Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 9. Với Poṭṭhapāda

Kinh Poṭṭhapāda

1. Về Du sĩ Poṭṭhapāda

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, du sĩ (wanderer / người tu khổ hạnh không theo các tôn giáo chính thống) Poṭṭhapāda cùng với ba trăm du sĩ khác đang ở tại tu viện một mái của Mallikā, nơi dành cho các cuộc tranh luận triết học, được rào bởi hàng cây gỗ mun.506 Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát, vào Sāvatthī để khất thực.

Rồi Ngài nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī.507 Sao ta không đến tu viện của Mallikā để thăm du sĩ Poṭṭhapāda nhỉ?”508 Và Ngài đã làm như vậy.

Lúc đó, Poṭṭhapāda đang ngồi cùng với một hội chúng đông đảo các du sĩ, họ đang nói chuyện ồn ào, náo nhiệt. Họ tham gia vào đủ loại chuyện tầm phào, chẳng hạn như509 chuyện về vua chúa, trộm cướp, và quan lại; chuyện về quân đội, các mối đe dọa, và chiến tranh; chuyện về thức ăn, đồ uống, quần áo, và giường ngủ; chuyện về vòng hoa và hương liệu; chuyện về gia đình, xe cộ, làng mạc, thị trấn, thành phố, và quốc gia; chuyện về phụ nữ và anh hùng; chuyện ngoài đường và chuyện giếng nước; chuyện về người đã khuất; chuyện phiếm đủ loại; những câu chuyện về đất liền và biển cả; và chuyện về việc tái sinh ở nơi này hay nơi khác.

Poṭṭhapāda thấy Thế Tôn từ xa đi tới, liền ra hiệu cho hội chúng của mình im lặng: “Thưa quý vị, xin hãy giữ im lặng, đừng gây tiếng động. Sa-môn Gotama đang đến. Vị tôn giả ấy thích sự yên tĩnh và tán thán sự yên tĩnh. Hy vọng nếu thấy hội chúng chúng ta im lặng, ngài ấy sẽ thấy phù hợp để đến gần.”510 Rồi các du sĩ ấy im lặng.

Sau đó, Thế Tôn đến gần Poṭṭhapāda, người này nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin mời Ngài đến! 511 Kính mừng Thế Tôn! Đã lâu lắm rồi Ngài mới có dịp đến đây. Thưa Ngài, xin mời ngồi, chỗ này đã sẵn sàng.”

Thế Tôn ngồi vào chỗ đã trải sẵn, trong khi Poṭṭhapāda lấy một chiếc ghế thấp hơn và ngồi sang một bên. Thế Tôn nói với ông: “Này Poṭṭhapāda, các ông vừa ngồi nói chuyện gì vậy? Câu chuyện nào còn dang dở?”512

9. KINH POTTHAPÀDA (BỐ-SÁ-BÀ-LÂU)

(Potthapàda Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sàvatthi (Xá-vệ), rừng Jetavana (Kỳ viên), vườn Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Potthapada (Bố-sá-bà-lâu) cùng với đại chúng du sĩ ngoại đạo khoảng ba trăm vị, ở tại vườn của hoàng hậu Mallika (Mạt-lê-viên) tên là Ekasàlaka có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn về chánh kiến, tà kiến.

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y cầm bát vào Sàvatthi khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực tại Sàvatthi, Ta hãy đi đến vườn của hoàng hậu Mallika tên là Ekasàlaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn chánh kiến, tà kiến, để gặp du sĩ ngoại đạo Potthapàda”. Và Thế Tôn đi đến vườn của hoàng hậu Mallika, tên là Ekasàlaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận về chánh kiến, tà kiến.

3. Lúc bấy giờ du sĩ ngoại đạo Potthapàda ngồi với đại chúng du sĩ ngoại đạo, đang ồn ào, la lối, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa; câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần; câu chuyện về binh lính; các câu chuyện về hãi hùng; câu chuyện về chiến tranh; câu chuyện về đồ ăn; câu chuyện về đồ uống; câu chuyện về đồ mặc; câu chuyện về giường nằm; câu chuyện về vòng hoa; câu chuyện về hương liệu; câu chuyện về bà con; câu chuyện về xe cộ; câu chuyện về làng xóm; câu chuyện về thị trấn; câu chuyện về thành phố; câu chuyện về quốc độ; câu chuyện về đàn bà; câu chuyện về đàn ông; câu chuyện về vị anh hùng; câu chuyện bên lề đường; câu chuyện tại chỗ lấy nước; câu chuyện về người đã chết; các câu chuyện tạp thoại; câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương; câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu.

4. Du sĩ ngoại đạo Potthapàda thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: “Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Ðại đức này tán thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé đến đây”. Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng.

5. Rồi Thế Tôn đến du sĩ ngoại đạo Potthapàda. Và du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn: “Thiện tai Thế Tôn! Hoan nghênh Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn không quá bộ đến đây. Mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn”.

Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ ngoại đạo Potthapàda lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với du sĩ Potthapàda đã ngồi một bên: “Này Potthapàda, vấn đề gì các vị đang ngồi thảo luận? Vấn đề gì đang nói mà bị gián đoạn?”

1.1. Về sự chấm dứt của nhận thức

Khi Ngài nói vậy, du sĩ Poṭṭhapāda thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin hãy bỏ qua chuyện chúng con vừa ngồi nói. Chuyện đó Ngài nghe sau cũng không muộn.

Bạch Thế Tôn, vài ngày trước, một số sa-môn và bà-la-môn theo các tôn giáo khác nhau đang ngồi cùng nhau tại giảng đường tranh luận, và một cuộc thảo luận về sự chấm dứt của nhận thức (tưởng / perceptions / nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) đã nảy sinh giữa họ:513 ‘Sự chấm dứt của nhận thức xảy ra như thế nào?’514

Một số người nói: ‘Nhận thức của một người sinh khởi và chấm dứt không do nguyên nhân hay lý do nào cả.515 Khi chúng sinh khởi, bạn trở thành người có nhận thức. Khi chúng chấm dứt, bạn trở thành người không có nhận thức.’ Đó là cách một số người mô tả sự chấm dứt của nhận thức.

Nhưng người khác lại nói: ‘Thưa quý vị, không phải như vậy! 516 Nhận thức là tự ngã (self / cái tôi, bản ngã) của một người,517 nó đi vào và đi ra. Khi nó đi vào, bạn trở thành người có nhận thức. Khi nó đi ra, bạn trở thành người không có nhận thức.’518 Đó là cách một số người mô tả sự chấm dứt của nhận thức.

Nhưng người khác nữa lại nói: ‘Thưa quý vị, không phải như vậy! Có những sa-môn và bà-la-môn có năng lực và sức mạnh vĩ đại.519 Họ đưa nhận thức vào và lấy nhận thức ra khỏi một người.520 Khi họ đưa nó vào, bạn trở thành người có nhận thức. Khi họ lấy nó ra, bạn trở thành người không có nhận thức.’ Đó là cách một số người mô tả sự chấm dứt của nhận thức.

Nhưng một người khác nữa lại nói: ‘Thưa quý vị, không phải như vậy! Có những vị trời có năng lực và sức mạnh vĩ đại. Họ đưa nhận thức vào và lấy nhận thức ra khỏi một người. Khi họ đưa nó vào, bạn trở thành người có nhận thức. Khi họ lấy nó ra, bạn trở thành người không có nhận thức.’ Đó là cách một số người mô tả sự chấm dứt của nhận thức.

Điều đó làm con nhớ đến Thế Tôn: ‘Chắc chắn phải là Thế Tôn, Đấng Thiêng Liêng, người rất thiện xảo trong những vấn đề như vậy.’ Thế Tôn thiện xảo và thông suốt về sự chấm dứt của nhận thức.521 Sự chấm dứt của nhận thức xảy ra như thế nào?”

6. Khi nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên câu chuyện chúng tôi đang ngồi bàn luận, bạch Thế Tôn, lát nữa Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, thuở xưa xưa lắm, nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo tụ họp, ngồi hội thảo trong giảng đường nêu lên vấn đề sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

“Này Tôn giả, tăng thượng tưởng diệt tận như thế nào?” Một vài vị trả lời: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt! Khi tưởng sanh con người có tưởng, khi tưởng diệt con người không có tưởng”. Như vậy, một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, tưởng là tự ngã của con người, chính tưởng ấy đến và đi. Khi tưởng ấy đến thì con người có tưởng, khi tưởng ấy đi thì con người không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

Vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn có đại thần thông và đại oai lực. Chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và cũng kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những vị thiên thần có đại thần thông, có đại oai lực, chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng. Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ con tưởng niệm đến Thế Tôn: “Mong Thế Tôn có mặt ở đây! Mong Thiện thệ có mặt ở đây! Ngài rất tinh thông những pháp này. Chắc chắn Thế Tôn biết rõ sự diệt tận các tăng thượng tưởng”. Bạch Thế Tôn, sự diệt tận các tăng thượng tưởng như thế nào?

1.2. Nhận thức sinh khởi có nguyên nhân

“Về vấn đề này, này Poṭṭhapāda, những sa-môn và bà-la-môn nói rằng “nhận thức của một người sinh khởi và chấm dứt không do nguyên nhân hay lý do nào cả” là sai lầm ngay từ đầu. Tại sao vậy? Bởi vì nhận thức của một người sinh khởi và chấm dứt đều có nguyên nhân và lý do. Với sự tu tập, một số nhận thức được sinh khởi và một số nhận thức bị chấm dứt.522

Và sự tu tập đó là gì?” Thế Tôn nói.523

“Đó là khi một Như Lai (Realized One / Tathāgata, bậc đã đạt đến chân lý như thật) xuất hiện trên thế gian, một bậc A-la-hán, một vị Phật hoàn toàn giác ngộ… Đó là cách một vị tỷ-kheo thành tựu giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức). …524

Thấy rằng các triền cái (hindrances / nīvaraṇa, những chướng ngại tinh thần) đã được từ bỏ trong họ, niềm hân hoan khởi lên. Khi hân hoan, niềm vui (rapture / hỷ, sự vui sướng dâng trào) khởi lên. Khi tâm tràn đầy niềm vui, thân trở nên khinh an (tranquility / sự yên ổn, nhẹ nhàng của thân tâm). Khi thân khinh an, họ cảm thấy an ổn (bliss / lạc, cảm giác hạnh phúc, dễ chịu). Và khi an ổn, tâm trở nên định tĩnh (immersed / samādhi, sự tập trung cao độ của tâm).

7. Này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt”. Những vị này đã sai lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy? Này Potthapàda, chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người sinh và diệt. Chính do sự học tập, một loại tưởng sanh, chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.

Và Thế Tôn nói:

− Sự học tập ấy là gì? Này Potthapàda, nay ở đời Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri… (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40-43 trừ đoạn kết của mỗi đoạn) thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc. Này Potthapàda, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh đầy đủ? Ở đây này Potthapàda, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-62)… như dùng ảo thuật để yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa… ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên… như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

8. Này Potthapàda, và như vậy Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Này Potthapàda, như một Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.

9. Này Potthapàda, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Potthapàda, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo hộ trì các căn… (như kinh Samôn quả, đoạn kinh số 65-74)…

Hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện, họ nhập và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có niềm vui và an ổn do ly dục sinh, có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó). Nhận thức về dục giới mà họ có trước đó chấm dứt.525 Lúc đó, họ có một mô hình thực tại mới vi tế và chân thật về niềm vui và an ổn do ly dục sinh.526 Đó là cách, với sự tu tập, một số mô hình thực tại được sinh khởi và một số mô hình thực tại bị chấm dứt". "Và đây chính là sự tu tập đó,” Thế Tôn nói.

“Hơn nữa, khi tầm và tứ lắng dịu, một vị tỷ-kheo nhập và trú thiền thứ hai, một trạng thái có niềm vui và an ổn do định sinh, với nội tâm trong sáng và nhất tâm, không tầm, chỉ có tứ (without placing the mind, merely keeping it connected / không có sự hướng ý nghĩ đến đối tượng nào, mà đơn thuân giữ sự quan sát đối tượng bất kỳ). Mô hình thực tại vi tế và chân thật về niềm vui và an ổn do ly dục sinh mà họ có trước đó chấm dứt. Lúc đó, họ có một mô hình thực tại vi tế và chân thật về niềm vui và an ổn do định sinh. Đó là cách, với sự tu tập, một số nhận thức được sinh khởi và một số nhận thức bị chấm dứt. Và đây chính là sự tu tập đó,” Thế Tôn nói.

“Hơn nữa, với sự phai nhạt của niềm vui, một vị tỷ-kheo nhập và trú thiền thứ ba, nơi họ thiền với xả (upekkhā / trạng thái quân bình của tâm, không dao động trước các cảm xúc), tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, tự thân cảm nghiệm sự an ổn mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Người có xả và tỉnh thức, thiền trong an ổn.’ Nhận thức vi tế và chân thật về niềm vui và an ổn do định sinh mà họ có trước đó chấm dứt. Lúc đó, họ có một nhận thức vi tế và chân thật về sự an ổn với xả. Đó là cách, với sự tu tập, một số nhận thức được sinh khởi và một số nhận thức bị chấm dứt. Và đây chính là sự tu tập đó,” Thế Tôn nói.

“Hơn nữa, từ bỏ lạc và khổ, chấm dứt hỷ và ưu trước đó, một vị tỷ-kheo nhập và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, với xả và tỉnh thức hoàn toàn thanh tịnh. Nhận thức vi tế và chân thật về sự an ổn với xả mà họ có trước đó chấm dứt. Lúc đó, họ có một nhận thức vi tế và chân thật về cảm giác trung tính. Đó là cách, với sự tu tập, một số nhận thức được sinh khởi và một số nhận thức bị chấm dứt. Và đây chính là sự tu tập đó,” Thế Tôn nói.

“Hơn nữa, một vị tỷ-kheo, hoàn toàn vượt qua nhận thức về hình sắc, với sự chấm dứt nhận thức về sự đối ngại, không chú tâm đến nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô biên’, nhập và trú vào Không vô biên xứ (dimension of infinite space / cõi thiền định nơi nhận thức về không gian là vô tận).527 Nhận thức về hình sắc ánh sáng mà họ có trước đó chấm dứt.528 Lúc đó, họ có một nhận thức vi tế và chân thật về Không vô biên xứ.529 Đó là cách, với sự tu tập, một số nhận thức được sinh khởi và một số nhận thức bị chấm dứt. Và đây chính là sự tu tập đó,” Thế Tôn nói.

“Hơn nữa, một vị tỷ-kheo, hoàn toàn vượt qua Không vô biên xứ, ý thức rằng ‘thức là vô biên’, nhập và trú vào Thức vô biên xứ (dimension of infinite consciousness / cõi thiền định nơi nhận thức về tâm thức là vô tận).530 Nhận thức vi tế và chân thật về Không vô biên xứ mà họ có trước đó chấm dứt. Lúc đó, họ có một nhận thức vi tế và chân thật về Thức vô biên xứ. Đó là cách, với sự tu tập, một số nhận thức được sinh khởi và một số nhận thức bị chấm dứt. Và đây chính là sự tu tập đó,” Thế Tôn nói.

“Hơn nữa, một vị tỷ-kheo, hoàn toàn vượt qua Thức vô biên xứ, ý thức rằng ‘không có gì cả’, nhập và trú vào Vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi thiền định nơi không còn đối tượng nào để nhận thức).531 Nhận thức vi tế và chân thật về Thức vô biên xứ mà họ có trước đó chấm dứt. Lúc đó, họ có một nhận thức vi tế và chân thật về Vô sở hữu xứ. Đó là cách, với sự tu tập, một số nhận thức được sinh khởi và một số nhận thức bị chấm dứt.532 Và đây chính là sự tu tập đó,” Thế Tôn nói.

10. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan, nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ. Dục tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật do ly dục sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật, do ly dục sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

11. Lại nữa, này Potthapàda, Tỷ-kheo diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do ly dục sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

12. “Lại nữa này Potthapàda, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và trú thiền thứ ba. Tưởng hỷ lạc chơn thật vi diệu do định sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên và cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

13. Lại nữa này Potthapàda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy xả lạc chơn thật vi diệu xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

14. Lại nữa này Potthapàda, với sự vượt thoát mọi sắc tưởng, với sự diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, với sự không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy sắc tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do sự học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

15. Lại nữa này Potthapàda, với sự vượt thoát mọi Không vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ. Như vậy tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

16. Lại nữa này Potthapàda, với sự vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

“Này Poṭṭhapāda, từ khi một vị tỷ-kheo ở đây tự chủ nhận thức của mình, vị ấy tiến từ giai đoạn này sang giai đoạn kế tiếp, dần dần đạt đến đỉnh cao của nhận thức.533 Đứng trên đỉnh cao của nhận thức, vị ấy nghĩ: ‘Sự chủ ý điều khiên ý nghĩ (Intentionality/ sự cố ý) là xấu đối với ta, tốt hơn là không có nó. Vì nếu ta có chủ ý và lựa chọn, khi những nhận thức này chấm dứt trong ta, thì những nhận thức thô thiển khác sẽ sinh khởi.534 Tại sao ta không lựa chọn cũng không hình thành chủ ý?’ Vị ấy không lựa chọn cũng không hình thành chủ ý. Những nhận thức đó chấm dứt trong vị ấy, và những nhận thức thô thiển khác không sinh khởi. Vị ấy chạm đến sự chấm dứt. Và đó, Poṭṭhapāda, là cách sự chấm dứt tuần tự của nhận thức được đạt đến với sự tỉnh thức.535

Ông nghĩ sao, Poṭṭhapāda? Ông đã từng nghe điều này trước đây chưa?”

“Chưa, thưa Ngài.536 Đây là cách con hiểu những gì Thế Tôn nói:537 ‘Từ khi một vị tỷ-kheo ở đây tự chủ nhận thức của mình, vị ấy tiến từ giai đoạn này sang giai đoạn kế tiếp, dần dần đạt đến đỉnh cao của nhận thức. Đứng trên đỉnh cao của nhận thức, vị ấy nghĩ: “Sự chủ ý điều khiên ý nghĩ là xấu đối với ta, tốt hơn là không có nó. Vì nếu ta có chủ ý và lựa chọn, khi những nhận thức này chấm dứt trong ta, thì những nhận thức thô thiển khác sẽ sinh khởi. Tại sao ta không lựa chọn cũng không hình thành chủ ý?” Những nhận thức đó chấm dứt trong vị ấy, và những nhận thức thô thiển khác không sinh khởi. Vị ấy chạm đến sự chấm dứt. Và đó là cách sự chấm dứt tuần tự của nhận thức được đạt đến với sự tỉnh thức.’”

“Đúng vậy, Poṭṭhapāda.”

“Thế Tôn mô tả chỉ một đỉnh cao của nhận thức, hay nhiều đỉnh cao?”

“Ta mô tả đỉnh cao của nhận thức vừa là một, vừa là nhiều.”

“Nhưng thưa Ngài, làm thế nào Ngài mô tả nó là một đỉnh cao và là nhiều đỉnh cao?”

“Ta mô tả đỉnh cao của nhận thức tùy theo cách thức cụ thể mà một người chạm đến sự chấm dứt.538 Đó là cách Ta mô tả đỉnh cao của nhận thức vừa là một, vừa là nhiều.”

“Nhưng thưa Ngài, nhận thức sinh khởi trước rồi tri kiến sau? Hay tri kiến sinh khởi trước rồi nhận thức sau? Hay cả hai cùng sinh khởi một lúc?”539

“Nhận thức sinh khởi trước rồi tri kiến sau. Sự sinh khởi của nhận thức dẫn đến sự sinh khởi của tri kiến.540 Họ hiểu rằng, ‘Tri kiến của ta sinh khởi từ một điều kiện cụ thể.’541 Đó là một cách để hiểu làm thế nào nhận thức sinh khởi trước và tri kiến sau; rằng sự sinh khởi của nhận thức dẫn đến sự sinh khởi của tri kiến.”

17. Lại nữa này Potthapàda, khi Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng”. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Potthapàda, là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.

18. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Trước đây ngươi đã nghe sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng này không?

− Bạch Thế Tôn, con không có nghe. Bạch Thế Tôn, nhưng nay con hiểu lời nói của Thế Tôn.

− Này Potthapàda, khi Tỷ-kheo ở đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này, khi đứng lại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng, có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên. Vậy ta hãy đừng có suy tưởng”. Và vị này không có suy tưởng. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác cũng không khởi lên. Vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy này Potthapàda là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.

− Như vậy là phải, này Potthapàda!

19. - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chỉ nói đến một tưởng tuyệt đỉnh hay nhiều tưởng tuyệt đỉnh?

− Này Potthapàda, Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.

− Bạch Thế Tôn, làm sao Thế Tôn nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh?

− Này Potthapàda, tùy theo vị ấy cảm thọ sự diệt tận (của một tưởng) sau tưởng khác, vị ấy đạt tới nhiều tuyệt đỉnh sai khác, cái này tiếp theo cái kia cho đến tuyệt đỉnh cuối cùng mà Ta nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh. Này Potthapàda như vậy Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.

20. - Bạch Thế Tôn, tưởng khởi trước, trí khởi sau; hay trí khởi trước tưởng khởi sau; hay tưởng và trí cùng khởi một lần không trước không sau?

− Này Potthapàda, tưởng khởi trước trí mới khởi sau, do tưởng sanh, trí mới sanh. Vị ấy tuệ tri: “Do duyên tưởng, trí sanh ra nơi ta”. Này Potthapàda, với lời dạy này cần phải hiểu tưởng sanh trước trí sanh sau, tưởng sanh trí mới sanh.

1.3. Nhận thức và Tự ngã

“Thưa Ngài, nhận thức có phải là tự ngã của một người, hay nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau?”542

“Nhưng Poṭṭhapāda, ông có tin vào một tự ngã không?”543

“Con tin vào một tự ngã vật chất, thưa Ngài, được hình thành, tạo thành từ bốn đại, và tiêu thụ thức ăn đặc.”544

“Giả sử có một tự ngã vật chất như vậy, Poṭṭhapāda. Trong trường hợp đó, nhận thức sẽ là một thứ, tự ngã là một thứ khác.545 Đây là một cách khác để hiểu làm thế nào nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau. Chừng nào tự ngã vật chất đó còn tồn tại, thì một số nhận thức vẫn sinh khởi trong một người và những nhận thức khác chấm dứt.546 Đó là một cách để hiểu làm thế nào nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau.”

“Thưa Ngài, con tin vào một tự ngã do tâm tạo, toàn vẹn các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót giác quan nào.”547

“Giả sử có một tự ngã do tâm tạo như vậy, Poṭṭhapāda. Trong trường hợp đó, nhận thức sẽ là một thứ, tự ngã là một thứ khác. Đây là một cách khác để hiểu làm thế nào nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau. Chừng nào tự ngã do tâm tạo đó còn tồn tại, thì một số nhận thức vẫn sinh khởi trong một người và những nhận thức khác chấm dứt. Đó cũng là một cách để hiểu làm thế nào nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau.”

“Thưa Ngài, con tin vào một tự ngã vô sắc được tạo thành từ nhận thức.”548

“Giả sử có một tự ngã vô sắc như vậy, Poṭṭhapāda. Trong trường hợp đó, nhận thức sẽ là một thứ, tự ngã là một thứ khác. Đây là một cách khác để hiểu làm thế nào nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau. Chừng nào tự ngã vô sắc đó còn tồn tại, thì một số nhận thức vẫn sinh khởi trong một người và những nhận thức khác chấm dứt. Đó cũng là một cách để hiểu làm thế nào nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau.”

“Nhưng, thưa Ngài, con có thể biết được liệu549 nhận thức có phải là tự ngã của một người, hay nhận thức và tự ngã là những thứ khác nhau không?”

“Điều này khó cho ông hiểu, vì ông có quan điểm, tín ngưỡng và niềm tin khác, trừ khi ông chuyên tâm thực hành dưới sự hướng dẫn của truyền thống.”550

“Vậy, nếu trường hợp là vậy, thưa Ngài, thì Ngài nghĩ sao về điều này: ‘Vũ trụ là vĩnh cửu. Đây là chân lý duy nhất, mọi thứ khác đều vô ích’?”551

“Điều này Ta không tuyên bố, Poṭṭhapāda.”

“Vậy Ngài nghĩ sao về điều này: ‘Vũ trụ không vĩnh cửu. Đây là chân lý duy nhất, mọi thứ khác đều vô ích’?”

“Điều này Ta cũng không tuyên bố.”

“Vậy Ngài nghĩ sao về điều này: ‘Vũ trụ là hữu hạn…’ … ‘Vũ trụ là vô hạn…’ … ‘Linh hồn và thể xác là một…’ … ‘Linh hồn và thể xác là khác nhau…’ … ‘Một bậc giác ngộ vẫn tồn tại sau khi chết…’ … ‘Một bậc giác ngộ không còn tồn tại sau khi chết…’ … ‘Một bậc giác ngộ vừa tồn tại vừa không còn tồn tại sau khi chết…’ … ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Đây là chân lý duy nhất, mọi thứ khác đều vô ích’?”

“Điều này Ta cũng không tuyên bố.”

21. - Bạch Thế Tôn, tưởng có phải là tự ngã của con người hay tưởng khác, tự ngã khác?

− Này Potthapàda, ngươi hiểu tự ngã như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành, và do đoàn thực nuôi dưỡng.

− Này Potthapàda, nếu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, như vậy này Potthapàda, tưởng khác và tự ngã khác. Này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu, tưởng khác và tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sử tự ngã ấy là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.

22. - Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn.

− Này Potthapàda, nếu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, như vậy này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sự tự ngã ấy là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. − Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành.

23. - Này Potthapàda, nếu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, với sự nhận thức này Potthapàda, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sự tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, tuy vậy, một vài tưởng khác của người khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.

24. - Bạch Thế Tôn, con có thể hiểu được chăng “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”?

− Này Potthapàda, thật khó cho ngươi biết được “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”, vì ngươi có dị kiến, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác.

25. - Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con biết được “tưởng là tự ngã của con người”, hay “tưởng khác, tự ngã khác” vì con có dị kiến khác, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác, thời bạch Thế Tôn, thế giới có phải là thường còn không? Chỉ có quan niệm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là thường còn, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải thế giới này là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

26. - Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng và thân thể là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thật, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thân thể và sinh mạng là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng khác, thân thể khác? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Sinh mạng khác, thân thể khác. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

27. - Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại sau khi chết? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

“Tại sao những điều này không được Thế Tôn tuyên bố?”

“Bởi vì chúng không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng không dẫn đến sự nhàm chán (nibbidā / sự chán ngán, không còn hứng thú với thế gian), ly tham (virāga / sự từ bỏ tham ái), diệt (nirodha / sự chấm dứt khổ đau), an tịnh (passaddhi / sự lắng dịu, bình yên), thắng trí (abhiññā / sự hiểu biết siêu việt, trực tiếp), giác ngộ (bodhi / sự tỉnh thức hoàn toàn), và Niết-bàn (nibbāna / sự dập tắt hoàn toàn mọi phiền não, khổ đau). Đó là lý do Ta không tuyên bố chúng.”

“Vậy điều gì đã được Thế Tôn tuyên bố?”

“Ta đã tuyên bố điều này: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự diệt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự diệt khổ’.”

“Tại sao những điều này được Thế Tôn tuyên bố?”

“Bởi vì chúng lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn. Đó là lý do Ta đã tuyên bố chúng.”

“Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, Đấng Thiêng Liêng! Xin Ngài tùy nghi.” Rồi Thế Tôn đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

Ngay sau khi Thế Tôn rời đi, các du sĩ đó vây quanh Poṭṭhapāda từ mọi phía với những lời chế nhạo và giễu cợt.552 “Dù Sa-môn Gotama nói gì, Poṭṭhapāda cũng đồng ý với ngài ấy: ‘Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, Đấng Thiêng Liêng!’ Chúng tôi hiểu rằng Sa-môn Gotama hoàn toàn không đưa ra lời dạy nhất quyết (categorical / khẳng định, dứt khoát) nào về việc vũ trụ có vĩnh cửu hay không, vân vân.”

Khi họ nói vậy, Poṭṭhapāda nói với họ: “Tôi cũng hiểu rằng Sa-môn Gotama hoàn toàn không đưa ra lời dạy nhất quyết nào về việc vũ trụ có vĩnh cửu hay không, vân vân. Tuy nhiên, pháp hành mà ngài ấy mô tả là chân thật, thực tế và chính xác. Đó là quy luật của các nguyên lý tự nhiên, sự bất biến của các nguyên lý tự nhiên. Vậy làm sao một người có hiểu biết như tôi lại không đồng ý rằng những gì Sa-môn Gotama đã nói hay lại không phải là nói hay?”

28. - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời?

− Này Potthapàda, câu hỏi này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy, Ta không trả lời.

29. - Bạch Thế Tôn, vậy Thế Tôn trả lời những gì?

− Này Potthapàda, Ta trả lời: “Ðây là khổ”. Ta trả lời: “Ðây là khổ tập”. “Ta trả lời: “Ðây là khổ diệt”. Ta trả lời: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.

30. - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn trả lời?

− Này Potthapàda, câu hỏi này thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản của phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy Ta trả lời.

− Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiên Thệ, như vậy là phải. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Ngài làm gì Ngài xem là phải làm.

Và Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

31. Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu, những du sĩ ngoại đạo ấy liền bao vây xung quanh du sĩ ngoại đạo Potthapàda và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Potthapàda này là như vậy, những gì Sa-môn Gotama nói đều được Potthapàda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, “hay Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”.

Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Potthapàda nói với các du sĩ ngoại đạo kia:

− Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị tuyên bố một phương pháp như thực, chân chánh, chân thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại không tán thành?

2. Về Citta Hatthisāriputta

Rồi sau hai ba ngày, Citta Hatthisāriputta và Poṭṭhapāda đến gặp Thế Tôn. Citta Hatthisāriputta đảnh lễ và ngồi xuống một bên.553 Nhưng du sĩ Poṭṭhapāda thì chào hỏi Thế Tôn, và sau khi những lời chào hỏi và chuyện trò lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên. Poṭṭhapāda kể lại cho Thế Tôn những gì đã xảy ra sau khi Ngài rời đi. Thế Tôn nói:

“Tất cả những du sĩ đó, Poṭṭhapāda, đều mù lòa và không có mắt. Chỉ có ông là người có mắt sáng. Vì Ta đã dạy và chỉ ra những lời dạy nhất quyết554 và cả những lời dạy không nhất quyết (not categorical / không khẳng định, không dứt khoát).

Và những lời dạy nào Ta đã dạy và chỉ ra là không nhất quyết? ‘Vũ trụ là vĩnh cửu’ … ‘Vũ trụ không vĩnh cửu’ … ‘Vũ trụ là hữu hạn’ … ‘Vũ trụ là vô hạn’ … ‘Linh hồn và thể xác là một’ … ‘Linh hồn và thể xác là khác nhau’ … ‘Một bậc giác ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’ … ‘Một bậc giác ngộ không còn tồn tại sau khi chết’ … ‘Một bậc giác ngộ vừa tồn tại vừa không còn tồn tại sau khi chết’ … ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết.’

Và tại sao Ta đã dạy và chỉ ra những lời dạy như vậy là không nhất quyết? Bởi vì những điều đó không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng không dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn. Đó là lý do Ta đã dạy và chỉ ra những lời dạy như vậy là không nhất quyết.

32. Hai ba ngày sau, Citta Hatthisàriputta và du sĩ ngoại đạo Potthapàda đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đi đến nơi, Citta Hatthisàriputta đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn du sĩ ngoại đạo Potthapàda, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu những du sĩ ngoại đạo liền bao vây xung quanh con và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Potthapàda này là như vậy. Những gì Sa-môn Gotama nói đều được Potthapàda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải, Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Khi được nói vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo kia: “Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường con”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hưu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác” hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn thánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại có thể không tán thành?”

33. - Này Potthapàda, những vị du sĩ ngoại đạo ấy là mù, không có mắt, chỉ có ngươi là người có mắt độc nhất giữa chúng. Này Potthapàda, có những pháp được Ta truyền thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Potthapàda, có những pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. Này Potthapàda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? “Thế giới là thường còn”, Này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là vô thường”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là hữu biên”, này Potthapàda… “Thế giới là vô biên”, này Potthapàda… “Sinh mạng và thân thể là một”, này Potthapàda… “Sinh mạng khác, thân thể khác”, này Potthapàda… “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda… “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda… “Như Lai có tồn tại và cũng không có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda … “Như Lai không có tồn tại và cũng không không có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát.

Này Potthapàda, vì sao những pháp ấy lại được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? Này Potthapàda, những pháp này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Potthapàda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? “Ðây là khổ”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ tập”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ diệt”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách dứt khoát.

2.1. Những lời dạy nhất quyết

Và những lời dạy nào Ta đã dạy và chỉ ra là nhất quyết? ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự diệt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự diệt khổ’.

Và tại sao Ta đã dạy và chỉ ra những lời dạy như vậy là nhất quyết? Bởi vì chúng lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn. Đó là lý do Ta đã dạy và chỉ ra những lời dạy như vậy là nhất quyết.

Có một số sa-môn và bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này: ‘Tự ngã hoàn toàn hạnh phúc và không bệnh tật sau khi chết.’555 Ta đến gặp họ và nói: ‘Có thật sự đây là quan điểm của các vị tôn giả không?’556 Và họ trả lời: ‘Vâng.’ Ta nói với họ: ‘Nhưng các vị có thiền định để biết và thấy một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?’557 Được hỏi như vậy, họ nói: ‘Không.’

Ta nói với họ: ‘Nhưng các vị có từng nhận thức được một tự ngã hoàn toàn hạnh phúc trong một ngày hay một đêm, hay thậm chí nửa ngày hay nửa đêm không?’558 Được hỏi như vậy, họ nói: ‘Không.’

Ta nói với họ: ‘Nhưng các vị có biết một con đường và một pháp hành để hiện thực hóa một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?’559 Được hỏi như vậy, họ nói: ‘Không.’

Ta nói với họ: ‘Nhưng các vị có bao giờ nghe thấy tiếng của các vị trời tái sinh trong một thế giới hoàn toàn hạnh phúc nói rằng: “Hãy thực hành tốt, thưa quý vị, hãy thực hành chân thành để hiện thực hóa một thế giới hoàn toàn hạnh phúc.560 Vì đây là cách chúng tôi đã thực hành, và chúng tôi đã tái sinh trong một thế giới hoàn toàn hạnh phúc”?’ Được hỏi như vậy, họ nói: ‘Không.’

Ông nghĩ sao, Poṭṭhapāda? Như vậy, những gì họ nói có phải là không có cơ sở chứng minh không?”561

“Rõ ràng là như vậy, thưa Ngài.”

“Giả sử, Poṭṭhapāda, một người đàn ông nói: ‘Ai là người phụ nữ đẹp nhất xứ này, chính là người tôi muốn, người tôi khao khát!’562 Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà anh khao khát đó – anh có biết cô ấy thuộc dòng dõi quý tộc, bà-la-môn, nông dân, hay tiện dân không?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ nói: ‘Không.’ Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà anh khao khát đó – anh có biết tên hay dòng họ của cô ấy không? Cô ấy cao, thấp, hay trung bình? Da cô ấy đen, nâu, hay vàng hoe? Cô ấy đến từ làng, thị trấn, hay thành phố nào?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ nói: ‘Không.’ Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, anh khao khát một người mà anh chưa từng biết hay thấy sao?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ nói: ‘Vâng.’

Ông nghĩ sao, Poṭṭhapāda? Như vậy, lời nói của người đàn ông đó có phải là không có cơ sở chứng minh không?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa Ngài.”

“Cũng vậy, các sa-môn và bà-la-môn có học thuyết và quan điểm đó…

Những gì họ nói có phải là không có cơ sở chứng minh không?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa Ngài.”

Này Potthapàda, vì sao những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? Này Potthapàda, những pháp ấy thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát.

34. Này Potthapàda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được Ta hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự thân cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?

Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên, đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. “Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hành. Này các vị hãy thực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy không trả lời không. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác hợp lý?

35. Như có một người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và ái luyến một người Ông không biết, Ông không thấy?” Ðược hỏi vậy vị ấy trả lời phải. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

36. - Như vậy này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”, Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự nhận cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không? Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hạnh! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc! Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Potthapàda, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn sự kiện là như vậy, theo lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

“Giả sử một người đàn ông làm một cái thang ở ngã tư đường để trèo lên một ngôi nhà sàn dài.563 Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, ngôi nhà sàn dài mà anh đang làm thang cho đó – anh có biết nó ở hướng bắc, nam, đông, hay tây không? Hay nó cao, thấp, hay trung bình?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ nói: ‘Không.’ Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, anh đang làm thang cho một ngôi nhà sàn mà anh chưa từng biết hay thấy sao?’ Được hỏi như vậy, anh ta sẽ nói: ‘Vâng.’

Ông nghĩ sao, Poṭṭhapāda? Như vậy, lời nói của người đàn ông đó có phải là không có cơ sở chứng minh không?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa Ngài.”

“Cũng vậy, các sa-môn và bà-la-môn có những học thuyết và quan điểm khác nhau đó…

Những gì họ nói có phải là không có cơ sở chứng minh không?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa Ngài.”

37. - Này Potthapàda, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải, Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Potthapàda ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

38. - Như vậy này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự tâm cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nữa ngày không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không”. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng thực hành! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được nói vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Potthapàda, ngươi nghĩ như thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn, kia là không chánh xác, hợp lý.

− Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh đáng, hợp lý.

2.2. Ba loại tái sinh

“Poṭṭhapāda, có ba loại thân hữu (reincarnation in a life-form / sự hiện hữu của một dạng sống, sự tái sinh trong một dạng sống)564 này: thân hữu vật chất, thân hữu do tâm tạo, và thân hữu vô sắc.565 Và thân hữu vật chất là gì? Nó được hình thành, tạo thành từ bốn đại, và tiêu thụ thức ăn đặc. Thân hữu do tâm tạo là gì? Nó được hình thành, do tâm tạo, toàn vẹn các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót giác quan nào. Thân hữu vô sắc là gì? Nó vô sắc, được tạo thành từ nhận thức.

Ta dạy Pháp để từ bỏ thân hữu trong ba loại dạng sống này. ‘Khi các ông thực hành theo đó, các phẩm chất ô nhiễm sẽ được từ bỏ trong các ông và các phẩm chất thanh tịnh sẽ tăng trưởng. Các ông sẽ nhập và trú trong sự viên mãn và sung túc của trí tuệ (wisdom / paññā, sự hiểu biết đúng đắn), tự mình chứng ngộ điều đó ngay trong đời này.’ Poṭṭhapāda, ông có thể nghĩ: ‘Các phẩm chất ô nhiễm sẽ được từ bỏ và các phẩm chất thanh tịnh sẽ tăng trưởng. Người ta sẽ nhập và trú trong sự viên mãn và sung túc của trí tuệ, tự mình chứng ngộ điều đó ngay trong đời này. Nhưng một cuộc sống như vậy là khổ.’566 Nhưng ông không nên thấy như vậy. Các phẩm chất ô nhiễm sẽ được từ bỏ và các phẩm chất thanh tịnh sẽ tăng trưởng. Người ta sẽ nhập và trú trong sự viên mãn và sung túc của trí tuệ, tự mình chứng ngộ điều đó ngay trong đời này. Và sẽ chỉ có niềm vui và hạnh phúc, sự khinh an, tỉnh thức (mindfulness / sati, sự chú tâm, ghi nhớ không quên) và nhận biết rõ ràng. Một cuộc sống như vậy là an ổn.

39. - Này Potthapàda, có ba loại ngã chấp: thô phù ngã chấp, ý sở thành ngã chấp, vô sắc ngã chấp. Này Potthapàda, thế nào là thô phù ngã chấp? Có sắc, do bốn đại hình thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngã chấp. Thế nào ý sở thành ngã chấp? Có sắc, do ý sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ý sở thành ngã chấp. Thế nào là vô sắc ngã chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngã chấp.

40. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp để diệt thô phù ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các người nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.

41. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ ý sở thành ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, khi ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quãng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm tỉnh giác là lạc trú sanh.

42. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ vô sắc ngã chấp. Nếu các ngươi thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.

Poṭṭhapāda, nếu người khác hỏi chúng ta: ‘Nhưng thưa các vị tôn giả, thân hữu vật chất mà các vị dạy để từ bỏ đó là gì?’ Chúng ta sẽ trả lời như thế này: ‘Đây chính là thân hữu vật chất đó.’

Nếu người khác hỏi chúng ta: ‘Nhưng thưa các vị tôn giả, thân hữu do tâm tạo đó là gì?’ Chúng ta sẽ trả lời như thế này: ‘Đây chính là thân hữu do tâm tạo đó.’567

Nếu người khác hỏi chúng ta: ‘Nhưng thưa các vị tôn giả, thân hữu vô sắc đó là gì?’ Chúng ta sẽ trả lời như thế này: ‘Đây chính là thân hữu vô sắc đó.’

Ông nghĩ sao, Poṭṭhapāda? Như vậy, lời nói đó có phải là có cơ sở chứng minh không?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa Ngài.”

“Giả sử một người đàn ông làm một cái thang để trèo lên một ngôi nhà sàn dài ngay bên dưới ngôi nhà sàn đó. Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, ngôi nhà sàn dài mà anh đang làm thang cho đó – anh có biết nó ở hướng bắc, nam, đông, hay tây không? Hay nó cao, thấp, hay trung bình?’ Anh ta sẽ nói: ‘Đây là ngôi nhà sàn dài mà tôi đang làm thang cho, ngay bên dưới nó.’

Ông nghĩ sao, Poṭṭhapāda? Như vậy, lời nói của người đàn ông đó có phải là có cơ sở chứng minh không?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa Ngài.”

43. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”

Khi được chúng hỏi như vậy, chúng tôi trả lời “Này Hiền giả, chính thô phù ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

44. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi: “Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp này được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại?”

Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính ý sở thành ngã chấp ấy chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

45. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”.

Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?

46. Này Potthapàda, ví như một người xây một cái thang để leo lên lầu, từ dưới chân lầu ấy. Người ấy được hỏi: “Này bạn, Ông xây cái thang để leo lên lầu, cái lầu ấy về hướng Ðông hay hướng Nam, hay hướng Tây, hay hướng Bắc? Nhà lầu ấy cao, hay thấp, hay trung bình? Nếu người ấy trả lời: “Này Hiền giả, cái lầu mà tôi xây thang để leo lên chính tại dưới chân lầu này”. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói ấy là chính xác, hợp chăng?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!

47. - Như vậy, này Potthapàda, và có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp là gì?.. Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp là gì?.. Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?” Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy mà chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

− Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là nha vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!

Khi Thế Tôn nói xong, Citta Hatthisāriputta thưa: “Bạch Thế Tôn, khi tái sinh trong thân hữu vật chất, thì thân hữu do tâm tạo và thân hữu vô sắc có phải là hư cấu,568 và chỉ có thân hữu vật chất là thật không? Khi tái sinh trong thân hữu do tâm tạo, thì thân hữu vật chất và thân hữu vô sắc có phải là hư cấu, và chỉ có thân hữu do tâm tạo là thật không? Khi tái sinh trong thân hữu vô sắc, thì thân hữu vật chất và thân hữu do tâm tạo có phải là hư cấu, và chỉ có thân hữu vô sắc là thật không?”

“Khi tái sinh trong thân hữu vật chất, nó không được gọi là thân hữu do tâm tạo hay thân hữu vô sắc,569 mà chỉ được gọi là thân hữu vật chất. Khi tái sinh trong thân hữu do tâm tạo, nó không được gọi là thân hữu vật chất hay thân hữu vô sắc, mà chỉ được gọi là thân hữu do tâm tạo. Khi tái sinh trong thân hữu vô sắc, nó không được gọi là thân hữu vật chất hay thân hữu do tâm tạo, mà chỉ được gọi là thân hữu vô sắc.

Này Citta, giả sử người ta hỏi ông: ‘Ông có tồn tại trong quá khứ không?570 Ông sẽ tồn tại trong tương lai không? Ông có tồn tại bây giờ không?’ Ông sẽ trả lời thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời như sau: ‘Con đã tồn tại trong quá khứ. Con sẽ tồn tại trong tương lai. Con đang tồn tại bây giờ.’ Con sẽ trả lời như vậy.”

“Nhưng Citta, giả sử người ta hỏi ông: ‘Thân hữu mà ông có trong quá khứ có phải là thân hữu thật duy nhất của ông, còn những thân hữu của tương lai và hiện tại là hư cấu không? Thân hữu mà ông sẽ có trong tương lai có phải là thân hữu thật duy nhất của ông, còn những thân hữu của quá khứ và hiện tại là hư cấu không? Thân hữu mà ông có bây giờ có phải là thân hữu thật duy nhất của ông, còn những thân hữu của quá khứ và tương lai là hư cấu không?’ Ông sẽ trả lời thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời như sau: ‘Thân hữu con có trong quá khứ là thật vào thời điểm đó, còn những thân hữu của tương lai và hiện tại là hư cấu. Thân hữu con sẽ có trong tương lai sẽ là thật vào thời điểm đó, còn những thân hữu của quá khứ và hiện tại là hư cấu. Thân hữu con có bây giờ là thật vào thời điểm này, còn những thân hữu của quá khứ và tương lai là hư cấu.’ Con sẽ trả lời như vậy.”

“Cũng vậy, khi ở trong bất kỳ một trong ba loại thân hữu nào, nó không được gọi bằng tên của hai loại kia, mà chỉ được gọi bằng tên riêng của nó.

Từ bò sữa ra sữa, từ sữa ra sữa đông, từ sữa đông ra bơ, từ bơ ra bơ tinh luyện (ghee), và từ bơ tinh luyện ra phần tinh túy nhất của bơ tinh luyện (cream of ghee). Và phần tinh túy nhất của bơ tinh luyện được cho là tốt nhất trong số này.571 Khi là sữa, nó không được gọi là sữa đông, bơ, bơ tinh luyện, hay phần tinh túy nhất của bơ tinh luyện. Nó chỉ được gọi là sữa. Khi là sữa đông, bơ, bơ tinh luyện, hay phần tinh túy nhất của bơ tinh luyện, nó không được gọi bằng bất cứ tên nào khác, mà chỉ được gọi bằng tên riêng của nó. Cũng vậy, khi ở trong bất kỳ một trong ba loại thân hữu nào, nó không được gọi bằng tên của hai loại kia, mà chỉ được gọi bằng tên riêng của nó. Đây là những cách dùng, thuật ngữ, phương tiện giao tiếp, và mô tả phổ biến của thế gian, mà Như Lai sử dụng để giao tiếp mà không bị chấp trước vào chúng.”572

Khi Ngài nói xong, du sĩ Poṭṭhapāda thưa với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, thưa Ngài! Tuyệt vời! Như người lật ngửa cái bị úp, hay phơi bày cái bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Thế Tôn cũng đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn tỷ-kheo. Từ hôm nay, xin Thế Tôn ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”

48. Khi nghe nói vậy, Citta Hatthisàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, trong khi có thô phù ngã chấp, phải chăng không có ý sở thành ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Thô phù ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi sở thành ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Ý sở thành ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có vô sắc ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có ý sở thành ngã chấp? Vô sắc ngã chấp khi ấy thật có tồn tại.

49. - Này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, nếu có người hỏi Người: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại không?” Này Citta, được hỏi vậy, ngươi trả lời như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại hay không?” Bạch Thế Tôn được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Tôi đã có tồn tại ở quá khứ, không phải không tồn tại; tôi sẽ tồn tại ở tương lai, không phải không tồn tại; tôi tồn tại ở hiện tại, không phải không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.

50. - Này Citta, nếu có người hỏi lại ngươi: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Này Citta, được hỏi vậy, Ngươi trả lời thế nào? − Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Quá khứ ngã chấp mà tôi đã có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà tôi sẽ có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại. Hiện tại ngã chấp mà tôi hiện có, ngã chấp ấy đối với là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con sẽ trả lời như vậy.

51. - Như vậy này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp.

52. Này Citta, ví như từ bò cái sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc… khi thành sanh tô… khi thành thục tô… khi thành đề hồ thời đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ.

53. Như vậy này Citta trong khi có thô phù ngã chấp… Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp… Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, chúng chỉ là danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.

54. Ðược nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

2.3. Sự xuất gia của Citta Hatthisāriputta

Nhưng Citta Hatthisāriputta thưa với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, thưa Ngài! Tuyệt vời! Như người lật ngửa cái bị úp, hay phơi bày cái bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Thế Tôn cũng đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, con có thể được xuất gia (going forth / pabbajjā, từ bỏ đời sống thế tục để tu hành), được thọ cụ túc giới (ordination / upasampadā, lễ tấn phong chính thức thành tỳ kheo/tỳ kheo ni) trước sự hiện diện của Thế Tôn không?”

Và Citta Hatthisāriputta đã được xuất gia, thọ cụ túc giới trước sự hiện diện của Thế Tôn. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Citta Hatthisāriputta, sống một mình, ẩn dật, siêng năng (diligent / ātāpī, nỗ lực, tinh cần), nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của đời sống tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống, tự mình chứng ngộ mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để sống đời không nhà.573 Ngài hiểu rõ: “Sanh đã tận; đời sống tâm linh đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm xong; không còn gì nữa ở nơi này.” Và Tôn giả Citta Hatthisāriputta trở thành một trong những bậc A-la-hán.

55. Và Citta Hatthisàriputta cũng bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.

56. Citta Hatthisàriputta được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Ðại đức Citta Hatthisàriputta ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Ðại đức Citta Hatthisàriputta hiểu biết như vậy.

Và đại đức Citta Hatthisàriputta trở thành một vị A-la-hán nữa.

-ooOoo-