3. Phạm trù Trí tuệ
“Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, phạm trù trí tuệ cao thượng mà Đức Phật đã tán thán là gì?”
"Khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến (knowledge and vision / sự thấy biết đúng như thật, sự hiểu biết dựa trên tuệ giác). Vị ấy hiểu rõ: ‘Thân này của ta được hình thành. Nó được tạo thành từ tứ đại (four principal states / bốn yếu tố cơ bản cấu thành vật chất: địa đại (đất), thủy đại (nước), hỏa đại (lửa), phong đại (gió)), do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, phải chịu sự vô thường, sự hao mòn và bào mòn, sự tan rã và hủy diệt. Và thức (consciousness / một trong năm uẩn, khả năng nhận biết, phân biệt đối tượng qua sáu căn) này của ta bị dính mắc vào nó, bị trói buộc vào nó.’
Giả sử có một viên ngọc lưu ly tự nhiên đẹp, tám cạnh, được chế tác tinh xảo, trong suốt, sáng rõ, và không vẩn đục, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp. Và nó được xâu bằng một sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu vàng. Và một người có mắt sáng sẽ cầm nó trong tay và xem xét: ‘Viên ngọc lưu ly này tự nhiên đẹp, tám cạnh, được chế tác tinh xảo, trong suốt, sáng rõ, và không vẩn đục, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp. Và nó được xâu bằng một sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu vàng.’
Tương tự như vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tri kiến. Đây thuộc về trí tuệ của vị ấy.
Khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến việc tạo ra một thân do ý tạo (mind-made body / một thân thể được tạo ra bằng năng lực của ý chí, thường liên quan đến thần thông). Từ thân này, vị ấy tạo ra một thân khác—được hình thành, do ý tạo, toàn vẹn các chi lớn nhỏ, không thiếu sót bất kỳ giác quan nào.
Giả sử một người rút một cọng sậy ra khỏi vỏ của nó. Người ấy sẽ nghĩ: ‘Đây là cọng sậy, đây là vỏ. Cọng sậy và vỏ là những thứ khác nhau. Cọng sậy đã được rút ra khỏi vỏ.’ Hoặc giả sử một người rút một thanh kiếm ra khỏi vỏ của nó. Người ấy sẽ nghĩ: ‘Đây là thanh kiếm, đây là vỏ. Thanh kiếm và vỏ là những thứ khác nhau. Thanh kiếm đã được rút ra khỏi vỏ.’ Hoặc giả sử một người kéo một con rắn ra khỏi lớp da lột của nó. Người ấy sẽ nghĩ: ‘Đây là con rắn, đây là lớp da lột. Con rắn và lớp da lột là những thứ khác nhau. Con rắn đã được kéo ra khỏi lớp da lột.’
Tương tự như vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến việc tạo ra một thân do ý tạo. Đây thuộc về trí tuệ của vị ấy.
Khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thần thông (psychic power / các năng lực đặc biệt, siêu phàm do tu tập thiền định mà có). Vị ấy sử dụng nhiều loại thần thông: tự nhân bản mình rồi hợp nhất lại; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như trong nước; đi trên mặt nước như trên đất liền; bay ngồi kiết già trên không trung như chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, những thiên thể hùng mạnh và quyền năng như vậy; điều khiển thân thể đến tận cõi Phạm thiên (realm of divinity / các cõi trời thuộc sắc giới và vô sắc giới, nơi các vị Phạm thiên trú ngụ).
Giả sử một người thợ gốm khéo léo hoặc người học việc của họ có đất sét đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ có thể tạo ra bất kỳ loại bình nào họ muốn. Hoặc giả sử một người thợ chạm ngà khéo léo hoặc người học việc của họ có ngà đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ có thể tạo ra bất kỳ loại đồ vật bằng ngà nào họ muốn. Hoặc giả sử một người thợ kim hoàn khéo léo hoặc người học việc của họ có vàng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ có thể tạo ra bất kỳ loại đồ vật bằng vàng nào họ muốn.
Tương tự như vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thần thông. Đây thuộc về trí tuệ của vị ấy.
Khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thiên nhĩ thông (clairaudience / khả năng nghe được các âm thanh ở xa, âm thanh của các cõi khác, một loại thần thông). Với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và của chư thiên, dù ở gần hay xa. Giả sử có một người đang đi trên đường. Người ấy sẽ nghe thấy tiếng trống, trống đất, tù và, trống trận, và trống cơm. Người ấy sẽ nghĩ: ‘Đó là tiếng trống,’ và ‘đó là tiếng trống đất,’ và ‘đó là tiếng tù và, trống trận, và trống cơm.’
Tương tự như vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thiên nhĩ thông. Đây thuộc về trí tuệ của vị ấy.
Khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tha tâm thông (comprehending the minds of others / khả năng biết được ý nghĩ, tâm trạng của người khác, một loại thần thông). Vị ấy hiểu tâm có tham (greed / lòng ham muốn, sự dính mắc, một trong ba gốc rễ của bất thiện) là ‘tâm có tham’, và tâm không có tham là ‘tâm không có tham’. Vị ấy hiểu tâm có sân (hate / sự tức giận, thù hận, một trong ba gốc rễ của bất thiện)… tâm không có sân… tâm có si (delusion / sự mê lầm, không hiểu biết chân lý, một trong ba gốc rễ của bất thiện)… tâm không có si… tâm co rút (constricted mind / trạng thái tâm bị thu hẹp, không linh hoạt, thường do hôn trầm hoặc lo lắng)… tâm tán loạn (scattered mind / trạng thái tâm không yên, nhảy từ đối tượng này sang đối tượng khác, không tập trung)… tâm quảng đại (expansive mind / tâm đã đạt đến các trạng thái thiền định cao (sắc giới hoặc vô sắc giới), có phạm vi rộng lớn)… tâm không quảng đại (unexpansive mind / tâm thuộc cõi dục, chưa đạt đến các trạng thái thiền định cao)… tâm hữu thượng (mind that is not supreme / tâm vẫn còn những trạng thái cao hơn có thể đạt được, chưa phải là tối thượng)… tâm vô thượng (mind that is supreme / tâm đã đạt đến trạng thái cao nhất, không còn gì vượt hơn, ví dụ tâm giải thoát)… tâm định tĩnh (immersed mind / tâm đã đi vào trạng thái tập trung, thiền định)… tâm không định tĩnh (unimmersed mind / tâm chưa tập trung, chưa vào định)… tâm giải thoát (freed mind / tâm đã thoát khỏi mọi phiền não, ràng buộc)… Vị ấy hiểu tâm chưa giải thoát là ‘tâm chưa giải thoát’.
Giả sử có một người phụ nữ hay đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, và thích trang điểm, và họ soi bóng mình trong một tấm gương sáng sạch hoặc một bát nước trong. Nếu họ có một vết đốm, họ sẽ biết ‘Tôi có một vết đốm,’ và nếu họ không có vết đốm nào, họ sẽ biết ‘Tôi không có vết đốm nào.’
Tương tự như vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến tha tâm thông. Đây thuộc về trí tuệ của vị ấy.
Khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến túc mạng thông (recollection of past lives / khả năng nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình và chúng sanh khác, một loại thần thông). Vị ấy nhớ lại nhiều loại đời sống quá khứ, tức là, một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn lần tái sinh; nhiều kiếp (eons / một đơn vị thời gian rất dài trong vũ trụ quan Phật giáo, bao gồm thành, trụ, hoại, không của một thế giới) của thế giới co lại, nhiều kiếp của thế giới mở rộng, nhiều kiếp của thế giới co lại và mở rộng. Vị ấy nhớ: ‘Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận an ổn và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận an ổn và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sinh ở đây.’ Và cứ thế, vị ấy nhớ lại nhiều loại đời sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết.
Giả sử một người rời khỏi làng quê của mình và đi đến một ngôi làng khác. Từ ngôi làng đó, họ sẽ đi đến một ngôi làng khác nữa. Và từ ngôi làng đó, họ sẽ trở về làng quê của mình. Họ sẽ nghĩ: ‘Ta đã đi từ làng quê của mình đến một ngôi làng khác. Ở đó, ta đứng như thế này, ngồi như thế kia, nói như thế này, hoặc giữ im lặng như thế kia. Từ ngôi làng đó, ta đi đến một ngôi làng khác nữa. Ở đó, ta cũng đứng như thế này, ngồi như thế kia, nói như thế này, hoặc giữ im lặng như thế kia. Và từ ngôi làng đó, ta trở về làng quê của mình.’
Tương tự như vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến túc mạng thông. Đây thuộc về trí tuệ của vị ấy.
Khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thiên nhãn thông (knowledge of the death and rebirth of sentient beings / khả năng thấy được sự sinh tử, tái sinh của chúng sanh ở các cõi khác nhau, thấy được nghiệp quả của họ, một loại thần thông). Với thiên nhãn (clairvoyance / con mắt thấy được những điều mà mắt thường không thấy, như các chúng sanh ở cõi khác, sự tái sinh theo nghiệp) thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy thấy các chúng sanh (sentient beings / tất cả các loài hữu tình có tâm thức, đang trôi lăn trong vòng sinh tử) qua đời và tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi tồi tệ. Vị ấy hiểu rõ chúng sanh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. ‘Những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh; họ có tà kiến (wrong view / những quan điểm sai lầm về nghiệp báo, tái sinh, Tứ Diệu Đế, v.v., cản trở sự giải thoát); và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ tái sinh ở cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (place of loss…hell / các cõi tái sinh đau khổ do ác nghiệp gây ra, bao gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la). Tuy nhiên, những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều tốt đẹp qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến (right view / sự hiểu biết đúng đắn về Tứ Diệu Đế, về bản chất của thực tại, là yếu tố đầu tiên trong Bát Chánh Đạo); và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ tái sinh ở cõi lành, thiên giới (good place, a heavenly realm / các cõi tái sinh an vui do thiện nghiệp, bao gồm cõi người và các cõi trời).’ Và cứ thế, với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy thấy các chúng sanh qua đời và tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi tồi tệ. Vị ấy hiểu rõ chúng sanh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.
Giả sử có một ngôi nhà sàn dài ở quảng trường trung tâm. Một người có mắt sáng đứng đó có thể thấy mọi người ra vào một ngôi nhà, đi dọc theo các đường phố và lối đi, và ngồi ở quảng trường trung tâm. Người ấy sẽ nghĩ: ‘Đây là những người ra vào một ngôi nhà, đi dọc theo các đường phố và lối đi, và ngồi ở quảng trường trung tâm.’
Tương tự như vậy, khi tâm của vị ấy đã nhập định như vậy—thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và không lay động—vị ấy hướng tâm và chú tâm đến thiên nhãn thông. Đây thuộc về trí tuệ của vị ấy.