Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 16. Đại Kinh Bát Niết Bàn

Mahāparinibbānasutta

Như vầy tôi nghe.241 Một thời Đức Phật trú tại gần thành Vương Xá (Rājagaha / thành phố Vương Xá), trên núi Linh Thứu. Lúc bấy giờ, vua A Xà Thế (Ajātasattu) của xứ Ma Kiệt Đà (Magadha), con của công chúa Videha, muốn xâm chiếm xứ của người Vajjī.242 Vua tuyên bố: "Ta sẽ tiêu diệt những người Vajjī này, dù chúng hùng mạnh và quyền thế đến đâu! Ta sẽ hủy diệt chúng, khiến chúng điêu tàn và hoang phế!"243

Rồi vua A Xà Thế nói với Vassakāra, vị đại thần bà la môn của xứ Ma Kiệt Đà,244 "Này bà la môn, hãy đến gặp Đức Phật, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài. Hãy hỏi thăm Ngài có được khỏe mạnh, an khang, nhanh nhẹn, mạnh mẽ và sống thoải mái không. Rồi thưa rằng: 'Bạch Thế Tôn, vua A Xà Thế của xứ Ma Kiệt Đà, con của công chúa Videha, muốn xâm chiếm xứ của người Vajjī. Vua nói: “Ta sẽ tiêu diệt những người Vajjī này, dù chúng hùng mạnh và quyền thế đến đâu! Ta sẽ hủy diệt chúng, khiến chúng điêu tàn và hoang phế!”'245 Hãy ghi nhớ kỹ câu trả lời của Đức Phật và thuật lại cho ta. Vì các bậc Như Lai (Realized Ones / bậc đã chứng ngộ) không nói điều gì không thật."246

16. KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN

(Mahàparinibbàna Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajàtasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.

2. Rồi Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha:

− Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an. Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.

1. Bà la môn Vassakāra

“Thưa vâng,” Vassakāra đáp. Ông cho thắng những cỗ xe tốt nhất. Rồi ông lên một cỗ xe tốt, cùng với những cỗ xe tốt khác, khởi hành từ Vương Xá đến núi Linh Thứu.247 Ông đi xe ngựa đến nơi nào địa hình còn cho phép, rồi xuống xe và đi bộ đến gặp Đức Phật, và chào hỏi Ngài.

Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật, “Thưa ngài Gotama, vua A Xà Thế của xứ Ma Kiệt Đà, con của công chúa Videha, cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài. Vua hỏi thăm ngài có được khỏe mạnh, an khang, nhanh nhẹn, mạnh mẽ và sống thoải mái không. Thưa ngài Gotama, vua A Xà Thế muốn xâm chiếm xứ của người Vajjī. Vua đã tuyên bố: ‘Ta sẽ tiêu diệt những người Vajjī này, dù chúng hùng mạnh và quyền thế đến đâu! Ta sẽ hủy diệt chúng, khiến chúng điêu tàn và hoang phế!’”

− Ðại vương, xin vâng!

3. Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Ràjagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha, bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vọng”.

2. Những Nguyên Tắc Giúp Tránh Suy Vong

Lúc bấy giờ, Đại đức Ānanda đang đứng sau Đức Phật để quạt cho Ngài.248 Rồi Đức Phật nói với ông, "Này Ānanda, con có nghe rằng người Vajjī thường xuyên hội họp và hội họp đông đảo không?"249

“Con có nghe vậy, bạch Thế Tôn.”

"Chừng nào người Vajjī còn thường xuyên hội họp và hội họp đông đảo, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Này Ānanda, con có nghe rằng người Vajjī hòa hợp khi hội họp, hòa hợp khi giải tán, và hòa hợp khi làm các công việc của họ không?"250

“Con có nghe vậy, bạch Thế Tôn.”

"Chừng nào người Vajjī còn hòa hợp khi hội họp, hòa hợp khi giải tán, và hòa hợp khi làm các công việc của họ, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Này Ānanda, con có nghe rằng người Vajjī không ban hành luật mới, không hủy bỏ luật cũ, mà tuân thủ và hành xử theo các truyền thống cổ xưa của người Vajjī đã được quy định không?"251

“Con có nghe vậy, bạch Thế Tôn.”

"Chừng nào người Vajjī còn không ban hành luật mới, không hủy bỏ luật cũ, mà tuân thủ và hành xử theo các truyền thống cổ xưa của người Vajjī đã được quy định, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Này Ānanda, con có nghe rằng người Vajjī tôn kính, quý trọng, đảnh lễ và cúng dường các vị trưởng lão Vajjī, và xem trọng lời dạy của họ không?"

“Con có nghe vậy, bạch Thế Tôn.”

"Chừng nào người Vajjī còn tôn kính, quý trọng, đảnh lễ và cúng dường các vị trưởng lão Vajjī, và xem trọng lời dạy của họ, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Này Ānanda, con có nghe rằng người Vajjī không bắt cóc phụ nữ hay thiếu nữ trong các gia tộc và ép họ sống chung không?"252

“Con có nghe vậy, bạch Thế Tôn.”

"Chừng nào người Vajjī còn không bắt cóc phụ nữ hay thiếu nữ trong các gia tộc và ép họ sống chung, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Này Ānanda, con có nghe rằng người Vajjī tôn kính, quý trọng, đảnh lễ và cúng dường các đền thờ Vajjī, dù ở trong hay ngoài thành, không xao lãng các lễ vật cúng dường đúng pháp đã được dâng cúng và thực hiện trong quá khứ không?"253

“Con có nghe vậy, bạch Thế Tôn.”

"Chừng nào người Vajjī còn tôn kính, quý trọng, đảnh lễ và cúng dường các đền thờ Vajjī, dù ở trong hay ngoài thành, không xao lãng các lễ vật cúng dường đúng pháp đã được dâng cúng và thực hiện trong quá khứ, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Này Ānanda, con có nghe rằng người Vajjī tổ chức việc bảo vệ, che chở và an ninh đúng đắn cho các bậc A la hán (perfected ones / bậc đã hoàn thiện, đã giác ngộ), để nhiều bậc A la hán hơn có thể đến xứ sở và những vị đã ở đây có thể sống thoải mái không?"254

“Con có nghe vậy, bạch Thế Tôn.”

“Chừng nào người Vajjī còn tổ chức việc bảo vệ, che chở và an ninh đúng đắn cho các bậc A la hán, để nhiều bậc A la hán hơn có thể đến xứ sở và những vị đã ở đây có thể sống thoải mái, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.”

Rồi Đức Phật nói với Vassakāra, “Này bà la môn (brahmin / tu sĩ thuộc giai cấp cao nhất trong xã hội Ấn Độ cổ đại), có một lần Ta đang ở gần Vesālī tại đền thờ trong rừng Sārandada.255 Ở đó Ta đã dạy người Vajjī bảy pháp bất thối này (seven principles that prevent decline / bảy nguyên tắc giúp tránh suy vong).256 Chừng nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại giữa những người Vajjī, và chừng nào người Vajjī còn được thấy tuân theo chúng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.”

Khi Đức Phật nói xong, Vassakāra thưa với Ngài, “Thưa ngài Gotama, nếu người Vajjī tuân theo dù chỉ một trong những nguyên tắc này, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong. Huống chi là cả bảy! Vua A Xà Thế không thể đánh bại người Vajjī trong chiến tranh, trừ phi bằng cách hối lộ hoặc gieo rắc chia rẽ nội bộ.257 Thôi, bây giờ, thưa ngài Gotama, tôi phải đi. Tôi có nhiều phận sự, và nhiều việc phải làm.”

“Xin mời, này bà la môn, ông cứ tự nhiên đi.” Rồi Vassakāra vị bà la môn, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói, đứng dậy từ chỗ ngồi và ra về.

4. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết.

− Này Ananda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ananda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?

− Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa.

− Này Ananda khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt khóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.

− Này Ananda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?

− Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

5. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha:

− Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesàli tại tự miếu Sàrandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.

− Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.

Bà-la-môn Vassakara, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.

3. Những Nguyên Tắc Giúp Tránh Suy Vong Giữa Các Vị Khất Sĩ

Ngay sau khi ông ta rời đi, Đức Phật nói với Ānanda, "Này Ānanda, hãy đi tập hợp tất cả các vị tỳ kheo (mendicants / vị khất sĩ, tu sĩ Phật giáo nam) đang ở vùng lân cận Vương Xá lại trong giảng đường."258

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Ông làm theo lời Đức Phật yêu cầu. Rồi ông quay lại, cúi lạy, đứng sang một bên, và thưa với Ngài, “Bạch Thế Tôn, Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo) đã tập hợp. Xin bạch Thế Tôn, Ngài cứ tự nhiên đi.”

Rồi Đức Phật đến giảng đường, nơi Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn và nói với các vị tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, Ta sẽ dạy các con bảy pháp bất thối này.259 Hãy lắng nghe và như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ), Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Chừng nào các vị tỳ kheo còn thường xuyên hội họp và hội họp đông đảo, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.260

Chừng nào các vị tỳ kheo còn hòa hợp khi hội họp, hòa hợp khi giải tán, và hòa hợp khi làm các công việc của họ, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.261

Chừng nào các vị tỳ kheo còn không ban hành luật mới, không hủy bỏ luật cũ, mà tuân thủ và hành trì các học giới (training rules / các điều luật cần tuân thủ) đã được quy định, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.262

Chừng nào các vị tỳ kheo còn tôn kính, quý trọng, đảnh lễ và cúng dường các vị tỳ kheo trưởng lão—những vị có tuổi hạ cao, xuất gia lâu năm, là cha và là người lãnh đạo Tăng đoàn—và xem trọng lời dạy của họ, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.263

Chừng nào các vị tỳ kheo còn không bị chi phối bởi Hữu ái đã khởi lên, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.264

Chừng nào các vị tỳ kheo còn chăm lo sống ở những trú xứ nơi rừng vắng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.265

Chừng nào các vị tỳ kheo còn tự mình thiết lập Tỉnh thức (mindfulness / niệm), để nhiều người bạn đồng tu thiện tâm hơn có thể đến, và những người đã đến có thể sống thoải mái, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.266

Chừng nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại giữa các vị tỳ kheo, và chừng nào các vị tỳ kheo còn được thấy tuân theo chúng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Ta sẽ dạy các con thêm bảy pháp bất thối nữa. …267

Chừng nào các vị tỳ kheo còn không ưa thích công việc, yêu thích công việc và thích thú vui trong công việc, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.268

Chừng nào họ còn không ưa thích chuyện trò …

ngủ nghỉ …

hội chúng …

họ không có những ác dục (corrupt wishes / những ham muốn xấu xa), không bị chi phối bởi ác dục …269

họ không có bạn xấu, người đồng hành xấu, người giao du xấu …

họ không dừng lại giữa chừng sau khi đạt được một vài thành tựu nhỏ nhặt, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.270

Chừng nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại giữa các vị tỳ kheo, và chừng nào các vị tỳ kheo còn được thấy tuân theo chúng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

6. Khi Bà-la-môn Vassakara đi chưa bao lâu, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đi và tập họp tại giảng đường tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Ràjagaha (Vương Xá).

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.

Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

7. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bày pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Ta sẽ dạy các con thêm bảy pháp bất thối nữa. …271 Chừng nào các vị tỳ kheo còn có Niềm tin (faithful / tín / sự tin tưởng vững chắc) … Xấu hổ (conscientious / tàm / sự hổ thẹn với tội lỗi) … Sợ điều ác (prudent / quý / sự ghê sợ tội lỗi) … đa văn … Siêng năng (energetic / tấn / sự nỗ lực, tinh tấn) … Tỉnh thức … có Trí tuệ (wise / tuệ / sự hiểu biết đúng đắn), họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong. Chừng nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại giữa các vị tỳ kheo, và chừng nào các vị tỳ kheo còn được thấy tuân theo chúng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

8. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn! Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Ta sẽ dạy các con thêm bảy pháp bất thối nữa. …272

Chừng nào các vị tỳ kheo còn phát triển các thất giác chi (awakening factors / bảy yếu tố giác ngộ) là niệm giác chi (mindfulness awakening factor / yếu tố tỉnh thức giác ngộ) … trạch pháp giác chi (investigation of principles awakening factor / yếu tố điều tra các pháp giác ngộ) … tinh tấn giác chi (energy awakening factor / yếu tố siêng năng giác ngộ) … hỷ giác chi (rapture awakening factor / yếu tố niềm vui giác ngộ) … khinh an giác chi (tranquility awakening factor / yếu tố sự yên ổn giác ngộ) [Khinh an (tranquility / sự yên ổn)] … định giác chi (immersion awakening factor / yếu tố sự tập trung tâm giác ngộ) … xả giác chi (equanimity awakening factor / yếu tố sự bình thản giác ngộ), họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Chừng nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại giữa các vị tỳ kheo, và chừng nào các vị tỳ kheo còn được thấy tuân theo chúng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

9. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ tập niệm giác chi, tụ tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Ta sẽ dạy các con thêm bảy pháp bất thối nữa. …273

Chừng nào các vị tỳ kheo còn phát triển các nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) về vô thường (impermanence / sự không bền vững, luôn thay đổi) … vô ngã (not-self / sự không có một cái tôi cố định, bất biến) … bất tịnh (ugliness / sự không trong sạch, đáng ghê tởm của thân) … sự nguy hại (drawbacks / ādīnava / những điều bất lợi, tác hại) … sự từ bỏ (giving up / pahāna / sự đoạn trừ, buông bỏ) … ly tham (fading away / virāga / sự phai nhạt ham muốn) … sự đoạn diệt (cessation / nirodha / sự chấm dứt khổ đau), họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Chừng nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại giữa các vị tỳ kheo, và chừng nào các vị tỳ kheo còn được thấy tuân theo chúng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

10. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Ta sẽ dạy các con sáu pháp bất thối. …274

Chừng nào các vị tỳ kheo còn luôn đối xử với những người bạn đồng tu bằng lòng từ ái qua thân… qua lời nói… và qua ý nghĩ, cả nơi công cộng lẫn nơi riêng tư, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Chừng nào các vị tỳ kheo còn chia sẻ không dè giữ bất kỳ vật phẩm nào họ có được bằng phương tiện hợp pháp, ngay cả thức ăn trong bình bát, sử dụng chung với những người bạn đồng tu có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của họ, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Chừng nào các vị tỳ kheo còn sống theo các giới luật (precepts / các điều răn dạy) chung với những người bạn đồng tu của họ, cả nơi công cộng lẫn nơi riêng tư—những giới luật đó phải còn nguyên vẹn, không tì vết, không nhơ bẩn, không bị phá hoại, mang lại sự giải thoát, được người trí tán thán, không bị hiểu lầm, và dẫn đến định (immersion / sự tập trung tâm)—họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.

Chừng nào các vị tỳ kheo còn sống theo kiến (view / quan điểm, nhận thức) chung với những người bạn đồng tu của họ, cả nơi công cộng lẫn nơi riêng tư—kiến đó phải cao thượng và giải thoát, đưa người thực hành đến chỗ chấm dứt hoàn toàn khổ đau—họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong.275

Chừng nào sáu pháp bất thối này còn tồn tại giữa các vị tỳ kheo, và chừng nào các vị tỳ kheo còn được thấy tuân theo chúng, họ có thể mong đợi sự phát triển, chứ không phải suy vong."

11. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

− Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn giữ khẩu nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ ý nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu, mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Và khi ở tại núi Linh Thứu, Đức Phật thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:276

"Như vậy là giới (ethics / đạo đức), như vậy là định, như vậy là tuệ (wisdom / trí tuệ). Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích.277 Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não (defilements / āsava / những cấu uế làm ô nhiễm tâm), đó là: dục lậu (defilement of sensuality / phiền não do ham muốn dục lạc), hữu lậu (defilement of desire to be reborn / phiền não do khao khát tái sinh), và vô minh lậu (defilement of ignorance / phiền não do không hiểu biết)."278

Khi Đức Phật đã ở Vương Xá bao lâu tùy thích, Ngài nói với Đại đức Ānanda, "Này Ānanda, chúng ta hãy đến Ambalaṭṭhikā."279

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến Ambalaṭṭhikā, nơi Ngài ở tại nhà nghỉ của hoàng gia. Và khi ở đó, Ngài cũng thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:

“Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.”

Khi Đức Phật đã ở Ambalaṭṭhikā bao lâu tùy thích, Ngài nói với Đại đức Ānanda, “Này Ānanda, chúng ta hãy đến Nāḷandā.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến Nāḷandā, nơi Ngài ở tại vườn xoài của Pāvārika.

12. Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu”.

13. Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.

14. Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

15. Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở Pavarikambavana (Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).

4. Tiếng Rống Sư Tử của Xá Lợi Phất

Rồi Xá Lợi Phất (Sāriputta) đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài,280 “Bạch Thế Tôn, con có niềm tin vào Đức Phật đến mức con tin rằng không có sa môn (ascetic / người tu khổ hạnh) hay bà la môn nào khác—dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—mà thắng trí (direct knowledge / sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt) lại vượt hơn Đức Phật về mặt giác ngộ (awakening / sự tỉnh thức hoàn toàn).”

"Thật là một lời tuyên bố hùng hồn và mạnh mẽ, này Xá Lợi Phất. Con đã rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát, quả quyết, rằng: ‘Con có niềm tin vào Đức Phật đến mức con tin rằng không có sa môn hay bà la môn nào khác—dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—mà thắng trí lại vượt hơn Đức Phật về mặt giác ngộ.’

Còn về tất cả các bậc A la hán, các vị Phật toàn giác đã sống trong quá khứ thì sao? Con có thấu hiểu tâm của các Ngài để biết rằng những vị Phật đó có giới hạnh như vậy, hay các phẩm chất như vậy, hay trí tuệ như vậy, hay thiền định như vậy, hay sự giải thoát như vậy không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và còn về tất cả các bậc A la hán, các vị Phật toàn giác sẽ sống trong tương lai thì sao? Con có thấu hiểu tâm của các Ngài để biết rằng những vị Phật đó sẽ có giới hạnh như vậy, hay các phẩm chất như vậy, hay trí tuệ như vậy, hay thiền định như vậy, hay sự giải thoát như vậy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và còn về Ta, bậc A la hán, vị Phật toàn giác hiện tại thì sao? Con có thấu hiểu tâm của Ta để biết rằng Ta có giới hạnh như vậy, hay các giáo pháp như vậy, hay trí tuệ như vậy, hay thiền định như vậy, hay sự giải thoát như vậy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy thì, Xá Lợi Phất, vì con không thấu hiểu tâm của các vị Phật quá khứ, tương lai, hay hiện tại, con đang làm gì vậy, khi đưa ra một lời tuyên bố hùng hồn và mạnh mẽ như thế, rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát, quả quyết như vậy?”

"Bạch Thế Tôn, mặc dù con không thấu hiểu tâm của các vị Phật quá khứ, tương lai, và hiện tại, nhưng con hiểu điều này bằng cách suy luận từ giáo pháp.281 Giả sử có một thành trì biên ải của vua với các bờ lũy, thành quách, và cổng vòm được gia cố, và chỉ có một cổng duy nhất. Và nó có một người giữ cổng khôn ngoan, có năng lực, và thông minh. Anh ta ngăn chặn người lạ và cho phép người quen vào. Khi đi tuần tra dọc theo lối đi, anh ta không thấy một lỗ hổng hay khe nứt nào trên tường, dù chỉ nhỏ bằng một con mèo chui qua. Anh ta nghĩ: ‘Bất kỳ sinh vật lớn nào ra vào thành trì, tất cả đều phải qua cổng này.’

Cũng vậy, con hiểu điều này bằng cách suy luận từ giáo pháp: ‘Tất cả các bậc A la hán, các vị Phật toàn giác—dù quá khứ, tương lai, hay hiện tại—đều từ bỏ năm triền cái (five hindrances / năm chướng ngại của tâm), những cấu uế của tâm làm suy yếu trí tuệ. Tâm của các Ngài được thiết lập vững chắc trong tứ niệm xứ (four kinds of mindfulness meditation / bốn lĩnh vực quán niệm). Các Ngài phát triển đúng đắn thất giác chi (seven awakening factors / bảy yếu tố giác ngộ). Và các Ngài giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác (supreme perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo, tối cao).’"

Và khi ở tại Nāḷandā, Đức Phật cũng thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:

“Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.”

16. Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.

− Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: “Con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”. Này Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm của Ngươi. “Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Như vậy, này Sàriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”?

17. - Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây có một người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo có thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

18. Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng Pavarikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

5. Những Bất Lợi của Hành Vi Phi Đạo Đức

Khi Đức Phật đã ở Nāḷandā bao lâu tùy thích, Ngài nói với Đại đức Ānanda, "Này Ānanda, chúng ta hãy đến làng Pāṭali."282

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến làng Pāṭali.

Các cư sĩ tại gia (lay followers / những người Phật tử không xuất gia) của làng Pāṭali nghe tin Ngài đã đến. Vì vậy, họ đến gặp Ngài, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài, “Bạch Thế Tôn, xin Ngài nhận lời đến nhà khách của chúng con.” Đức Phật im lặng nhận lời.

Rồi, biết rằng Đức Phật đã nhận lời, các cư sĩ tại gia của làng Pāṭali đứng dậy từ chỗ ngồi, cúi lạy, và kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải họ. Rồi họ đến nhà khách, nơi họ trải thảm khắp nơi, chuẩn bị chỗ ngồi, đặt một bình nước, và thắp một ngọn đèn dầu. Rồi họ quay lại gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên, và báo cho Ngài biết về sự chuẩn bị của họ, nói rằng: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài cứ tự nhiên đến.”

Vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y, đến nhà khách cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo. Sau khi rửa chân, Ngài vào nhà khách và ngồi dựa vào cột trụ giữa, mặt hướng về phía đông. Tăng đoàn các vị tỳ kheo cũng rửa chân, vào nhà khách, và ngồi dựa vào bức tường phía tây, mặt hướng về phía đông, với Đức Phật ngay trước mặt họ. Các cư sĩ tại gia của làng Pāṭali cũng rửa chân, vào nhà khách, và ngồi dựa vào bức tường phía đông, mặt hướng về phía tây, với Đức Phật ngay trước mặt họ.

Rồi Đức Phật nói với họ:

"Này các gia chủ, có năm điều bất lợi này đối với người không có giới đức do sự thất bại trong giới đức của họ.283 Năm điều nào?

Thứ nhất, người không có giới đức mất đi nhiều của cải do sự sao nhãng (negligence / pamāda / sự lơ là, thiếu chú tâm).284 Đây là điều bất lợi thứ nhất đối với người không có giới đức do sự thất bại trong giới đức của họ.

Hơn nữa, người không có giới đức bị tiếng xấu. Đây là điều bất lợi thứ hai.

Hơn nữa, người không có giới đức khi vào bất kỳ hội chúng nào cũng rụt rè và xấu hổ, dù đó là hội chúng của các vị sát đế lỵ (aristocrats / giai cấp quý tộc, vua chúa), bà la môn, gia chủ, hay sa môn. Đây là điều bất lợi thứ ba.

Hơn nữa, người không có giới đức cảm thấy hoang mang khi lâm chung.285 Đây là điều bất lợi thứ tư.

Hơn nữa, người không có giới đức, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh vào đọa xứ (place of loss / cõi khổ), ác thú (bad place / đường ác), thế giới ngầm, địa ngục (hell / nơi khổ đau cùng cực). Đây là điều bất lợi thứ năm.

Đây là năm điều bất lợi đối với người không có giới đức do sự thất bại trong giới đức của họ.

19. Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pàtaligàma.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàtaligàma.

20. Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pàtaligàma được nghe Thế Tôn đã đến làng Pàtaligàma. Các cư sĩ ở Pàtaligàma đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con”. Thế Tôn im lặng nhận lời.

21. Các cư sĩ ở Pàtaligàma được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước, chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được rãi cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.

22. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa và bức tường ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt phía Tây, đối diện Thế Tôn.

23. Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pataligama:

− Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

6. Những Lợi Ích của Hành Vi Đạo Đức

Có năm điều lợi ích này đối với người có giới đức do sự thành tựu trong giới đức của họ. Năm điều nào?

Thứ nhất, người có giới đức thu được nhiều của cải do sự không sao nhãng (diligence / appamāda / sự không lơ là, tinh cần). Đây là lợi ích thứ nhất.

Hơn nữa, người có giới đức được tiếng tốt. Đây là lợi ích thứ hai.

Hơn nữa, người có giới đức khi vào bất kỳ hội chúng nào cũng mạnh dạn và tự tin, dù đó là hội chúng của các vị sát đế lỵ, bà la môn, gia chủ, hay sa môn. Đây là lợi ích thứ ba.

Hơn nữa, người có giới đức không cảm thấy hoang mang khi lâm chung. Đây là lợi ích thứ tư.

Hơn nữa, khi thân người có giới đức hoại mạng chung, sau khi chết, họ sẽ tái sinh vào thiện thú (good place / đường lành), thiên giới (heavenly realm / cõi trời). Đây là lợi ích thứ năm.

Đây là năm điều lợi ích đối với người có giới đức do sự thành tựu trong giới đức của họ."

Đức Phật đã dành phần lớn thời gian trong đêm để giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho các cư sĩ tại gia của làng Pāṭali bằng một bài Pháp thoại. Rồi Ngài cho họ lui, “Đêm đã khuya rồi, này các gia chủ. Xin quý vị cứ tự nhiên đi.”

“Thưa vâng,” các cư sĩ tại gia của làng Pāṭali đáp. Họ đứng dậy từ chỗ ngồi, cúi lạy, và kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải họ, trước khi rời đi. Ngay sau khi họ rời đi, Đức Phật vào một phòng riêng.286

24. Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

25. Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở Pàtaligàma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy:

− Này các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các người cư sĩ của Pàtaligàma vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pàtaligàma đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.

7. Xây Dựng Thành Trì

Lúc bấy giờ, các đại thần Ma Kiệt Đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành trì tại làng Pāṭali để ngăn chặn người Vajjī.287 Lúc đó, hàng ngàn chư thiên (deities / các vị trời) đang chiếm giữ các địa điểm xây dựng ở làng Pāṭali.288 Các vị vua chúa hay đại thần lỗi lạc có khuynh hướng xây dựng nhà cửa tại các địa điểm do các vị chư thiên lỗi lạc chiếm giữ. Các vị vua chúa hay đại thần bậc trung có khuynh hướng xây dựng nhà cửa tại các địa điểm do các vị chư thiên bậc trung chiếm giữ. Các vị vua chúa hay đại thần bậc thấp có khuynh hướng xây dựng nhà cửa tại các địa điểm do các vị chư thiên bậc thấp chiếm giữ.

Với thiên nhãn thanh tịnh (clairvoyance that is purified and superhuman / khả năng nhìn thấy vượt ngoài tầm mắt thường, đã được thanh lọc), Đức Phật thấy các vị chư thiên đó đang chiếm giữ các địa điểm xây dựng ở làng Pāṭali. Đức Phật thức dậy vào lúc rạng đông và nói với Ānanda, “Này Ānanda, ai đang xây dựng thành trì ở làng Pāṭali vậy?”

“Bạch Thế Tôn, các đại thần Ma Kiệt Đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành trì để ngăn chặn người Vajjī.”

"Cứ như thể họ đang xây dựng thành trì với sự tham vấn của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa). Với thiên nhãn thanh tịnh, Ta thấy các vị chư thiên đó đang chiếm giữ các địa điểm xây dựng. Các vị vua chúa hay đại thần lỗi lạc có khuynh hướng xây dựng nhà cửa tại các địa điểm do các vị chư thiên lỗi lạc chiếm giữ. Các vị vua chúa hay đại thần bậc trung có khuynh hướng xây dựng nhà cửa tại các địa điểm do các vị chư thiên bậc trung chiếm giữ. Các vị vua chúa hay đại thần bậc thấp có khuynh hướng xây dựng nhà cửa tại các địa điểm do các vị chư thiên bậc thấp chiếm giữ. Chừng nào vùng đất văn minh còn mở rộng, chừng nào khu vực giao thương còn mở rộng, đây sẽ là thành phố chính: trung tâm thương mại Pāṭaliputta.289 Nhưng Pāṭaliputta sẽ phải đối mặt với ba mối nguy: hỏa hoạn, lụt lội, và chia rẽ."290

Rồi các đại thần Ma Kiệt Đà là Sunidha và Vassakāra đến gặp Đức Phật, và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ đứng sang một bên và nói, “Xin ngài Gotama cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo nhận lời dùng bữa hôm nay của tôi.” Đức Phật im lặng nhận lời.

Rồi, biết rằng Đức Phật đã nhận lời, họ đến nhà khách của mình, nơi họ đã chuẩn bị các món ăn tươi ngon đã được nấu chín. Rồi họ báo cho Đức Phật biết giờ, nói rằng, “Đã đến giờ, thưa ngài Gotama, bữa ăn đã sẵn sàng.”

Rồi Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà khách của họ cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo, nơi Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Rồi Sunidha và Vassakāra tự tay dâng cúng và làm hài lòng Tăng đoàn các vị tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu bằng những món ăn tươi ngon đã được nấu chín. Khi Đức Phật đã dùng bữa xong và rửa tay và bát, Sunidha và Vassakāra lấy một chiếc ghế thấp và ngồi sang một bên.

Đức Phật bày tỏ sự tùy hỷ bằng những bài kệ này:291

"Tại nơi người ấy trú ngụ,
đã cúng dường cho bậc trí tuệ
và bậc đức hạnh ở đây,
những người tu hành có sự tự chủ, sống đời phạm hạnh,

người ấy nên hồi hướng phước báu292
cho các vị chư thiên ở đó.
Được tôn kính, họ tôn kính lại;
được vinh danh, họ vinh danh lại.

Sau đó, họ có lòng từ mẫn với người ấy,
như mẹ với đứa con còn bú.
Người được chư thiên yêu mến
luôn thấy những điều tốt đẹp."293

Khi Đức Phật đã bày tỏ sự tùy hỷ với Sunidha và Vassakāra bằng những bài kệ này, Ngài đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

Sunidha và Vassakāra đi theo sau Đức Phật, nghĩ rằng, "Cánh cổng mà sa môn Gotama đi ra hôm nay sẽ được đặt tên là cổng Gotama. Bến đò mà Ngài qua sông Hằng sẽ được đặt tên là bến đò Gotama."294

Rồi cánh cổng mà Đức Phật đi ra được đặt tên là cổng Gotama.

Rồi Đức Phật đến sông Hằng.

Lúc bấy giờ, sông Hằng nước dâng đầy đến nỗi một con quạ có thể uống nước từ đó. Muốn qua từ bờ bên này sang bờ bên kia, một số người đang tìm thuyền, một số tìm xuồng, trong khi một số đang kết bè.295 Nhưng, dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi ra hay co lại cánh tay, Đức Phật, cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo, biến mất từ bờ bên này và hiện ra ở bờ bên kia.296

Ngài thấy tất cả những người muốn qua sông. Hiểu được ý nghĩa của việc này, nhân dịp đó Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng tự phát này:

“Những ai vượt qua dòng lũ hay dòng sông297
đã xây cầu và bỏ lại phía sau những vùng lầy lội.
Trong khi một số người vẫn còn đang kết bè,
người trí tuệ đã qua bờ bên kia.”

Phần tụng đọc thứ nhất.

26. Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pàtaligàma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.

27. Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pàtaligàma, Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, ai đang xây dựng thành trì ở Pataligama? − Sunidha và Vassakara, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì.

28. Này Ananda, thật giống như đã hỏi ý kiến các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha và Vassakara đang xây thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì. Này Ananda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân Ta thấy hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pataligama. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này Ananda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi là Pàtaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ananda, Pàtaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.

29. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần nước Magadha, đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara bạch Thế Tôn: “Mong Thế Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.

30. Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cử người đến tin Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.

Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi hai vị thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara tự tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát, Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.

31. Sau khi Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần thứ Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:

Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ.
Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.

Và san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy.
Ðược tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.
Ðược trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.

Chúng sẽ mến thương người ấy như người mẹ thương mến con.
Và những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy may mắn.

Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.

32. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đi sau lưng Thế Tôn và nói:

− “Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được đặt tên là cửa Gotama”.

33. Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.

34. Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:

“Những ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm
phu đang cột bè.
Những người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát”

8. Thuyết Giảng về Tứ Diệu Đế

Rồi Đức Phật nói với Đại đức Ānanda, "Này Ānanda, chúng ta hãy đến làng Koṭi."298

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến làng Koṭi, và ở lại đó.

Ở đó Ngài nói với các vị tỳ kheo:299

“Này các tỳ kheo, do không hiểu và không thâm nhập bốn sự thật cao quý, cả các con và Ta đã lang thang và luân hồi trong một thời gian rất dài. Bốn sự thật nào? Tứ diệu đế (four noble truths / bốn sự thật cao quý): khổ (suffering / sự đau khổ, khôngสมปรารถนา), khổ tập (origin of suffering / nguyên nhân của khổ), khổ diệt (cessation of suffering / sự chấm dứt khổ), và khổ diệt đạo (practice that leads to the cessation of suffering / con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ). Những sự thật cao quý này về khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường đã được hiểu và thâm nhập. Hữu ái đã bị cắt đứt; dẫn hữu (conduit to rebirth / yếu tố dẫn đến tái sinh) đã chấm dứt; nay không còn tái sinh nữa.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Đấng Thiện Thệ (Holy One / bậc đã đi qua một cách tốt đẹp), Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Vì không thật sự thấy rõ
bốn sự thật cao quý,
chúng ta đã luân hồi trong một thời gian dài
từ kiếp này sang kiếp khác.

Nhưng nay những sự thật này đã được thấy,
dẫn hữu đã bị tiêu diệt.
Cội rễ của khổ đau đã bị cắt đứt,
nay không còn tái sinh nữa."

Và khi ở tại làng Koṭi, Đức Phật cũng thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:

“Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.”

Tụng Phẩm II

1. Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ananda: “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kotigàma”

− “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigàma.

2. Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,

Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.

3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:

− Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.

4. Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigama, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: − Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

9. Những Cái Chết ở Ñātika

Khi Đức Phật đã ở làng Koṭi bao lâu tùy thích, Ngài nói với Ānanda, "Này Ānanda, chúng ta hãy đến xứ Ñātika."300

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến xứ Ñātika, nơi Ngài ở tại nhà gạch ở Ñātika.301

Rồi Đại đức Ānanda đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài, “Bạch Thế Tôn, vị tỳ kheo tên Sāḷha đã qua đời ở Ñātika. Ngài đã tái sinh ở đâu trong kiếp sau?302 Vị tỳ kheo ni tên Nandā, nam cư sĩ tên Sudatta, và nữ cư sĩ tên Sujātā đã qua đời ở Ñātika. Họ đã tái sinh ở đâu trong kiếp sau?303 Các nam cư sĩ tên Kakkaṭa,304 Kaḷibha, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, và Subhadda đã qua đời ở Ñātika. Họ đã tái sinh ở đâu trong kiếp sau?”

"Này Ānanda, tỳ kheo Sāḷha đã chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát (undefiled freedom of heart / sự giải thoát của tâm khỏi các phiền não) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này, sau khi tự mình chứng ngộ nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những thứ làm ô nhiễm, rỉ chảy).

Tỳ kheo ni Nandā đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc ở cõi thấp). Bà ấy đã hóa sinh (reborn spontaneously / sinh ra một cách tự nhiên, không qua thai bào), và sẽ nhập Niết bàn ở đó, không còn trở lại thế giới này nữa.

Nam cư sĩ Sudatta đã đoạn trừ ba kiết sử (three fetters / ba trói buộc đầu tiên), và làm suy yếu tham, sân, và si. Ông ấy là bậc nhất lai (once-returner / bậc chỉ còn tái sinh một lần nữa); ông ấy sẽ trở lại thế giới này một lần duy nhất, rồi chấm dứt khổ đau.

Nữ cư sĩ Sujātā đã đoạn trừ ba kiết sử. Bà ấy là bậc nhập lưu (stream-enterer / bậc đã vào dòng Thánh), không còn bị tái sinh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Các nam cư sĩ Kakkaṭa, Kaḷibha, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, và Subhadda đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Họ đã hóa sinh, và sẽ nhập Niết bàn ở đó, không còn trở lại thế giới này nữa.305

Hơn năm mươi nam cư sĩ ở Ñātika đã qua đời sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Họ đã hóa sinh, và sẽ nhập Niết bàn ở đó, không còn trở lại thế giới này nữa.

Hơn chín mươi nam cư sĩ ở Ñātika đã qua đời sau khi đoạn trừ ba kiết sử, và làm suy yếu tham, sân, và si. Họ là bậc nhất lai, sẽ trở lại thế giới này một lần duy nhất, rồi làm chấm dứt khổ đau.

Hơn năm trăm nam cư sĩ ở Ñātika đã qua đời sau khi đoạn trừ ba kiết sử. Họ là bậc nhập lưu, không còn bị tái sinh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.306

5. Thế Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nadika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).

6. Rồi Tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Salada mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Tỷ-kheo ni Nandà mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung tại Nàdika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Nikata… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Katissabha… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuttha… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Santuttha…, Bạch Thế Tôn cư sĩ Bhadda… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?

7. Này Ananda, Tỷ-kheo Sàtha diệt tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ananda, Tỷ-kheo ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda nữ cư sĩ Sujata diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này Ananda cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Kalinga… Này Ananda cư sĩ Nikata… Này Ananda, cư sĩ Katissabha… Này Ananda, cư sĩ Tuttha… Này Ananda, cư sĩ Santuttha… Này Ananda, cư sĩ Bhadada… Này Ananda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nàdita, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ mệnh chung tại Nàdika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nadika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác.

10. Tấm Gương Soi Giáo Pháp

Không có gì lạ khi một con người phải qua đời. Nhưng nếu con cứ đến hỏi Ta về điều đó mỗi khi có ai qua đời, thì đó sẽ là một sự phiền hà cho Ta.

Vậy nên Ānanda, Ta sẽ dạy con lời giải thích về Giáo Pháp gọi là ‘pháp kính’ (mirror of the teaching / tấm gương soi giáo pháp). Một thánh đệ tử (noble disciple / người học trò đã chứng Thánh quả) có được điều này có thể tự tuyên bố về mình:307 ‘Ta đã chấm dứt việc tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi mất mát, nơi xấu xa, thế giới ngầm. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’

Và pháp kính đó là gì?308

Đó là khi một thánh đệ tử có niềm tin bất động (experiential confidence / aveccappasāda / sự tin tưởng vững chắc dựa trên kinh nghiệm) vào Đức Phật:309 'Đức Thế Tôn đó là bậc Ứng Cúng (perfected / xứng đáng được cúng dường), Chánh Biến Tri (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đã đi qua một cách tốt đẹp), Thế Gian Giải (knower of the world / bậc hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao dẫn dắt những người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc tỉnh thức), Thế Tôn (blessed / đấng được tôn kính).310

Họ có niềm tin bất động vào giáo pháp: 'Giáo pháp đã được Đức Thế Tôn khéo giảng dạy—thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, mời gọi đến để thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng ngộ.'311

Họ có niềm tin bất động vào Tăng đoàn: 'Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân chính, có hệ thống và đúng đắn. Bao gồm bốn đôi, tám bậc cá nhân. Đây là Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.'312

Và giới đức của một thánh đệ tử được các bậc Thánh yêu mến, không bị vi phạm, không tì vết, không nhơ bẩn, không bị phá hoại, mang lại sự giải thoát, được người trí tán thán, không bị hiểu lầm, và dẫn đến định.313

Đây chính là pháp kính đó."

Và khi ở tại Ñātika, Đức Phật thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:

“Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.”

8. Này Ananda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ananda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.

9. Này Ananda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”. Này Ananda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: “Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu”. Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến thiền định”.

Này Ananda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh giác”.

10. Khi Thế Tôn ở Nàdika, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

Khi Đức Phật đã ở Ñātika bao lâu tùy thích, Ngài nói với Đại đức Ānanda, “Này Ānanda, chúng ta hãy đến Vesālī.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến Vesālī, nơi Ngài ở tại vườn xoài của Ambapālī.314

Ở đó Đức Phật nói với các vị tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo nên sống tỉnh thức và nhận biết rõ ràng (mindful and aware / sato sampajāno / có sự chú tâm và hiểu biết rõ ràng).315 Đây là lời chỉ dạy của Ta cho các con.

Và làm thế nào một vị tỳ kheo có tỉnh thức?316 Đó là khi một vị tỳ kheo thiền quán một khía cạnh của thân—nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, và tỉnh thức, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.317 Họ thiền quán một khía cạnh của thọ… tâm… pháp—nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, và tỉnh thức, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.318 Đó là cách một vị tỳ kheo có tỉnh thức.

Và làm thế nào một vị tỳ kheo có nhận biết rõ ràng? Đó là khi một vị tỳ kheo hành động với nhận biết rõ ràng trong mọi tình huống (situational awareness / sampajañña / sự hiểu biết rõ ràng về những gì đang diễn ra) khi đi ra và trở về; khi nhìn về phía trước và sang hai bên; khi co và duỗi các chi; khi mang y ngoài, bát và các y khác; khi ăn, uống, nhai, và nếm; khi đi tiểu và đại tiện; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và giữ im lặng. Đó là cách một vị tỳ kheo có nhận biết rõ ràng. Một vị tỳ kheo nên sống tỉnh thức và nhận biết rõ ràng. Đây là lời chỉ dạy của Ta cho các con."

11. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nàdika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Vesàli.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn trú tại vườn Ambapàli.

12. Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời, đối với các cảm thọ… đối với tâm… đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.

13. Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác khi mang áo sanghati (tănggià-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải sống an trú chánh niệm tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.

11. Kỹ Nữ Ambapālī

Kỹ nữ Ambapālī nghe tin Đức Phật đã đến và đang ở tại vườn xoài của bà.319 Bà cho thắng những cỗ xe tốt nhất. Rồi bà lên một cỗ xe tốt, cùng với những cỗ xe tốt khác, khởi hành từ Vesālī đến công viên của mình. Bà đi xe ngựa đến nơi nào địa hình còn cho phép, rồi xuống xe và đi bộ đến gặp Đức Phật. Bà cúi lạy và ngồi xuống một bên. Đức Phật giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho bà bằng một bài Pháp thoại.

Rồi bà thưa với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo nhận lời dùng bữa ngày mai của con.” Đức Phật im lặng nhận lời. Rồi, biết rằng Đức Phật đã nhận lời, Ambapālī đứng dậy từ chỗ ngồi, cúi lạy, và kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải bà, trước khi rời đi.

Những người Licchavi ở Vesālī cũng nghe tin Đức Phật đã đến và đang ở tại vườn xoài của Ambapālī. Họ cho thắng những cỗ xe tốt nhất. Rồi họ lên một cỗ xe tốt, cùng với những cỗ xe tốt khác, khởi hành từ Vesālī. Một số người Licchavi mặc đồ màu xanh, có màu xanh, trang phục màu xanh, trang điểm màu xanh. Và một số người cũng có màu tương tự là vàng, đỏ, hoặc trắng.320

Rồi kỹ nữ Ambapālī va chạm với những thanh niên Licchavi đó, trục xe chạm trục xe, bánh xe chạm bánh xe, ách xe chạm ách xe.321 Những người Licchavi nói với bà, "Này, con mụ Ambapālī kia, ngươi làm gì mà va chạm với chúng ta, trục xe chạm trục xe, bánh xe chạm bánh xe, ách xe chạm ách xe?"322

“Thưa các ngài, đó là vì con đã mời Đức Phật dùng bữa ngày mai cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo.”

“Con mụ kia, hãy nhường bữa ăn đó cho chúng ta với giá một trăm ngàn!”

"Thưa các ngài, ngay cả khi các ngài cho con cả thành Vesālī cùng với các tỉnh của nó, con cũng sẽ không nhường bữa ăn đó cho các ngài."323

Rồi những người Licchavi búng ngón tay, nói rằng, "Chúng ta đã bị bà cô này qua mặt! Chúng ta đã bị bà cô này qua mặt!"324 Rồi họ tiếp tục đi đến vườn xoài của Ambapālī.

Đức Phật thấy họ từ xa đi tới, và nói với các vị tỳ kheo: “Bất kỳ vị tỳ kheo nào chưa từng thấy chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba, hãy nhìn xem hội chúng Licchavi. Hãy xem hội chúng Licchavi, hãy quan sát họ: họ giống hệt như chư thiên Ba Mươi Ba!”

Những người Licchavi đi xe ngựa đến nơi nào địa hình còn cho phép, rồi xuống xe và đi bộ đến gặp Đức Phật. Họ cúi lạy Đức Phật, ngồi xuống một bên, và Đức Phật giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài Pháp thoại.

Rồi họ thưa với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo nhận lời dùng bữa ngày mai của chúng con.”

Rồi Đức Phật nói với những người Licchavi, “Ta đã nhận lời dùng bữa ngày mai của kỹ nữ Ambapālī rồi.”

Rồi những người Licchavi búng ngón tay, nói rằng, “Chúng ta đã bị bà cô này qua mặt! Chúng ta đã bị bà cô này qua mặt!”

Và rồi những người Licchavi đó tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói. Họ đứng dậy từ chỗ ngồi, cúi lạy, và kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải họ, trước khi rời đi.

Và khi đêm đã qua, Ambapālī đã chuẩn bị các món ăn tươi ngon đã được nấu chín trong công viên của mình. Rồi bà báo cho Đức Phật biết giờ, nói rằng, “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ. Bữa ăn đã sẵn sàng.”

Rồi Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà của Ambapālī cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo, nơi Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Rồi Ambapālī tự tay dâng cúng và làm hài lòng Tăng đoàn các vị tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu bằng những món ăn tươi ngon đã được nấu chín.

Khi Đức Phật đã dùng bữa xong và rửa tay và bát, Ambapālī lấy một chiếc ghế thấp, ngồi sang một bên, và thưa với Đức Phật, "Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường công viên này cho Tăng đoàn các vị tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu."325

Đức Phật nhận công viên.326

Rồi Đức Phật giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho bà bằng một bài Pháp thoại, sau đó Ngài đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

Và khi ở tại Vesālī, Đức Phật cũng thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:

“Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.”

14. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli được nghe: “Thế Tôn đã đến Vesàli và ở tại vườn xoài của ta”. Dâm nữ Ambapàli liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng với các cổ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesàli và đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

Dâm nữ Ambapàli sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapali được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.

15. Các người Licchavi ở Vesàli được nghe: “Thế Tôn đến Vesàli hiện ở vườn Ambapàli”, liền cho thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesàli với những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Có những vị Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang sức màu trắng.

16. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm nữ Ambapàli:

− Này Ambapàli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe?

− Này quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.

− Này Ambapàli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một trăm ngàn.

− Dầu quý Công tử có cho tôi cả thành Vesàli cùng với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.

Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói:

− Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phổng tay trên. Và các vị Licchavi này cùng đi đến vườn Ambapàli.

17. Thế Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống như chúng Tam thập tam thiên”.

18. Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

Các vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch Thế Tôn: − Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.

− Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapàli rồi.

Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: “Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phổng tay trên… “

Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức Phật và từ biệt.

19. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali, đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”. Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapàli, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapàli tự tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vi thượng thủ, dùng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

Khi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ Ambapàli lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapàli bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ”.

Thế Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy ra về.

20. Trong thời gian Thế Tôn ở Vesàli, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

12. Bắt Đầu Mùa An Cư tại Beluva

Khi Đức Phật đã ở vườn xoài của Ambapālī bao lâu tùy thích, Ngài nói với Đại đức Ānanda, "Này Ānanda, chúng ta hãy đến làng nhỏ Beluva."327

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến làng nhỏ Beluva, và ở lại đó.

Ở đó Đức Phật nói với các vị tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, xin hãy vào an cư mùa mưa (rainy season residence / vassāvāsa / thời gian ba tháng các tỳ kheo ở yên một chỗ trong mùa mưa) với bất kỳ bạn bè hay người quen nào các con có ở quanh Vesālī.328 Ta sẽ bắt đầu mùa an cư ngay tại đây, ở làng nhỏ Beluva.”

“Thưa vâng,” các vị tỳ kheo đó đáp. Họ làm theo lời Đức Phật nói, trong khi Đức Phật bắt đầu mùa an cư ngay tại đó, ở làng nhỏ Beluva.

Sau khi Đức Phật bắt đầu mùa an cư, Ngài bị bệnh nặng, phải chịu những cơn đau khủng khiếp, gần kề cái chết. Nhưng Ngài chịu đựng không hề bận tâm, với tỉnh thức và nhận biết rõ ràng. Rồi Đức Phật nghĩ, "Sẽ không thích hợp nếu Ta nhập Niết bàn (fully extinguished / parinibbāna / sự tịch diệt hoàn toàn, không còn tái sinh) trước khi thông báo cho các thí chủ và từ biệt Tăng đoàn các vị tỳ kheo.329 Tại sao Ta không dùng sức mạnh để trấn áp cơn bệnh này, ổn định mạng căn (life force / jīvitasankhāra / yếu tố duy trì sự sống), và tiếp tục sống?"330

Vì vậy, Ngài đã làm như vậy. Rồi cơn bệnh của Đức Phật thuyên giảm.

Ngay sau khi Đức Phật bình phục sau cơn bệnh đó, Ngài ra khỏi nơi ở và ngồi dưới bóng hiên trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Đại đức Ānanda đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài, "Bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời khi Đức Phật thoải mái và khỏe mạnh. Bởi vì khi Đức Phật bị bệnh, thân con cảm thấy như bị trúng thuốc. Con mất phương hướng, và các giáo pháp không còn rõ ràng đối với con.331 Tuy nhiên, ít nhất con cũng được an ủi bởi ý nghĩ rằng Đức Phật sẽ không nhập Niết bàn mà không nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn các vị tỳ kheo."332

"Nhưng Tăng đoàn các vị tỳ kheo có thể mong đợi gì ở Ta, này Ānanda?333 Ta đã giảng dạy Giáo Pháp mà không có sự phân biệt nào giữa giáo lý bí mật và công khai.334 Như Lai không có nắm tay đóng kín của một vị thầy khi nói đến các giáo pháp.335 Nếu có ai nghĩ rằng: ‘Ta sẽ lãnh đạo Tăng đoàn các vị tỳ kheo,’ hoặc ‘Tăng đoàn các vị tỳ kheo là dành cho Ta,’ thì hãy để người đó nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn. Nhưng Như Lai không nghĩ như vậy, vậy tại sao Ngài lại phải nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn?336

Ta bây giờ đã già, cao tuổi và là bậc trưởng thượng. Ta đã cao niên và đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Ta hiện đã tám mươi tuổi. Giống như một cỗ xe cũ kỹ được giữ cho chạy bằng một sợi dây,337 cũng vậy, thân của Như Lai được giữ cho hoạt động như thể bằng một sợi dây.338 Đôi khi Như Lai, không chú tâm vào bất kỳ dấu hiệu nào, và với sự chấm dứt của một số cảm thọ nhất định, nhập vào và an trú trong vô tướng tâm định (signless immersion of the heart / sự tập trung tâm không dựa vào bất kỳ dấu hiệu nào). Chỉ khi đó thân của Như Lai mới trở nên thoải mái hơn.339

Vậy nên Ānanda, hãy sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của con, không có nơi nương tựa nào khác.340 Và làm thế nào một vị tỳ kheo làm được điều này? Đó là khi một vị tỳ kheo thiền quán một khía cạnh của thân—nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, và tỉnh thức, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Họ thiền quán một khía cạnh của thọ… tâm… pháp—nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, và tỉnh thức, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Đó là cách một vị tỳ kheo là hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác.

Dù là bây giờ hay sau khi Ta qua đời, bất kỳ ai sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác; với giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác—những vị tỳ kheo đó của Ta những người muốn tu tập sẽ là những người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất."341

Phần tụng đọc thứ hai.

21. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesàli cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú tại làng này.

22. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở đây, tại làng Baluvà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.

23. Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.

24. Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.

25. Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.

26. Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ… đối với tâm… đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

13. Một Gợi Ý Rõ Ràng

Rồi Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào Vesālī để khất thực. Rồi, sau bữa ăn, trên đường trở về từ khất thực, Ngài nói với Đại đức Ānanda: “Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ (sitting cloth / tấm vải để ngồi) của con.342 Chúng ta hãy đến đền Cāpāla để thiền định trong ngày.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Lấy tọa cụ, ông đi theo sau Đức Phật.

Rồi Đức Phật đến đền Cāpāla, nơi Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Ānanda cúi lạy Đức Phật và ngồi xuống một bên.

Đức Phật nói với ông: "Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu. Và các đền Udena, Gotamaka, Bảy Thiếu Nữ, Nhiều Con Trai, Sārandada, và Cāpāla cũng đều đáng yêu.

Bất cứ ai đã phát triển và tu tập tứ thần túc (four bases of psychic power / bốn nền tảng của năng lực siêu nhiên)—biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng—nếu muốn, có thể sống trọn một kiếp (aeon / một khoảng thời gian rất dài, ở đây chỉ tuổi thọ tối đa của một người) hoặc phần còn lại của kiếp.343 Như Lai đã phát triển và tu tập tứ thần túc, biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng. Nếu Ngài muốn, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp."

Nhưng Ānanda không hiểu, mặc dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu rõ ràng như vậy. Ông không cầu xin Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy ở lại trọn một kiếp! Xin Đấng Thiện Thệ hãy ở lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người.” Vì tâm ông như thể bị Ma Vương (Māra / ác ma, biểu tượng của sự cám dỗ và trở ngại) ám ảnh.344

Lần thứ hai … Và lần thứ ba, Đức Phật nói với Ānanda: “Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu. Và các đền Udena, Gotamaka, Bảy Thiếu Nữ, Nhiều Con Trai, Sārandada, và Cāpāla cũng đều đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và tu tập tứ thần túc—biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng—nếu muốn, có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp. Như Lai đã phát triển và tu tập tứ thần túc, biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng. Nếu Ngài muốn, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.”

Nhưng Ānanda không hiểu, mặc dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu rõ ràng như vậy. Ông không cầu xin Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy ở lại trọn một kiếp! Xin Đấng Thiện Thệ hãy ở lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người.” Vì tâm ông như thể bị Ma Vương ám ảnh.

Rồi Đức Phật đứng dậy và nói với Đại đức Ānanda, “Bây giờ con hãy đi, Ānanda, tùy ý con.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Ông đứng dậy từ chỗ ngồi, cúi lạy, và kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải ông, trước khi ngồi xuống gốc cây gần đó.

Tụng Phẩm III

1. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến điện thờ Càpàla, để nghỉ trưa. − Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.

2. Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

− Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sàttambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay điện thờ Càpàla.

3. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.

4. Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.

5. Lần thứ hai Thế Tôn… lần thứ ba Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay điện thờ Capala!” Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.

Nhưng tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.

6. Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda hãy đi và làm những gì Ngươi nghĩ là phải thời.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.

14. Lời Thỉnh Cầu của Ma Vương

Và rồi, không lâu sau khi Ānanda rời đi, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật, đứng sang một bên, và thưa với Ngài:345

"Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn bây giờ hãy nhập Niết bàn! Xin Đấng Thiện Thệ bây giờ hãy nhập Niết bàn! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết bàn.346 Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố điều này: 'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết bàn cho đến khi Ta có các đệ tử tỳ kheo có năng lực, có học thức, tự tin, đa văn, ghi nhớ giáo pháp, và thực hành đúng theo giáo pháp. Cho đến khi họ thực hành đúng đắn, sống đúng theo giáo pháp. Cho đến khi họ học được truyền thống của mình, và giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, tiết lộ, phân tích, và làm rõ nó. Cho đến khi họ có thể bác bỏ một cách hợp pháp và hoàn toàn các học thuyết của người khác khi chúng xuất hiện, và giảng dạy với một cơ sở có thể chứng minh được.'347

Hôm nay Ngài đã có những đệ tử tỳ kheo như vậy. Xin Đức Thế Tôn bây giờ hãy nhập Niết bàn! Xin Đấng Thiện Thệ bây giờ hãy nhập Niết bàn! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố điều này: 'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết bàn cho đến khi Ta có các đệ tử tỳ kheo ni có năng lực, có học thức, tự tin, đa văn …'348

Hôm nay Ngài đã có những đệ tử tỳ kheo ni như vậy. Xin Đức Thế Tôn bây giờ hãy nhập Niết bàn! Xin Đấng Thiện Thệ bây giờ hãy nhập Niết bàn! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố điều này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết bàn cho đến khi Ta có các đệ tử nam cư sĩ có năng lực, có học thức, tự tin, đa văn …’

Hôm nay Ngài đã có những đệ tử nam cư sĩ như vậy. Xin Đức Thế Tôn bây giờ hãy nhập Niết bàn! Xin Đấng Thiện Thệ bây giờ hãy nhập Niết bàn! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố điều này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết bàn cho đến khi Ta có các đệ tử nữ cư sĩ có năng lực, có học thức, tự tin, đa văn …’

Hôm nay Ngài đã có những đệ tử nữ cư sĩ như vậy. Xin Đức Thế Tôn bây giờ hãy nhập Niết bàn! Xin Đấng Thiện Thệ bây giờ hãy nhập Niết bàn! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố điều này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết bàn cho đến khi con đường tâm linh của Ta thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng, và được tuyên bố rõ ràng ở bất cứ nơi nào có trời và người.’

Hôm nay con đường tâm linh của Ngài đã thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng, và được tuyên bố rõ ràng ở bất cứ nơi nào có trời và người. Xin Đức Thế Tôn bây giờ hãy nhập Niết bàn! Xin Đấng Thiện Thệ bây giờ hãy nhập Niết bàn! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết bàn."

Khi điều này được nói, Đức Phật nói với Māra, "Hãy yên tâm, Ác ma. Sự nhập Niết bàn của Như Lai sẽ sớm diễn ra.349 Ba tháng nữa Như Lai sẽ nhập Niết bàn."350

7. Tôn giả Ananda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn. − Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.

8. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn, đã trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật… khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, và có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp một cách thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

9. Khi được nói vậy Thế Tôn nói với Ác ma: “Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.

15. Từ Bỏ Mạng Căn

Vậy là tại đền Cāpāla, Đức Phật, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, đã từ bỏ mạng căn.351 Khi Ngài làm vậy, đã có một trận động đất lớn, kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời.352 Rồi, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng tự phát này:

"So sánh điều không thể so sánh
với sự tạo tác kéo dài mạng sống,353
bậc hiền triết đã từ bỏ mạng căn.354
An lạc nội tâm, thanh thản,
Ngài đã phá tan sự tạo tác bản ngã như một bộ áo giáp."355

10. Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:

Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như tháo áo giáp đang mang mặc.

16. Nguyên Nhân của Động Đất

Rồi Đại đức Ānanda nghĩ, “Thật không thể tin được, thật kỳ diệu! Đó là một trận động đất thật sự lớn! Đó thật sự là một trận động đất rất lớn; kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời! Nguyên nhân là gì, lý do gì cho một trận động đất lớn?”

Rồi Đại đức Ānanda đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài, “Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu! Đó là một trận động đất thật sự lớn! Đó thật sự là một trận động đất rất lớn; kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời! Nguyên nhân là gì, lý do gì cho một trận động đất lớn?”

"Này Ānanda, có tám nguyên nhân và lý do này cho một trận động đất lớn. Tám điều nào?

Đại địa này đặt trên nước, nước đặt trên gió, và gió đứng trong hư không. Vào lúc một cơn gió lớn thổi, nó làm xáo động nước, và nước làm xáo động đất.356 Đây là nguyên nhân và lý do thứ nhất cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, có một sa môn hay bà la môn có thần lực (psychic power / năng lực siêu nhiên) đã đạt được sự làm chủ tâm trí, hoặc một vị trời hùng mạnh và quyền thế. Họ đã phát triển một nhận thức hạn chế về đất và một nhận thức vô hạn về nước. Họ làm cho đất rung chuyển, chao đảo và rung động.357 Đây là nguyên nhân và lý do thứ hai cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Bồ tát (being intent on awakening / chúng sinh đang trên đường giác ngộ) từ giã cõi trời Đâu Suất (Tusita), Ngài nhập vào bụng mẹ, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng. Khi đó đất rung chuyển, chao đảo và rung động.358 Đây là nguyên nhân và lý do thứ ba cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Bồ tát ra khỏi bụng mẹ tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ tư cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, đất rung chuyển, chao đảo và rung động.359 Đây là nguyên nhân và lý do thứ năm cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng, đất rung chuyển, chao đảo và rung động.360 Đây là nguyên nhân và lý do thứ sáu cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, từ bỏ mạng căn, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ bảy cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai nhập vô dư y Niết bàn giới (element of extinguishment with no residue / trạng thái Niết bàn không còn lại bất kỳ yếu tố nào của sự tồn tại), đất rung chuyển, chao đảo và rung động.361 Đây là nguyên nhân và lý do thứ tám cho một trận động đất lớn.

Đây là tám nguyên nhân và lý do cho một trận động đất lớn.

11. Lúc bấy giờ, tôn giả Ananda suy nghĩ: “Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?”.

12. Rồi tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?

13. - Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này Ananda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.

14. Lại nữa này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.

15. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita (Ðâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.

16. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến đại địa chấn động.

17. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến đại địa chấn động.

18. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn động.

19. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.

20. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động. Này Ananda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa chấn động. 21. Này Ananda, có tám chúng. Thế nào là tám. Chúng Sát-đế-Lỵ, chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Bốn Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên.

17. Tám Hội Chúng

Có, này Ānanda, tám hội chúng này.362 Tám hội chúng nào? Hội chúng của các vị sát đế lỵ, bà la môn, gia chủ, và sa môn. Một hội chúng của chư thiên Tứ Đại Thiên Vương. Một hội chúng của chư thiên Ba Mươi Ba. Một hội chúng của Ma Vương. Một hội chúng của Phạm thiên (Brahmā / vị trời ở cõi sắc giới).363

Ta nhớ đã từng đến một hội chúng gồm hàng trăm vị sát đế lỵ. Ở đó Ta thường ngồi với họ, trò chuyện, và tham gia thảo luận. Và dung mạo và giọng nói của Ta trở nên giống hệt họ. Ta giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài Pháp thoại. Nhưng khi Ta nói, họ không biết: ‘Ai đang nói đây? Là một vị trời hay một con người?’ Và khi bài Pháp thoại của Ta kết thúc, Ta biến mất. Nhưng khi Ta biến mất, họ không biết: 'Ai đã biến mất đó? Là một vị trời hay một con người?'364

Ta nhớ đã từng đến một hội chúng gồm hàng trăm vị bà la môn … gia chủ … sa môn … chư thiên Tứ Đại Thiên Vương … chư thiên Ba Mươi Ba … Ma Vương … Phạm thiên. Ở đó Ta cũng thường ngồi với họ, trò chuyện, và tham gia thảo luận. Và dung mạo và giọng nói của Ta trở nên giống hệt họ. Ta giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài Pháp thoại. Nhưng khi Ta nói, họ không biết: ‘Ai đang nói đây? Là một vị trời hay một con người?’ Và khi bài Pháp thoại của Ta kết thúc, Ta biến mất. Nhưng khi Ta biến mất, họ không biết: ‘Ai đã biến mất đó? Là một vị trời hay một con người?’

Đây là tám hội chúng.

22. Này Ananda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát -đế-lỵ hơn một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của chúng Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như vậy; giọng nói chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Ngươi chăng?”.

23. Này Ananda. Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Bà-la-môn hơn một trăm lần… chúng Cư sĩ… chúng Samôn… chúng Bốn Thiên vương… chúng Tam thập tam thiên… chúng Ma… chúng Phạm thiên hơn trăm lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào, dung sắc của Ta cũng vậy; giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất đó là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Này Ananda, như vậy là tám chúng.

18. Tám Thắng Xứ

Này Ānanda, có tám thắng xứ này (eight dimensions of mastery / tám cảnh giới làm chủ).365 Tám thắng xứ nào?

Nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu.366 Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ nhất.

Nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, vô hạn, cả đẹp lẫn xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ hai.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu.367 Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ ba.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, vô hạn, cả đẹp lẫn xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tư.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu xanh, với màu xanh và vẻ ngoài màu xanh.368 Chúng giống như một bông hoa lanh màu xanh, với màu xanh và vẻ ngoài màu xanh. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được làm mịn cả hai mặt, màu xanh, với màu xanh và vẻ ngoài màu xanh. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, với màu xanh và vẻ ngoài màu xanh. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ năm.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu vàng, với màu vàng và vẻ ngoài màu vàng. Chúng giống như một bông hoa sứ màu vàng, với màu vàng và vẻ ngoài màu vàng. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được làm mịn cả hai mặt, màu vàng, với màu vàng và vẻ ngoài màu vàng. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu vàng, với màu vàng và vẻ ngoài màu vàng. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ sáu.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu đỏ, với màu đỏ và vẻ ngoài màu đỏ. Chúng giống như một bông hoa dâm bụt đỏ màu đỏ, với màu đỏ và vẻ ngoài màu đỏ. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được làm mịn cả hai mặt, màu đỏ, với màu đỏ và vẻ ngoài màu đỏ. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu đỏ, với màu đỏ và vẻ ngoài màu đỏ. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ bảy.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu trắng, với màu trắng và vẻ ngoài màu trắng. Chúng giống như sao mai màu trắng, với màu trắng và vẻ ngoài màu trắng. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được làm mịn cả hai mặt, màu trắng, với màu trắng và vẻ ngoài màu trắng. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu trắng, với màu trắng và vẻ ngoài màu trắng. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Ta biết và thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám.

Đây là tám thắng xứ.

24. Này Ananda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?

25. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.

26. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.

27. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.

28. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.

29. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.

30. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông Kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, tướng sắc vàng hình sắc vàng - như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.

31. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.

32. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng - như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Này Ananda như vậy là tám thắng xứ.

19. Tám Giải Thoát

Này Ānanda, có tám giải thoát này (eight liberations / tám trạng thái giải thoát tâm).369 Tám giải thoát nào?

Có hình tướng, họ thấy các hình tướng. Đây là giải thoát thứ nhất.

Không nhận thức hình tướng bên trong, họ thấy các hình tướng bên ngoài. Đây là giải thoát thứ hai.

Họ chỉ tập trung vào sự đẹp đẽ (tịnh giải thoát). Đây là giải thoát thứ ba.

Hoàn toàn vượt qua nhận thức về hình tướng (perceptions of form / rūpasaññā), với sự chấm dứt nhận thức về sự đối ngại (perceptions of impingement / paṭighasaññā), không chú tâm vào nhận thức về sự đa dạng (perceptions of diversity / nānattasaññā), nhận biết rằng ‘không gian là vô hạn’, họ nhập vào và an trú trong không vô biên xứ (dimension of infinite space / cõi trời nơi không gian là vô hạn). Đây là giải thoát thứ tư.

Hoàn toàn vượt qua không vô biên xứ, nhận biết rằng ‘ý thức là vô hạn’, họ nhập vào và an trú trong thức vô biên xứ (dimension of infinite consciousness / cõi trời nơi ý thức là vô hạn). Đây là giải thoát thứ năm.

Hoàn toàn vượt qua thức vô biên xứ, nhận biết rằng ‘không có gì cả’, họ nhập vào và an trú trong vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi trời nơi không có gì cả). Đây là giải thoát thứ sáu.

Hoàn toàn vượt qua vô sở hữu xứ, họ nhập vào và an trú trong phi tưởng phi phi tưởng xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi trời nơi nhận thức không phải có cũng không phải không). Đây là giải thoát thứ bảy.

Hoàn toàn vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ, họ nhập vào và an trú trong diệt tận định (cessation of perception and feeling / sự chấm dứt nhận thức và cảm thọ). Đây là giải thoát thứ tám.

Đây là tám giải thoát.

Này Ānanda, có một lần, khi Ta mới giác ngộ, Ta đang ở Uruvelā tại cây đa của người chăn dê bên bờ sông Nerañjarā. Khi đó Ác ma Māra đến gặp Ta, đứng sang một bên, và nói: ‘Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn bây giờ hãy nhập Niết bàn! Xin Đấng Thiện Thệ bây giờ hãy nhập Niết bàn! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết bàn.’ Khi hắn nói xong, Ta nói với Māra:

'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết bàn cho đến khi Ta có các đệ tử tỳ kheo … tỳ kheo ni … nam cư sĩ … nữ cư sĩ có năng lực, có học thức, tự tin, đa văn.

Ta sẽ không nhập Niết bàn cho đến khi con đường tâm linh của Ta thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng, và được tuyên bố rõ ràng ở bất cứ nơi nào có trời và người.’

Hôm nay, ngay tại đền Cāpāla, Ác ma Māra lại đến gặp Ta một lần nữa với cùng một yêu cầu, nhắc nhở Ta về lời tuyên bố trước đây của Ta, và nói rằng những điều kiện đó đã được hoàn thành.

Khi hắn nói xong, Ta nói với Māra: ‘Hãy yên tâm, Ác ma. Sự nhập Niết bàn của Như Lai sẽ sớm diễn ra. Ba tháng nữa Như Lai sẽ nhập Niết bàn.’ Vì vậy, hôm nay, ngay tại đền Cāpāla, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, Ta đã từ bỏ mạng căn."

33. Này Ananda, tám giải thoát. Thế nào là tám?

Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.

Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải thoát thứ ba.

Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ; đó là sự giải thoát thứ tư.

Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.

Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu.

Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.

Này Ananda, như vậy là tám giải thoát.

34. Này Ananda, một thời Ta ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Ajapàlanigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ananda, lúc bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền đứng một bên. Này Ananda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.

35. Này Ananda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:

− “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có truyền bá Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta không diệt độ khi nào phạm hạnh mà Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.

36. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ác ma đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ananda, Ác ma đứng một bên nói với Ta như sau:

“Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hành phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn đây là lời Thế Thôn đã nói: “Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta… ; khi nào những cư sĩ của Ta… ; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.

37. Khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:

“Này Ác ma, hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ diệt độ”.

Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa).

20. Lời Thỉnh Cầu của Ānanda

Khi Ngài nói điều này, Đại đức Ānanda thưa với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy ở lại trọn một kiếp! Xin Đấng Thiện Thệ hãy ở lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người.”

“Thôi đủ rồi, Ānanda. Đừng cầu xin Như Lai. Bây giờ không phải là lúc để cầu xin Như Lai.”

Lần thứ hai … Lần thứ ba, Ānanda thưa với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy ở lại trọn một kiếp! Xin Đấng Thiện Thệ hãy ở lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người.”

“Này Ānanda, con có niềm tin vào sự giác ngộ của Như Lai không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Vậy tại sao con cứ nài ép Ta đến lần thứ ba?”

“Bạch Thế Tôn, con đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của Đức Phật:370 ‘Bất cứ ai đã phát triển và tu tập tứ thần túc—biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng—nếu muốn, có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp. Như Lai đã phát triển và tu tập tứ thần túc, biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng. Nếu Ngài muốn, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.’”

“Con có niềm tin không, Ānanda?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Vì vậy, Ānanda, đó là lỗi của ông, đó là sơ suất của ông. Vì ngay cả khi Như Lai đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu rõ ràng như vậy, con đã không cầu xin Ta ở lại trọn một kiếp, hoặc phần còn lại của kiếp.371 Nếu con đã cầu xin Ta, Ta sẽ từ chối con hai lần, nhưng sẽ đồng ý vào lần thứ ba. Vì vậy, Ānanda, đó là lỗi của ông, đó là sơ suất của ông.

Này Ānanda, có một lần Ta đang ở gần Vương Xá, trên núi Linh Thứu.372 Ở đó Ta đã nói với con: ‘Này Ānanda, Vương Xá thật đáng yêu, và núi Linh Thứu cũng vậy. Bất cứ ai đã phát triển và tu tập tứ thần túc—biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng—nếu muốn, có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp. Như Lai đã phát triển và tu tập tứ thần túc, biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng. Nếu Ngài muốn, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.’ Nhưng con đã không hiểu, ngay cả khi Ta đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu rõ ràng như vậy. Con đã không cầu xin Ta ở lại trọn một kiếp, hoặc phần còn lại của kiếp. Nếu con đã cầu xin Ta, Ta sẽ từ chối con hai lần, nhưng sẽ đồng ý vào lần thứ ba. Vì vậy, Ānanda, đó là lỗi của ông, đó là sơ suất của ông.

Này Ānanda, có một lần Ta đang ở ngay gần Vương Xá, tại cây đa Gotama …373 tại Vách đá Kẻ Cướp …374 trong hang Sattapaṇṇi trên sườn núi Vebhara …375 tại Đá Đen trên sườn núi Isigili …376 trong Rừng Lạnh, dưới hang Mũ Rắn …377 trong Tu viện Suối Nước Nóng …378 trong Trúc Lâm, nơi sóc được cho ăn …379 trong vườn xoài của Jīvaka … trong vườn nai Maddakucchi …380

Và ở mỗi nơi Ta đều nói với con: ‘Này Ānanda, Vương Xá thật đáng yêu, và tất cả những nơi này cũng vậy. … Nếu Ngài muốn, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.’ Nhưng con đã không hiểu, ngay cả khi Ta đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu rõ ràng như vậy. Con đã không cầu xin Ta ở lại trọn một kiếp, hoặc phần còn lại của kiếp.

Này Ānanda, có một lần Ta đang ở ngay gần Vesālī, tại đền Udena …381 tại đền Gotamaka …382 tại đền Bảy Thiếu Nữ …383 tại đền Nhiều Con Trai …384 tại đền Sārandada …385 và vừa rồi, hôm nay tại đền Cāpāla. Ở đó Ta đã nói với con: ‘Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu. Và các đền Udena, Gotamaka, Bảy Thiếu Nữ, Nhiều Con Trai, Sārandada, và Cāpāla cũng đều đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và tu tập tứ thần túc—biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng—nếu muốn, có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp. Như Lai đã phát triển và tu tập tứ thần túc, biến chúng thành một phương tiện và một nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện đúng đắn chúng. Nếu Ngài muốn, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.’ Nhưng con đã không hiểu, ngay cả khi Ta đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu rõ ràng như vậy. Con đã không cầu xin Ta ở lại trọn một kiếp, hoặc phần còn lại của kiếp, nói rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy ở lại trọn một kiếp! Xin Đấng Thiện Thệ hãy ở lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người.’

Nếu con đã cầu xin Ta, Ta sẽ từ chối con hai lần, nhưng sẽ đồng ý vào lần thứ ba. Vì vậy, Ānanda, đó là lỗi của ông, đó là sơ suất của ông.

Chẳng phải Ta đã chuẩn bị cho điều này khi Ta giải thích rằng chúng ta phải chia lìa và tách biệt khỏi tất cả những gì chúng ta yêu quý và trân trọng sao? Làm sao có thể như vậy được khi những gì được sinh ra, được tạo ra, có điều kiện, và có khả năng hao mòn lại không hao mòn? Như Lai đã loại bỏ, tiêu trừ, giải phóng, từ bỏ, từ khước, và từ bỏ mạng căn. Ngài đã tuyên bố dứt khoát: ‘Sự nhập Niết bàn của Như Lai sẽ sớm diễn ra. Ba tháng nữa Như Lai sẽ nhập Niết bàn.’ Không thể nào Như Lai, vì sự sống, lại lấy lại mạng căn một khi nó đã được từ bỏ như vậy.386

Này Ānanda, chúng ta hãy đến Đại Lâm, giảng đường có mái nhọn."387

“Thưa vâng,” Ānanda đáp.

Vì vậy, Đức Phật cùng Ānanda đến giảng đường có mái nhọn, và nói với ông, "Này Ānanda, hãy đi tập hợp tất cả các vị tỳ kheo đang ở vùng lân cận Vesālī lại trong giảng đường."388

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Ông làm theo lời Đức Phật yêu cầu, đến gặp Ngài, cúi lạy, đứng sang một bên, và thưa với Ngài, “Bạch Thế Tôn, Tăng đoàn các vị tỳ kheo đã tập hợp. Xin bạch Thế Tôn, Ngài cứ tự nhiên đi.”

Rồi Đức Phật đến giảng đường, nơi Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn và nói với các vị tỳ kheo:

"Vậy nên, này các tỳ kheo, sau khi đã ghi nhớ cẩn thận những điều Ta đã dạy các con từ sự hiểu biết trực tiếp của Ta, các con nên tu tập, phát triển, và thực hành nhiều lần để con đường tâm linh này có thể tồn tại lâu dài. Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người.389 Và những điều Ta đã dạy từ sự hiểu biết trực tiếp của Ta là gì? Đó là: tứ niệm xứ, tứ chánh cần (four right efforts / bốn nỗ lực chân chính), tứ thần túc, ngũ căn (five faculties / năm năng lực tinh thần nền tảng), ngũ lực (five powers / năm sức mạnh tinh thần), thất giác chi, và bát chánh đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao quý).390

Đây là những điều Ta đã dạy từ sự hiểu biết trực tiếp của Ta. Sau khi ghi nhớ cẩn thận chúng, các con nên tu tập, phát triển, và thực hành nhiều lần để con đường tâm linh này có thể tồn tại lâu dài. Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người."

Rồi Đức Phật nói với các vị tỳ kheo:

“Này các tỳ kheo, Ta nói với tất cả các con: 'Các pháp hữu vi (conditioned things / các sự vật, hiện tượng do duyên sinh) đều vô thường. Hãy tinh tấn lên.'391 Sự nhập Niết bàn của Như Lai sẽ sớm diễn ra. Ba tháng nữa Như Lai sẽ nhập Niết bàn.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Đấng Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Ta đã đến tuổi già chín muồi,392
và cuộc đời Ta còn lại không nhiều.
Đã từ bỏ nó, Ta sẽ ra đi;
Ta đã tạo nơi nương tựa cho chính mình.

Hãy siêng năng và tỉnh thức,
hãy có giới đức tốt đẹp, này các tỳ kheo!
Với ý nghĩ được an định,393
hãy chăm sóc tâm của các con thật tốt.

Bất cứ ai thiền định siêng năng
trong giáo pháp và sự tu tập này,
từ bỏ sự luân hồi qua các kiếp tái sinh,
sẽ chấm dứt khổ đau."

38. Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.

− Thôi đi, này Ananda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ananda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.

39. Lần thứ hai, tôn giả Ananda… Lần thứ ba, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.

− Này Ananda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?

− Bạch Thế Tôn, con có tin!

− Vậy, này Ananda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.

40. - Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: “Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc… Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.

− Này Ananda, Ngươi có tin tưởng không?

− Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!

− Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.

41. Này Ananda, một thời Ta ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu (Gijjha Kuta). Tại đấy Ta nói với ngươi: “Này Ananda, khả ái thay thành Vương Xá! Khả ái thay núi Linh Thứu! Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.

42. Này Ananda, một thời Ta ở thành Vương Xá, tại Nigrodhàràma… Ta cũng ở thành Vương Xá tại Corapapàta… Ta cũng ở thành Vương Xá, hang Sattapanni trên núi Vebhàra… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại hang đá Kàla, trên núi Isigili… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại khu rừng Sita trong hang đá Sappasondika… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại Tapodàràma… Ta cũng ở thành Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại rừng Jìvakambavana… Ta cũng ở thành Vương Xá tại Maddakucchi ở Lộc Uyển.

43. Này Ananda, tại đấy Ta nói: “Này Ananda, khả ái thay thành Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả ái thay Nigrodhàràma, khả ái thay Corapapàta, khả ái thay hang Sattapanni trên núi Vebhara, khả ái thay hang đá Kàla trên núi Isigili, khả ái thay hang đá Sappasondika trong rừng Sìta, khả ái thay suối nước nóng Tapodàràma, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả ái thay rừng Jìvakambavana, khả ái thay vườn Nai ở tại Maddakucchi”!

44. “Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.

45. Này Ananda, một thời Ta ở Vesàli tại điện thờ Udena. Tại đấy, này Ananda, Ta cũng nói. “Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Như Lai: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho lời Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.

46. Này Ananda, một thời Ta ở thành Vesàli tại điện thờ Gotamaka… ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Sattambaka… Ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Bahuputta… Ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Sàrandada…

47. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ta nói với ngươi: “Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattamba, khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay đền Càpàla. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.

48. Này Ananda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ananda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy. Này Ananda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: “Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy.

Này Ananda, chúng ta hãy đi đến giảng đường Kùtagàra tại rừng Ðại Lâm.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

49. Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ananda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường này.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.

50. Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.

51. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ. Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:

Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.

Phần tụng đọc thứ ba.

21. Cái Nhìn của Voi

Rồi Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào Vesālī để khất thực. Rồi, sau bữa ăn, trên đường trở về từ khất thực, Ngài quay lại nhìn Vesālī, theo cách mà loài voi thường làm. Ngài nói với Đại đức Ānanda:394 "Này Ānanda, đây sẽ là lần cuối cùng Như Lai nhìn thấy Vesālī. Này Ānanda, chúng ta hãy đến làng Hàng Hóa."395

“Thưa vâng,” Ānanda đáp.

Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến làng Hàng Hóa, và ở lại đó. Ở đó Đức Phật nói với các vị tỳ kheo:

“Này các tỳ kheo, do không hiểu và không thâm nhập bốn điều, cả các con và Ta đã lang thang và luân hồi trong một thời gian rất dài. Bốn điều nào? Thánh giới (noble ethics / giới đức cao quý), định, tuệ, và giải thoát (freedom / sự thoát khỏi khổ đau). Những thánh giới, định, tuệ, và giải thoát này đã được hiểu và thâm nhập. Hữu ái đã bị cắt đứt; dẫn hữu đã chấm dứt; nay không còn tái sinh nữa.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Đấng Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Giới, định, và tuệ,
và giải thoát tối thượng:
những điều này đã được hiểu
bởi Gotama bậc danh tiếng.

Và vì vậy Đức Phật, có tuệ giác,397
đã giải thích giáo pháp này cho các vị tỳ kheo.
Bậc Đạo Sư đã chấm dứt khổ đau,
thấy rõ, Ngài đã tịch diệt hoàn toàn."398

Và khi ở đó, Ngài cũng thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:

“Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.”

Tụng Phẩm IV

1. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesàli. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Bhandagàma.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhandagàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Bhandagàma.

2. Rồi Thế Tôn nói với Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.

3. Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:

Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng đã chứng ngộ.
Ðấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỷ-kheo.
Ðạo Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.

4. Trong thời gian Thế Tôn ở tại Bhandagàma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

22. Bốn Nguồn Tham Chiếu Lớn

Khi Đức Phật đã ở làng Hàng Hóa bao lâu tùy thích, Ngài nói với Ānanda, “Này Ānanda, chúng ta hãy đến làng Hatthigāma (Làng Voi).”…399

“Chúng ta hãy đến làng Ambagāma (Làng Xoài).”…400

“Chúng ta hãy đến làng Jambugāma (Làng Trâm).”…401

"Chúng ta hãy đến thành phố Bhoga."402

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến thành phố Bhoga, nơi Ngài ở tại đền Ānanda.

Ở đó Đức Phật nói với các vị tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, Ta sẽ dạy các con tứ đại giáo pháp (four great references / bốn nguồn tham chiếu lớn để xác định tính xác thực của giáo pháp).403 Hãy lắng nghe và như lý tác ý, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Giả sử một vị tỳ kheo nói: 'Thưa các đạo hữu, tôi đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của Đức Phật:404 đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.'405 Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của vị tỳ kheo đó.406 Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời nói và cụm từ đó, các con nên đảm bảo chúng phù hợp với kinh (discourse / sutta / các bài giảng của Phật) và được thể hiện trong luật (training / vinaya / giới luật).407 Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận:408 ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Phật. Vị tỳ kheo đó đã ghi nhớ sai.’ Và vì vậy các con nên bác bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Phật. Vị tỳ kheo đó đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ nó. Đây là nguồn tham chiếu lớn thứ nhất.409

Giả sử một vị tỳ kheo khác nói: ‘Trong tu viện kia có một Tăng đoàn với các vị trưởng lão và người lãnh đạo.410 Tôi đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của Tăng đoàn đó: đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của vị tỳ kheo đó. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời nói và cụm từ đó, các con nên đảm bảo chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Phật. Tăng đoàn đó đã ghi nhớ sai.’ Và vì vậy các con nên bác bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Phật. Tăng đoàn đó đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ nó. Đây là nguồn tham chiếu lớn thứ hai.

Giả sử một vị tỳ kheo khác nói: ‘Trong tu viện kia có nhiều vị tỳ kheo trưởng lão rất uyên bác, là những người kế thừa di sản, đã ghi nhớ giáo pháp, luật tạng, và các cương yếu (mātikā).411 Tôi đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của những vị tỳ kheo trưởng lão đó: đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của vị tỳ kheo đó. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời nói và cụm từ đó, các con nên đảm bảo chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Phật. Những vị tỳ kheo trưởng lão đó đã không ghi nhớ đúng.’ Và vì vậy các con nên bác bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Phật. Những vị tỳ kheo trưởng lão đó đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ nó. Đây là nguồn tham chiếu lớn thứ ba.

Giả sử một vị tỳ kheo khác nói: ‘Trong tu viện kia có một vị tỳ kheo trưởng lão duy nhất rất uyên bác, là người kế thừa di sản, đã ghi nhớ giáo pháp, luật tạng, và các cương yếu.412 Tôi đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của vị tỳ kheo trưởng lão đó: đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Các con không nên tán thành cũng không nên bác bỏ lời nói của vị tỳ kheo đó. Thay vào đó, sau khi ghi nhớ cẩn thận những lời nói và cụm từ đó, các con nên đảm bảo chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh và không được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây không phải là lời của Đức Phật. Vị tỳ kheo trưởng lão đó đã ghi nhớ sai.’ Và vì vậy các con nên bác bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với kinh và được thể hiện trong luật, các con nên đi đến kết luận: ‘Rõ ràng đây là lời của Đức Phật. Vị tỳ kheo trưởng lão đó đã ghi nhớ đúng.’ Các con nên ghi nhớ nó. Đây là nguồn tham chiếu lớn thứ tư.

Đây là bốn nguồn tham chiếu lớn."413

Và khi ở tại đền Ānanda, Đức Phật cũng thường giảng bài Pháp này cho các vị tỳ kheo:

“Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Khi định được thấm nhuần giới thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tuệ được thấm nhuần định thì rất có kết quả và lợi ích. Khi tâm được thấm nhuần tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các phiền não, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.”

5. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhandagàma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam… Ambagama… Jambugama…, hãy đi đến Bhoganagara.

6. - Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.

7. Tại đây, Thế Tôn ở Bhoganagara tại đền Ananda, Ngài nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau:

8. - Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Này Hiển giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sanh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm. Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các Ngươi hãy thọ trì.

9. Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.

10. Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì. 11. Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, bốn Ðại giáo pháp này, các Ngươi hãy thọ trì.

23. Về Cunda Người Thợ Rèn

Khi Đức Phật đã ở thành phố Bhoga bao lâu tùy thích, Ngài nói với Ānanda, "Này Ānanda, chúng ta hãy đến Pāvā."414

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến Pāvā,415 nơi Ngài ở tại vườn xoài của Cunda người thợ rèn.416

Cunda nghe tin Đức Phật đã đến và đang ở tại vườn xoài của ông. Rồi ông đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Đức Phật giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho ông bằng một bài Pháp thoại.417 Rồi Cunda thưa với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo nhận lời dùng bữa ngày mai của con.” Đức Phật im lặng nhận lời.

Rồi, biết rằng Đức Phật đã nhận lời, Cunda đứng dậy từ chỗ ngồi, cúi lạy, và kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải ông, trước khi rời đi.

Và khi đêm đã qua, Cunda đã chuẩn bị các món ăn tươi ngon đã được nấu chín trong nhà mình, và rất nhiều sūkaramaddava (pork on the turn / một loại thực phẩm, có thể là thịt heo mềm hoặc một loại nấm). Rồi ông báo cho Đức Phật biết giờ, nói rằng,418 “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ. Bữa ăn đã sẵn sàng.”

Rồi Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà của Cunda cùng với Tăng đoàn các vị tỳ kheo, nơi Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn và nói với Cunda, “Này Cunda, hãy dâng cho Ta món sūkaramaddava mà con đã chuẩn bị.419 Và hãy dâng cho Tăng đoàn các vị tỳ kheo những món ăn khác.”

“Thưa vâng,” Cunda đáp, và làm theo lời Ngài yêu cầu.

Rồi Đức Phật nói với Cunda, “Này Cunda, bất kỳ món sūkaramaddava nào còn lại, con nên chôn nó xuống một cái hố. Ta không thấy ai trong thế giới này—với các vị trời, Ma Vương, và Phạm thiên, dân chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và con người—có thể tiêu hóa đúng cách món đó ngoại trừ Như Lai.”

“Thưa vâng,” Cunda đáp. Ông làm theo lời Ngài yêu cầu, rồi quay lại gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Rồi Đức Phật giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho ông bằng một bài Pháp thoại, sau đó Ngài đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

Sau khi Đức Phật dùng bữa của Cunda, Ngài bị bệnh nặng vì bệnh kiết lỵ ra máu, phải chịu những cơn đau khủng khiếp, gần kề cái chết.420 Nhưng Ngài chịu đựng không hề bận tâm, với tỉnh thức và nhận biết rõ ràng. Rồi Ngài nói với Ānanda, “Này Ānanda, chúng ta hãy đến Kusinārā.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp.

Tôi đã nghe rằng sau khi dùng bữa421
của Cunda người thợ rèn,
bậc tỉnh giác đã bị bệnh nặng,
với những cơn đau, gần kề cái chết.

Một cơn bệnh nặng đã tấn công Bậc Đạo Sư
người đã dùng món sūkaramaddava.
Trong khi vẫn còn đi tả, Đức Phật nói:
“Ta sẽ đến thành Kusinārā.”

12. Trong khi Thế Tôn ở tại Bhoganagara, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

13. Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt.

14. Thợ sắt Cunda nghe: “Nay Thế Tôn đã đến Pàvà và hiện đang ở trong vườn xoài của ta”. Rồi thợ sắt Cunda đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

15. Và thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoa hỷ, liền bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.

16. Thợ sắt Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt.

17. Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và nhiều thứ Sùkara-maddave (một loại mộc nhĩ), và báo tin cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.

18. Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:

− Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỷ-kheo. − Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.

19. Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:

− Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Thợ sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

20. Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tĩnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.

Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
“Ta đi đến thành Kusinàra”.

24. Mang Nước Uống

Rồi Đức Phật rời khỏi đường và đi đến gốc một cây nào đó, nơi Ngài nói với Ānanda, "Này Ānanda, xin con hãy gấp chiếc tăng già lê (outer robe / một trong ba y của tỳ kheo) của Ta làm tư và trải ra cho Ta. Ta mệt và sẽ ngồi xuống."422

“Thưa vâng,” Ānanda đáp, và làm theo lời Ngài yêu cầu. Đức Phật ngồi vào chỗ đã soạn sẵn.

Khi đã ngồi, Ngài nói với Đại đức Ānanda, "Này Ānanda, xin con hãy lấy cho Ta ít nước. Ta khát và sẽ uống."423

Khi Ngài nói điều này, Đại đức Ānanda thưa với Đức Phật, "Bạch Thế Tôn, vừa rồi khoảng năm trăm cỗ xe đã đi qua. Nước cạn đã bị bánh xe của chúng làm vẩn đục, và nó chảy đục ngầu và lầy lội. Sông Kakutthā không xa, nước trong, ngọt, mát, sạch sẽ, bờ thoai thoải. Ở đó Đức Phật có thể uống và làm mát chân tay."424

Lần thứ hai, Đức Phật xin Ānanda nước uống, và lần thứ hai Ānanda đề nghị đến sông Kakutthā.

Và lần thứ ba, Đức Phật nói với Ānanda, “Này Ānanda, xin con hãy lấy cho Ta ít nước. Ta khát và sẽ uống.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Lấy bát, ông đi đến con sông nhỏ.425 Lúc bấy giờ, mặc dù nước cạn trong con lạch đó đã bị bánh xe làm vẩn đục, và chảy đục ngầu và lầy lội, nhưng khi Ānanda đến gần, nó chảy trong veo, sạch sẽ, và không vẩn đục.

Rồi Ānanda nghĩ, “Ôi, thật không thể tin được, thật kỳ diệu! Như Lai có thần lực và uy lực như vậy! Vì mặc dù nước cạn trong con lạch đó đã bị bánh xe làm vẩn đục, và chảy đục ngầu và lầy lội, nhưng khi tôi đến gần, nó chảy trong veo, sạch sẽ, và không vẩn đục.” Lấy một bát nước uống, ông quay lại gặp Đức Phật, và thưa với Ngài, “Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu! Như Lai có thần lực và uy lực như vậy! Vừa rồi, mặc dù nước cạn trong con lạch đó đã bị bánh xe làm vẩn đục, và chảy đục ngầu và lầy lội, nhưng khi con đến gần, nó chảy trong veo, sạch sẽ, và không vẩn đục. Xin Đức Thế Tôn uống nước! Xin Đấng Thiện Thệ uống nước!” Vì vậy, Đức Phật đã uống nước.

21. Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.

22. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

23. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Lần thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

24. Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.

25. Tôn giả Ananda tự nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục”. Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!

Và Thế Tôn uống nước.

25. Về Pukkusa Người Malla

Lúc bấy giờ Pukkusa người Malla, một đệ tử của Āḷāra Kālāma, đang đi trên đường từ Kusinārā đến Pāvā.426 Ông thấy Đức Phật đang ngồi dưới gốc một cây nào đó. Ông đến gặp Ngài, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và nói,

"Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu! Những người đã xuất gia an trú trong những trạng thái thiền định bình yên như vậy. Có lần, Āḷāra Kālāma, trong khi đi trên đường, đã rời khỏi đường và ngồi dưới gốc một cây gần đó để thiền định trong ngày. Rồi khoảng năm trăm cỗ xe đi qua ngay bên cạnh Āḷāra Kālāma.427 Rồi một người nào đó đi sau những cỗ xe đó đến gặp Āḷāra Kālāma và nói với ông: 'Thưa ngài, ngài không thấy năm trăm cỗ xe đi qua sao?'428

‘Không, bạn ơi, tôi không thấy chúng.’

‘Nhưng thưa ngài, ngài không nghe thấy tiếng động nào sao?’

‘Không, bạn ơi, tôi không nghe thấy tiếng động nào.’

‘Nhưng thưa ngài, ngài có ngủ không?’

‘Không, bạn ơi, tôi không ngủ.’

‘Nhưng thưa ngài, ngài có tỉnh táo không?’

‘Có, bạn ơi.’ 'Vậy, thưa ngài, trong khi tỉnh táo và thức, ngài không thấy cũng không nghe thấy tiếng động nào khi năm trăm cỗ xe đi qua ngay bên cạnh ngài sao? Tại sao, thưa ngài, ngay cả y ngoài của ngài cũng bị bụi bám đầy!'429

‘Có, bạn ơi.’

Rồi người đó nghĩ: ‘Ôi, thật không thể tin được, thật kỳ diệu! Những người đã xuất gia an trú trong những trạng thái thiền định bình yên như vậy, đến nỗi, trong khi tỉnh táo và thức, ông ấy không thấy cũng không nghe thấy tiếng động nào khi năm trăm cỗ xe đi qua ngay bên cạnh ông ấy.’ Và sau khi tuyên bố niềm tin cao thượng của mình vào Āḷāra Kālāma, ông ta rời đi."

“Con nghĩ sao, Pukkusa? Điều nào khó hơn và thử thách hơn khi làm trong khi tỉnh táo và thức: không thấy cũng không nghe thấy tiếng động nào khi năm trăm cỗ xe đi qua ngay bên cạnh con? Hay không thấy cũng không nghe thấy tiếng động nào khi trời đang mưa như trút nước, sấm sét lóe lên, và sấm nổ vang trời?”

“Năm trăm cỗ xe thì có nghĩa lý gì, hay sáu trăm, hay bảy trăm, hay tám trăm, hay chín trăm, hay một ngàn, hay thậm chí một trăm ngàn cỗ xe? Khó hơn và thử thách hơn nhiều là không thấy cũng không nghe thấy tiếng động nào khi trời đang mưa như trút nước, sấm sét lóe lên, và sấm nổ vang trời!”

"Có một lần, Pukkusa, Ta đang ở gần Ātumā trong một nhà đập lúa.430 Lúc đó trời đang mưa như trút nước, sấm sét lóe lên, và sấm nổ vang trời. Và không xa nhà đập lúa, hai nông dân là anh em đã bị giết, cũng như bốn con bò. Rồi một đám đông lớn từ Ātumā đến nơi xảy ra sự việc đó.

Lúc bấy giờ Ta ra khỏi nhà đập lúa và đang đi kinh hành trong chánh niệm ở ngoài trời gần cửa nhà. Rồi từ đám đông đó, một người nào đó đến gần Ta, cúi lạy, và đứng sang một bên. Ta nói với họ, ‘Tại sao, bạn ơi, đám đông này lại tụ tập ở đây?’

‘Vừa rồi, bạch Thế Tôn, trời đang mưa như trút nước, sấm sét lóe lên, và sấm nổ vang trời. Và hai nông dân là anh em đã bị giết, cũng như bốn con bò. Rồi đám đông này tụ tập ở đây. Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài ở đâu?’

‘Ta ở ngay đây, bạn ơi.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài có thấy không?’

‘Không, bạn ơi, Ta không thấy gì cả.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài không nghe thấy tiếng động nào sao?’

‘Không, bạn ơi, Ta không nghe thấy tiếng động nào.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài có ngủ không?’

‘Không, bạn ơi, Ta không ngủ.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài có tỉnh táo không?’

‘Có, bạn ơi.’

‘Vậy, bạch Thế Tôn, trong khi tỉnh táo và thức, Ngài không thấy cũng không nghe thấy tiếng động nào khi trời đang mưa như trút nước, sấm sét lóe lên, và sấm nổ vang trời sao?’

‘Có, bạn ơi.’

Rồi người đó nghĩ: ‘Ôi, thật không thể tin được, thật kỳ diệu! Những người đã xuất gia an trú trong những trạng thái thiền định bình yên như vậy, đến nỗi, trong khi tỉnh táo và thức, ông ấy không thấy cũng không nghe thấy tiếng động nào khi trời đang mưa như trút nước, sấm sét lóe lên, và sấm nổ vang trời.’ Và sau khi tuyên bố niềm tin cao thượng của họ vào Ta, họ cúi lạy và kính cẩn đi vòng quanh Ta, giữ Ta ở bên phải họ, trước khi rời đi."

Khi Ngài nói điều này, Pukkusa thưa với Ngài, “Bất kỳ niềm tin nào con có vào Āḷāra Kālāma, con xin quét sạch nó như trong một cơn gió mạnh, hoặc thả trôi nó như xuống một dòng sông chảy xiết. Tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời! Như thể Ngài đang dựng lại cái bị lật đổ, hay tiết lộ cái bị che giấu, hay chỉ ra con đường cho người lạc lối, hay thắp một ngọn đèn trong bóng tối để những người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Đức Phật đã làm rõ giáo pháp theo nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn các vị tỳ kheo. Từ hôm nay trở đi, xin Đức Phật ghi nhớ con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”

Rồi Pukkusa nói với một người đàn ông nào đó, "Này anh, xin hãy lấy một cặp y phục màu vàng kim óng ánh, sẵn sàng để mặc."431

“Thưa vâng,” người đàn ông đó đáp, và làm theo lời ông yêu cầu. Rồi Pukkusa mang y phục đến cho Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, xin Ngài nhận cặp y phục màu vàng kim óng ánh, sẵn sàng để mặc này từ con vì lòng từ bi.”

“Vậy thì, Pukkusa, hãy mặc cho Ta một chiếc, và Ānanda một chiếc.”

“Thưa vâng,” Pukkusa đáp, và làm như vậy.

Rồi Đức Phật giáo hóa, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho Pukkusa người Malla bằng một bài Pháp thoại, sau đó ông đứng dậy từ chỗ ngồi, cúi lạy, và kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật trước khi rời đi.

Rồi, không lâu sau khi Pukkusa rời đi, Ānanda đặt cặp y phục màu vàng kim óng ánh lên thân Đức Phật. Nhưng khi đặt lên thân Đức Phật, chúng dường như mất đi vẻ sáng bóng. Rồi Ānanda thưa với Đức Phật, “Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu, màu da của Như Lai thật trong sáng và rực rỡ biết bao. Khi cặp y phục màu vàng kim óng ánh, sẵn sàng để mặc này được đặt lên thân Đức Phật, chúng dường như mất đi vẻ rực rỡ.”

"Đúng vậy, Ānanda, đúng vậy! Có hai thời điểm khi màu da của Như Lai trở nên đặc biệt trong sáng và rực rỡ. Hai thời điểm nào? Đêm mà một Như Lai hiểu rõ vô thượng chánh đẳng chánh giác; và đêm Ngài nhập Niết bàn hoàn toàn trong vô dư y Niết bàn giới.432 Đây là hai thời điểm khi màu da của Như Lai trở nên đặc biệt trong sáng và rực rỡ.

Hôm nay, Ānanda, vào canh cuối của đêm, giữa hai cây sala trong rừng sala của dòng họ Malla tại Upavattana gần Kusinārā, sẽ là sự nhập Niết bàn hoàn toàn của Như Lai. Này Ānanda, chúng ta hãy đến sông Kakutthā."

“Thưa vâng,” Ānanda đáp.

Một cặp y phục màu vàng kim óng ánh433
được Pukkusa dâng cúng;
khi Bậc Đạo Sư mặc chúng vào,
làn da vàng tuyết của Ngài tỏa sáng rực rỡ.

Rồi Đức Phật cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị tỳ kheo đến sông Kakutthā. Ngài xuống sông và tắm và uống nước. Và khi đã lên bờ, Ngài đến vườn xoài, nơi Ngài nói với Đại đức Cundaka,434 “Này Cundaka, xin con hãy gấp chiếc tăng già lê của Ta làm tư và trải ra cho Ta. Ta mệt và sẽ nằm xuống.”

“Thưa vâng,” Cundaka đáp, và làm theo lời Ngài yêu cầu. Và rồi Đức Phật nằm xuống theo tư thế nằm của sư tử—nghiêng về bên phải, đặt một chân lên chân kia—tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, và tập trung vào thời điểm thức dậy. Nhưng Cundaka ngồi xuống ngay trước mặt Đức Phật.

Đã đến lạch Kakutthā,435
nước trong, ngọt, và sạch,
Bậc Đạo Sư, vì mệt mỏi, đã xuống tắm,
Như Lai, không ai sánh bằng trên đời.

Và sau khi tắm và uống nước, Bậc Đạo Sư lên bờ.
Trước nhóm các vị tỳ kheo, ở giữa,
Đức Phật,
Bậc Đạo Sư
người đã chuyển bánh xe giáo pháp hiện tại,436
bậc đại trí tuệ đã đến vườn xoài.

Ngài nói với vị tỳ kheo tên Cundaka:
“Hãy trải tấm y gấp của Ta để Ta nằm xuống.”
Bậc đã tiến hóa thúc giục Cunda,
người nhanh chóng trải tấm y gấp.
Bậc Đạo Sư nằm xuống vì mệt mỏi,
trong khi Cunda ngồi đó trước mặt Ngài.

Rồi Đức Phật nói với Đại đức Ānanda:

"Bây giờ có thể xảy ra, Ānanda, rằng ai đó có thể làm cho Cunda người thợ rèn hối hận: 'Đó là sự mất mát của ông, thưa Cunda đáng kính, đó là sự bất hạnh của ông, vì Như Lai đã nhập Niết bàn sau khi dùng bữa khất thực cuối cùng từ ông.'437 Con nên xua tan sự hối hận trong Cunda người thợ rèn như thế này: 'Ông thật may mắn, thưa Cunda đáng kính, ông thật vô cùng may mắn, vì Như Lai đã nhập Niết bàn sau khi dùng bữa khất thực cuối cùng từ ông. Tôi đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của Đức Phật.

Có hai bữa ăn cúng dường có quả và kết quả giống hệt nhau, và có nhiều quả và lợi ích hơn các bữa ăn cúng dường khác.438 Hai bữa nào? Bữa ăn mà sau khi dùng, một Như Lai hiểu rõ vô thượng chánh đẳng chánh giác; và bữa ăn mà sau khi dùng, Ngài nhập Niết bàn hoàn toàn trong vô dư y Niết bàn giới. Hai bữa ăn cúng dường này có quả và kết quả giống hệt nhau, và có nhiều quả và lợi ích hơn các bữa ăn cúng dường khác.

Ông đã tích lũy một nghiệp dẫn đến tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, danh tiếng, cõi trời, và quyền lực.'439 Đó là cách con nên xua tan sự hối hận trong Cunda người thợ rèn."

Rồi, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng tự phát này:

“Phước của người cho tăng trưởng;440
oán thù không nảy sinh khi con có sự tự chủ.
Người khéo léo từ bỏ những điều xấu xa—
với sự chấm dứt tham, sân, và si,
họ được tịch diệt.”

26. Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alàra Kàlàma đang đi trên con đường từ Kusinàra đến Pàvà.

Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!

27. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, ngài Alàra Kàlàma đang đi trên đường. Rồi ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây, không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua gần ngài Alàra Kàlàma. Bạch Thế Tôn, có một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy, đễn chỗ ngài Alàra Kàlàma và nói với ngài: “Tôn giả có thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua không?” - “Này Hiền giả, ta không thấy”. - “Tôn giả có nghe tiếng không?” - “Này Hiền giả, ta không nghe tiếng”. - “Có phải Tôn giả đang ngủ không?” - “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. - “Vậy có phải Tôn giả đang thức tỉnh?” - “Này Hiển giả, ta đang thức tỉnh”. - “Tôn giả đang thức tỉnh nhưng không thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe thấy tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả cũng bị lấm bụi”. - “Này Hiền giả, phải, áo ta bị lấm bụi”. Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh, còn thức nhưng không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng”. Sau khi tỏ sự thâm tín đối với ngài Alàra Kàlàma, vị ấy từ biệt.

28. - Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh, còn thức mà không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng?

29. - Bạch Thế Tôn, nói gì đến năm trăm cỗ xe này, cho đến hoặc sáu trăm, hoặc bảy trăm, hoặc tám trăm, hoặc chín trăm, hoặc một ngàn, cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng không thể so sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy cũng không nghe tiếng.

30. - Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà đập lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ Atumà đi ra đến tại chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết…

31. Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa, Này Pukkusa, có một người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chờ Ta, đảnh lễ và đứng một bên. Và Ta nói với người ấy đang đứng một bên:

32: - “Này Hiền giả, vì sao có số đông người tụ họp như vậy?” - Bạch Thế Tôn vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy mà có số đông người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?” - “Này Hiền giả, lúc ấy Ta ở tại đây”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả sao?” - “Này Hiền giả, Ta không thấy gì”. - “Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?” - “Này Hiền giả, Ta không nghe tiếng gì?” - “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ, phải không?” - “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. - “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?” - “Này Hiền giả, phải”. - “Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết, nhưng Ngài không thấy, cũng không nghe gì”. - Này Hiền giả, phải như vậy”.

33. Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức tỉnh, dầu có mưa tầm tã ào ào, điện quang chói lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết mà không thấy gì, không nghe gì hết”. Sau khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt.

34. Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Mallà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với ngài Alàra, Kàlàma, nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

35. Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: “Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc”. - “Tôn giả, xin vâng”. Người ấy vâng lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.

Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói:

− Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.

− Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ananda một áo.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Pukkusa, dòng họ Mallà vân lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ananda.

36. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.

37. Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi.

− Thật vậy, này Ananda. Này Ananda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai? Này Ananda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa. Này Ananda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói.

38. Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sàla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sàla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn:

Cặp áo kim sắc này.
Pukkusa mang đến.
Ðắp áo kim sắc này,
Da Ðạo Sư sáng chói.

39. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka:

− Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ. − Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.

40. Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.

41.

Ðức Phật tự đi đến
Con sông Kakutthà.
Con sông chảy trong sáng.
Mát lạnh và thanh tịnh.
Vị Ðạo Sư mỏi mệt
Ði dần xuống mé sông.
Như Lai đấng Vô Thương
Ngự trị ở trên đời
Tắm xong, uống nước xong,
Lội qua bên kia sông.
Bậc Ðạo Sư đi trước,
Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,
Vừa đi vừa diễn giảng.
Chánh pháp thật vi diệu.
Rồi bậc Ðại Sĩ đến,
Tại khu vực rừng xoài.
Cho gọi vị Tỷ-kheo,
Tên họ Cundaka:
“Hãy gấp tư áo lại,
Trải áo cho ta nằm.
Nghe dạy, Cundaka
Lập tức vâng lời dạy,
Gấp tư và trải áo,
Một cách thật mau lẹ.
Bậc Ðạo Sư nằm xuống
Thân mình thật mệt mỏi.
Tại đây Cundaka,
Ngồi ngay phía trước mặt.

42. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: “Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt”. Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: “Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: “Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai? Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ đợưc hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền”.

Này Ananda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.

43. Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm khái như sau:

Công đức người bố thí,
Luôn luôn được tăng trưởng,
Trừ được tâm hận thù.
Không chất chứa, chế ngựa,
Kẻ chí thiện từ bỏ.
Mọi ác hạnh bất thiện,
Diệt trừ tham, sân, si.
Tâm giải thoát thanh tịnh.

Phần tụng đọc thứ tư.

26. Hai Cây Sala Song Đôi

Rồi Đức Phật nói với Ānanda, "Này Ānanda, chúng ta hãy đến bờ bên kia sông Hiraññavatī (Sông Vàng), và đến rừng sala của dòng họ Malla tại Upavattana gần Kusinārā."441

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Và đó là nơi họ đến. Rồi Đức Phật nói với Ānanda, “Này Ānanda, xin con hãy chuẩn bị một chiếc giường cho Ta giữa hai cây sala song đôi, đầu Ta hướng về phía bắc. Ta mệt và sẽ nằm xuống.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp, và làm theo lời Ngài yêu cầu. Và rồi Đức Phật nằm xuống theo tư thế nằm của sư tử—nghiêng về bên phải, đặt một chân lên chân kia—tỉnh thức và nhận biết rõ ràng.442

Lúc bấy giờ, hai cây sala song đôi đang nở hoa rộ trái mùa.443 Chúng rắc và phủ lên thân Như Lai để tôn kính Như Lai. Và hoa Mạn Đà La (Erythrina fulgens / một loại hoa trời) từ trên trời rơi xuống, và chúng cũng rắc và phủ lên thân Như Lai để tôn kính Như Lai. Và bột chiên đàn từ trên trời rơi xuống, và nó cũng rắc và phủ lên thân Như Lai để tôn kính Như Lai. Và nhạc trời vang lên giữa không trung để tôn kính Như Lai. Và các ca đoàn trên trời hát giữa không trung để tôn kính Như Lai.

Rồi Đức Phật chỉ cho Ānanda thấy những gì đang xảy ra, và nói thêm: "Đó chưa phải là toàn bộ cách Như Lai được tôn kính, quý trọng, kính ngưỡng, tôn thờ, và kính trọng. Bất kỳ vị tỳ kheo hay tỳ kheo ni, nam cư sĩ hay nữ cư sĩ nào thực hành đúng theo giáo pháp, thực hành chân chính, sống đúng theo giáo pháp—họ tôn kính, quý trọng, kính ngưỡng, tôn thờ, và kính trọng Như Lai bằng sự tôn kính cao nhất.444 Vậy nên Ānanda, con nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ thực hành đúng theo giáo pháp, thực hành chân chính, sống đúng theo giáo pháp.’"445

Tụng Phẩm V

1. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hirannavati, đến ở Kusinàrà - Upavatama - rừng Sàlà của dòng họ Màllà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.

2. Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.

3. Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda: – Này Ananada, các cây sàlà song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.

Nhưng, này Ananda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy.

27. Tỳ Kheo Upavāna

Lúc bấy giờ Đại đức Upavāna đang đứng trước Đức Phật để quạt cho Ngài.446 Rồi Đức Phật bảo ông tránh ra, “Hãy tránh ra, này tỳ kheo, đừng đứng trước mặt Ta.”

Ānanda nghĩ, “Đại đức Upavāna này đã là thị giả của Đức Phật từ lâu, gần gũi Ngài, sống bên cạnh Ngài.447 Vậy mà trong giờ phút cuối cùng, Đức Phật lại bảo ông tránh ra, nói rằng: ‘Hãy tránh ra, này tỳ kheo, đừng đứng trước mặt Ta.’ Nguyên nhân là gì, lý do gì cho việc này?”

Rồi Ānanda thưa với Đức Phật, “Đại đức Upavāna này đã là thị giả của Đức Phật từ lâu, gần gũi Ngài, sống bên cạnh Ngài. Vậy mà trong giờ phút cuối cùng, Đức Phật lại bảo ông tránh ra, nói rằng: ‘Hãy tránh ra, này tỳ kheo, đừng đứng trước mặt Ta.’ Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do gì cho việc này?”

“Hầu hết các vị chư thiên từ mười hệ thống thế giới đã tập trung để thấy Như Lai. Trong phạm vi mười hai do tuần xung quanh rừng sala này, không có một chỗ nào, dù chỉ bằng một phần nhỏ của đầu sợi tóc, mà không đông nghịt các vị chư thiên lỗi lạc.448 Các vị chư thiên đang phàn nàn: ‘Chúng tôi đã đến từ rất xa để thấy Như Lai! Rất hiếm khi các Như Lai xuất hiện trên thế gian, các bậc A la hán, các vị Phật toàn giác. Chính ngày hôm nay, vào canh cuối của đêm, Như Lai sẽ nhập Niết bàn. Và vị tỳ kheo lỗi lạc này đang đứng trước mặt Đức Phật che khuất tầm nhìn. Chúng tôi sẽ không được thấy Như Lai trong giờ phút cuối cùng của Ngài!’”

“Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài đang nghĩ đến loại chư thiên nào?”

"Có, này Ānanda, các vị chư thiên—cả trên không trung lẫn trên mặt đất—những người nhận biết về đất. Với tóc tai bù xù và tay giơ lên, họ ngã xuống như thể chân bị chặt đứt, lăn qua lăn lại, than khóc:449 'Quá sớm Đức Thế Tôn sẽ nhập Niết bàn! Quá sớm Đấng Thiện Thệ sẽ nhập Niết bàn! Quá sớm Con Mắt của Thế Gian (Eye of the World / bậc soi sáng cho thế gian) sẽ biến mất!'450

Nhưng các vị chư thiên đã thoát khỏi ham muốn thì chịu đựng, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, nghĩ rằng: ‘Các pháp hữu vi là vô thường. Làm sao có thể khác được?’"451

4. Lúc bấy giờ, tôn giả Upavàna đứng trước mặt Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.”

Tôn giả Ananda, liền tự suy nghĩ: “Ðại đức Upavàna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”. Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta”?.

5. Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Ðại đức Upavàna này là thị giả, sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.” Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”?

– Này Ananda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ananda, cho đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sàlà thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy những Thiên thần có uy lực tụ họp. Này Ananda, các vị Thiên Thần đang than phiền: “Chúng ta từ rất xa đến chiêm ngưỡng Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh cuối cùng, Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỷ-kheo có oai lực này lại đứng ngang trước Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Như Lai trong giờ phút cuối cùng”. Này Ananda, các chư Thiên than phiền như vậy.

6. – Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?

− Này Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, ới đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Này Ananda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế tục những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại:

“Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Có chư Thiên đã diệt trừ ái dục, những vị này bình thản, tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao sự kiện có thể khác được?”

28. Bốn Thánh Tích Tạo Cảm Hứng

“Trước đây, bạch Thế Tôn, khi các vị tỳ kheo đã hoàn thành mùa an cư ở các vùng khác nhau, họ đến để gặp Như Lai.452 Chúng con được gặp các vị tỳ kheo đáng kính, và được đảnh lễ các Ngài.453 Nhưng khi Đức Phật đã qua đời, chúng con sẽ không được gặp các vị tỳ kheo đáng kính hay được đảnh lễ các Ngài nữa.”

"Này Ānanda, một thiện nam tử tín tâm nên đến viếng bốn thánh tích này (four inspiring places / bốn nơi tạo cảm hứng tâm linh).454 Bốn nơi nào? Nghĩ rằng: ‘Nơi đây Như Lai đản sinh!’—đó là một thánh tích tạo cảm hứng.455 Nghĩ rằng: ‘Nơi đây Như Lai thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác!’—đó là một thánh tích tạo cảm hứng.456 Nghĩ rằng: ‘Nơi đây bánh xe Pháp vô thượng được Như Lai chuyển!’—đó là một thánh tích tạo cảm hứng.457 Nghĩ rằng: ‘Nơi đây Như Lai nhập Vô Dư Y Niết Bàn!’—đó là một thánh tích tạo cảm hứng.458 Đây là bốn thánh tích tạo cảm hứng mà một thiện nam tử tín tâm nên đến viếng.

Các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ tín tâm sẽ đến, và nghĩ: ‘Nơi đây Như Lai đản sinh!’ và ‘Nơi đây Như Lai thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác!’ và ‘Nơi đây bánh xe Pháp vô thượng được Như Lai chuyển!’ và ‘Nơi đây Như Lai nhập Vô Dư Y Niết Bàn!’ Bất cứ ai qua đời trong khi chiêm bái các thánh tích này sẽ, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời."

7. – Bạch Thế Tôn, thuở trước các Tỷ-kheo sau khi thọ an cư, từ các địa phương đến chiêm ngưỡng Như Lai, chúng con được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nhập diệt, chúng con sẽ không được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện.

8. - Này Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?

“Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”. Này Ananda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư si nữ sẽ đến với niềm suy tư: “Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”, “Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, Nhập Vô dư y Niết-bàn”.

Này Ananda, và những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.

9. – Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?

– Này Ananda, chớ có thấy chúng.

– Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?

– Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.

– Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?

– Này Ananda, phải an trú chánh niệm.

29. Những Câu Hỏi của Ānanda

"Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự như thế nào đối với phụ nữ?"459

"Không nhìn, Ānanda."460

"Nhưng khi nhìn, phải xử sự như thế nào?"461

"Không trò chuyện, Ānanda."462

"Nhưng khi trò chuyện, phải xử sự như thế nào?"463

"Hãy tỉnh thức, Ānanda."464

"Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự như thế nào đối với nhục thân của Như Lai?"465

“Đừng tham gia vào các nghi lễ tôn kính nhục thân của Như Lai, Ānanda.466 Xin con, Ānanda, tất cả các con phải nỗ lực và thực hành vì mục tiêu của chính mình! Hãy thiền định siêng năng, nhiệt tâm, và kiên quyết vì mục tiêu của chính mình! 467 Có những vị sát đế lỵ, bà la môn, và gia chủ thông thái, những người tận tâm với Như Lai. Họ sẽ thực hiện các nghi lễ tôn kính nhục thân của Như Lai.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, phải xử sự như thế nào đối với nhục thân của Như Lai?”

“Hãy xử sự theo cách tương tự như họ làm đối với nhục thân của một chuyển luân thánh vương (wheel-turning monarch / vị vua cai trị bằng chánh pháp, bánh xe pháp của vị ấy lăn đến đâu thì nơi đó được bình định).”

“Nhưng họ xử sự như thế nào với nhục thân của một chuyển luân thánh vương?”

"Họ quấn nhục thân của một chuyển luân thánh vương bằng vải mới chưa dùng, rồi bằng bông chưa cán, rồi lại bằng vải mới chưa dùng. Bằng cách này, họ quấn nhục thân bằng năm trăm lớp kép. Rồi họ đặt nó vào một quan tài bằng sắt chứa đầy dầu và đậy lại bằng một chiếc quan tài khác. Rồi, sau khi xây một giàn hỏa thiêu bằng các loại gỗ thơm, họ hỏa táng nhục thân.468 Họ xây một tháp (stupa / bảo tháp thờ xá lợi) cho chuyển luân thánh vương tại ngã tư đường.469 Đó là cách họ xử sự với nhục thân của một chuyển luân thánh vương. Hãy xử sự theo cách tương tự với nhục thân của Như Lai.470 Một tháp cho Như Lai sẽ được xây dựng tại ngã tư đường. Khi ai đó ở đó dâng lên vòng hoa, hương liệu hay bột thơm, hoặc cúi lạy, hoặc khơi dậy niềm tin trong tâm họ, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.

10. – Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự thân xá-lợi Như Lai như thế nào?

– Này Ananda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề cung kính thân xá-lợi của Như Lai. Này Ananda, các Người hãy nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần mẫn, chuyên hướng về tự độ. Này Ananda, có những học giả Sát-đế-lỵ, những học giả Bà-la-môn, những học giả gia chủ thâm tín Như Lai, những vị này sẽ lo cho sự cung kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.

11. – Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai như thế nào?

– Này Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương như thế nào, hãy xử sự thân xá-lợi Như Lai như vậy. – Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân chuyển luân Thánh vương như thế nào?

– Này Ananda, thân của Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bệnh, lại vấn thêm với vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt vào trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân của vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này và tại ngã tư đường, tháp của vị Chuyển luân Thánh vương được xây dựng lên. Này Ananda, đó là pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương.

Này Ananda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp, hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.

30. Những Người Xứng Đáng Được Dựng Tháp

Này Ānanda, bốn hạng người này xứng đáng được dựng tháp. Bốn hạng người nào? Một Như Lai, một bậc A la hán, một vị Phật toàn giác; một Độc Giác Phật (independent Buddha / Phật tự mình giác ngộ nhưng không thuyết pháp độ sinh rộng rãi); một đệ tử của một Như Lai; và một chuyển luân thánh vương.

Và vì lý do gì một Như Lai xứng đáng được dựng tháp? Để nhiều người sẽ khơi dậy niềm tin trong tâm họ, nghĩ rằng: ‘Đây là tháp của Đức Thế Tôn đó, bậc A la hán và toàn giác!’ Và sau khi làm vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Chính vì lý do này mà một Như Lai xứng đáng được dựng tháp.

Và vì lý do gì một Độc Giác Phật xứng đáng được dựng tháp?471 Để nhiều người sẽ khơi dậy niềm tin trong tâm họ, nghĩ rằng: ‘Đây là tháp của vị Độc Giác Phật đó!’ Và sau khi làm vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Chính vì lý do này mà một Độc Giác Phật xứng đáng được dựng tháp.

Và vì lý do gì một đệ tử của Như Lai xứng đáng được dựng tháp?472 Để nhiều người sẽ khơi dậy niềm tin trong tâm họ, nghĩ rằng: ‘Đây là tháp của vị đệ tử của Đức Thế Tôn đó!’ Và sau khi làm vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Chính vì lý do này mà một đệ tử của Như Lai xứng đáng được dựng tháp.

Và vì lý do gì một chuyển luân thánh vương xứng đáng được dựng tháp? Để nhiều người sẽ khơi dậy niềm tin trong tâm họ, nghĩ rằng: 'Đây là tháp của vị vua công bằng và cai trị đúng theo chánh pháp đó!'473 Và sau khi làm vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Chính vì lý do này mà một chuyển luân thánh vương xứng đáng được dựng tháp.

Bốn hạng người này xứng đáng được dựng tháp."

12. Này Ananda, bốn hạng người sau này đáng được xây tháp. Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xứng đáng xây tháp. Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Ðệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri. “ Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ sanh lên thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn Ðộc Giác Phật”. “ Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp đệ tử Thanh Văn của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp .

Này Ananda, vì lý do gì, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của vị Pháp vương trị vì đúng pháp.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, đó là bốn hạng người xứng đáng xây tháp.

31. Những Phẩm Chất Phi Thường của Ānanda

Rồi Đại đức Ānanda vào một tòa nhà, và đứng đó dựa vào khung cửa và khóc,474 "Ôi! Ta vẫn chỉ là một hữu học (trainee with work left to do / bậc còn phải tu học) còn việc phải làm; và Thầy của ta sắp nhập Niết bàn, Ngài thật nhân từ với ta!"475

Rồi Đức Phật nói với các vị tỳ kheo, “Này các tỳ kheo, Ānanda ở đâu?”

“Bạch Thế Tôn, Ānanda đã vào một nơi ở, và đứng đó dựa vào khung cửa và khóc: ‘Ôi! Ta vẫn chỉ là một hữu học còn việc phải làm; và Thầy của ta sắp nhập Niết bàn, Ngài thật nhân từ với ta!’”

Vì vậy, Đức Phật nói với một trong các vị tỳ kheo, “Này tỳ kheo, nhân danh Ta hãy nói với Ānanda rằng Bậc Đạo Sư gọi ông ấy.”

“Thưa vâng,” vị tỳ kheo đó đáp. Ông đến gặp Ānanda và nói với ông, “Thưa Đại đức Ānanda, Bậc Đạo Sư gọi ngài.”

“Thưa vâng, thưa Đại đức,” Ānanda đáp. Ông đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Thôi đủ rồi, Ānanda! Đừng đau buồn, đừng than khóc. Chẳng phải Ta đã chuẩn bị cho điều này khi Ta giải thích rằng476 chúng ta phải chia lìa và tách biệt khỏi tất cả những gì chúng ta yêu quý và trân trọng sao? Làm sao có thể như vậy được khi những gì được sinh ra, được tạo ra, có điều kiện, và có khả năng hao mòn lại không hao mòn, ngay cả thân của Như Lai? Trong một thời gian dài, Ānanda, con đã đối xử với Như Lai bằng những hành động thân, khẩu, ý đầy yêu thương, lợi ích, dễ chịu, không hai lòng, và vô lượng.477 Con đã làm những việc tốt, Ānanda. Hãy chuyên tâm thiền định, và con sẽ sớm thoát khỏi các lậu hoặc."478

Rồi Đức Phật nói với các vị tỳ kheo:

"Các vị Phật trong quá khứ hay tương lai có những thị giả không tốt hơn Ānanda đối với Ta.479 Ānanda khôn ngoan, ông ấy thông minh. Ông ấy biết thời điểm để các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, các quan đại thần của vua, các tu sĩ ngoại đạo và đệ tử của họ đến thăm Như Lai.480

Có bốn điều phi thường và kỳ diệu này về Ānanda.481 Bốn điều nào? Nếu một hội chúng các vị tỳ kheo đến gặp Ānanda, họ được nâng đỡ tinh thần khi thấy ông và được nâng đỡ tinh thần khi nghe ông nói. Và khi ông im lặng, họ chưa bao giờ cảm thấy đủ. Nếu một hội chúng các vị tỳ kheo ni … nam cư sĩ … hoặc nữ cư sĩ đến gặp Ānanda, họ được nâng đỡ tinh thần khi thấy ông và được nâng đỡ tinh thần khi nghe ông nói. Và khi ông im lặng, họ chưa bao giờ cảm thấy đủ. Đây là bốn điều phi thường và kỳ diệu về Ānanda.

Có bốn điều phi thường và kỳ diệu này về một chuyển luân thánh vương.482 Bốn điều nào? Nếu một hội chúng các vị sát đế lỵ đến gặp một chuyển luân thánh vương, họ được nâng đỡ tinh thần khi thấy ông và được nâng đỡ tinh thần khi nghe ông nói. Và khi ông im lặng, họ chưa bao giờ cảm thấy đủ. Nếu một hội chúng các vị bà la môn … gia chủ … hoặc sa môn đến gặp một chuyển luân thánh vương, họ được nâng đỡ tinh thần khi thấy ông và được nâng đỡ tinh thần khi nghe ông nói. Và khi ông im lặng, họ chưa bao giờ cảm thấy đủ.

Cũng vậy, có bốn điều phi thường và kỳ diệu đó về Ānanda."

13. Rồi tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”

Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, Ananda ở tại đâu?

– Bạch Thế Tôn, tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!” Thế Tôn liền nói với một Tỷ-kheo:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với Ananda: “Này Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Vị Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tôn giả Ananda, sau khi đến, liền nói với tôn giả: “Này Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.” - “Thưa vâng, Hiền giả. “ Tôn giả Ananda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

14. Thế Tôn nói với tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

– Thôi vừa rồi, Ananda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than. Này Ananda, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này Ananda làm sao được có sự kiện này: “Các pháp sanh, trú, hữu vi, biến hoại đừng có bị tiêu diệt?” Không thể có sự kiện như vậy được. Này Ananda, đã lâu ngày, ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng. Này Ananda, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.

15. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những bậc Thế Tôn này đều có những thị giả tối thắng như Ananda của Ta. Này Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thời vị lai, những bậc Thế Tôn này cũng sẽ có những vị thị giả tối thắng như Ananda của Ta vậy.

Này các Tỷ-kheo, Ananda là người có trí và hiểu rõ: “Nay đúng thời để các Tỷ-kheo yết kiến Thế Tôn, nay đúng thời để các Tỷ-kheo ni, nay đúng thời để các nam cư sĩ, nay đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để các vua chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn!”

16. Này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ cựu, hy hữu. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Tỷ-kheo đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ananda, và nếu Ananda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ananda làm thinh thời, này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo ấy sẽ thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo ni…, chúng nam cư sĩ… chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ, vì được yết kiến Ananda, và nếu Ananda thuyết pháp, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp và nếu Ananda làm thinh thời này các Tỷ-kheo, chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, vị Chuyển luân Thánh vương có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu.

Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ… chúng Bà-la-môn… chúng gia chủ… chúng Sa-môn đến yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương, chúng sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương và nếu vị Chuyển luân Thánh vương nói chuyện, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài nói chuyện, và nếu vị Chuyển luân Thánh vương làm thinh thời chúng Sa-môn ấy sẽ thất vọng.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu. Nếu có chúng Tỷ-kheo… chúng Tỷ-kheo ni… chúng nam cư sĩ… chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ananda. và nếu Ananda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ananda làm thinh, thời này các Tỷ-kheo chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu như vậy.

32. Giảng Kinh Mahāsudassana

Khi Ngài nói điều này, Đại đức Ānanda thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, xin Ngài đừng nhập Niết bàn ở thôn xóm nhỏ bé này, thôn xóm hẻo lánh này, chi nhánh của một thôn xóm này. Có những thành phố lớn khác như Campā, Vương Xá, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, và Ba La Nại.483 Xin Đức Phật hãy nhập Niết bàn ở đó. Có nhiều vị sát đế lỵ, bà la môn, và gia chủ giàu có ở đó, những người tận tâm với Đức Phật. Họ sẽ thực hiện các nghi lễ tôn kính nhục thân của Như Lai.”

"Đừng nói vậy Ānanda! Đừng nói rằng đây là một thôn xóm nhỏ bé, một thôn xóm hẻo lánh, một chi nhánh của một thôn xóm.

Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua tên là Mahāsudassana, một chuyển luân thánh vương, một vị vua công bằng và cai trị đúng theo chánh pháp. Quyền lực của ông trải rộng khắp bốn phương, ông đạt được sự ổn định trong nước, và ông sở hữu thất bảo (seven treasures / bảy báu vật của chuyển luân vương).484 Kinh đô của ông là Kusinārā này, lúc đó có tên là Kusāvatī.485 Nó trải dài mười hai do tuần từ đông sang tây, và bảy do tuần từ bắc xuống nam.486 Kinh đô Kusāvatī thành công, thịnh vượng, đông đúc, đầy người, thực phẩm dồi dào. Nó giống hệt như Āḷakamandā, kinh đô của chư thiên, nơi thành công, thịnh vượng, đông đúc, đầy các vị trời, thực phẩm dồi dào.487 Kusāvatī không bao giờ ngớt mười loại âm thanh cả ngày lẫn đêm, đó là: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống đất, tiếng đàn hạc cong, tiếng hát, tiếng tù và, tiếng chiêng, và tiếng chuông tay; và tiếng hô: ‘Ăn, uống, vui vẻ lên!’ là âm thanh thứ mười.

Hãy đi, Ānanda, vào Kusinārā và thông báo cho những người Malla: 'Hôm nay, này các Vāseṭṭha (tên gọi dòng dõi của người Malla), vào canh cuối của đêm, Như Lai sẽ nhập Niết bàn.488 Hãy đến, Vāseṭṭha! Hãy đến, Vāseṭṭha! Đừng hối hận sau này, nghĩ rằng: ‘Như Lai đã nhập Niết bàn ngay tại làng của chúng ta, nhưng chúng ta đã không có cơ hội gặp Ngài trong giờ phút cuối cùng.’"

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi ông đắp y, mang bát và y, vào Kusinārā cùng với một người bạn đồng hành.489

17. Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá-vệ), Sàketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiều-thương-di), Bàrànasi (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, có đại chúng Sát-đế-lỵ, có đại chúng Bà-la-môn, có đại chúng gia chủ rất tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.

– Này Ananda, chớ có nói như vậy, này Ananda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc.

18. Này Ananda, thuở xưa có vị vua tên là Mahasudassana (Ðại Thiên Kiến). Vị này là Chuyển luân vương, trị vì như pháp, là vị pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ananda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Mahasudassana, tên là Kusàvatì (Câu-xábà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến bảy do tuần.

Này Ananda, kinh đô Kusàvatì này rất phôịn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, dân chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Này Ananda, cũng như kinh đô Alakamanda của chư thiên rất phồn thịnh, phú cường dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú, cũng vậy này Ananda, kinh đô Kusàvatì này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, nhân chúng sung mãn.

Này Ananda, kinh đô Kusàvatì này, ngày đêm vang dậy chín loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi”.

19. Này Ananda, hãy đi vào Kusinàrà và nói với dân Mallà Kusinàrà: “Này các Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng, Như Lai sẽ diệt độ”.

− Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đắp y, đem theo y bát và cùng một vị khác làm bạn đồng hành đi vào Kusinàrà.

33. Người Malla Đảnh Lễ

Lúc bấy giờ, những người Malla ở Kusinārā đang ngồi cùng nhau tại công trường (nơi hội họp) để bàn việc.490 Ānanda đến gặp họ, và thông báo: “Hôm nay, này các Vāseṭṭha, vào canh cuối của đêm, Như Lai sẽ nhập Niết bàn. Hãy đến, Vāseṭṭha! Hãy đến, Vāseṭṭha! Đừng hối hận sau này, nghĩ rằng: ‘Như Lai đã nhập Niết bàn ngay tại làng của chúng ta, nhưng chúng ta đã không có cơ hội gặp Ngài trong giờ phút cuối cùng.’”

Khi nghe những gì Ānanda nói, những người Malla, con trai, con dâu, và vợ của họ trở nên đau khổ, buồn bã, và đau đớn. Và một số người, với tóc tai bù xù và tay giơ lên, ngã xuống như thể chân bị chặt đứt, lăn qua lăn lại, than khóc, “Quá sớm Đức Thế Tôn sẽ nhập Niết bàn! Quá sớm Đấng Thiện Thệ sẽ nhập Niết bàn! Quá sớm Con Mắt của Thế Gian sẽ biến mất!”

Rồi những người Malla, con trai, con dâu, và vợ của họ, đau khổ, buồn bã, và đau đớn đến rừng sala của dòng họ Malla tại Upavattana và đến gặp Ānanda.

Rồi Ānanda nghĩ, “Nếu Ta để những người Malla đảnh lễ Đức Phật từng người một, họ sẽ không xong trước khi trời sáng. Tốt hơn là Ta nên chia họ thành từng gia đình rồi để họ đảnh lễ, nói rằng: ‘Bạch Thế Tôn, người Malla tên là X với con cái, vợ, đoàn tùy tùng, và các quan đại thần cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài.’” Và ông đã làm như vậy. Vì vậy, bằng cách này Ānanda đã giúp những người Malla hoàn thành việc đảnh lễ Đức Phật trong canh đầu của đêm.

20. Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công sự. Tôn giả Ananda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà. Sau khi đến, tôn giả liền nói vói dân Mallà ở Kusinàrà:

− Này Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng Như Lai sẽ diệt độ, Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.

21. Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ananda nói như vậy, liền đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não. Kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Và dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não, đi đến Upavattana, khu rừng Sàlà của dòng họ Mallà và đến chỗ tôn giả Ananda.

22. Tôn giả Ananda tự nghĩ: “Nếu ta để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn từng người một, thời đêm sẽ tàn trước khi Thế Tôn được tất cả dân Mallà đảnh lễ. Vậy ta hãy để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ theo từng gia tộc”.

− Bạch Thế Tôn, gia tộc Mallà này với vợ con, đồ chúng, bạn bè đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Và tôn giả Ananda, theo phương tiện này trong canh một, khiến dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn.

34. Về Du Sĩ Subhadda

Lúc bấy giờ có một du sĩ ngoại đạo tên là Subhadda đang ở gần Kusinārā.491 Ông nghe rằng chính ngày hôm đó, vào canh cuối của đêm, sẽ là sự nhập Niết bàn hoàn toàn của sa môn Gotama. Ông nghĩ: “Ta đã nghe các vị bà la môn trong quá khứ, những người già cả và là bậc trưởng thượng, thầy của các bậc thầy, nói rằng: ‘Rất hiếm khi các Như Lai xuất hiện trên thế gian, các bậc A la hán, các vị Phật toàn giác.’ Và chính ngày hôm nay, vào canh cuối của đêm, sẽ là sự nhập Niết bàn hoàn toàn của sa môn Gotama. Trạng thái hoài nghi này đã nảy sinh trong ta. Ta hoàn toàn tin tưởng rằng Đức Phật có khả năng giảng dạy cho ta để ta có thể từ bỏ trạng thái hoài nghi này.”

Rồi Subhadda đến rừng sala của dòng họ Malla tại Upavattana, đến gặp Ānanda, và nói với ông, “Thưa ngài Ānanda, tôi đã nghe các vị bà la môn trong quá khứ, những người già cả và là bậc trưởng thượng, thầy của các bậc thầy, nói rằng: ‘Rất hiếm khi các Như Lai xuất hiện trên thế gian, các bậc A la hán, các vị Phật toàn giác.’ Và chính ngày hôm nay, vào canh cuối của đêm, sẽ là sự nhập Niết bàn hoàn toàn của sa môn Gotama. Trạng thái hoài nghi này đã nảy sinh trong tôi. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng Đức Phật có khả năng giảng dạy cho tôi để tôi có thể từ bỏ trạng thái hoài nghi này. Thưa ngài Ānanda, xin hãy cho tôi gặp sa môn Gotama.”

Khi ông nói xong, Ānanda nói, “Thôi đủ rồi, thưa Đại đức Subhadda, đừng làm phiền Như Lai. Ngài đang mệt.”

Lần thứ hai, và lần thứ ba, Subhadda hỏi Ānanda, và lần thứ ba Ānanda từ chối.

Đức Phật nghe cuộc thảo luận đó giữa Ānanda và Subhadda. Ngài nói với Ānanda, “Thôi đủ rồi, Ānanda, đừng cản trở Subhadda; hãy để ông ấy gặp Như Lai. Vì bất cứ điều gì ông ấy hỏi Ta, ông ấy sẽ chỉ tìm cách hiểu, chứ không phải làm phiền Ta. Và ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu bất kỳ câu trả lời nào Ta đưa ra cho câu hỏi của ông ấy.”

Vì vậy, Ānanda nói với du sĩ Subhadda, “Hãy đi, thưa Đại đức Subhadda, Đức Phật đang dành thời gian cho ngài.”

Rồi du sĩ Subhadda đến gặp Đức Phật, và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

"Thưa ngài Gotama, có những sa môn và bà la môn lãnh đạo một giáo phái và một cộng đồng, và là thầy của một cộng đồng. Họ là những người sáng lập tôn giáo nổi tiếng và lừng danh, được nhiều người coi là thánh thiện. Đó là: Pūraṇa Kassapa, du sĩ khổ hạnh Gosāla cầm gậy tre, Ajita mặc áo bằng tóc, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta, và Ni Kiền Tử Nātaputta (Jain ascetic of the Ñātika clan / người sáng lập Kỳ Na giáo). Theo tuyên bố của riêng họ, tất cả họ đều có thắng trí, hay không ai trong số họ, hay chỉ một số người?"492

“Thôi đủ rồi, Subhadda, hãy để đó.493 Ta sẽ giảng Pháp cho con. Hãy lắng nghe và như lý tác ý, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng,” Subhadda đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này Subhadda, trong bất kỳ giáo pháp và sự tu tập nào mà bát chánh đạo không được tìm thấy, thì ở đó không có sa môn nào được tìm thấy, không có vị sa môn thứ hai, không có vị sa môn thứ ba, và không có vị sa môn thứ tư.494 Trong bất kỳ giáo pháp và sự tu tập nào mà bát chánh đạo được tìm thấy, thì ở đó có một sa môn được tìm thấy, một vị sa môn thứ hai, một vị sa môn thứ ba, và một vị sa môn thứ tư.495 Trong giáo pháp và sự tu tập này, bát chánh đạo được tìm thấy. Chỉ ở đây mới có sa môn, ở đây có vị sa môn thứ hai, ở đây có vị sa môn thứ ba, và ở đây có vị sa môn thứ tư. Các giáo phái khác đều không có sa môn (chân chính).

Nếu những vị tỳ kheo này thực hành tốt, thế giới sẽ không trống rỗng các bậc A la hán.496

Ta hai mươi chín tuổi, Subhadda,497
khi Ta xuất gia để khám phá điều thiện xảo.498
Đã hơn năm mươi năm
kể từ khi Ta xuất gia.
Bậc Thầy của các nguồn tham chiếu
cho giáo pháp có hệ thống:499
ngoài nơi đây không có sa môn,

không có vị sa môn thứ hai, không có vị sa môn thứ ba, và không có vị sa môn thứ tư. Các giáo phái khác đều không có sa môn. Nếu những vị tỳ kheo này thực hành tốt, thế giới sẽ không trống rỗng các bậc A la hán."

Khi Ngài nói xong, Subhadda thưa với Đức Phật, “Tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời! Như thể Ngài đang dựng lại cái bị lật đổ, hay tiết lộ cái bị che giấu, hay chỉ ra con đường cho người lạc lối, hay thắp một ngọn đèn trong bóng tối để những người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Đức Phật đã làm rõ giáo pháp theo nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn các vị tỳ kheo. Bạch Thế Tôn, con có thể nhận được sự xuất gia, sự thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật không?”

“Này Subhadda, nếu ai đó trước đây đã xuất gia trong một giáo phái khác muốn xuất gia, thọ giới trong giáo pháp và sự tu tập này, họ phải trải qua bốn tháng thử thách. Khi bốn tháng đã qua, nếu các vị tỳ kheo hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, thọ giới thành tỳ kheo. Tuy nhiên, Ta đã nhận ra sự khác biệt cá nhân trong vấn đề này.”

“Bạch Thế Tôn, nếu cần bốn tháng thử thách trong trường hợp như vậy, con sẽ trải qua bốn năm thử thách. Khi bốn năm đã qua, nếu các vị tỳ kheo hài lòng, xin hãy cho con xuất gia, thọ giới thành tỳ kheo.”

Rồi Đức Phật nói với Ānanda, “Vậy thì, Ānanda, hãy cho Subhadda xuất gia.”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp.

Rồi Subhadda nói với Ānanda, “Ngài thật may mắn, thưa Đại đức Ānanda, thật vô cùng may mắn, được tấn phong ngay trước sự hiện diện của Bậc Đạo Sư làm đệ tử của Ngài!” Và du sĩ Subhadda đã nhận được sự xuất gia, sự thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, Đại đức Subhadda, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và kiên quyết, sớm nhận ra mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ông sống sau khi đã tự mình chứng ngộ mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính xuất gia từ đời sống tại gia đến đời sống không nhà cửa.

Ông hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt; cuộc hành trình tâm linh đã hoàn thành; những gì phải làm đã được làm; không còn gì nữa cho nơi này.” Và Đại đức Subhadda trở thành một trong những bậc A la hán. Ông là đệ tử cá nhân cuối cùng của Đức Phật.500

23. Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Subhadda ở tại Kusinàrà. Du sĩ ngoại đạo Subhadda được nghe: “Tối nay canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”.

Và du sĩ ngoại đạo Subhadda suy nghĩ: “Ta nghe các du sĩ ngoại đạo niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu. Và đêm nay, vào canh cuối cùng Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm ta. Ta tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp và giải được nghi vấn cho ta”.

24. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana, khu rừng Sàla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ananda và thưa với tôn giả:

− Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cạo lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.

Khi được nói vậy, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:

− Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.

Lần thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda … Lần thứ ba, du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:

− Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cạo lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.

Lần thứ ba, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:

− Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.

25. Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả Ananda với du sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ananda:

− Thôi Ananda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ananda, hãy để cho Subhadda được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi Ta là hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta. Và những gì ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý nghĩa một cách mau lẹ.

Tôn giả Ananda liền nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:

− Này Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã cho phép Hiền giả.

26. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ Thế Tôn, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các ngài Pàrana Kassapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesakambalì, Pakadha Kaccàyana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàthaputta, tất cả những vị này có phải là giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ?

− Thôi Subhadda, hãy để vấn đề này yên một bên: “Tất cả những vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ”. Này Subhadda, Ta sẽ thuyết pháp cho Ngươi. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Du sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

27. - Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có (đệ nhất) Samôn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo thời ở đây có (đệ nhứt) Sa-môn, cũng có đệ nhị Samôn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.

Này Subhadda, năm hai mươi chín,
Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.
Trải năm mươi năm với thêm một năm
Từ khi xuất gia, này Subhadda,
Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.

Ngoài lãnh vực này, không có Sa-môn (đệ nhứt) cũng không có Sa-môn đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng không có Sa-môn đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì đời này không vắng những vị A-la-hán.

28. Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:

− Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con xin thọ đại giới. − Này Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia muốn thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.

29. - Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt thú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các vị Tỷ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.

Và Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananada, hãy xuất gia cho Subhadda.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

30. Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:

− Thật là lợi ích, thưa Tôn giả Ananda, thật là thiện lợi, thưa Tôn giả Ananda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ tử trước mặt bậc Ðạo Sư!

Và du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia được thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa.

Và đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại đức là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn thế độ.

Phần tụng đọc thứ năm.

35. Lời Dạy Cuối Cùng của Đức Phật

Rồi Đức Phật nói với Đại đức Ānanda:

"Bây giờ, Ānanda, một số người trong các con có thể nghĩ: ‘Giáo pháp của bậc Đạo Sư đã qua. Bây giờ chúng ta không có Thầy.’ Nhưng các con không nên nhìn nhận như vậy. Pháp và Luật mà Ta đã giảng dạy và trình bày cho các ngươi sẽ là Thầy của các ngươi sau khi Ta qua đời.501

Sau khi Ta qua đời, các vị tỳ kheo không nên xưng hô với nhau là ‘āyasmā’ (reverend / thưa ngài, dùng cho các tỳ kheo gọi nhau), như họ làm ngày nay.502 Một vị tỳ kheo lớn tuổi hơn nên gọi một vị tỳ kheo trẻ hơn bằng tên hoặc dòng họ, hoặc bằng cách nói ‘āyasmā’. Một vị tỳ kheo trẻ hơn nên gọi một vị tỳ kheo lớn tuổi hơn bằng ‘bhante’ (sir / bạch ngài, dùng cho tỳ kheo trẻ gọi tỳ kheo lớn tuổi hơn) hoặc ‘āyasmā’.503

Nếu muốn, sau khi Ta qua đời, Tăng đoàn có thể bãi bỏ các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.504

Sau khi Ta qua đời, hãy áp dụng Phạm đàn (divine punishment / hình phạt cao nhất, hình phạt im lặng) cho tỳ kheo Channa."505

“Nhưng bạch Thế Tôn, Phạm đàn là gì?”

"Channa có thể nói những gì ông ấy thích, nhưng các vị tỳ kheo không nên sửa chữa, khuyên bảo, hay chỉ dạy ông ấy."506

Rồi Đức Phật nói với các vị tỳ kheo, “Nếu một vị tỳ kheo nào có nghi ngờ hay không chắc chắn về Đức Phật, giáo pháp, Tăng đoàn, con đường, hay sự thực hành, vậy hãy hỏi, này các tỳ kheo! Đừng hối hận sau này, rằng: ‘Chúng ta đã ở trước sự hiện diện của Bậc Đạo Sư và chúng ta đã không thể hỏi Đức Phật một câu hỏi.’”

Khi điều này được nói, các vị tỳ kheo giữ im lặng.

Lần thứ hai, và lần thứ ba Đức Phật nói với các vị tỳ kheo: “Nếu một vị tỳ kheo nào có nghi ngờ hay không chắc chắn về Đức Phật, giáo pháp, Tăng đoàn, con đường, hay sự thực hành, vậy hãy hỏi, này các tỳ kheo! Đừng hối hận sau này, rằng: ‘Chúng ta đã ở trước sự hiện diện của Bậc Đạo Sư và chúng ta đã không thể hỏi Đức Phật một câu hỏi.’”

Lần thứ ba, các vị tỳ kheo giữ im lặng. Rồi Đức Phật nói với các vị tỳ kheo,

“Này các tỳ kheo, có lẽ các con không hỏi vì tôn kính Bậc Đạo Sư. Vậy hãy để một người bạn nói với một người bạn.”

Khi điều này được nói, các vị tỳ kheo giữ im lặng.

Rồi Đại đức Ānanda thưa với Đức Phật, “Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu! Con hoàn toàn tin tưởng rằng không có ngay cả một vị tỳ kheo duy nhất trong Tăng đoàn này có nghi ngờ hay không chắc chắn về Đức Phật, giáo pháp, Tăng đoàn, con đường, hay sự thực hành.”

“Ānanda, con nói ra từ niềm tin. Nhưng Như Lai biết rằng không có ngay cả một vị tỳ kheo duy nhất trong Tăng đoàn này có nghi ngờ hay không chắc chắn về Đức Phật, giáo pháp, Tăng đoàn, con đường, hay sự thực hành. Ngay cả người thấp nhất trong số năm trăm vị tỳ kheo này cũng là một bậc nhập lưu, không còn bị tái sinh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

Rồi Đức Phật nói với các vị tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, Ta nói với tất cả các con: ‘Các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tinh tấn lên.’”

Đây là những lời cuối cùng của Như Lai.507

Tụng Phẩm VI

1. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)”. Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.

2. Này Ananda, nay các vị Tỷ-kheo xưng hô với nhau là Hiền giả. Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ananda, vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay Ðại đức.

3. Này Ananda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.

4. Này Ananda, sau khi Ta diệt độ, hãy hành tội Phạm đàn (Brahmadanda) đối với Tỷ-kheo Channa. − Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm đàn?

− Này Ananda, Tỷ-kheo Channa muốn nói gì thì nói. Chúng Tỷ-kheo sẽ không nói, sẽ không giảng dạy, sẽ không giáo giới Tỷ-kheo Channa.

5. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo các Người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.

Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy im lặng. Một lần thứ hai, Thế Tôn… Một lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo có nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.

Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng tu, hãy hỏi nhau.

Khi được nói vậy, những vị Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

6. Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp.

− Này Ananda, ngươi có tín nhiệm nên nói vậy. Nhưng ở đây, này Ananda, Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp. Này Ananda, trong năm trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác.

7. Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”.

Ðó là lời cuối cùng Như Lai.

36. Nhập Niết Bàn Hoàn Toàn

Rồi Đức Phật nhập sơ thiền (first absorption / trạng thái thiền định thứ nhất). Xuất khỏi đó, Ngài nhập nhị thiền (second absorption / trạng thái thiền định thứ hai). Xuất khỏi đó, Ngài lần lượt nhập vào và xuất khỏi tam thiền (third absorption / trạng thái thiền định thứ ba), tứ thiền (fourth absorption / trạng thái thiền định thứ tư), không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi Ngài nhập diệt tận định.508

Rồi Đại đức Ānanda nói với Đại đức Anuruddha, "Thưa Đại đức Anuruddha, Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn chưa?"509

“Chưa, thưa Đại đức Ānanda. Ngài đã nhập diệt tận định.”

Rồi Đức Phật xuất khỏi diệt tận định và nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất khỏi đó, Ngài lần lượt nhập vào và xuất khỏi vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ, không vô biên xứ, tứ thiền, tam thiền, nhị thiền, và sơ thiền. Xuất khỏi đó, Ngài lần lượt nhập vào và xuất khỏi nhị thiền và tam thiền. Rồi Ngài nhập tứ thiền. Xuất khỏi đó, Đức Phật lập tức nhập Niết bàn hoàn toàn.

Khi Đức Phật nhập Niết bàn hoàn toàn, cùng với sự nhập Niết bàn hoàn toàn đã có một trận động đất lớn, kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời. Khi Đức Phật nhập Niết bàn hoàn toàn, Phạm thiên Sahampati đọc bài kệ này:

“Tất cả chúng sinh trên thế gian này510
đều phải đặt xuống túi xương này.511
Vì ngay cả một Bậc Đạo Sư như thế này,
không ai sánh bằng trên đời,
Như Lai, đạt được năng lực,
Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn.”

Khi Đức Phật nhập Niết bàn hoàn toàn, Đế Thích, vua của các vị trời, đọc bài kệ này:

“Ôi! Các pháp hữu vi là vô thường,512
bản chất của chúng là sinh và diệt;
đã sinh ra, chúng sẽ diệt;
sự tịch lặng của chúng là an lạc.”

Khi Đức Phật nhập Niết bàn hoàn toàn, Đại đức Anuruddha đọc bài kệ này:

"Không còn hơi thở nữa513
đối với bậc tâm không lay động, vững vàng.
Không xao động, tận tâm với hòa bình,
bậc hiền triết đã hoàn thành phận sự.

Ngài đã chịu đựng những cảm giác đau đớn
mà không hề nao núng.
Sự giải thoát của tâm Ngài
như ngọn đèn tắt."

Khi Đức Phật nhập Niết bàn hoàn toàn, Đại đức Ānanda đọc bài kệ này:

“Khi đó thật kinh hoàng! 514
Khi đó họ nổi da gà!
Khi Đức Phật, người có đủ mọi phẩm chất tốt đẹp,
nhập Niết bàn hoàn toàn.”

Khi Đức Phật nhập Niết bàn hoàn toàn, một số vị tỳ kheo ở đó chưa thoát khỏi ham muốn, tay giơ lên, ngã xuống như thể chân bị chặt đứt, lăn qua lăn lại, than khóc: "Quá sớm Đức Thế Tôn đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Đấng Thiện Thệ đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Con Mắt của Thế Gian đã biến mất!"515 Nhưng các vị tỳ kheo đã thoát khỏi ham muốn thì chịu đựng, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, nghĩ rằng, “Các pháp hữu vi là vô thường. Làm sao có thể khác được?”

Rồi Anuruddha nói với các vị tỳ kheo: “Thôi đủ rồi, thưa các Đại đức, đừng đau buồn hay than khóc. Chẳng phải Đức Phật đã chuẩn bị cho chúng ta điều này khi Ngài giải thích rằng chúng ta phải chia lìa và tách biệt khỏi tất cả những gì chúng ta yêu quý và trân trọng sao? Làm sao có thể như vậy được khi những gì được sinh ra, được tạo ra, có điều kiện, và có khả năng hao mòn lại không hao mòn? Các vị chư thiên đang phàn nàn.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài đang nghĩ đến loại chư thiên nào?”

“Có, này Ānanda, các vị chư thiên—cả trên không trung lẫn trên mặt đất—những người nhận biết về đất. Với tóc tai bù xù và tay giơ lên, họ ngã xuống như thể chân bị chặt đứt, lăn qua lăn lại, than khóc: ‘Quá sớm Đức Thế Tôn đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Đấng Thiện Thệ đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Con Mắt của Thế Gian đã biến mất!’ Nhưng các vị chư thiên đã thoát khỏi ham muốn thì chịu đựng, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, nghĩ rằng: ‘Các pháp hữu vi là vô thường. Làm sao có thể khác được?’”

Ānanda và Anuruddha đã dành phần còn lại của đêm để nói chuyện về Giáo Pháp.

Rồi Anuruddha nói với Ānanda, “Này Ānanda, hãy vào Kusinārā và thông báo cho những người Malla: ‘Này các Vāseṭṭha, Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn. Xin quý vị cứ tự nhiên đến.’”

“Thưa vâng,” Ānanda đáp. Rồi, vào buổi sáng, ông đắp y, mang bát và y, vào Kusinārā cùng với một người bạn đồng hành.

Lúc bấy giờ, những người Malla ở Kusinārā đang ngồi cùng nhau tại công trường vẫn để bàn cùng một việc.516 Ānanda đến gặp họ, và thông báo, “Này các Vāseṭṭha, Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn. Xin quý vị cứ tự nhiên đến.”

Khi nghe những gì Ānanda nói, những người Malla, con trai, con dâu, và vợ của họ trở nên đau khổ, buồn bã, và đau đớn. Và một số người, với tóc tai bù xù và tay giơ lên, ngã xuống như thể chân bị chặt đứt, lăn qua lăn lại, than khóc, “Quá sớm Đức Thế Tôn đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Đấng Thiện Thệ đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Con Mắt của Thế Gian đã biến mất!”

8. Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định. Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:

− Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.

− Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.

9. Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.

10. Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang động.

Khi Thế Tôn diệt độ, Phạm thiên Sahampati, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Chúng sanh ở trên đời,
Từ bỏ thân ngũ uẩn
Bậc đạo sư cũng vậy,
Ðấng Tuyệt luân trên đời.
Bậc Ðại hùng Giác ngộ
Như Lai đã diệt độ.

Khi Thế Tôn diệt độ, Thiên chủ Sakka, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt
Ðã sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp chúng là an lạc.

Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Anuruddha, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Không phải thở ra vào
Chính tâm trú chánh định
Không tham ái tịch tịnh
Tu sĩ hướng diệt độ
Chính tâm tịnh bất động
Nhẫn chịu mọi cảm thọ
Như đèn sáng bị tắt
Tâm giải thoát hoàn toàn.

Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Ananda, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Thật kinh khủng bàng hoàng,
Thật râu tóc dựng ngược,
Khi Bậc Toàn thiện năng,
Bậc Giác ngộ nhập diệt.

Khi Thế Tôn diệt độ, những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệt nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”

11. Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo:

− Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy:”Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy”. Này các Hiền giả, chính chư Thiên đang trách đó.

− Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?

− Hiền giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Hiền giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những chư Thiên diệt trừ ái dục, những vị này chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao có thể khác được?”

12. Tôn giả Anuruddha và tôn giả Ananda luận bàn về Chánh pháp suốt cả đêm còn lại. Rồi tôn giả Anuruddha nói với tôn giả Ananda:

− Hiền giả Ananda, hãy vào thành Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.

− Tôn giả, xin vâng!

Tôn giả Ananda vâng lời tôn giả Anuruddha, buổi sáng đắp y, đem theo y bát cùng một thị giả, vào thành Kusinàrà.

Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công vụ. Tôn giả Ananda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đến liền nói với dân Mallà ở Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.

Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ananda nói như vậy liền đau đớn sầu muộn, tâm tư khổ não, kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

37. Nghi Lễ Tôn Kính Nhục Thân Đức Phật

Rồi những người Malla ra lệnh cho người của họ, “Vậy thì, này các ngươi, hãy thu thập hương liệu và vòng hoa, và tất cả các nhạc cụ ở Kusinārā.”

Rồi—lấy những hương liệu và vòng hoa đó, tất cả các nhạc cụ, và năm trăm cặp y phục—họ đến rừng sala của dòng họ Malla tại Upavattana và đến gần nhục thân Đức Phật. Họ đã dành cả ngày để tôn kính, quý trọng, kính ngưỡng, và tôn thờ nhục thân Đức Phật bằng vũ điệu, ca hát, âm nhạc, vòng hoa, và hương liệu, và làm lọng che và dựng các rạp.517

Rồi họ nghĩ, “Hôm nay đã quá muộn để hỏa táng nhục thân Đức Phật. Chúng ta hãy làm vào ngày mai.” Nhưng họ đã dành ngày hôm sau theo cách tương tự, và cũng vậy vào ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm, và thứ sáu.518

Rồi vào ngày thứ bảy, họ nghĩ, “Tôn kính, quý trọng, kính ngưỡng, và tôn thờ nhục thân Đức Phật bằng vũ điệu, ca hát, âm nhạc, vòng hoa, và hương liệu, chúng ta hãy mang nó về phía nam của thị trấn, và hỏa táng nó ở đó bên ngoài thị trấn.”

Lúc bấy giờ, tám vị Malla đứng đầu, sau khi tắm gội và mặc y phục mới chưa dùng, nói,519 “Chúng ta sẽ nâng nhục thân Đức Phật.” Nhưng họ không thể làm được.

Những người Malla nói với Anuruddha, “Nguyên nhân là gì, thưa Đại đức Anuruddha, lý do gì mà tám vị trưởng Malla này không thể nâng nhục thân Đức Phật?”

“Này các Vāseṭṭha, các vị có một kế hoạch, nhưng các vị chư thiên có một kế hoạch khác.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, kế hoạch của các vị chư thiên là gì?”

"Các vị dự định mang nhục thân Đức Phật về phía nam của thị trấn trong khi tôn kính nó bằng vũ điệu, ca hát, âm nhạc, vòng hoa, và hương liệu, và hỏa táng nó ở đó bên ngoài thị trấn. Các vị chư thiên dự định mang nhục thân Đức Phật về phía bắc của thị trấn trong khi tôn kính nó bằng vũ điệu, ca hát, âm nhạc, vòng hoa, và hương liệu của chư thiên. Rồi họ dự định vào thị trấn bằng cổng phía bắc, mang nó qua trung tâm của thị trấn, ra bằng cổng phía đông, và hỏa táng nó ở đó tại đền thờ của dòng họ Malla tên là Đăng Quang."520

“Bạch Thế Tôn, xin hãy để mọi việc diễn ra theo kế hoạch của các vị chư thiên.”

Lúc bấy giờ, toàn bộ Kusinārā được bao phủ bởi hoa Mạn Đà La dày đến đầu gối, không có khoảng trống nào ngay cả trên những đống rác rưởi và phế thải.521 Rồi các vị chư thiên và những người Malla ở Kusinārā mang nhục thân Đức Phật về phía bắc của thị trấn trong khi tôn kính nó bằng vũ điệu, ca hát, âm nhạc, vòng hoa, và hương liệu của chư thiên và con người. Rồi họ vào thị trấn bằng cổng phía bắc, mang nó qua trung tâm của thị trấn, ra bằng cổng phía đông, và đặt nhục thân ở đó tại đền thờ của dòng họ Malla tên là Đăng Quang.

Rồi những người Malla nói với Ānanda, “Thưa Đại đức Ānanda, chúng con phải xử sự như thế nào đối với nhục thân của Như Lai?”

“Hãy xử sự theo cách tương tự như họ làm đối với nhục thân của một chuyển luân thánh vương.”

“Nhưng họ xử sự như thế nào với nhục thân của một chuyển luân thánh vương?”

“Họ quấn nhục thân của một chuyển luân thánh vương bằng vải mới chưa dùng, rồi bằng bông chưa cán, rồi lại bằng vải mới chưa dùng. Bằng cách này, họ quấn nhục thân bằng năm trăm lớp kép. Rồi họ đặt nó vào một quan tài bằng sắt chứa đầy dầu và đậy lại bằng một chiếc quan tài khác. Rồi, sau khi xây một giàn hỏa thiêu bằng các loại gỗ thơm, họ hỏa táng nhục thân. Họ xây một tháp cho chuyển luân thánh vương tại ngã tư đường. Đó là cách họ xử sự với nhục thân của một chuyển luân thánh vương. Hãy xử sự theo cách tương tự với nhục thân của Như Lai. Một tháp cho Như Lai sẽ được xây dựng tại ngã tư đường. Khi ai đó ở đó dâng lên vòng hoa, hương liệu hay bột thơm, hoặc cúi lạy, hoặc khơi dậy niềm tin trong tâm họ, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.”

Rồi những người Malla ra lệnh cho người của họ, “Vậy thì, này các ngươi, hãy thu thập bông chưa cán.”

Vì vậy, những người Malla đã quấn nhục thân Đức Phật, và đặt nó vào một quan tài bằng sắt chứa đầy dầu. Rồi, sau khi xây một giàn hỏa thiêu bằng các loại gỗ thơm, họ nâng nhục thân lên giàn hỏa thiêu.

13. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những người làm: “Các người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí ở Kusinàrà”.

Rồi dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả nhạc khí và năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sàlà của dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn, rồi chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala.

Rồi dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Hôm nay, nếu thiêu thân xá lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ làm lễ thiêu thân xá lợi của Thế Tôn”. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà, cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala, ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư cũng như vậy, ngày thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy.

14. Ðến ngày thứ bảy, dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa hát, nhạc, tràng hoa, hương, nay chúng ta hãy chở thân xác xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.

Lúc bấy giờ tám vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai nhưng khiêng không nổi được. Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch Tôn giả Anuruddha:

− Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì tám vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai, nhưng không khiêng nổi được?

− Này Vàsetthà, vì ý định của các Ngươi khác, ý định của chư Thiên khác.

15. - Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên là gì?

− Này các Vàsetthà, ý định của các Ngươi như sau:

“Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương. Nay chúng ta hãy chở thân xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.

Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương hương của Chư thiên nay chúng ta hãy khiêng thân xá lợi Thế Tôn về hướng Bắc phía Bắc của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, hãy khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, hãy khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuta-bandhana và chúng ta sẽ thiêu thân Thế Tôn tại chỗ ấy”.

− Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên thế nào, ý định của chúng con cũng vậy.

16. Lúc ấy, khắp cả Kusinàrà cho đến đống bụi, đống rác, được rải la liệt lên đến đầu gối toàn hoa Mandaràva. Rồi chư Thiên và các dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của chư Thiên và loài Người, liền khiêng thân xá lợi Thế Tôn về phía Bắc của Thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, liền khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, liền khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuta-bandhana và đặt thân xá lợi của Thế Tôn tại chỗ ấy.

17. Rồi dân Mallà bạch tôn giả Ananda:

− Bạch Tôn giả Ananda, chúng con nay phải xử sự như thế nào đối với thân xá lợi Như Lai? − Này các Vàsetthà, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương như thế nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như vậy.

− Bạch Tôn giả Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương phải như thế nào?

− Này cá Vàsetthà, thân Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này, và tại ngã tư đường, tháp vị Chuyển luân Thánh vương này được xây dựng lên. Này các Vàsetthà, đó là pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương.

Này các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyểb luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân của Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem đến tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiềumàu, đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.

18. Và các người Mallà ở Kusinàrà sai những người làm công:

− Hãy đem lại tất cả vải gai bện của Mallà .

Rồi những người Mallà ở Kusinàrà vấn tròn thân Thế Tôn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi đặt thân Như Lai vào trong một hòm dầu bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác, dựng lên một giàn hỏa gồm mọi loại hương và đặt thân Thế Tôn trên giàn hỏa.

38. Sự Xuất Hiện của Mahākassapa

Lúc bấy giờ Đại đức Mahākassapa (Ma Ha Ca Diếp) đang đi trên đường từ Pāvā đến Kusinārā cùng với một Tăng đoàn đông đảo gồm năm trăm vị tỳ kheo.522 Rồi ông rời khỏi đường và ngồi dưới gốc một cây.

Lúc bấy giờ có một du sĩ Ājīvaka (Lõa Thể) đã nhặt được một bông hoa Mạn Đà La ở Kusinārā và đang đi trên đường đến Pāvā.523 Mahākassapa thấy ông ta từ xa đi tới và nói với ông ta, “Thưa đạo hữu, ngài có biết gì về Bậc Đạo Sư của chúng ta không?”

“Có, thưa đạo hữu. Bảy ngày trước, sa môn Gotama đã nhập Niết bàn hoàn toàn. Từ đó tôi đã nhặt được bông hoa Mạn Đà La này.” Một số vị tỳ kheo ở đó chưa thoát khỏi ham muốn, tay giơ lên, ngã xuống như thể chân bị chặt đứt, lăn qua lăn lại, than khóc, “Quá sớm Đức Thế Tôn đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Đấng Thiện Thệ đã nhập Niết bàn hoàn toàn! Quá sớm Con Mắt của Thế Gian đã biến mất!” Nhưng các vị tỳ kheo đã thoát khỏi ham muốn thì chịu đựng, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, nghĩ rằng, “Các pháp hữu vi là vô thường. Làm sao có thể khác được?”

Lúc bấy giờ có một vị tỳ kheo tên là Subhadda, người đã xuất gia lúc tuổi già, đang ngồi trong hội chúng đó. Ông nói với những vị tỳ kheo đó, “Thôi đủ rồi, thưa các đạo hữu, đừng đau buồn hay than khóc. Chúng ta đã thoát khỏi Đại Sa Môn đó một cách tốt đẹp. Và chúng ta bị áp bức:524 ‘Điều này được phép cho các ông; điều này không được phép cho các ông.’ Thôi, bây giờ chúng ta sẽ làm những gì chúng ta muốn và không làm những gì chúng ta không muốn.”

Rồi Đại đức Mahākassapa nói với các vị tỳ kheo, “Thôi đủ rồi, thưa các đạo hữu, đừng đau buồn hay than khóc. Chẳng phải Đức Phật đã chuẩn bị cho chúng ta điều này khi Ngài giải thích rằng chúng ta phải chia lìa và tách biệt khỏi tất cả những gì chúng ta yêu quý và trân trọng sao? Làm sao có thể như vậy được khi những gì được sinh ra, được tạo ra, có điều kiện, và có khả năng hao mòn lại không hao mòn, ngay cả thân của Như Lai?”

Lúc bấy giờ, bốn vị Malla đứng đầu, sau khi tắm gội và mặc y phục mới chưa dùng, nói, “Chúng ta sẽ đốt giàn hỏa thiêu của Đức Phật.” Nhưng họ không thể làm được.

Những người Malla nói với Anuruddha, “Nguyên nhân là gì, thưa Đại đức Anuruddha, lý do gì mà bốn vị trưởng Malla này không thể đốt giàn hỏa thiêu của Đức Phật?”

“Này các Vāseṭṭha, các vị chư thiên có một kế hoạch khác.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, kế hoạch của các vị chư thiên là gì?”

“Kế hoạch của các vị chư thiên là thế này: Đại đức Mahākassapa đang đi trên đường từ Pāvā đến Kusinārā cùng với một Tăng đoàn đông đảo gồm năm trăm vị tỳ kheo. Giàn hỏa thiêu của Đức Phật sẽ không cháy cho đến khi ông ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật.”

“Bạch Thế Tôn, xin hãy để mọi việc diễn ra theo kế hoạch của các vị chư thiên.”

Rồi Đại đức Mahākassapa đến đền thờ của dòng họ Malla tên là Đăng Quang tại Kusinārā và đến gần giàn hỏa thiêu của Đức Phật. Sửa y qua một vai và chắp tay, ông kính cẩn đi vòng quanh Đức Phật ba lần, giữ Ngài ở bên phải ông, và cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật. Và năm trăm vị tỳ kheo cũng làm tương tự. Và khi Mahākassapa và năm trăm vị tỳ kheo cúi lạy, giàn hỏa thiêu của Đức Phật tự bốc cháy.

Và khi nhục thân Đức Phật được hỏa táng, không tìm thấy tro hay muội nào từ da ngoài hay da trong, thịt, gân, hay dịch khớp. Chỉ còn lại xá lợi (relics / di cốt còn lại sau khi hỏa táng bậc Thánh).525 Nó giống như khi bơ lỏng hoặc dầu cháy và thiêu rụi, và không tìm thấy tro hay muội nào. Cũng vậy, khi nhục thân Đức Phật được hỏa táng, không tìm thấy tro hay muội nào từ da ngoài hay da trong, thịt, gân, hay dịch khớp. Chỉ còn lại xá lợi. Và trong số năm trăm cặp y phục đó, chỉ có hai chiếc không bị cháy: chiếc trong cùng và chiếc ngoài cùng. Nhưng khi nhục thân Đức Phật bị thiêu rụi, giàn hỏa thiêu được dập tắt bởi một dòng nước xuất hiện trên bầu trời,526 bởi nước nhỏ giọt từ những cây sala, và bởi nước thơm của những người Malla.

Rồi những người Malla làm một hàng rào bằng giáo để bảo vệ xá lợi của Đức Phật trong công trường và bao quanh nó bằng một vòng cung bảo vệ. Trong bảy ngày, họ tôn kính, quý trọng, kính ngưỡng, và tôn thờ chúng bằng vũ điệu, ca hát, âm nhạc, vòng hoa, và hương liệu.

19. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mallà Kassapa đang đi giữa đường từ Pàvà đến Kusinàrà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Rồi Tôn giả Mallà Kassapa bước xuống đường và đến ngồi tại một gốc cây.

Lúc bấy giờ có một tà mạng ngoại đạo lấy một hoa Mandàrava ở Kusinàrà và đang đi trên một con đường đến Pàvà.

Tôn giả Mallà Kassapa thấy tà mạng ngoại đạo đi từ đàng xa đến. Thấy vậy, tôn giả liền hỏi tà mạng ngoại đạo ấy:

− Này Hiền giả, Hiền giả có biết bậc Ðạo sư chúng tôi không?

− Này Hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã diệt độ cách hôm nay một tuần. Từ chỗ ấy, tôi được hoa Mandàrava này.

Lúc ấy những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị bnày an trú chánh niệm, tỉnh giác nhẫn nại suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”

20. Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi đang ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi nói với những Tỷ-kheo ấy:

− Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa môn ấy, chúng ta đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: “Làm như thế này không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp với các Ngươi”. Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm.

Tôn giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỷ-kheo:

− Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy.

21, Lúc bấy giờ bốn vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn nhưng châm lửa không cháy.

Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch tôn giả Anuruddha:

− Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, bốn vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn, nhưng châm lửa không cháy?

− Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên khác.

− Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên như thế nào?

− Này các vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Tôn giả Mahà Kassapa nay đang đi giữa đường giữa Pàvà và Kusinàrà cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Giàn hỏa Thế Tôn chỉ được đốt cháy khi tôn giả Mahà Kassapa cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn”.

− Bạch Tôn giả, ý định chư Thiên như thế nào, hãy làm y như vậy.

22. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đến tại đền Makuta Bandhana của những vị Mallà tại giàn hỏa Thế Tôn, khi đến xong liền choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần, cởi mở chân ra và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Năm trăm vị Tỷ-kheo ấy choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu qua phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Và khi tôn giả Mahà Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo đảnh lễ xong, thời giàn hỏa Thế Tôn tự bắt lửa cháy.

23. Khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa các khớp xương, thảy đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại.

Như sanh tô hay dầu bị cháy, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, cũng vậy khi thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại. Và năm trăm tầng lớp vải gai bện, cả hai lớp trong nhất và lớp ngoài nhất đều bị cháy thiêu.

Khi thân Thế Tôn bị thiêu cháy xong, một dòng nước từ hư không chảy xuống tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và một dòng nước từ kho nước (hay từ cây sàlà) phun lên tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và các người Mallà ở Kusinàrà dùng nước với mọi loại hương tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn. Rồi các người Mallà xứ Kusinàrà đặt xá lợi Thế Tôn trong giảng đường, dùng cây thương làm hàng rào, dùng cây cung làm bức thành xung quanh và trong bảy ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường với các điệu múa, hát, nhạc, vòng hoa, hương.

39. Phân Chia Xá Lợi

Vua A Xà Thế của xứ Ma Kiệt Đà, con của công chúa Videha, nghe tin527 Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Ông cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: "Đức Phật là một vị sát đế lỵ và ta cũng vậy. Ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Ta sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm."528

Những người Licchavi ở Vesālī cũng nghe tin Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Họ cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: “Đức Phật là một vị sát đế lỵ và chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Chúng ta sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.”

Những người Sakya ở Ca Tỳ La Vệ cũng nghe tin Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Họ cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: “Đức Phật là người thân tộc hàng đầu của chúng ta. Chúng ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Chúng ta sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.”

Những người Buli ở Allakappa cũng nghe tin529 Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Họ cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: “Đức Phật là một vị sát đế lỵ và chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Chúng ta sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.”

Những người Koliya ở Rāmagāma cũng nghe tin530 Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Họ cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: “Đức Phật là một vị sát đế lỵ và chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Chúng ta sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.”

Vị bà la môn ở Veṭhadīpa cũng nghe tin531 Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Ông cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: “Đức Phật là một vị sát đế lỵ và tôi là một bà la môn. Tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Tôi sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.”

Những người Malla ở Pāvā cũng nghe tin Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Họ cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: “Đức Phật là một vị sát đế lỵ và chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Chúng ta sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.”

Khi họ nói xong, những người Malla ở Kusinārā nói với những nhóm người đó: "Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại làng của chúng ta. Chúng ta sẽ không chia sẻ một phần xá lợi của Ngài."532

Rồi bà la môn Doṇa nói với những nhóm người đó:533

"Xin các ngài hãy nghe một lời của tôi.
Giáo pháp của Đức Phật chúng ta là sự chấp nhận.
Sẽ không tốt nếu tranh giành534
một phần xá lợi của bậc tối thượng.

Chúng ta hãy chia làm tám phần, thưa các ngài,
hoan hỷ trong sự đoàn kết và hòa hợp.
Hãy để có những bảo tháp ở khắp nơi,535
để nhiều người có thể có niềm tin vào Bậc Có Mắt (Clear-eyed One / bậc thấy rõ chân lý)!"

“Vậy thì, này bà la môn, chính ông hãy công bằng chia xá lợi của Đức Phật thành tám phần.”

“Thưa vâng, các ngài,” Doṇa đáp lại những nhóm người đó. Ông chia xá lợi theo yêu cầu và nói với họ, “Thưa các ngài, xin hãy cho tôi cái bình đựng (xá lợi), và tôi sẽ xây một tháp cho nó và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.” Vì vậy, họ đã đưa cho Doṇa cái bình.

Dòng họ Moriya ở Pippalivana nghe tin536 Đức Phật đã nhập Niết bàn hoàn toàn tại Kusinārā. Họ cử một sứ giả đến gặp những người Malla ở Kusinārā: “Đức Phật là một vị sát đế lỵ, và chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi của Đức Phật. Chúng ta sẽ xây một tháp cho chúng và tổ chức một buổi lễ tưởng niệm.”

“Không còn phần xá lợi nào của Đức Phật nữa, chúng đã được chia hết rồi. Đây, hãy lấy tro than.” Vì vậy, họ đã lấy tro than.

24. Vua nước Magadha tên là Ajàtasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà. Vua liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.

Những người Licchavì ở Vesàli nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.

Các người Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ với xá-lợi Thế Tôn”.

Những người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.

Những người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn.”

Bà-la-môn Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người Bà-la-môn. Tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.

Các người Mallà ở Pàvà nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gửi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.

25. Khi được nói vây các người Mallà ở Kusinàrà liền tuyên bố giữa đại chúng:

− Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần xá lợi nào của Thế Tôn.

Khi nghe vậy. Bà-la-môn Dona nói với chúng:

Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói!
Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn.
Thật không tốt nếu có tranh giành.
Khi chia xá lợi bậc Thượng nhân.
Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan hỷ chia xá lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,
Ðại chúng mười phương tin Pháp nhãn…

− Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia xá lợi ra tám phần đồng đều.

− Xin vâng, các Tôn giả.

Bà-la-môn Dona vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng:

− Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đông chia xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.

Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Dona cái bình.

26. Và người Moriyà ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”. - “Nay không còn phần xá-lợi Thế Tôn nào. Xá-lợi Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại”. Rồi các vị nầy lấy than tro còn lại.

40. Tôn Kính Xá Lợi

Rồi vua A Xà Thế của xứ Ma Kiệt Đà,537 những người Licchavi ở Vesālī, những người Sakya ở Ca Tỳ La Vệ, những người Buli ở Allakappa, những người Koliya ở Rāmagāma, vị bà la môn ở Veṭhadīpa, những người Malla ở Pāvā, những người Malla ở Kusinārā, bà la môn Doṇa, và dòng họ Moriya ở Pippalivana đã xây tháp cho chúng và tổ chức các buổi lễ tưởng niệm. Như vậy có tám tháp thờ xá lợi, tháp thứ chín thờ bình đựng, và tháp thứ mười thờ tro than. Đó là cách mọi việc diễn ra vào thời xưa.538

Có tám phần
xá lợi của Bậc Có Mắt.539
Bảy phần được thờ cúng ở Xứ Cây Trâm (Jambudīpa, Ấn Độ).
Nhưng một phần của bậc tối thượng
được thờ cúng ở Rāmagāma bởi một vua rồng (nāgarāja).

Một chiếc răng được tôn kính
bởi chư thiên Ba Mươi Ba,
và một chiếc được thờ cúng ở thành Gandhāra;
một chiếc khác ở xứ của vua Kaliṅga,
và một chiếc được thờ cúng bởi một vua rồng.

Nhờ vinh quang của chúng, trái đất giàu có này
được tô điểm bằng những lễ vật tốt nhất.540
Như vậy nhục thân của Bậc Có Mắt
được những người đáng kính tôn kính.

Nó được tôn kính bởi các vị vua của chư thiên, rồng, và các vị trời;
và cũng được tôn kính bởi các vị vua cao quý nhất của loài người.
Hãy tôn kính nó bằng hai tay chắp lại khi có cơ hội,
vì một vị Phật hiếm có ngay cả trong một trăm kiếp.

Tổng cộng bốn mươi chiếc răng đều đặn,
và lông tóc,
được các vị chư thiên mang đi riêng lẻ
khắp vũ trụ.

27. Và vua nước Magadha tên là Ajàtasattu, con bà Videhi xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Licchavi ở Vesàli cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vesàli và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Sakya ở Kapilavatthu cũng xây dựng trên xá-lợi Thế Tôn tại Kapilavatthu và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Buli ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên xá lợi Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Koli ở Ràmagama cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Ràmagama và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Vethadìpaka cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vethadìpa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Mallà ở Pàvà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Pàvà và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Màllà ở Kusinàrà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Kusinàrà và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Dona cũng xây dựng tháp trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Moriyà ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.

Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tháp thứ mười trên tro (xá-lợi). Ðó là truyền thống thời xưa như vậy.

Ðấng Pháp Nhãn Vô Thượng
Xá-lợi phân tám phần.
Bảy phần được cúng dường.
Tại Jambudìpa.
Một phần Long vương cúng.
Tại Ràmagàma.
Một răng Phật được cúng,
Tại cõi Tam Thiên giới,
Một tại Gandhàra,
Một tại Kalinga.
Một răng, vua Long vương.
Tự mình riêng cúng dường.
Quả đất được chói sáng,
Với hào quang xá-lợi,
Với lễ vật cúng dường.
Hạng thượng phẩm, thượng đẳng.
Xá-lợi đấng Pháp Nhãn.
Như vậy được cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường.
Bởi Thiên, Long, Nhơn chủ,
Bởi bậc Tối thượng nhơn.
Các người hãy chắp tay,
Cung kính lễ cúng dường.
Khó thay sự chiêm ngưỡng.
Tôn nhan bậc Như Lai.
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một phần.

-ooOoo- TẬP II