Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 8. Tiếng Gầm Sư Tử Gửi Đến Du Sĩ Lõa Thể Kassapa

Mahāsīhanādasutta

NHƯ VẦY TÔI NGHE. Một thời Thế Tôn trú gần Ujuññā, tại vườn nai ở Kaṇṇakatthala.477

Khi ấy, du sĩ lõa thể Kassapa đến gặp Thế Tôn và chào hỏi Ngài.478 Sau khi chào hỏi và chuyện trò thân mật, ông đứng sang một bên và thưa với Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, tôi nghe nói rằng: 'Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh nhiệt thành (fervent mortification / sự ép xác một cách mãnh liệt). Ngài kịch liệt lên án và tố cáo tất cả những người thực hành khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ.'479 Những người nói như vậy có lặp lại lời của Thế Tôn, và không xuyên tạc Ngài bằng điều không thật không? Lời giải thích của họ có phù hợp với giáo pháp không? Có cơ sở chính đáng nào để phản bác và chỉ trích không? Vì chúng tôi không muốn xuyên tạc Tôn giả Gotama.”

"Này Kassapa, những người nói như vậy không lặp lại lời Ta nói. Họ xuyên tạc Ta bằng những điều sai trái, vô căn cứ và không thật. Với thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy vượt ngoài tầm mắt thường) thanh tịnh, siêu phàm, Ta thấy một số người thực hành khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ được tái sinh vào cõi dữ, ác xứ, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Ta cũng thấy một số người thực hành khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ khác được tái sinh vào cõi lành, cảnh giới chư thiên.480

Ta thấy một số người thực hành khổ hạnh nhiệt thành sống thoải mái được tái sinh vào cõi dữ. Nhưng Ta cũng thấy một số người thực hành khổ hạnh nhiệt thành sống thoải mái khác được tái sinh vào cõi lành, cảnh giới chư thiên. Vì Ta thực sự hiểu rõ sự đến và đi, sự chết và tái sinh của những người thực hành khổ hạnh này như vậy, làm sao Ta có thể chỉ trích mọi hình thức khổ hạnh, hay kịch liệt lên án và tố cáo những người thực hành khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ?

Có một số sa-môn và bà-la-môn thông minh, tinh tế, thành thạo học thuyết của người khác, thích bắt bẻ chi li. Người ta có thể nghĩ rằng họ sống để dùng trí tuệ của mình phá bỏ các niềm tin. Họ đồng ý với Ta ở một số điểm và không đồng ý ở những điểm khác. Một số điều họ tán dương, Ta cũng tán dương. Một số điều họ không tán dương, Ta cũng không tán dương. Nhưng một số điều họ tán dương, Ta lại không tán dương. Và một số điều họ không tán dương, Ta lại tán dương.

Một số điều Ta tán dương, người khác cũng tán dương. Một số điều Ta không tán dương, họ cũng không tán dương. Nhưng một số điều Ta không tán dương, người khác lại tán dương. Và một số điều Ta tán dương, người khác lại không tán dương.

8. KINH CA-DIẾP SƯ TỬ HỐNG

(Kassapa-Sìhanàda Sutta)

(Kinh nầy còn có tên là Kinh “Ðại sư tử hống” - Mahàsìhanàda Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn ở tại Ujunnà (Uy-nhã-quốc), tại vườn nai Kannakatthala. Lúc bấy giờ, lõa thể Kassapa (Ca-diếp) đến chỗ đức Phật, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với đức Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, lõa thể Kassapa thưa với Thế Tôn:

2. - Tôn giả Gotama, tôi nghe như vầy: “Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ”, có phải những vị ấy nói đúng lời của Tôn giả Gotama? Có phải những vị ấy đã vu oan không xác thật cho Tôn giả Gotama? Có phải những vị ấy đã tuyên bố như pháp, thuận pháp không? Có những chủ trương nào chính và phụ gặp phải cật nạn không Thật sự chúng tôi không muốn chỉ trích sai lạc Tôn giả Gotama.

3. - Này Kassapa, những ai nói: “Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ”, những vị ấy nói không đúng lời của Ta, đã vu oan không xác thật cho Ta. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh, sống khắc khổ… Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh, sống khắc khổ… Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện chú, thiên giới, thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh nhưng sống ít khắc khổ hơn… Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh nhưng sống ít khắc khổ hơn… Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Này Kassapa, khi đã biết đúng với sự thật sự lai, khứ, sanh, diệt của những người tu khổ hạnh như vậy, làm sao Ta lại chỉ trích mọi khổ hạnh và tuyệt đối phỉ báng mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ?

4. Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những nhà bác học, tế nhị, biệt tài trong tranh luận, (nhà thiện xạ) bắn chẻ hai sợi tóc, đi chỗ này chỗ kia như đả phá mọi tà kiến với trí tuệ của mình. Giữa Ta và những vị này, có những điểm tương đồng và có những điểm không tương đồng. Có điểm những vị này công nhận là phải, chúng tôi cũng công nhận là phải. Có điểm những vị này công nhận là không phải, chúng tôi cũng công nhận là không phải. Có điểm những vị này không công nhận là phải, chúng tôi công nhận là phải. Có điểm chúng tôi công nhận là phải, các vị này cũng công nhận là phải. Có điểm chúng tôi không công nhận là phải, các vị này cũng không công nhận là phải. Có điểm chúng tôi công nhận là phải, các vị này không công nhận là phải. Có điểm chúng tôi không công nhận là phải, các vị này công nhận là phải.

1. Xét Hỏi

Ta đến gặp họ và nói: 'Chúng ta hãy gác lại những vấn đề mà chúng ta không đồng ý.481 Nhưng có một số vấn đề mà chúng ta đồng ý. Về những vấn đề này, những người có trí, khi tìm hiểu, chất vấn và gạn hỏi, sẽ so sánh vị đạo sư này với vị đạo sư khác, hoặc cộng đồng này với cộng đồng khác:

“Có những điều bất thiện (unskillful / không khéo léo, có hại), đáng chê trách, không nên tu tập, không xứng với bậc thánh, và đen tối—và được xem là như vậy. Ai là người đã hoàn toàn từ bỏ những điều này: Sa-môn Gotama, hay các vị thầy của các cộng đồng khác?”'482

Có thể họ sẽ nói: ‘Sa-môn Gotama đã hoàn toàn từ bỏ những điều bất thiện đó, so với các vị thầy của các cộng đồng khác.’ Và đó là cách, khi những người có trí tìm hiểu vấn đề, họ sẽ chủ yếu tán dương chúng ta.

Ngoài ra, những người có trí, khi tìm hiểu, chất vấn và gạn hỏi, sẽ so sánh vị đạo sư này với vị đạo sư khác, hoặc cộng đồng này với cộng đồng khác: ‘Có những điều thiện (skillful / khéo léo, có lợi), không đáng chê trách, đáng tu tập, xứng với bậc thánh, và sáng sủa—và được xem là như vậy. Ai là người đã hoàn toàn thực hành những điều này: Sa-môn Gotama, hay các vị thầy của các cộng đồng khác?’

Có thể họ sẽ nói: ‘Sa-môn Gotama đã hoàn toàn thực hành những điều thiện đó, so với các vị thầy của các cộng đồng khác.’ Và đó là cách, khi những người có trí tìm hiểu vấn đề, họ sẽ chủ yếu tán dương chúng ta.

Ngoài ra, những người có trí, khi tìm hiểu, chất vấn và gạn hỏi, sẽ so sánh vị đạo sư này với vị đạo sư khác, hoặc cộng đồng này với cộng đồng khác: ‘Có những điều bất thiện, đáng chê trách, không nên tu tập, không xứng với bậc thánh, và đen tối—và được xem là như vậy. Ai là người đã hoàn toàn từ bỏ những điều này: các đệ tử của Sa-môn Gotama, hay các đệ tử của các vị thầy khác?’

Có thể họ sẽ nói: ‘Các đệ tử của Sa-môn Gotama đã hoàn toàn từ bỏ những điều bất thiện đó, so với các đệ tử của các vị thầy khác.’ Và đó là cách, khi những người có trí tìm hiểu vấn đề, họ sẽ chủ yếu tán dương chúng ta.

Ngoài ra, những người có trí, khi tìm hiểu, chất vấn và gạn hỏi, sẽ so sánh vị đạo sư này với vị đạo sư khác, hoặc cộng đồng này với cộng đồng khác: ‘Có những điều thiện, không đáng chê trách, đáng tu tập, xứng với bậc thánh, và sáng sủa—và được xem là như vậy. Ai là người đã hoàn toàn thực hành những điều này: các đệ tử của Sa-môn Gotama, hay các đệ tử của các vị thầy khác?’

Có thể họ sẽ nói: ‘Các đệ tử của Sa-môn Gotama đã hoàn toàn thực hành những điều thiện đó, so với các đệ tử của các vị thầy khác.’ Và đó là cách, khi những người có trí tìm hiểu vấn đề, họ sẽ chủ yếu tán dương chúng ta.

5. Ta đến các vị ấy và nói: “Này các Hiền giả, những điểm bất đồng ý, hãy để chúng yên như vậy. Những điểm đồng ý, các vị có trí hãy hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giáo sư với giáo sư, hay chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng đáng bậc Thánh, giữa những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa quí vị hiền giả này, ai đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, Sa-môn Gotama hay những vị Tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?”

6. Này Kassapa, và sự tình này xảy ra. Khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau. Các vị này nói: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng bậc Thánh, những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa những vị hiền giả này, Sa-môn Gotama đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, còn những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ xả ly một phần thôi”. Như vậy, này Kassapa, những vị có trí khi hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

7. Này Kassapa, lại nữa các vị có trí lại hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giữa giáo sư với giáo sư, giữa chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, giữa quí vị hiền giả này ai đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, Sa-môn Gotama hay những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?

8. Này Kassapa, và sự tình này xảy ra. Khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, các vị này nói: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, Sa-môn Gotama đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, còn những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ thành tựu một phần”. Như vậy này Kassapa, những vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

9. Này Kassapa, lại nữa, các vị có trí lại hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giữa giáo sư với giáo sư, giữa chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng bậc Thánh, những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa những vị hiền giả này ai đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, chúng đệ tử của Gotama hay chúng đệ tử của những tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?”

10. Này Kassapa, và sự tình này xảy ra khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau. Các vị này nói: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng bậc Thánh, những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa những vị hiền giả này, chúng đệ tử của Gomata đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, còn chúng đệ tử của những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ xả ly một phần thôi”. Như vậy, này Kassapa, những vị có trí khi hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

11. Này Kassapa, lại nữa, các vị có trí lại hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giữa giáo sư với giáo sư, giữa chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, giữa những vị hiền giả này ai đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, chúng đệ tử của Gotama hay chúng đệ tử của những tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?”

12. Này Kassapa, sự tình này xảy ra khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau. Các vị này nói: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, giữa những vị hiền giả này, chúng đệ tử của Gotama đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, còn chúng đệ tử của những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ thành tựu một phần thôi”. Như vậy này Kassapa, những vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

2. Bát Chánh Đạo

Này Kassapa, có một con đường, có một pháp hành, mà khi thực hành theo đó, ông sẽ tự mình biết và thấy rằng: 'Chỉ có lời dạy của Sa-môn Gotama là hợp thời, chân thật, có ý nghĩa, phù hợp với giáo pháp và giới luật.'483 Và con đường đó là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao quý) này, tức là: chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / nhớ nghĩ đúng đắn, sự tỉnh thức), và chánh định (right immersion / tập trung đúng đắn). Đây là con đường, đây là pháp hành, mà khi thực hành theo đó, ông sẽ tự mình biết và thấy rằng: ‘Chỉ có lời dạy của Sa-môn Gotama là hợp thời, chân thật, có ý nghĩa, phù hợp với giáo pháp và giới luật.’"484

13. Này Kassapa, có con đường, có phương pháp khiến ai tuân theo sẽ tự thấy và tự biết: “Sa-môn Gotama nói đúng thời, nói chân thật, nói lợi ích, nói hợp pháp, nói đúng luật”. Này Kassapa, con đường ấy là gì, phương pháp ấy là gì khiến ai tuân theo sẽ tự thấy và biết: “Sa-môn Gotama nói đúng thời, nói chân thật, nói lợi ích, nói hợp pháp, nói đúng luật?” Chính là con đường Thánh tám ngành tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Kassapa, chính con đường này, chính phương pháp này khiến ai tuân theo sẽ tự thấy và tự biết: “Samôn Gotama nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lợi ích, nói hợp pháp, nói đúng luật”.

3. Các Pháp Khổ Hạnh Nhiệt Thành

Khi Ngài nói xong, Kassapa thưa với Thế Tôn:

"Thưa Tôn giả Gotama, các sa-môn và bà-la-môn kia xem những pháp khổ hạnh nhiệt thành này là điều làm nên một sa-môn hay bà-la-môn chân chính.485 Họ đi lõa thể, bất chấp quy ước. Họ liếm tay, không đến hay đợi khi được gọi. Họ không nhận thực phẩm mang đến cho họ, hay thực phẩm chuẩn bị riêng cho họ, hay lời mời dùng bữa.486 Họ không nhận bất cứ thứ gì từ nồi hay bát; hoặc từ người chăn cừu, hoặc người có vũ khí hay xẻng trong nhà; hoặc nơi có cặp vợ chồng đang ăn; hoặc nơi có phụ nữ mang thai, cho con bú, hoặc sống chung với đàn ông; hoặc nơi có chó chờ hay ruồi nhặng vo ve. Họ không nhận cá, thịt, bia, rượu, và không uống cháo lên men.487 Họ chỉ đi khất thực một nhà, nhận một miếng ăn, hoặc hai nhà hai miếng ăn, cho đến bảy nhà bảy miếng ăn. Họ ăn một đĩa mỗi ngày, hai đĩa mỗi ngày, cho đến bảy đĩa mỗi ngày. Họ ăn mỗi ngày một lần, hai ngày một lần, cho đến mỗi tuần một lần, và cứ thế, thậm chí đến nửa tháng một lần. Họ sống chuyên tâm thực hành ăn uống theo định kỳ.

Các sa-môn và bà-la-môn kia cũng xem những pháp khổ hạnh nhiệt thành này là điều làm nên một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Họ ăn các loại rau cỏ, hạt kê, gạo lức hoang, gạo xấu, bèo tây, cám gạo, váng cơm, bột mè, cỏ, hoặc phân bò. Họ sống bằng rễ cây và trái cây rừng, hoặc ăn trái cây rụng.488

Các sa-môn và bà-la-môn kia cũng xem những pháp khổ hạnh nhiệt thành này là điều làm nên một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Họ mặc y phục làm bằng vỏ cây gai dầu, cây gai dầu trộn, vải liệm xác chết, vải vụn, vỏ cây lodh, da linh dương (nguyên miếng hoặc cắt thành dải), cỏ kusa, vỏ cây, dăm gỗ, tóc người, lông đuôi ngựa, hoặc cánh cú.489 Họ nhổ tóc và râu, chuyên tâm thực hành pháp này.490 Họ thường xuyên đứng, từ chối ghế ngồi.491 Họ ngồi xổm, chuyên tâm duy trì tư thế ngồi xổm. Họ nằm trên chiếu gai, lấy chiếu gai làm giường. Họ nằm trên ván gỗ, hoặc trên đất trống. Họ chỉ nằm một bên. Họ mặc đồ dính bụi bẩn.492 Họ ở ngoài trời. Họ ngủ bất cứ nơi nào trải chiếu. Họ ăn những thứ trái tự nhiên, chuyên tâm thực hành ăn những thức ăn trái tự nhiên.493 Họ không uống nước, chuyên tâm thực hành không uống chất lỏng. Họ chuyên tâm tắm theo nghi lễ ba lần một ngày, kể cả buổi tối."494

14. Nghe nói vậy, lõa thể Kassapa bạch đức Thế Tôn:

− Hiền giả Gotama, những pháp khổ hạnh này được những Sa-môn và Bà-la-môn công nhận là đưa đến Sa-môn quả và Bà-la-môn quả: Sống lõa thể, - Sống phóng túng, không theo lễ nghi (như đứng mà đi đại tiểu tiện, đứng ăn, không chịu ngồi theo lễ nghi), - Liếm tay cho sạch (sau khi ăn, không chịu rửa), Ði khất thực không chịu bước tới (theo yêu cầu để thí chủ bỏ đồ ăn vào bát), - Không nhận đồ ăn mang đến (cho mình, trước khi đi khất thực), - Không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình. - Không nhận mời đi ăn. - Không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo (sợ nồi chảo bị nạo, bị cạy để cúng dường đồ ăn), - Không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn (sợ đồ ăn chỉ do một người cho), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai (sợ đứa con trong bụng mẹ bị thiệt thòi), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú (sợ sữa đàn bà sẽ bớt đi), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu (sợ làm trở ngại sự giao cấu), - Không nhận đồ ăn đi quyên (bởi tín đồ khi có nạn đói), - Không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng (sợ chó mất phần ăn), - Không nhận đồ ăn tại chỗ ruồi bu (sợ ruồi mất phần ăn), - Không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. - Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy chỉ nuôi sống với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần.

Này Hiền giả Gotama, những pháp khổ hạnh này được chúng Sa-môn, Bà-la-môn công nhận là đưa đến Sa-môn quả và Bà-la-môn quả. Vị này chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, ăn nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống.

Này Hiền giả Gotama, những pháp khổ hạnh này được công nhận bởi những Sa-môn, Bà-la-môn là đưa đến Sa-môn và Bà-la-môn quả. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da của con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường (kusa), mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người theo tập tục sống nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, không dùng chỗ ngồi, là người ngồi chò hỏ, sống theo hạnh ngồi chò hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, theo hạnh ăn các uế vật (phân bò, nước tiểu bò, tro và đất), sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi).

4. Sự Vô Ích Của Khổ Hạnh Nhiệt Thành

“Này Kassapa, một người có thể thực hành tất cả các hình thức khổ hạnh đó, nhưng nếu họ chưa phát triển và chứng ngộ được thành tựu nào về giới (ethics / đạo đức), định (mind / sự tập trung tâm ý), và tuệ (wisdom / trí tuệ), thì họ còn xa mới là một sa-môn hay bà-la-môn chân chính.495 Nhưng hãy xem một vị tỳ-kheo (mendicant / vị khất sĩ, người tu hành trong Phật giáo) phát triển tâm từ, không còn hận thù và ác ý. Và họ chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) không còn lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm làm rỉ chảy tâm) ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc.496 Khi đạt được điều này, vị tỳ-kheo đó được gọi là ‘sa-môn chân chính’ và cũng là ‘bà-la-môn chân chính’. …”

Khi Ngài nói xong, Kassapa thưa với Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, thật khó để trở thành một sa-môn hay bà-la-môn chân chính.”

"Này Kassapa, trong thế gian này, người ta thường nghĩ rằng khó để trở thành một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Nhưng một người có thể thực hành tất cả các hình thức khổ hạnh đó. Và nếu chỉ vì chừng đó, chỉ vì pháp khổ hạnh nhiệt thành đó mà rất khó để trở thành một sa-môn hay bà-la-môn chân chính, thì không thích hợp để nói rằng khó để trở thành một sa-môn hay bà-la-môn chân chính.

Vì một người gia chủ hay con cái của người gia chủ—hoặc ngay cả một nữ tỳ mang bình nước—cũng hoàn toàn có thể thực hành tất cả các hình thức khổ hạnh đó.

Chính vì có điều gì đó khác hơn là chừng đó, khác hơn là pháp khổ hạnh nhiệt thành đó, mà rất khó để trở thành một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Và đó là lý do tại sao thích hợp để nói rằng khó để trở thành một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Hãy xem một vị tỳ-kheo phát triển tâm từ, không còn hận thù và ác ý. Và họ chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc.497 Khi đạt được điều này, vị tỳ-kheo đó được gọi là ‘sa-môn chân chính’ và cũng là ‘bà-la-môn chân chính’. …"

Khi Ngài nói xong, Kassapa thưa với Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, thật khó để biết một sa-môn hay bà-la-môn chân chính.”

"Này Kassapa, trong thế gian này, người ta thường nghĩ rằng khó để biết một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Nhưng một người có thể thực hành tất cả các hình thức khổ hạnh đó. Và nếu chỉ vì chừng đó, chỉ vì pháp khổ hạnh nhiệt thành đó mà rất khó để biết một sa-môn hay bà-la-môn chân chính, thì không thích hợp để nói rằng khó để biết một sa-môn hay bà-la-môn chân chính.

Vì một người gia chủ hay con cái của người gia chủ—hoặc ngay cả một nữ tỳ mang bình nước—cũng hoàn toàn có thể biết rằng có người đang thực hành tất cả các hình thức khổ hạnh đó.

Chính vì có điều gì đó khác hơn là chừng đó, khác hơn là pháp khổ hạnh nhiệt thành đó, mà rất khó để biết một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Và đó là lý do tại sao thích hợp để nói rằng khó để biết một sa-môn hay bà-la-môn chân chính. Hãy xem một vị tỳ-kheo phát triển tâm từ, không còn hận thù và ác ý. Và họ chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc. Khi đạt được điều này, vị tỳ-kheo đó được gọi là ‘sa-môn chân chính’ và cũng là ‘bà-la-môn chân chính’."

15. - Này Kassapa nếu một người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần, nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc, thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa Tỷ kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người chỉ ăn cỏ lúa để sống, này Kassapa nếu người ấy chỉ ăn lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivàra… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống, nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn với các vải khác,… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi), nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc, thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

16. Khi nghe nói đến đây, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!

− Này Kassapa, đó là lời nói thường tình ở đời: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh! Này Kassapa, như một người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần. Này Kassapa, nếu sự khó hành, sự rất khó hành của Sa-môn hạnh, của Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng ăn một lần”.

Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành trì, vẫn thật khó hành trì, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự tận diệt các lậu hoặc tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người chỉ ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống, nếu sự khó hành, sự rất khó hành của Sa-môn hạnh, của Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này thời thật không xứng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh”. Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ, cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi chỉ ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rừng để sống”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành trì, vẫn thật khó hành trì, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn!

Này Kassapa, nếu một người mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi), nếu có sự khó hành, sự rất khó hành của Samôn hạnh, của Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi chỉ mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi)”, này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành trì, vẫn thật khó hành trì, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

17. Khi nghe nói vậy, lão thể Kassapa bạch đức Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, khó biết thay một vị Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!

− Này Kassapa, đó là lời nói thường tình ở đời: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn !” Này Kassapa, nếu một người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần. Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, nếu trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thi hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần”. Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, nếu trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, chỉ tùy thuộc sự thi hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh này: “Tôi sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, vẫn khó biết vẫn thật khó biết một người Sa-môn hay một người Bà-la-môn, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó biết thay, một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người chỉ ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng đáng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ, cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi chỉ ăn lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực khổ hạnh này, vẫn khó biết một người Sa-môn hay một người Bà-la-môn. Do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó biết thay, một Sa-môn! Khó biết thay, một Bà-la-môn”.

Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này thời thật không xứng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ, cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác … sống một đêm tắm ba lần”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này vẫn rất khó biết một người Sa-môn hay một người Bà-la-môn. Do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

5. Thành Tựu Về Giới, Định, và Tuệ

Khi Ngài nói xong, Kassapa thưa với Thế Tôn: "Nhưng thưa Tôn giả Gotama, thành tựu về giới, về định, và về tuệ đó là gì?"498

"Đó là khi một Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ chân lý) xuất hiện trên thế gian, một bậc A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, giải thoát), một vị Phật chánh đẳng chánh giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và viên mãn) … Thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhất, một vị tỳ-kheo giữ gìn các học giới (rules they’ve undertaken / những điều luật đã thọ nhận để tu học). Vị ấy hành động khéo léo qua thân và khẩu. Vị ấy có sinh kế thanh tịnh (purified in livelihood / cách nuôi mạng trong sạch) và thành tựu giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức). Vị ấy hộ trì các căn (guard the sense doors / bảo vệ các giác quan), có niệm (mindfulness / sự tỉnh thức) và tỉnh giác (situational awareness / sự nhận biết rõ ràng hoàn cảnh), và biết đủ.

Và làm thế nào một vị tỳ-kheo thành tựu giới đức? Đó là khi một vị tỳ-kheo từ bỏ sát sinh. Vị ấy từ bỏ gậy và kiếm. Vị ấy có tàm có quý (scrupulous / có sự hổ thẹn với tội lỗi và ghê sợ hậu quả của tội lỗi) và từ ái, sống đầy lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh. Điều này thuộc về thành tựu giới đức của vị ấy. …

Có một số sa-môn và bà-la-môn, trong khi hưởng dụng thực phẩm do niềm tin cúng dường, vẫn kiếm sống bằng tà thuật (low lore / những hiểu biết thấp kém, mê tín) bằng tà mạng (wrong livelihood / cách nuôi mạng sai trái). … Họ từ bỏ những tà thuật, tà mạng như vậy. Điều này thuộc về thành tựu giới đức của họ.

Một vị tỳ-kheo thành tựu giới đức như vậy không thấy nguy hiểm từ bất cứ đâu đối với sự thu thúc trong giới luật của mình. Giống như một vị vua đã đánh bại kẻ thù. Vị ấy không thấy nguy hiểm từ kẻ thù ở bất cứ đâu. Cũng vậy, một vị tỳ-kheo thành tựu giới đức như vậy không thấy nguy hiểm từ bất cứ đâu đối với sự thu thúc trong giới luật của mình. Khi có được toàn bộ phạm vi giới đức cao quý (noble ethics / đạo đức cao thượng) này, vị ấy cảm nghiệm được niềm hạnh phúc không thể chê trách bên trong mình. Đó là cách một vị tỳ-kheo thành tựu giới đức. Này Kassapa, đây là thành tựu về giới. … Vị ấy nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất) … Điều này thuộc về thành tựu về định của vị ấy. … Vị ấy nhập và an trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai) … tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba) … tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Điều này thuộc về thành tựu về định của vị ấy. Này Kassapa, đây là thành tựu về định.

Khi tâm của vị ấy được nhập định (immersed / chìm sâu vào sự tập trung) như vậy, vị ấy hướng nó và mở rộng nó đến tri kiến (knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy rõ) … Điều này thuộc về thành tựu về tuệ của vị ấy. … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn gì phải làm thêm ở đây nữa.’ Điều này thuộc về thành tựu về tuệ của vị ấy. Này Kassapa, đây là thành tựu về tuệ.

Và, này Kassapa, không có thành tựu nào về giới, định, và tuệ cao hơn hay tốt đẹp hơn thành tựu này.

18. Khi nghe nói vậy, lõa thể Kassapa bạch đức Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, thế nào là giới cụ túc? Thế là tâm cụ túc? Thế nào là tuệ cụ túc?

− Này Kassapa, nay ở đời, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri… (xem Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40-42)… thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, sanh hoạt trong sạch, giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, đầy đủ chánh niệm, chánh trí và biết tri túc.

Này Kassapa, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Kassapa, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật … (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-61),… Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được an ổn, để khỏi làm các điều đã hứa… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 62)… ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới cụ túc của vị ấy. Và như vậy, này Kassapa, vị Tỷ-kheo ấy, nhờ giới luật cụ túc nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về sự hộ trì giới luật. Này Kassapa, như một Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi chỗ nào về sự thù địch. Cũng vậy, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy nhờ giới luật cụ túc, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về sự hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ cụ túc giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm thanh tịnh. Như vậy, này Kassapa, Tỷ-kheo giới luật cụ túc.

19. Này Kassapa, thế nào là vị Tỷ-kheo bảo hộ các căn? Này Kassapa, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn số 64)… những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm thanh tịnh… Như vậy, này Kassapa Tỷ-kheo hộ trì các căn… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 64-75)… khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tỉnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không do hỷ lạc từ ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này Kassapa, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Kassapa Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Như vậy là tâm cụ túc của vị ấy.

Lại nữa, này Kassapa, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh nhất tâm… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 77-79)… đệ tam thiền (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 79-81)… chứng và trú vào thiền thứ tư… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 81-82)… đó là tâm cụ túc của vị ấy. Này Kassapa, đó là tâm cụ túc. 20. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: “Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.”

Này Kassapa, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt khéo giũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi dây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy ở trên tay sẽ thấy: “Hòn ngọc lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi dây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu vàng nhạt”. Cũng vậy, này Kassapa, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: “Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy, thức ta lại nương tựa và bị trói buộc”. Ðó là tuệ cụ túc của vị ấy… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 85-98)… Vị ấy biết: “… không có đời sống nào khác nữa”. Ðó là tuệ cụ túc của vị ấy. Này Kassapa, đó là tuệ cụ túc.

Này Kassapa, và không có một giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới cụ túc, tâm cụ túc và tuệ cụ túc này.

6. Tiếng Gầm Sư Tử

Này Kassapa, có một số sa-môn và bà-la-môn dạy về đạo đức. Họ ca ngợi giới đức bằng nhiều cách. Nhưng xét về giới đức cao quý tối thượng, Ta không thấy ai bằng Ta, huống chi là hơn Ta. Đúng hơn, Ta là người vượt trội khi nói đến tăng thượng giới (higher ethics / giới đức cao hơn).499

Này Kassapa, có một số sa-môn và bà-la-môn dạy về khổ hạnh yếm ly (mortification in disgust of sin / sự ép xác do nhàm chán, ghê sợ tội lỗi).500 Họ ca ngợi khổ hạnh nhiệt thành yếm ly bằng nhiều cách. Nhưng xét về khổ hạnh nhiệt thành yếm ly cao quý tối thượng, Ta không thấy ai bằng Ta, huống chi là hơn Ta. Đúng hơn, Ta là người vượt trội khi nói đến tăng thượng yếm ly (higher disgust of sin / sự nhàm chán, ghê sợ tội lỗi cao hơn).501

Này Kassapa, có một số sa-môn và bà-la-môn dạy về trí tuệ. Họ ca ngợi trí tuệ bằng nhiều cách. Nhưng xét về trí tuệ cao quý (noble wisdom / trí tuệ cao thượng) tối thượng, Ta không thấy ai bằng Ta, huống chi là hơn Ta. Đúng hơn, Ta là người vượt trội khi nói đến tăng thượng tuệ (higher wisdom / trí tuệ cao hơn).

Này Kassapa, có một số sa-môn và bà-la-môn dạy về giải thoát. Họ ca ngợi giải thoát bằng nhiều cách. Nhưng xét về giải thoát cao quý (noble freedom / sự giải thoát cao thượng) tối thượng, Ta không thấy ai bằng Ta, huống chi là hơn Ta. Đúng hơn, Ta là người vượt trội khi nói đến tăng thượng giải thoát (higher freedom / sự giải thoát cao hơn).

Có thể các du sĩ ngoại đạo sẽ nói: 'Sa-môn Gotama chỉ rống tiếng rống sư tử trong một túp lều trống, chứ không phải giữa hội chúng.'502 Nên nói với họ: ‘Không phải vậy!’ Điều nên nói là: ‘Sa-môn Gotama rống tiếng rống sư tử, và Ngài rống giữa các hội chúng.’

Có thể các du sĩ ngoại đạo sẽ nói: ‘Sa-môn Gotama rống tiếng rống sư tử, và Ngài rống giữa các hội chúng. Nhưng Ngài không rống một cách dõng dạc.’ Nên nói với họ: ‘Không phải vậy!’ Điều nên nói là: ‘Sa-môn Gotama rống tiếng rống sư tử, Ngài rống giữa các hội chúng, và Ngài rống một cách dõng dạc.’

Có thể các du sĩ ngoại đạo sẽ nói: ‘Sa-môn Gotama rống tiếng rống sư tử, Ngài rống giữa các hội chúng, và Ngài rống một cách dõng dạc. Nhưng họ không chất vấn Ngài. … Hoặc Ngài không trả lời câu hỏi của họ. … Hoặc câu trả lời của Ngài không thỏa đáng. … Hoặc họ không nghĩ Ngài đáng để lắng nghe. … Hoặc họ không có niềm tin sau khi lắng nghe. … Hoặc họ không thể hiện niềm tin của mình. … Hoặc họ không thực hành theo. … Hoặc họ không thành công trong thực hành.’ Nên nói với họ: ‘Không phải vậy!’ Điều nên nói là: ‘Sa-môn Gotama rống tiếng rống sư tử; Ngài rống giữa các hội chúng; Ngài rống một cách dõng dạc; họ chất vấn Ngài; Ngài trả lời câu hỏi của họ; câu trả lời của Ngài thỏa đáng; họ nghĩ Ngài đáng để lắng nghe; họ có niềm tin sau khi lắng nghe; họ thể hiện niềm tin của mình; họ thực hành theo; và họ thành công trong thực hành.’

21. Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương giới luật. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán giới luật. Này Kassapa, nói về giới luật tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng giới luật của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả về giới luật, tức là tăng thượng giới.

Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương khổ hạnh, yểm ly. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán khổ hạnh, yểm ly. Này Kassapa, nói về khổ hạnh yểm ly tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được khổ hạnh yểm ly của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả về khổ hạnh yểm ly, tức là tăng thượng yểm ly.

Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương trí tuệ. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán trí tuệ. Này Kassapa, nói về trí tuệ tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được trí tuệ của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả về trí tuệ, tức là tăng thượng trí tuệ.

Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương giải thoát. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán giải thoát. Này Kassapa, nói về giải thoát tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được giải thoát của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy, Ta hơn trên tất cả về giải thoát, tức là tăng thượng giải thoát.

22. Này Kassapa, sự tình này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Sa-môn Gotama rống tiếng rống con sư tử nhưng chỉ tại chỗ vắng người, không ở giữa đại chúng”. Nên nói với chúng: “Chớ có nói như vậy. Sa-môn Gotama rống tiếng rống con sư tử tại chỗ vắng người và cả giữa đại chúng”. Này Kassapa, nên nói với chúng như vậy.

Này Kassapa, sự tình này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi: “Sa-môn Gotama rống tiếng rống con sư tử giữa đại chúng, nhưng rống không với tinh thần vô úy… với tinh thần vô úy… và “Không có ai hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi gì… và “có người hỏi Sa-môn Gotama”… “Khi có người hỏi, Sa-môn Gotama không thể trả lời”… và “Khi có người hỏi, Sa-môn Gotama trả lời cho chúng”… và “Dầu cho có trả lời, câu trả lời không làm tâm người ta thỏa mãn”… và “Câu trả lời làm tâm người ta thỏa mãn”… “Nhưng người ta không xem ý kiến của Sa-môn Gotama là đáng được nghe”… “Người ta xem ý kiến của Sa-môn Gotama là đáng được nghe”… “Dầu cho có được nghe, người ta cũng không tin tưởng”… “Người ta nghe có lòng tin tưởng”… “Dầu cho người ta có lòng tin tưởng, người ta không biểu lộ lòng tin tưởng”… “Người ta có lòng tin tưởng và biểu lộ lòng tin tưởng” … “Dầu cho có biểu lộ lòng tin tưởng, người ta không đạt đến chỗ như thực”… “Người ta đạt đến chỗ như thực”… “Dầu cho đạt đến chỗ như thực, người ta không đem ra thực hành được”. Nên nói với chúng: “Chớ có nói như vậy. Samôn Gotama rống tiếng rống con sư tử, rống ở giữa đại chúng, rống với tinh thần vô úy, có người hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama trả lời khi được hỏi, câu trả lời làm tâm người ta được thỏa mãn, người ta xem ý kiến của Sa-môn Gotama đáng được nghe, sau khi được nghe người ta tin tưởng, khi có lòng tin tưởng người ta biểu lộ lòng tin tưởng, người ta đạt đến chỗ như thực, đạt đến chỗ như thực, người ta đem ra thực hành”. Này Kassapa, nên nói với chúng như vậy.

7. Thời Gian Thử Thách Cho Người Từng Xuất Gia

Này Kassapa, có một lần Ta trú gần Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Ở đó, một người tu khổ hạnh phạm hạnh tên là Nigrodha đã hỏi Ta về tăng thượng yếm ly.503 Ta đã trả lời câu hỏi của ông ấy. Ông ấy vô cùng hoan hỷ với câu trả lời của Ta."

“Bạch Thế Tôn, ai lại không vô cùng hoan hỷ sau khi nghe giáo pháp của Thế Tôn? Con cũng vô cùng hoan hỷ sau khi nghe giáo pháp của Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu! Như người lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che kín, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong đêm tối để người có mắt sáng có thể thấy các vật, cũng vậy, Thế Tôn đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn. Bạch Thế Tôn, xin cho con được xuất gia (going forth / từ bỏ đời sống gia đình để tu hành), được thọ cụ túc giới (ordination / nghi lễ chính thức để trở thành tỳ-kheo) trước sự hiện diện của Thế Tôn?”

"Này Kassapa, nếu một người trước đây đã xuất gia trong một giáo phái khác muốn xuất gia, thọ cụ túc giới trong giáo pháp và giới luật này, họ phải trải qua bốn tháng biệt trú (probation / thời gian thử thách riêng).504 Sau bốn tháng, nếu các vị tỳ-kheo hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-kheo. Tuy nhiên, Ta nhận thấy có sự khác biệt cá nhân trong vấn đề này."505

“Bạch Thế Tôn, nếu cần bốn tháng biệt trú trong trường hợp như vậy, con sẽ trải qua bốn năm biệt trú. Sau bốn năm, nếu các vị tỳ-kheo hài lòng, xin hãy cho con xuất gia, thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-kheo.”

Và du sĩ lõa thể Kassapa đã được xuất gia, thọ cụ túc giới trước sự hiện diện của Thế Tôn. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Kassapa, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và kiên định, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Ngài sống sau khi đã tự mình chứng ngộ mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia từ đời sống thế tục sang đời sống không nhà.

Ngài hiểu rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui đời này nữa.” Và Tôn giả Kassapa đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

23. Này Kassapa, một thời Ta ở tại Vương Xá trên núi Linh Thứu. Lúc bấy giờ, có người Phạm chí tu khổ hạnh tên là Nigrodha đến hỏi về tối thắng khổ hạnh yểm ly. Khi được hỏi về tối thắng khổ hạnh yểm ly, Ta đã trả lời. Và khi được Ta trả lời, vị ấy phát tâm hoan hỷ như với một hoan lạc tối thượng.

− Bạch Ðại đức, ai có thể sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, lại không hoan hỷ như với một hoan lạc tối thượng? Thật vi diệu thay, bạch Ðại đức! Thật vi diệu thay, bạch Ðại đức! Bạch Ðại đức, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo Tăng. Bạch Ðại đức, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.

24. - Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.

− Bạch Ðại đức, nếu những người xưa kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng xuất gia cho con, thọ đại giới cho con để thành vị Tỷ-kheo.

Và lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Ðại đức Kassapa ở một mình an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến. Ðó là vô thượng cứu cánh phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng, ngộ và an trú: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”. Ðại đức Kassapa liễu tri như vậy.

Và đại đức Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.

-ooOoo-