Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 11. Cùng Kevaḍḍha (Kevaṭṭa)

KevaṭṭaSutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú gần Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika.581

Rồi gia chủ Kevaḍḍha đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài,582 “Bạch Thế Tôn, Nāḷandā này thành công và thịnh vượng, đông dân, nhiều người ở. Xin Thế Tôn hãy chỉ định một vị tỳ-kheo thực hiện một sự biểu diễn thần thông (psychic power / năng lực siêu phàm, phép lạ) vượt ngoài khả năng con người.583 Khi ấy, dân chúng Nāḷandā sẽ càng thêm tịnh tín (devoted / niềm tin trong sạch và vững chắc) với Đức Phật!”

Khi ông ấy nói vậy, Đức Phật đáp: "Này Kevaḍḍha, Ta không dạy Pháp (Dhamma / giáo lý của Đức Phật, chân lý) cho các vị tỳ-kheo theo cách này: ‘Này các tỳ-kheo, hãy đến, thực hiện một sự biểu diễn thần thông vượt ngoài khả năng con người cho các cư sĩ (laypeople / người tại gia tu học Phật pháp, còn gọi là bạch y) áo trắng xem.’"584

Lần thứ hai, Kevaḍḍha cũng thỉnh cầu như vậy: “Bạch Thế Tôn, con không có ý dạy Pháp cho Ngài,585 tuy nhiên con xin thưa: ‘Bạch Thế Tôn, Nāḷandā này thành công và thịnh vượng, đông dân, nhiều người ở. Xin Thế Tôn hãy chỉ định một vị tỳ-kheo thực hiện một sự biểu diễn thần thông vượt ngoài khả năng con người. Khi ấy, dân chúng Nāḷandā sẽ càng thêm tịnh tín với Đức Phật!’” Nhưng lần thứ hai, Đức Phật cũng trả lời như trước.

Lần thứ ba, Kevaḍḍha cũng thỉnh cầu như vậy, Đức Phật bèn nói như sau.

11. KINH KEVADDHA (KIÊN CỐ)

(Kevaddha Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Nalandà trong vườn Pavàrikampa. Lúc bấy giờ cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa.

Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha:

− Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: “Này các Tỷ-kheo các Ngươi hãy thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng”.

2. Lần thứ hai, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con không muốn phiền nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói: “Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa”.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha:

− Này Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: “Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng”.

3. Lần thứ ba, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha Bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con không muốn phiền nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói: “Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa”.

1. Sự Biểu Diễn Thần Thông

"Này Kevaḍḍha, có ba loại biểu diễn, mà Ta tuyên bố sau khi đã tự mình chứng ngộ (realized with my own insight / nhận ra bằng trí tuệ của chính mình, thấu hiểu và thực chứng) chúng.586 Ba loại đó là gì? Sự biểu diễn thần thông, sự biểu diễn ý giải (revealing / khả năng đọc được suy nghĩ của người khác, còn gọi là tha tâm thông), và sự biểu diễn giáo huấn (instruction / sự hướng dẫn, chỉ dạy về đường lối tu tập).587

Và thế nào là sự biểu diễn thần thông? Đó là một vị tỳ-kheo sử dụng nhiều loại thần thông: từ một thân hiện ra nhiều thân, rồi từ nhiều thân trở lại một thân; hiện hình và tàng hình; đi xuyên qua tường, qua thành lũy, qua núi không bị cản trở, như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên khỏi mặt đất như ở trong nước; đi trên mặt nước như đi trên đất liền; bay đi trong hư không, ngồi xếp bằng, như con chim có cánh; chạm và vuốt mặt trời mặt trăng, vốn rất oai lực và hùng mạnh, bằng tay; điều khiển thân thể cho đến tận cõi Phạm thiên (realm of divinity / cõi trời của các vị Phạm thiên, một cõi giới cao trong các cõi trời thuộc Sắc giới).

Một người có niềm tin thấy vị tỳ-kheo đó thực hiện những kỳ công siêu phàm ấy.

Họ kể lại cho một người khác không có niềm tin: ‘Ôi, thật phi thường, thật kỳ diệu! Vị sa-môn (ascetic / người tu hành, người xuất gia nói chung, không chỉ riêng Phật giáo) ấy có thần thông và oai lực đến thế! 588 Chính tôi đã thấy ngài thực hiện tất cả những kỳ công siêu phàm này!’

Nhưng người không có niềm tin sẽ nói với họ:589 ‘Có một loại bùa chú tên là Gandhārī.590 Dùng bùa chú đó, một vị tỳ-kheo có thể thực hiện những kỳ công siêu phàm như vậy.’

Này Kevaḍḍha, ông nghĩ sao? Một người không có niềm tin lại không nói như vậy sao?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Thấy được sự bất lợi này trong việc biểu diễn thần thông, Ta kinh sợ, chán ghét và ghê tởm các sự biểu diễn thần thông.591

− Này Kevaddha, có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là ba? Tức là biến hóa thần thông, tha tâm thần thông, giáo hóa thần thông.

4. Này Kevaddha, thế nào là biến hóa thần thông? Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo chứng được các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết- già đi trên hư không như con chim; với hai bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Có người tín thành thấy Tỷ-kheo ấy chứng hiện các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân: hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. 5. Người có lòng tín thành ấy nói với một người không có lòng tín thành: “Này Tôn giả, thật vi diệu thay! Này Tôn giả, thật hy hữu thay, đại thần thông, đại oai đức của vị Sa-môn! Chính tôi đã thấy vị Tỷ-kheo chứng các thần thông, “một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân,… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên”. Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành: “Này Tôn giả, có một chú thuật gọi là Gandhhàrì. Nhờ chú thuật hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên”. Này Kevaddha, ngươi nghĩ thế nào? Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành như vậy không?

− Bạch Thế Tôn, có thể nói như vậy.

− Này Kevaddha chính vì ta thấy sự nguy hiểm trong sự biến hóa thần thông mà ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ biến hóa thần thông.

2. Sự Biểu Diễn Ý Giải

Và thế nào là sự biểu diễn ý giải?592 Đó là khi một vị tỳ-kheo tiết lộ tâm, tâm sở (mentality / các trạng thái tâm lý, yếu tố phụ thuộc đi kèm với tâm vương), ý nghĩ, và suy tư của các chúng sinh và cá nhân khác:593 'Đây là điều ông đang nghĩ, ý nghĩ của ông là như vậy, và trạng thái tâm của ông là thế này.'594

Một người có niềm tin thấy vị tỳ-kheo đó tiết lộ ý nghĩ của người khác. Họ kể lại cho một người khác không có niềm tin: ‘Ôi, thật phi thường, thật kỳ diệu! Vị sa-môn ấy có thần thông và oai lực đến thế! Chính tôi đã thấy ngài tiết lộ ý nghĩ của người khác!’

Nhưng người không có niềm tin sẽ nói với họ: ‘Có một loại bùa chú tên là Māṇikā.595 Dùng bùa chú đó, một vị tỳ-kheo có thể tiết lộ ý nghĩ của người khác.’

Này Kevaḍḍha, ông nghĩ sao? Một người không có niềm tin lại không nói như vậy sao?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Thấy được sự bất lợi này trong việc biểu diễn ý giải, Ta kinh sợ, chán ghét và ghê tởm các sự biểu diễn ý giải.

6. Này Kevaddha, thế nào là tha tâm thần thông? Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: “Như vậy là ý của Ngươi”. Có người có lòng tín thành thấy Tỷ-kheo nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: “Như vậy là ý của Ngươi, thế này là ý của Ngươi, như vậy là tâm của Ngươi”.

7. Người có lòng tín thành ấy nói với một người không có lòng tín thành: “Này Tôn giả, thật vi diệu thay! Này Tôn giả, thật hy hữu thay đại thần thông, đại oai đức của vị Sa-môn! Chính tôi đã thấy Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: “Như vậy là ý của ngươi, thế này là ý của ngươi, như vậy là tâm của ngươi”. Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành: “Này Tôn giả, có một chú thuật gọi là Maniko, nhờ chú thuật này, Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm, và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác… “Thế này là ý của Ngươi, như vậy là tâm của Ngươi”. Này Kevaddha, Ngươi nghĩ thế nào? Người không có lòng tín thành có thể nói với Ngươi có lòng tín thành như vậy không?

− Bạch Thế Tôn, có thể nói như vậy?

− Này Kevaddha chính Ta thấy sự nguy hiểm trong sự tha tâm thần thông mà Ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ tha tâm thần thông.

3. Sự Biểu Diễn Giáo Huấn

Và thế nào là sự biểu diễn giáo huấn? Đó là khi một vị tỳ-kheo hướng dẫn người khác như thế này: ‘Hãy suy nghĩ như thế này, đừng suy nghĩ như thế kia. Hãy tập trung tâm ý như thế này, đừng tập trung như thế kia. Hãy từ bỏ điều này, và sống sau khi đã đạt được điều kia.’ Đây được gọi là sự biểu diễn giáo huấn.

Hơn nữa, một bậc Như Lai (Realized One / người đã đạt được giác ngộ hoàn toàn, một trong mười danh hiệu của Đức Phật) xuất hiện trên thế gian … Đó là cách một vị tỳ-kheo thành tựu giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức). … Họ nhập và trú trong sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất, một trạng thái thiền định sâu sắc với năm thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm)… Đây được gọi là sự biểu diễn giáo huấn.

Họ nhập và trú trong nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai, không tầm, không tứ, chỉ còn hỷ, lạc, nhất tâm)… tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba, xả hỷ, chỉ còn lạc và nhất tâm)… tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư, xả lạc, chỉ còn xả và nhất tâm, tâm hoàn toàn thanh tịnh). Đây cũng được gọi là sự biểu diễn giáo huấn.

Họ hướng tâm và mở rộng tâm đến tri kiến (knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy rõ thực tướng của các pháp, trí tuệ phát sinh từ thiền định)… Đây cũng được gọi là sự biểu diễn giáo huấn.

Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm thêm ở đây nữa.’ Đây cũng được gọi là sự biểu diễn giáo huấn.

Này Kevaḍḍha, đó là ba loại biểu diễn, mà Ta tuyên bố sau khi đã tự mình chứng ngộ chúng.

8. Này Kevaddha, thế nào là giáo hóa thần thông? Ở đời có Tỷ-kheo giáo hóa như sau: “Hãy suy tư như thế này, chớ có suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, chớ có tác ý như thế kia; hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia”.

Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

9. Này Kevaddha, nay ở đời đức Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán Chánh Biến Tri… (đoạn kinh 9-43 tương tự như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40 - 74).

44. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị Tỷ-kheo, ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

45. Này Kevaddha, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Kevaddha, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

50… chứng và trú thiền thứ tư… (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 77 - 81, trừ câu kết sau chót mỗi chương). Này Kevaddha như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

52. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ xử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến… (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 83)… Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.

53… sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa… (xem kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 84 - 98), trừ câu kết sau chót của mỗi chương). Này Kevaddha, như vậy là giáo hóa thần thông.

67. Này Kevaddha, ba pháp thần thông này, Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết.

4. Về Vị Tỳ-kheo Tìm Kiếm Sự Chấm Dứt Của Hữu (being / sự tồn tại, tiến trình trở thành)

Này Kevaḍḍha, thuở xưa, một vị tỳ-kheo trong chính Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia Phật giáo, gồm tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni) này đã có suy nghĩ như sau,596 'Bốn đại chủng (principal states / bốn yếu tố vật chất cơ bản cấu thành nên mọi sự vật hiện tượng, còn gọi là tứ đại) này, tức là địa đại (element of earth / yếu tố đất, đặc tính cứng, nâng đỡ), thủy đại (element of water / yếu tố nước, đặc tính lỏng, kết dính), hỏa đại (element of fire / yếu tố lửa, đặc tính nóng, làm chín), và phong đại (element of air / yếu tố gió, đặc tính động, thổi bay), sẽ diệt tận (cease without anything left over / chấm dứt hoàn toàn không còn dư sót, Niết-bàn) ở đâu?'597

Rồi vị tỳ-kheo đó đạt đến một trạng thái thiền định (immersion / sự nhập tâm sâu, trạng thái tâm vắng lặng, tập trung cao độ) đến mức một con đường đến cõi trời hiện ra.598 Rồi vị ấy đến gặp các vị trời ở cõi Tứ Đại Thiên Vương (gods of the four great kings / các vị trời cai quản bốn phương ở tầng trời thấp nhất trong Dục giới, cõi trời Cātumahārājika) và hỏi,599 ‘Thưa các ngài, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ diệt tận ở đâu?’

Khi vị ấy nói vậy, các vị trời đó đáp: ‘Thưa tỳ-kheo, chúng tôi cũng không biết điều này. Nhưng Tứ Đại Thiên Vương là bậc trên của chúng tôi.600 Các ngài ấy có thể biết.’

Rồi vị ấy đến gặp Tứ Đại Thiên Vương và hỏi cùng câu hỏi đó. Nhưng các ngài ấy cũng đáp: ‘Thưa tỳ-kheo, chúng tôi cũng không biết điều này. Nhưng các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba (gods of the thirty-three / cõi trời Đao Lợi (Tāvatiṃsa), tầng trời thứ hai trong Dục giới)…601 Đế Thích (Sakka, lord of gods / vua của cõi trời Ba Mươi Ba, còn gọi là Sakka Devānaminda)…602 các vị trời Dạ Ma (Yama / cõi trời thứ ba trong Dục giới, nơi các vị trời hưởng dục lạc vi tế hơn)…603 vị trời tên Suyāma… các vị trời Đâu Suất (Joyful gods / cõi trời Tusita, tầng trời thứ tư trong Dục giới, nơi các vị Bồ Tát thường tái sinh trước khi thành Phật)… vị trời tên Santussita… các vị trời Hóa Lạc (gods who love to imagine / cõi trời Nimmānaratī, tầng trời thứ năm trong Dục giới, nơi các vị trời có khả năng hóa hiện ra các dục lạc để hưởng thụ)… vị trời tên Sunimmita… các vị trời Tha Hóa Tự Tại (gods who control the creation of others / cõi trời Paranimmitavasavattī, cõi trời cao nhất trong Dục giới, nơi các vị trời có thể hưởng thụ các dục lạc do người khác hóa hiện)… vị trời tên Vasavattī… các vị trời thuộc chúng Phạm thiên là bậc trên của chúng tôi. Các ngài ấy có thể biết.’

Rồi vị tỳ-kheo đó đạt đến một trạng thái thiền định đến mức một con đường đến cõi Phạm thiên hiện ra. Rồi vị ấy đến gặp các vị trời thuộc chúng Phạm thiên và hỏi: ‘Thưa các ngài, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ diệt tận ở đâu?’ Nhưng các vị ấy cũng đáp: 'Thưa tỳ-kheo, chúng tôi cũng không biết điều này.604 Nhưng có vị Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Thấy Tất Cả (Toàn Tri), Đấng Nắm Quyền Lực (Toàn Năng), Thượng Đế Tối Cao, Đấng Sáng Tạo, Đấng Kiến Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những người đã sinh và sẽ sinh. Ngài là bậc trên của chúng tôi.605 Ngài có thể biết.'606

‘Nhưng thưa các ngài, vị Phạm thiên đó hiện ở đâu?’ 'Chúng tôi cũng không biết ngài ở đâu hay ngài ở phương nào. Nhưng qua những dấu hiệu được thấy—ánh sáng phát sinh và hào quang xuất hiện—chúng tôi biết rằng Phạm thiên sẽ xuất hiện. Vì đây là điềm báo trước cho sự xuất hiện của Phạm thiên, tức là ánh sáng phát sinh và hào quang xuất hiện.'607 Không lâu sau đó, Đại Phạm thiên xuất hiện.

Rồi vị tỳ-kheo đó đến gặp Đại Phạm thiên và thưa: ‘Thưa ngài, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ diệt tận ở đâu?’ Đại Phạm thiên nói với vị ấy: 'Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Thấy Tất Cả (Toàn Tri), Đấng Nắm Quyền Lực (Toàn Năng), Thượng Đế Tối Cao, Đấng Sáng Tạo, Đấng Kiến Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những người đã sinh và sẽ sinh.'608

Lần thứ hai, vị tỳ-kheo đó nói với Đại Phạm thiên: ‘Thưa ngài, tôi không hỏi ngài có phải là609 Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Thấy Tất Cả (Toàn Tri), Đấng Nắm Quyền Lực (Toàn Năng), Thượng Đế Tối Cao, Đấng Sáng Tạo, Đấng Kiến Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những người đã sinh và sẽ sinh hay không. Tôi đang hỏi bốn đại chủng này sẽ diệt tận ở đâu.’

Lần thứ hai, Đại Phạm thiên nói với vị ấy: ‘Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Thấy Tất Cả (Toàn Tri), Đấng Nắm Quyền Lực (Toàn Năng), Thượng Đế Tối Cao, Đấng Sáng Tạo, Đấng Kiến Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những người đã sinh và sẽ sinh.’ Lần thứ ba, vị tỳ-kheo đó nói với Đại Phạm thiên:610 ‘Thưa ngài, tôi không hỏi ngài có phải là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Bất Bại, Đấng Thấy Tất Cả (Toàn Tri), Đấng Nắm Quyền Lực (Toàn Năng), Thượng Đế Tối Cao, Đấng Sáng Tạo, Đấng Kiến Tạo, Đấng Khởi Nguyên, Đấng Sinh Thành, Đấng Điều Khiển, Cha của những người đã sinh và sẽ sinh hay không. Tôi đang hỏi bốn đại chủng này sẽ diệt tận ở đâu.’

Rồi Đại Phạm thiên nắm tay vị tỳ-kheo đó, dẫn ra một bên, và nói với vị ấy:611 ‘Thưa tỳ-kheo, các vị trời này nghĩ rằng không có gì mà ta không biết, không thấy, không hiểu và không chứng ngộ. Đó là lý do tại sao ta không trả lời trước mặt họ. Nhưng ta cũng không biết bốn đại chủng này diệt tận ở đâu.612 Do đó, thưa tỳ-kheo, lỗi lầm là của riêng ông, sai sót là của riêng ông, khi ông đã bỏ qua Đức Phật mà đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này ở nơi khác. Thưa tỳ-kheo, hãy đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài câu hỏi này. Ông nên ghi nhớ câu trả lời của Ngài.’

Rồi vị tỳ-kheo đó, nhanh như một người mạnh duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Ta. Rồi vị ấy đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ diệt tận ở đâu?’

Này Kevaddha thuở xưa, chính một Tỷ-kheo có khởi nghi vấn như sau: “Trong Tỷ-kheo chúng này - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?” Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo ấy nhập định, và trong định tâm, con đường đưa đến Thiên giới hiện ra.

68. Này Kevaddha, lúc bấy giờ vị Tỷ-kheo ấy đi đến Bốn Thiên vương thiên, khi đến xong, liền nói với các vị Bốn Thiên vương thiên: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy Bốn Thiên vương thiên nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn”. Này Tỷ-kheo, có bốn Ðại vương ưu thế hơn và thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn.

69. Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo đi đến bốn vị Ðại vương, khi đến xong liền hỏi bốn vị Ðại Thiên vương: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, cả bốn vị Ðại vương nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn. Này vị Tỷ-kheo, có Ba mươi ba thiên ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn”.

70. Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo ấy đi đến các vị Ba mươi ba thiên, khi đến xong, liền hỏi các vị Ba mươi ba thiên, “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, các vị Ba mươi ba thiên nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại … phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có vị Ðế thích chư thiên tên là Sakka ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn.”

71. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Ðế thích chư thiên tên là Sakka, khi đến xong, liền hỏi Ðế thích chư thiên tên là Sakka: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”. Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ðế thích chư Thiên tên là Sakka nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có chư Thiên tên là Yàma (Dạ-ma) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.

72. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên tên là Yàma (Dạ-ma) xong, liền hỏi chư Thiên Dạ-ma: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Yàma (Dạ-ma) nói với Tỷ-kheo. “Chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Suyàma ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

73. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Suyàma, sau khi đến liền hỏi Thiên tử Suyàma: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?

Này Kevaddha, được nghe nói vậy Thiên tử Suyàma nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.

74. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Tusità. Khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Tusità: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nói vậy chư Thiên Tusità nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Santusita ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại … phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.

75. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Santusita. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Santusita: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Santusita nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này vị Tỷ-kheo có chư Thiên tên là Nimmànarati (Hóa lạc thiên) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.

76. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Nimmànarati. Khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Nimmànarati: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Nimmànarati nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo có Thiên tử tên là Sunimmita ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.

77. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Sunimmita. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Sunimmita. “Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Sunimmita nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo có chư thiên gọi là Paranimmitavasavatti (Tha hóa tự tại thiên) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn”.

78. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Paranimmitavasavatti, khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Paranimmitavasavatti (Tha hóa tự tại thiên): “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy chư Thiên Paranimmitavasavatti nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo có Thiên tử tên là Vasavatti ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.

79. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Vasavatti. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Vasavatti: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Vasavatti nói với Tỷ-kheo ấy. “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có chư Thiên gọi là Brahmà Kayikà ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.

80. Này Kevaddha, lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy nhập định, và trong định tâm, con đường đưa đến Phạm thiên giới hiện ra.

Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Brahmà Kayikà: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Brahmà Kayikà nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có vị Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Vị này ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.

− Này Hiền giả, hiện nay Ðại Phạm thiên ấy ở đâu?

− Này Tỷ-kheo, chúng tôi không biết Phạm thiên ở đâu, vì sao có Phạm thiên và Phạm thiên từ đâu đến. Nhưng này Tỷ-kheo, khi nào triệu tướng hiện, khi nào ánh sáng sanh, khi nào hào quang hiển, thời Phạm thiên xuất hiện. Ánh sáng xanh, hào quang hiển là tướng Phạm thiên xuất hiện từ trước là như vậy.

81. Này Kevaddha, không bao lâu, Ðại Phạm thiên xuất hiện. Lúc bấy giờ, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đến Ðại Phạm thiên. Khi đến xong, liền hỏi Phạm thiên: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?” - Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ðại Phạm thiên nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”.

82. Này Kevaddha, lần thứ hai Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: “Này Hiền giả, tôi không hỏi: “Ngài có phải là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”. Này Hiền giả, tôi hỏi: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, lần thứ hai, Ðại Phạm thiên ấy nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”.

83. Này Kevaddha, lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: “Này Hiền giả, tôi không hỏi: “Ngài có phải là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”. Này Hiền giả, tôi hỏi: “Này Hiền giả, bốn đại chủng ấy, - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

Này Kevaddha, khi bấy giờ Ðại Phạm thiên cầm tay Tỷ-kheo ấy, kéo ra một bên rồi nói với Tỷ-kheo: “Này Tỷ-kheo, chư Thiên Brahmà Kayikà xem rằng không có gì Phạm thiên không thấy, không có gì Phạm thiên không hiểu, không có gì Phạm thiên không chứng. Do vậy, trước mặt chúng, ta không có trả lời: “Này Tỷ-kheo, ta không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”. Do vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã làm sai, Ngươi đã lầm lẫn, khi Ngươi bỏ qua Thế Tôn, hướng đến người khác để trả lời câu hỏi ấy. Này Tỷ-kheo, Ngươi hãy đi đến Thế Tôn hỏi câu hỏi ấy, và hãy thọ trì những gì Thế Tôn trả lời”.

84. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy, như nhà đại lực sĩ duỗi ra cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay đã duỗi ra, biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Ta. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này, - địa đại… phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.

4.1. Ví Dụ Về Con Chim Dò Đất Liền

Khi vị ấy nói vậy, Ta đáp:

'Này tỳ-kheo, thuở xưa, có những thương buôn đi biển ra khơi xa, mang theo một con chim dò đất liền. Khi tàu của họ đi xa khuất tầm nhìn đất liền, họ thả con chim đó ra. Nó bay ngay về phía đông, phía tây, phía bắc, phía nam, bay lên trên, và các hướng trung gian. Nếu nó thấy đất liền ở bất kỳ hướng nào, nó bay đến đó và ở lại. Nhưng nếu nó không thấy đất liền ở bất kỳ hướng nào, nó quay trở lại tàu.

Cũng vậy, sau khi không nhận được câu trả lời cho câu hỏi này ngay cả khi đã tìm kiếm đến tận cõi Phạm thiên, ông đã quay trở lại với Ta. Này tỳ-kheo, câu hỏi không nên được hỏi theo cách này: “Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ diệt tận ở đâu?”

Câu hỏi nên được hỏi như thế này:613

“Nước và đất,614
lửa và gió không tìm thấy chỗ đứng ở đâu?
Dài và ngắn,615
vi tế và thô kệch, đẹp và xấu;616
danh và sắc (name and form / thân (sắc) và tâm (danh), các yếu tố cấu thành một chúng sinh trong vòng luân hồi)
diệt tận không còn dư sót ở đâu?”

Và câu trả lời cho câu hỏi đó là:

"Thức (Consciousness / sự nhận biết, ý thức; một trong năm uẩn, một trong 12 nhân duyên) không biểu lộ,617
vô biên, chiếu sáng khắp nơi—618
đó là nơi nước và đất,
lửa và gió không tìm thấy chỗ đứng.619

Và đó là nơi dài và ngắn,
vi tế và thô kệch, đẹp và xấu;
đó là nơi danh và sắc
diệt tận không còn dư sót—
với sự diệt của thức (cessation of consciousness / sự chấm dứt của ý thức, sự nhận biết; một bước quan trọng để đạt Niết-bàn),620
đó là nơi chúng diệt tận.“'”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Gia chủ Kevaḍḍha hoan hỷ, tín thọ lời Đức Phật dạy.

85. Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ta nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim bay về phía Ðông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền”. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã tìm cho đến Phạm thiên giới mà không gặp được câu trả lời cho câu hỏi ấy, nên nay trở về với Ta. Này Tỷ-kheo, câu hỏi không nên hỏi như sau: “Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”. Này Tỷ-kheo, câu hỏi phải nói như sau:

“Chỗ nào mà địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, dài ngắn, tế, thô, tịnh, bất tịnh không có chân đứng? Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn?” và đây là câu trả lời cho câu hỏi này:

“Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ. Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng.

Ở đây, cũng vậy dài, ngắn, tế, thô, tịnh và bất tịnh.

Ở đây danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn.

Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận”.

Thế Tôn thuyết như vậy. Kevaddha, cư sĩ trẻ tuổi hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-