suy tư về những vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại… Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật. Tôn vương là nhà bác học, tinh luyện, sáng suốt, và có thể suy tư về vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại… Do vậy, Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy. “Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật. Vị Bà-la-môn chủ tế của vua thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh”. Do vậy, Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”… Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn… Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không phải là nhà phúng tụng, là nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân… Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không có đức hạnh, không có đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày… Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không phải vị bác học, tinh luyện, sáng suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai, Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật. Vị Bà-la-môn chủ tế của vua là nhà bác học, tinh luyện, sáng suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai. Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui hoan hỷ”.

Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế, khi vua đang làm lễ tế đàn đã khuyến giáo, tưởng lệ, kích thích và làm tâm (của vua) được hoan hỷ bằng mười sáu phương pháp.

18. Này Bà-la-môn, trong lễ tế đàn này, không có trâu bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loại sinh vật nào khác vị sát thương, không có cây cối bị chặt để làm trụ cột tế lễ, không có loại cỏ dabbha (cỏ cát tường) bị cắt để rải xung quanh đàn tế. Và những người gia bộc hay… người đem tin hay những người làm thuê không bị dọa nạt bởi hình phạt, không bị dọa nạt bởi sợ hãi và không làm việc trong than khóc với nước mắt tràn đầy mặt mày. Chúng muốn thì chúng làm, chúng làm những gì chúng muốn. Tế đàn nay được hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường miếng.

19. Này Bà-la-môn, các Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, các đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành, các Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, các cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đem theo nhiều tiền bạc của cải đến Mahàvijita và thưa: “Ðại vương, tiền bạc của cải rất nhiều này được đem đến để Ðại vương dùng, Ðại vương hãy lấy dùng”. “Này các khanh, tiền bạc của cải rất nhiều được súc tích một cách chính đáng này đối với ta đã vừa đủ. Các khanh hãy giữ các của cải ấy cho các khanh; các khanh có thể đem theo nhiều hơn thế nữa !”.

Các vị bị vua từ khước như vậy đứng qua một bên và bàn luận như sau: “Tài sản này của chúng ta, nếu chúng ta đem về nhà lại, thật không phải. Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn. Chúng ta hãy tổ chức một hậu tế đàn”.

20. Này Bà-la-môn, khi các vị Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Ðông hố tế đàn; các đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Nam hố tế đàn; các Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Tây hố tế đàn; các cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Bắc hố tế đàn. Này Bà-la-môn, trong tế đàn của những vị này cũng vậy, không có trâu bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có loại sinh vật nào khác bị sát thương, không có cây cối bị chặt để làm cột trụ tế lễ, không có loại cỏ dabbha (cỏ cát tường) bị cắt để rải xung quanh đàn tế. Và những người gia bộc hay những người đưa tin, hay những người làm thuê không bị dọa nạt bởi hình phạt, không bị dọa nạt bởi sợ hãi và không làm việc trong than khóc với nước mắt tràn đầy mặt mày. Chúng muốn thì chúng làm, chúng không muốn thì chúng không làm, chúng làm những gì chúng muốn, chúng không làm những gì chúng không muốn. Những tế đàn này được hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường miếng.

Như vậy là bốn sự chấp thuận, vua Mahàvijita thành tựu tám pháp, Bà-la-môn chủ tế thành tựu bốn pháp và cả ba tế pháp. Này Bà-la-môn như vậy gọi là ba tế pháp và mười sáu tế vật.

21. Khi nghe nói như vậy những Bà-la-môn ấy la to hét lớn: “Cao quý thay lễ tế đàn, vẻ vang thay sự thành tựu của lễ tế đàn!”. Nhưng Bà-la-môn Kùtadanta ngồi yên lặng. Các vị Bà-la-môn ấy hỏi Bà-la-môn Kùtadanta: “Vì sao Tôn giả Kùtadanta không tán thánh là thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama?” - “Không phải ta không tán thán là thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama. Nếu ai không tán thán là thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama thì đầu người ấy sẽ bị tan nát. Nhưng ta hiện đang suy nghĩ: Sa-môn Gotama không nói: “Như vậy ta nghe” hay “Như vậy đáng phải là thế”. Nhưng ngài chỉ nói: “Khi sự việc xảy ra như vậy?”. “Khi ấy sự việc xảy ra như thế”. Và ta nghĩ: Chắc chắn lúc bấy giờ, Sa-môn Gotama là vua Mahàvijita chủ nhân của lễ tế đàn, hay là vị Bà-la-môn chủ tế lễ tế đàn”. Tôn giả Gotama có công nhận là mình đứng ra tổ chức lễ tế đàn hay khiến người tổ chức lễ tế đàn và sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở thiện thú cõi trời, ở đời này?”

Này Bà-la-môn, ta công nhận tự mình đứng ra tổ chức lễ tế đàn hay khiến người tổ chức lễ tế đàn, và sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở thiện thú, cõi trời ở đời này. Lúc bấy giờ ta là vị Bà-la-môn chủ tế đã đứng ra chủ lễ tế đàn này.

5. Cúng Dường Thường Xuyên Như Một Tế Lễ Gia Đình Liên Tục.

"Nhưng thưa Tôn giả Gotama, ngoài cuộc tế lễ được hoàn thành với ba phương thức và mười sáu phụ trợ đó, có cuộc tế lễ nào khác ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn không?"444

“Có, này Bà-la-môn.”

“Nhưng đó là gì?”

“Những món quà cúng dường thường xuyên như một tế lễ gia đình liên tục, đặc biệt dâng lên các vị xuất gia có đạo đức;445 tế lễ này, này Bà-la-môn, ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn.”

“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Gotama, lý do gì khiến những món quà cúng dường thường xuyên như một tế lễ gia đình liên tục đó lại ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn, so với cuộc tế lễ được hoàn thành với ba phương thức và mười sáu phụ trợ?”

"Bởi vì cả những bậc A-la-hán lẫn những người đang trên con đường tu tập để đạt đến sự hoàn thiện đều sẽ không tham dự một cuộc tế lễ như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì ở đó người ta thấy cảnh đánh đập và siết cổ.446

Nhưng những món quà cúng dường thường xuyên như một tế lễ gia đình liên tục, đặc biệt dâng lên các vị xuất gia có đạo đức; các bậc A-la-hán và những người đang trên con đường tu tập để đạt đến sự hoàn thiện sẽ tham dự một cuộc tế lễ như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì ở đó không thấy cảnh đánh đập và siết cổ.

Đây là nguyên nhân, này Bà-la-môn, đây là lý do tại sao những món quà cúng dường thường xuyên như một tế lễ gia đình liên tục đó lại ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn, so với cuộc tế lễ được hoàn thành với ba phương thức và mười sáu phụ trợ."

“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, ngoài cuộc tế lễ được hoàn thành với ba phương thức và mười sáu phụ trợ và những món quà cúng dường thường xuyên như một tế lễ gia đình liên tục đó, có cuộc tế lễ nào khác ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn không?”

“Có, này Bà-la-môn.”

“Nhưng đó là gì?”

"Khi một người cúng dường trú xứ đặc biệt cho Tăng đoàn bốn phương."447

“Nhưng có cuộc tế lễ nào khác ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn không?”

“Khi một người với tâm niềm tin (confident heart / tín, lòng tin tưởng vững chắc) quy y Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn.”

“Nhưng có cuộc tế lễ nào khác ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn không?”

"Khi một người với tâm niềm tin giữ gìn các học giới, từ bỏ sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và các chất say như rượu bia."448

“Nhưng có cuộc tế lễ nào khác ít đòi hỏi và công phu hơn, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn không?”

"Có, này Bà-la-môn.

Đó là khi một bậc Như Lai (Realized One / người đã đến như vậy, một danh hiệu của Phật) xuất hiện trên thế gian, một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác … Đó là cách một vị tỳ kheo hoàn thiện về đạo đức. … Họ nhập và an trú trong sơ thiền (first absorption / tầng thiền định thứ nhất)… Tế lễ này ít đòi hỏi và công phu hơn tế lễ trước, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn. …

Họ nhập và an trú trong nhị thiền (second absorption / tầng thiền định thứ hai)… tam thiền (third absorption / tầng thiền định thứ ba)… tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền định thứ tư). Tế lễ này ít đòi hỏi và công phu hơn tế lễ trước, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn. …

Họ hướng tâm và mở rộng tâm đến tri kiến (knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy rõ) … Tế lễ này ít đòi hỏi và công phu hơn tế lễ trước, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn.

Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm thêm ở đây nữa.’ Tế lễ này ít đòi hỏi và công phu hơn tế lễ trước, nhưng lại có nhiều kết quả và lợi ích hơn. Và, này Bà-la-môn, không có sự hoàn thành tế lễ nào khác tốt đẹp và cao thượng hơn thế này."449

22. - Này Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?

− Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.

− Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?

− Này Bà-la-môn, chính là những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức. Tế đàn ấy, này Bà-la-môn ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.

23. Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức, tế đàn ấy lại ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn, tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này? − Này Bà-la-môn, các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán không đi đến tế đàn như vậy. Vì cớ sao?

Này Bà-la-môn, vì tại đấy có thấy những sự đánh đập bằng roi gậy, có những sự túm cổ lôi kéo. Do vậy các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán không đi đến tế đàn như vậy. Những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức, này Bà-la-môn , các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán đi đến những tế đàn như vậy. Vì cớ sao? Này Bà-la-môn vì tại đấy không thấy những sự đánh đập bằng roi gậy, không có những sự tóm cổ lôi kéo. Do vậy các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán đi đến tế đàn như vậy. Này Bà-la-môn, do nhân ấy, do duyên ấy, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức, tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.

24. - Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và những bố thí thường xuyên những tế đàn thuận lợi này?

− Này Bà-la-môn có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này.

− Này Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này?

− Này Bà-la-môn, chính là sự xây dựng tinh xá cho bốn phương Tăng. Tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này.

25. Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này?

− Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.

− Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này?

− Này Bà-la-môn, một ai với tâm thành quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, này Bà-la-môn, tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, đàn thí thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.

26. Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này?

− Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này. − Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật ấy, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y ấy?

− Này Bà-la-môn, một ai với tâm thành thọ trì những giới luật không sát sanh, không thâu đạo, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu.

Này Bà-la-môn tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này.

27. - Này Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá, những sự quy y và những giới luật này?

− Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá, những sự quy y, những giới luật này.

− Tôn giả Gotama, tế đàn ấy là gì mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vạt, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá, những sự quy y và những giới luật này?

− Này Bà-la-môn, ở đây đức Như Lai sanh ra đời, ?ng Cúng, Chánh Ðẳng Giác… [tương tự như kinh “Sa-môn quả”, đoạn kinh 40-98]. Như vậy, này Bà-la-môn vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh.

… chứng và an trú sơ thiền. Này Bà-la-môn tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước.

… nhị thiền… tam thiền… chứng và an trú tứ thiền. Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước… . không còn một đời sống khác. Vị ấy biết như vậy. Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước. Này Bà-la-môn, không có một lễ tế đàn nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn lễ tế đàn này.

6. Kūṭadanta Tuyên Bố Mình Là Cư Sĩ Tại Gia

Khi ngài nói xong, Kūṭadanta nói với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Thật tuyệt vời! Như người dựng lại những gì bị đổ, hay phơi bày những gì bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy rõ mọi vật, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo Pháp, và quy y Tăng đoàn tỳ kheo. Từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ tại gia (lay follower / người theo đạo Phật tại gia) đã quy y trọn đời.

Và những con bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê, và cừu đực này—mỗi loại bảy trăm con—con xin phóng thích chúng, con ban cho chúng sự sống! Hãy để chúng ăn cỏ xanh và uống nước mát, và mong rằng một làn gió mát sẽ thổi đến chúng!"450

28. Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Kùtadanta thưa với đức Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng phương tiện trình bày giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn Giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng Tôn giả Gotama, con xin trả tự do và sự sống cho bảy trăm con bò đực, bảy trăm con bò cái, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu. Mong chúng được ăn cỏ xanh và uống nước mát, mong chúng được hưởng gió mát.

7. Chứng Ngộ Quả Dự Lưu

Sau đó, Đức Phật đã dạy Kūṭadanta tuần tự, với một bài pháp về bố thí, giới đức, và các cõi trời. Ngài giải thích những nguy hại của các dục lạc, thật thấp kém và ô uế, và lợi ích của sự từ bỏ. Và khi ngài biết rằng tâm của Kūṭadanta đã sẵn sàng, mềm mại, thoát khỏi các triền cái (hindrances / những chướng ngại tâm lý), hân hoan, và có niềm tin, ngài đã giải thích giáo lý đặc biệt của các Đức Phật: khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ. Giống như một tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ thấm thuốc nhuộm một cách thích hợp, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn (vision of the Dhamma / con mắt thấy pháp) không tỳ vết, thanh tịnh đã khởi lên trong Bà-la-môn Kūṭadanta: “Tất cả những gì có sự sinh khởi đều có sự đoạn diệt.”

Khi đó, Kūṭadanta đã thấy, đạt được, hiểu rõ, và thâm nhập Giáo Pháp. Ông vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi sự do dự, và trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với những lời dạy của Bậc Đạo Sư. Ông nói với Đức Phật: “Xin Tôn giả Gotama cùng với Tăng đoàn tỳ kheo nhận lời mời dùng bữa ngày mai của con được không ạ?” Đức Phật đã im lặng chấp thuận.

Khi đó, biết rằng Đức Phật đã chấp thuận, Kūṭadanta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều bên phải một cách kính cẩn, trước khi rời đi. Và khi đêm đã qua Kūṭadanta đã chuẩn bị các món ăn tươi ngon và nấu chín trong khu vực tế lễ của mình. Sau đó, ông cho người báo thời gian với Đức Phật, nói rằng: “Đã đến giờ, thưa Tôn giả Gotama, bữa ăn đã sẵn sàng.”

Khi đó, Đức Phật vào buổi sáng đã đắp y, mang theo bát và y, cùng với Tăng đoàn tỳ kheo đi đến khu vực tế lễ của Kūṭadanta, nơi ngài ngồi trên chỗ đã được trải sẵn.

Khi đó, Kūṭadanta đã tự tay phục vụ và làm hài lòng Tăng đoàn tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu bằng những món ăn tươi ngon và nấu chín. Khi Đức Phật đã dùng bữa xong và rửa tay và bát, Kūṭadanta lấy một chiếc ghế thấp và ngồi xuống một bên. Sau đó, Đức Phật đã giáo dục, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho ông bằng một bài Pháp thoại, sau đó ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

29. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Kùtadanta như là thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Kùtadanda đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy chính chỗ ngồi này pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Kùtadanta: “Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt”.

30. Khi ấy Bà-la-môn Kùtadanta thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch đức Thế Tôn: “Mong Tôn giả Gotama ngày mai cùng chúng Tỷ-kheo nhận lời mời đến dùng cơm do con mời”.

Ðức Thế Tôn im lặng nhận lời. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta được biết đức Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, thân phía hữu hướng về đức Phật và từ biệt… Rồi Bàla-môn Kùtadanta khi đêm vừa tàn, liền làm cho sẵn sàng tại nhà các món thượng vị loại cứng và loại mềm, rồi báo thì giờ cho đức Thế Tôn: “Giờ đã đến, Tôn giả Gotama, cơm đã sẵn sàng”.

Khi ấy đức Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn Kùtadanta, khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã được soạn sẵn. Bà-la-môn Kùtadanta tự tay làm cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn với những món thượng vị, loại cứng và loại mềm. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta, sau khi được biết đức Thế Tôn dùng cơm đã xong, đã rửa tay và bát, liền lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi Bà-la-môn Kùtadanta ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn với một thời thuyết pháp giảng dạy, khích lệ, kích thích và làm cho Bà-la-môn Kùtadanta hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.

-ooOoo-