Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 26. Chuyển Luân Vương

Kinh Chuyển Luân Vương

1. Tự Nương Tựa Vào Chính Mình

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại Mātulā, trong xứ Ma-kiệt-đà.46 Tại đây, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật dạy rằng:

"Này các Tỷ kheo, hãy sống tự mình là hòn đảo cho chính mình, tự mình là nơi nương tựa cho chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy lấy Giáo pháp làm hòn đảo, lấy Giáo pháp làm nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác.47 Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Vị ấy thiền định bằng cách quan sát một phương diện của thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, gạt bỏ tham ái và ưu bi ở đời. Vị ấy thiền định bằng cách quan sát một phương diện của các cảm thọ… của tâm… của các pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, gạt bỏ tham ái và ưu bi ở đời. Đó là cách một Tỷ kheo sống tự mình là hòn đảo, tự mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách vị ấy lấy Giáo pháp làm hòn đảo và nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác.

Này các Tỷ kheo, nên đi trong lãnh địa của chính mình, trong phạm vi của tổ tiên.48 Nếu các ông đi trong lãnh địa của chính mình, trong phạm vi của tổ tiên, Ma vương sẽ không bắt được hay nắm giữ được các ông. Chính nhờ thực hành các phẩm chất thiện lành mà công đức tăng trưởng.49

26. KINH CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG SƯ TỬ HỐNG

(Cakkavati-Sìhanàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

1. Một thời Thế Tôn an trú ở Magadha (Ma-kiệt-đà) tại Matulà (Ma-du-la). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi chư Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”. Các vị Tỷ kheo ấy Bạch Thế Tôn: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Thế Tôn giảng như sau:

− Này các Tỷ kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác!

Này các Tỷ kheo, thế nào là một Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo sống quán thên trên tự thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để có thể diệt trừ tham ưu ở đời, trên các cảm thọ… trên các tâm… sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để có thể diệt trừ tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này các Tỷ kheo, hãy đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại. Này các Tỷ kheo, nếu các Ngươi đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại, thì Ma vương sẽ không có cơ hội để xâm nhập, không có cơ hội để nhắm vào đối tượng. Này các Tỷ kheo, chính nhờ nhiếp trì các thiện pháp làm nhân duyên mà công đức này được tăng thịnh.

2. Vua Daḷhanemi

Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, có một vị vua tên là Daḷhanemi, một vị vua Chuyển luân, một vị vua công chính và đúng theo Chánh pháp. Vương quốc của ngài trải rộng khắp bốn phương, ngài đã thiết lập sự ổn định trong nước, và sở hữu bảy báu vật.50 Ngài có bảy báu vật sau: bánh xe, voi, ngựa, ngọc, người nữ, người gia chủ, và vị chỉ huy là báu vật thứ bảy. Ngài có hơn một ngàn người con trai dũng mãnh và anh hùng, đè bẹp quân đội của kẻ thù. Sau khi chinh phục vùng đất được biển bao bọc này, ngài trị vì bằng Chánh pháp, không dùng đến roi vọt hay gươm đao.

Rồi, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, vua Daḷhanemi nói với một người hầu cận: 'Này người tốt, khi nào khanh thấy báu vật bánh xe trời đã lùi khỏi vị trí của nó, hãy báo cho ta biết.'51

‘Tâu Bệ hạ, vâng,’ người đó đáp.

Sau nhiều ngàn năm trôi qua, người đó thấy báu vật bánh xe trời đã lùi khỏi vị trí của nó. Người ấy liền đến gặp vua Daḷhanemi và nói: ‘Xin bệ hạ biết cho, báu vật bánh xe trời của ngài đã lùi khỏi vị trí của nó.’

Thế là nhà vua triệu thái tử đến và nói: ‘Này thái tử thân mến, báu vật bánh xe trời của ta đã lùi khỏi vị trí của nó. Ta nghe nói rằng khi điều này xảy ra với một vị vua Chuyển luân, vị ấy sẽ không còn sống được bao lâu. Ta đã hưởng thụ những lạc thú của con người. Giờ là lúc ta tìm kiếm những lạc thú của cõi trời.52 Hãy đến đây, thái tử thân mến, hãy cai trị vùng đất được biển bao bọc này! Ta sẽ cạo bỏ râu tóc, mặc y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia không nhà.’

Và thế là, sau khi cẩn thận chỉ dạy thái tử về vương quyền, vua Daḷhanemi cạo bỏ râu tóc, mặc y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia không nhà.53 Bảy ngày sau, báu vật bánh xe trời biến mất.

Bấy giờ, một người đến gặp vị vua quý tộc mới được tấn phong và nói: ‘Xin bệ hạ biết cho, báu vật bánh xe trời đã biến mất.’ Nghe vậy, nhà vua không vui và cảm thấy bất hạnh. Ngài đến gặp vị thánh vương và nói: ‘Xin bệ hạ biết cho, báu vật bánh xe trời đã biến mất.’

Khi ngài nói vậy, vị thánh vương nói với ngài: ‘Đừng bất hạnh vì sự biến mất của báu vật bánh xe. Này con thân mến, báu vật bánh xe không phải là thứ được thừa hưởng từ phụ vương.54 Hãy đến đây, con thân mến, hãy thực hiện bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân.55 Nếu con làm vậy, có thể là—vào một ngày trai giới rằm, sau khi gội đầu và lên lầu trong cung điện hoàng gia để giữ trai giới—báu vật bánh xe trời sẽ hiện ra trước mắt con, với một ngàn căm xe, với vành và trục, hoàn hảo đến từng chi tiết.’

2. Thuở xưa, này các Tỷ kheo, có Vua Chuyển luân Thánh vương tên là Dalhanemi (Kiên-cố-niệm), là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, thống trị các quốc độ và đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có đầy đủ báy món báu, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch. Vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếm.

3. Này các Tỷ kheo, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, vua Dalhanemi cho gọi một người và bảo:

− Này khanh, khi nào khanh thấy Thiên luân báu có lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ, thì báo cho Ta biết.

− Tâu Ðại vương, xin vâng!

Này các Tỷ kheo người ấy vâng theo lời dạy vua Dalhanemi.

Này các Tỷ kheo, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người ấy thấy Thiên luân báu lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ. Thấy vậy, người ấy liền đến vua Dalhanemi, khi đến xong, liền báo cho vua biết: − Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi trời của Ngài đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ?

Này các Tỷ kheo, vua Dalhanemi liền cho mời thái tử và nói rằng:

− Này thái tử thân yêu, xe báu cõi trời của ta đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ. Ta nghe nói như sau: “Nếu xe báu cõi Trời của Chuẩn luận Pháp vương lặn xuống và rời khỏi vị trí cũ, thời vua còn sống không bao lâu nữa”. Ta đã thọ hưởng dục lạc loài Người một cách đầy đủ. Nay đã đến lúc tìm cầu dục lạc chư Thiên. Này thái tử thân yêu, hãy trị vì trái đất này cho đến hải biên. Ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Này các Tỷ kheo, vua Dalhanemi sau khi đã khéo đặt hoàng tử con đầu trên ngôi vương vị, liền cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Tỷ kheo, sau khi vị vua ẩn sĩ xuất gia bảy ngày, xe báu cõi Trời liền biến mất.

4. Này các Tỷ kheo, một người khác đi đến vua Quán đảnh Sát đế lỵ, khi đến xong liền tâu vua Quán đảnh Sát đế lỵ:

− Tâu Ðại vương, Ngài đã biết xe báu cõi Trời đa biến mất chưa?

Này các Tỷ kheo, khi vua Quán đảnh Sát đế lỵ nghe tin xe báu cõi Trời đã biến mất, liền không được vui, cảm thấy sầu muộn. Rồi vua ấy đến chỗ vua ẩn sĩ ở, khi đến xong, thưa với vua ẩn sĩ:

− Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi Trời đã biến mất?

Này các Tỷ kheo, khi nghe nói vậy, vua ẩn sĩ nói với vua Quán đảnh Sát đế lỵ:

− Này thái tử thân yêu, chớ có không vui vẻ, chớ có sầu muộn. Này thái tử thân yêu, xe báu cõi Trời không phải là gia bảo tổ tiên để lại. Này thái tử thân yêu, hãy hành trì Thánh vương Chánh pháp. Sự tình này sẽ xảy ra, khi con hành trì Thánh vương Chánh pháp vào ngày rằm bố-tát, con gội đầu trai giới, đi lên lầu cao, thì xe báu cõi Trời sẽ hiện ra đầy đủ ngàn tăm, vành xe, trục xe và đầy đủ các bộ phận.

2.1. Bổn Phận Cao Quý của một Vị Vua Chuyển Luân

‘Nhưng thưa bệ hạ, bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân là gì?’

'Vậy thì, con thân mến, hãy chỉ nương tựa vào Chánh pháp—tôn trọng, kính lễ, và sùng kính Chánh pháp, lấy Chánh pháp làm cờ xí, làm biểu ngữ, và làm thẩm quyền—hãy bảo vệ và che chở một cách công chính cho triều đình, quân đội, quý tộc, chư hầu, bà-la-môn và gia chủ, người dân thành thị và nông thôn, các sa-môn và bà-la-môn, cùng các loài thú và chim.56 Đừng để sự bất công lan tràn trong vương quốc.57 Hãy cấp tiền cho những người nghèo khó trong vương quốc.58

Và trong vương quốc có những sa-môn và bà-la-môn không say sưa và sao nhãng, an trú trong sự nhẫn nại và ngọt ngào, và những người tự mình chế ngự, làm lắng dịu, và dập tắt (phiền não). Thỉnh thoảng con nên đến gặp họ để hỏi và học hỏi:59 “Thưa các ngài, điều gì là thiện? Điều gì là bất thiện? Điều gì đáng chê trách? Điều gì không đáng chê trách? Điều gì nên được tu tập? Điều gì không nên được tu tập? Làm điều gì sẽ dẫn đến sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho tôi? Làm điều gì sẽ dẫn đến phúc lợi và hạnh phúc lâu dài cho tôi?” Sau khi nghe họ, con nên từ bỏ những gì bất thiện và thực hành, tuân theo những gì thiện lành.

Đây là bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân.’

5. - Tâu Ðại vương, thế nào là Thánh vương Chánh pháp?

− Này thái tử thân yêu, con y cứ vào Pháp, kính trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, tôn trọng Pháp, tự con trở thành Pháp tràng, Pháp kỳ, xem Pháp là thầy, tự trở thành người bảo vệ hợp pháp cho thứ dân, cho quân đội, cho Sát đế lỵ, cho quần thần, cho Bà la môn, cho gia chủ, cho thị dân, thôn dân, cho Sa môn, Bà la môn, cho các loài thú và loài chim. Chớ có làm gì phi pháp trong quốc độ của con. Này con thân yêu, nếu trong quốc độ của con, có những Sa môn, Bà-la-môn từ bỏ dục vọng, không phóng dật, thực thành nhẫn nhục từ ái, nhiếp phục tự kỷ, an chỉ tự kỷ, giải thoát tự kỷ, thỉnh thoảng sẽ đến với con và hỏi con: “Này Tôn giả, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện, thế nào là có tội, thế nào là không có tội, như thế nào nên thực hành, như thế nào không nên thực hành, hành động như thế nào đem lại bất lợi và đau khổ cho tôi lâu ngày, hành động như thế nào đem lại lợi ích và hạnh phúc cho tôi lâu ngày?” Con hãy nghe họ và ngăn chận họ khỏi sự bất thiện và khuyến khích họ làm điều thiện. Này con thân yêu, như vậy là Thánh vương Chánh pháp.

2.2. Báu Vật Bánh Xe Xuất Hiện

‘Tâu Bệ hạ, vâng,’ vị vua mới đáp lời vị thánh vương. Và ngài đã thực hiện bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân.

Trong khi ngài đang thực hiện bổn phận đó, vào một ngày trai giới rằm, ngài đã gội đầu và lên lầu trong cung điện hoàng gia để giữ trai giới. Và báu vật bánh xe trời hiện ra trước mắt ngài, với một ngàn căm xe, với vành và trục, hoàn hảo đến từng chi tiết. Thấy vậy, nhà vua nghĩ: ‘Ta đã nghe rằng khi báu vật bánh xe trời hiện ra với một vị vua theo cách này, vị ấy sẽ trở thành một vị vua Chuyển luân. Vậy ta có phải là một vị vua Chuyển luân không?’

Rồi vị vua đã được tấn phong, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt áo choàng qua một bên vai, tay trái cầm một bình nước nghi lễ và tay phải rảy nước lên báu vật bánh xe, nói rằng: ‘Hãy lăn đi, hỡi báu vật bánh xe! Hãy chiến thắng, hỡi báu vật bánh xe!’

Bấy giờ, báu vật bánh xe lăn về phía đông. Và nhà vua cùng với bốn binh chủng của mình đi theo. Ở bất cứ nơi nào báu vật bánh xe dừng lại, nhà vua cùng với quân đội của mình đều đến đóng trại ở đó. Và bất kỳ vị vua đối địch nào ở phương đông cũng đến gặp vị vua Chuyển luân và nói: ‘Hãy đến đây, thưa đại vương! Chào mừng ngài, thưa đại vương! Chúng tôi thuộc về ngài, thưa đại vương, xin hãy chỉ dạy chúng tôi.’ Vị vua Chuyển luân nói: ‘Không được giết hại chúng sanh. Không được trộm cắp. Không được tà dâm. Không được nói dối. Không được uống rượu. Hãy duy trì mức thuế hiện tại.’ Và thế là các vị vua đối địch ở phương đông trở thành chư hầu của ngài.

Rồi báu vật bánh xe, sau khi lao xuống biển đông và trồi lên lại, lăn về phía nam. … Sau khi lao xuống biển nam và trồi lên lại, nó lăn về phía tây. …

Sau khi lao xuống biển tây và trồi lên lại, nó lăn về phía bắc, theo sau là nhà vua cùng với bốn binh chủng của mình. Ở bất cứ nơi nào báu vật bánh xe dừng lại, nhà vua cùng với quân đội của mình đều đến đóng trại ở đó. Và bất kỳ vị vua đối địch nào ở phương bắc cũng đến gặp vị vua Chuyển luân và nói: ‘Hãy đến đây, thưa đại vương! Chào mừng ngài, thưa đại vương! Chúng tôi thuộc về ngài, thưa đại vương, xin hãy chỉ dạy chúng tôi.’ Vị vua Chuyển luân nói: ‘Không được giết hại chúng sanh. Không được trộm cắp. Không được tà dâm. Không được nói dối. Không được uống rượu. Hãy duy trì mức thuế hiện tại.’ Và thế là các vị vua ở phương bắc trở thành chư hầu của ngài.

Và rồi báu vật bánh xe, sau khi đã chinh phục vùng đất được biển bao bọc này, trở về kinh đô. Nó đứng yên ở cổng vào hoàng cung tại Tòa án Tối cao như thể được gắn vào một trục xe, chiếu sáng cả hoàng cung.

− Thưa vâng, tâu Ðại vương!

Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ trả lời vua ẩn sĩ và thực hành Thánh vương Chánh pháp. Khi thực hành Thánh vương Chánh pháp vào ngày rằm bố-tát, vua gội đầu trai giới, đi lên lầu cao, thì xe báu cõi Trời hiện ra đầy đủ ngàn tăm, vành xe, trục xe và đầy đủ các bộ phận. Thấy vậy vua Quán đảnh Sát đế lỵ nghĩ rằng: “Ta được nghe nói như sau: “Quán đảnh vương Sát đế lỵ nào vào ngày rằm bố tát gội đầu trai giới, đi lên lầu cao và Thiên bảo luận hiện ra đầy đủ ngàn tăm, vành xe, trục xe và đầy đủ các bộ phận, thì vị vua ấy là Chuyển luân Thánh vương.” Như vậy ta là Chuyển luân Thánh vương”

6. Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, tay trái cầm bình nước, tay mặt tưới nước trên bảo luân và nói: “Hãy lăn, này Tôn bảo luân, hãy nhiếp phục tất cả, xe báu lăn về hướng đông, Chuyển luân Thánh vương theo sau cùng với bốn loại binh chủng. Và này các Tỷ kheo, chỗ nào xe báu ấy dừng lại, chỗ ấy Chuyển luân Thánh vương an trú, cùng với bốn loại chủng binh. Này các Tỷ kheo, các vị vua chư hầu ở hướng đông đều đến yết kiến Chuyển luân Thánh vương và nói:

− Hãy đến đây, Ðại vương! Thiện lai. Ðại vương! Tất cả đều thuộc của Ðại vương! Ðại vương hãy thuyết giảng!

Chuyển luân Thánh vương bèn nói:

− Chớ có sát sanh! Chớ có lấy của không cho! Chớ có sống tà hạnh trong các dục! Chớ có nói láo! Chớ có uống rượu! Và hãy thọ hưởng theo những gì đã có để thọ hưởng!

Này các Tỷ kheo, các vị vua thù nghịch ở hướng Ðông đều trở thành chư hầu của Chuyển luân Thánh vương.

7. Này các Tỷ kheo, xe báu ấy chìm xuống biển hướng Ðông, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Nam… trở thành chư hầu Chuyển luân Thánh vương. Này các Tỷ kheo, rồi xe báu chìm xuống biển hướng Tây, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Bắc, và Chuyển luân Thánh vương theo sau cùng với bốn lại binh chủng. Và này các Tỷ kheo, chỗ nào xe báu ấy dừng lại, chỗ ấy Chuyển luân Thành vương an trú cùng với bốn loại binh chủng. Này các Tỷ kheo, các vị vua chư hầu ở hướng Bắc đều đến yết kiến Chuyển luân Thánh vương và nói:

− Hãy đến đây, Ðại vương! Thiện lai, Ðại vương! Tất cả đều thuộc của Ðại vương! Ðại vương hãy thuyết giảng!

Chuyển luân Thánh vương bèn nói:

− Chớ có sát sanh! Chớ có lấy của không cho! Chớ có sống tà hạnh trong các dục! Chớ có nói láo! Chớ có uống rượu! Và hãy thọ hưởng những gì đã có để thọ hưởng!

Này các Tỷ kheo, các vua thù nghịch ở hướng Bắc đều trở thành chư hầu Chuyển luân Thánh vương.

Này các Tỷ kheo, khi xe báu ấy chinh phục quả đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô, và đứng lại như là dính liền trước cửa điện công lý, trong nội cung Chuyển luân Thánh vương và chói sáng nội cung của vua.

3. Về Các Vị Vua Chuyển Luân Kế Vị

Và lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, và thứ bảy, một vị vua Chuyển luân được thiết lập theo đúng cách như vậy. Và sau nhiều năm, vị vua Chuyển luân thứ bảy xuất gia, giao lại vương quốc cho thái tử.

Bảy ngày sau, báu vật bánh xe trời biến mất.

Bấy giờ, một người đến gặp vị vua quý tộc mới được tấn phong và nói: ‘Xin bệ hạ biết cho, báu vật bánh xe trời đã biến mất.’ Nghe vậy, nhà vua không vui và cảm thấy bất hạnh. Nhưng ngài không đến gặp vị thánh vương để hỏi về bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân. Ngài chỉ cai trị đất nước theo ý riêng của mình.60 Được cai trị như vậy, người dân trong nước không thịnh vượng như trước, như khi các vị vua tiền nhiệm thực hiện bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân.61

Bấy giờ các bộ trưởng và hội đồng cố vấn, các bộ trưởng tài chính, các sĩ quan quân đội, lính gác, và các cố vấn chuyên nghiệp tụ tập lại và nói với nhà vua,62 ‘Thưa bệ hạ, khi được cai trị theo ý riêng của ngài, người dân trong nước không thịnh vượng như trước, như khi các vị vua tiền nhiệm thực hiện bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân. Trong vương quốc của ngài có các bộ trưởng và hội đồng cố vấn, các bộ trưởng tài chính, các sĩ quan quân đội, lính gác, và các cố vấn chuyên nghiệp—cả chúng tôi và những người khác—những người còn nhớ bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân. Xin bệ hạ, hãy hỏi chúng tôi về bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân. Chúng tôi sẽ trả lời ngài.’

8. Này các Tỷ kheo, lần thứ hai, Chuyển luân Thánh vương… Này các Tỷ kheo, lần thứ ba Chuyển luân Thánh vương… Này các Tỷ kheo, lần thứ tư Chuyển luân Thánh vương… Này các Tỷ kheo, lần thứ năm Chuyển luân Thánh vương… Này các Tỷ kheo, lần thứ sau Chuyển luân Thánh vương… Này các Tỷ kheo, lần thứ bảy, Chuyển luân Thánh vương sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi một người và bảo:

− Này Khanh, khi nào Khanh thấy xe báu cõi Trời có lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ, thì báo cho ta biết.

− Tâu Ðại vương, xin vâng!

Này các Tỷ kheo, người ấy vâng theo lời dạy Chuyển luân Thánh vương.

Này các Tỷ kheo, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người ấy thấy xe báu cõi Trời lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ. Thấy vậy, người ấy liền đến Chuyển luân Thánh vương, khi đến xong liền báo cho vua biết:

− Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi Trời của Ngài đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ?

Này các Tỷ kheo, Chuyển luân Thánh vương liền cho mời thái tử và nói rằng:

− Này thái tử thân yêu, xe báu cõi Trời của Ta đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ. Ta nghe như sau: “Nếu thiên bảo luân của Chuyển luân THánh vương có lặn xuống một ít, và rời khỏi vị trí cũ, thì vua còn sống không bao lâu nữa.” Ta đã thọ hưởng dục lạc loài Người một cách đầy đủ. Nay đã đến lúc tìm cầu dục lạc chư Thiên. Này thái tử thân yêu, hãy trị vì trái đất này cho đến hải biên. Ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Này các Tỷ kheo, Chuyển luân Thánh vương sau khi đã khéo đặt thái tử con đầu trên ngôi vương vị, liền cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Này các Tỷ kheo, sau khi Chuyển luân Thánh vương xuất gia bảy ngày, xe báu cõi Trời ấy biến mất.

9. Này các Tỷ kheo, một người khác đi đến vua Quán đảnh Sát đế lỵ, khi đến nơi liền tâu với vua:

− Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi Trời đã biến mất?

Này các Tỷ kheo, khi vua Quán đảnh Sát đế lỵ nghe tin xe báu cõi Trời đã biến mất, liền không được vui vẻ và cảm thấy sầu muộn. Vua ấy không đến chỗ vua ẩn sĩ và hỏi về Thánh vương Chánh pháp. Vị ấy tự cai trị quốc gia theo ý của mình. Vì cai trị quốc gia theo ý của mình, nên quốc gia không được hưng thịnh như trong thời xưa, khi các vua chúa cai trị theo Thánh vương Chánh pháp.

Này các Tỷ kheo, rồi các vị đại thần, cận thần, tài chánh quan, các cận vệ, các thủ môn quan, các vị sống bằng bùa chú tụ họp lại, cùng đến vua Quán đảnh Sát đế lỵ và nói:

− Tâu Ðại vương, vì Ðại vương cai trị quốc gia theo ý Ðại vương, nên quốc gia không được hưng thịnh, như trong thời xưa, các vua chúa cai trị theo Thánh vương Chánh pháp. Nay có các vị đại thần, cận thần, tài chánh quan, các cận vệ, các thủ môn quan, các vị sống bằng bùa chú, chúng tôi và một số các vị khác thọ trì Thánh vương Chánh pháp. Tâu Ðại vương, nếu Ðại vương hỏi chúng tôi về Thánh vương Chánh pháp, được hỏi, chúng tôi sẽ trả lời cho Ðại vương rõ về pháp này.

4. Về Thời Kỳ Suy Vong

Thế là vị vua đã được tấn phong hỏi các bộ trưởng và hội đồng cố vấn, các bộ trưởng tài chính, các sĩ quan quân đội, lính gác, và các cố vấn chuyên nghiệp đã tập hợp về bổn phận cao quý của một vị vua Chuyển luân. Và họ đã trả lời ngài. Sau khi nghe họ, ngài đã bảo vệ và che chở một cách công chính. Nhưng ngài không cấp tiền cho những người nghèo khó trong vương quốc.63 Và thế là sự nghèo đói lan rộng.

Khi sự nghèo đói lan rộng, một người nọ đã trộm cắp của người khác, với ý định trộm cắp.64 Họ bắt người đó và đưa đến trước nhà vua, nói rằng: ‘Tâu Bệ hạ, người này đã trộm cắp của người khác với ý định trộm cắp.’

Nhà vua nói với người đó: 'Có thật không, này ông, rằng ông đã trộm cắp của người khác với ý định trộm cắp?'65

‘Tâu bệ hạ, là thật.’

‘Lý do là gì?’

‘Tâu bệ hạ, tôi không thể sống nổi.’

Thế là nhà vua cấp một ít tiền cho người đó, nói rằng: 'Với số tiền này, này ông, hãy tự nuôi sống mình, và chu cấp cho cha mẹ, vợ con. Hãy làm việc để sinh sống, và hãy cúng dường cho các sa-môn và bà-la-môn một cách cao thượng, điều đó sẽ dẫn đến cõi trời, chín muồi trong hạnh phúc, và đưa đến cõi trời.'66

‘Tâu Bệ hạ, vâng,’ người đó đáp.

Nhưng rồi một người khác lại trộm cắp của người khác. Họ bắt người đó và đưa đến trước nhà vua, nói rằng: ‘Tâu Bệ hạ, người này đã trộm cắp của người khác.’

Nhà vua nói với người đó: ‘Có thật không, này ông, rằng ông đã trộm cắp của người khác?’

‘Tâu bệ hạ, là thật.’

‘Lý do là gì?’

‘Tâu bệ hạ, tôi không thể sống nổi.’

Thế là nhà vua cấp một ít tiền cho người đó, nói rằng: ‘Với số tiền này, này ông, hãy tự nuôi sống mình, và chu cấp cho cha mẹ, vợ con. Hãy làm việc để sinh sống, và hãy cúng dường cho các sa-môn và bà-la-môn một cách cao thượng, điều đó sẽ dẫn đến cõi trời, chín muồi trong hạnh phúc, và đưa đến cõi trời.’

‘Tâu Bệ hạ, vâng,’ người đó đáp.

Mọi người nghe được chuyện này: 'Có vẻ như nhà vua đang cấp tiền cho bất kỳ ai trộm cắp của người khác!'67 Họ nảy ra ý nghĩ: ‘Tại sao chúng ta không đi trộm cắp của người khác nhỉ?’ Thế là một người khác lại đi trộm cắp của người khác.

Họ bắt người đó và đưa đến trước nhà vua, nói rằng: ‘Tâu Bệ hạ, người này đã trộm cắp của người khác.’

Nhà vua nói với người đó: ‘Có thật không, này ông, rằng ông đã trộm cắp của người khác?’

‘Tâu bệ hạ, là thật.’

‘Lý do là gì?’

‘Tâu bệ hạ, tôi không thể sống nổi.’

Bấy giờ nhà vua nghĩ: 'Nếu ta cấp tiền cho bất kỳ ai trộm cắp của người khác, điều đó sẽ chỉ làm tăng thêm nạn trộm cắp. Tốt hơn hết là ta nên kết liễu người này, xử tử hắn, và chặt đầu hắn.'68

Rồi ngài ra lệnh cho quân lính: ‘Này các khanh, hãy trói chặt tay người này ra sau lưng bằng một sợi dây thừng chắc chắn. Cạo đầu hắn và diễu hắn từ phố này sang phố khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác trong tiếng trống dồn dập. Sau đó, đưa hắn ra cổng phía nam và kết liễu hắn, xử tử hắn, và chặt đầu hắn.’

‘Tâu Bệ hạ, vâng,’ họ đáp, và làm theo lệnh ngài.

Mọi người nghe được chuyện này: ‘Có vẻ như nhà vua đang chặt đầu bất kỳ ai trộm cắp của người khác!’ Họ nảy ra ý nghĩ: 'Chúng ta tốt hơn hết nên rèn những thanh gươm sắc bén. Rồi khi chúng ta trộm cắp của người khác, chúng ta sẽ kết liễu họ, xử tử họ, và chặt đầu họ.'69 Họ đã rèn những thanh gươm sắc bén. Rồi họ bắt đầu đột kích các làng mạc, thị trấn, và thành phố, và cướp bóc trên các con đường lớn. Và họ chặt đầu bất kỳ ai mà họ trộm cắp.

Và thế là, này các Tỷ kheo, từ việc không cấp tiền cho người nghèo khó, sự nghèo đói đã lan rộng. Khi sự nghèo đói lan rộng, trộm cắp lan rộng. Khi trộm cắp lan rộng, gươm đao lan rộng. Khi gươm đao lan rộng, việc giết hại chúng sanh lan rộng. Và đối với những chúng sanh mà trong đó việc giết chóc lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người đó sống được 80.000 năm, nhưng con cái của họ chỉ sống được 40.000 năm.70

Trong số những người sống được 40.000 năm, một người nọ đã trộm cắp của người khác. Họ bắt người đó và đưa đến trước nhà vua, nói rằng: ‘Tâu Bệ hạ, người này đã trộm cắp của người khác.’

Nhà vua nói với người đó: ‘Có thật không, này ông, rằng ông đã trộm cắp của người khác?’

‘Không, thưa bệ hạ,’ người đó cố ý nói dối.

Và thế là, này các Tỷ kheo, từ việc không cấp tiền cho người nghèo khó, sự nghèo đói, trộm cắp, gươm đao, và giết chóc đã lan rộng. Khi giết chóc lan rộng, nói dối lan rộng. Và đối với những chúng sanh mà trong đó nói dối lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được 40.000 năm có con cái sống được 20.000 năm.

Trong số những người sống được 20.000 năm, một người nọ đã trộm cắp của người khác. Một người khác báo cáo điều này với nhà vua: ‘Tâu Bệ hạ, người kia đã trộm cắp của người khác,’ người đó nói sau lưng.

Và thế là, này các Tỷ kheo, từ việc không cấp tiền cho người nghèo khó, sự nghèo đói, trộm cắp, gươm đao, giết chóc, và nói dối đã lan rộng. Khi nói dối lan rộng, nói đâm thọc lan rộng. Và đối với những chúng sanh mà trong đó nói đâm thọc lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được 20.000 năm có con cái sống được 10.000 năm.

Trong số những người sống được 10.000 năm, một số người đẹp, một số người xấu. Và những người xấu, thèm muốn những người đẹp, đã ngoại tình với vợ của người khác.71

Và thế là, này các Tỷ kheo, từ việc không cấp tiền cho người nghèo khó, sự nghèo đói, trộm cắp, gươm đao, giết chóc, nói dối, và nói đâm thọc đã lan rộng. Khi nói đâm thọc lan rộng, tà dâm lan rộng. Và đối với những chúng sanh mà trong đó tà dâm lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được 10.000 năm có con cái sống được 5.000 năm.

Trong số những người sống được 5.000 năm, hai điều trở nên lan rộng: lời nói ác độc và lời nói vô nghĩa.72 Đối với những chúng sanh mà trong đó hai điều này lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được 5.000 năm có một số con cái sống được 2.500 năm, trong khi những người khác sống được 2.000 năm.

Trong số những người sống được 2.500 năm, tham lam và tức giận trở nên lan rộng. Đối với những chúng sanh mà trong đó tham lam và tức giận lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được 2.500 năm có con cái sống được 1.000 năm.

Trong số những người sống được 1.000 năm, tà kiến trở nên lan rộng.73 Đối với những chúng sanh mà trong đó tà kiến lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được 1.000 năm có con cái sống được năm trăm năm.

Trong số những người sống được năm trăm năm, ba điều trở nên lan rộng: ham muốn bất chính, tham lam vô đạo đức, và tập tục sai lầm.74 Đối với những chúng sanh mà trong đó ba điều này lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được năm trăm năm có một số con cái sống được hai trăm năm mươi năm, trong khi những người khác sống được hai trăm năm.

Trong số những người sống được hai trăm năm mươi năm, những điều này trở nên lan rộng: thiếu tôn kính cha mẹ, sa-môn và bà-la-môn, và không tôn trọng những người lớn tuổi trong gia đình.

Và thế là, này các Tỷ kheo, từ việc không cấp tiền cho người nghèo khó, tất cả những điều này đã lan rộng—nghèo đói, trộm cắp, gươm đao, giết chóc, nói dối, nói đâm thọc, tà dâm, lời nói ác độc và lời nói vô nghĩa, tham lam và tức giận, tà kiến, ham muốn bất chính, tham lam vô đạo đức, và tập tục sai lầm, và thiếu tôn kính cha mẹ, sa-môn và bà-la-môn, và không tôn trọng những người lớn tuổi trong gia đình. Đối với những chúng sanh mà trong đó những điều này lan rộng, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ suy giảm. Những người sống được hai trăm năm mươi năm có con cái sống được một trăm năm.75

10. Này các Tỷ kheo, rồi vua Quán đảnh Sát đế lỵ cho mời họp các vị đại thần, cận thần, tài chánh quan, các cận vệ, các thủ môn quan, các vị sống bằng bùa chú và hỏi về Thánh vương Chánh pháp. Và những vị này được hỏi, đã trả lời về Thánh vương Chánh pháp. Khi nghe họ nói xong, vị vua có sắp đặt sự hộ trì, ngăn chận, che chở, nhưng không cho người nghèo tiền của. Và vì vậy, nghèo đói được lan rộng. Vì nghèo đói được lan rộng, một người đã lấy vật không cho của những người khác, và hành động ấy được gọi là ăn trộm. Người ta bắt anh ta và dẫn đến trước vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu vua: − Tâu Ðại vương, người này lấy vật không cho của những người khác, hành động này được gọi là ăn trộm.

Này các Tỷ kheo, khi nghe vậy vua Quán đảnh Sát đế lỵ nói với người ấy:

− Này Ngươi, có phải Ngươi lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm?

− Tâu Ðại vương, sự thật có vậy.

− Sao lại làm vậy?

− Tâu Ðại vương, con không có gì sống!

Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ liền cho người ấy tiền của và nói:

− Này Ngươi, với tiền của này Ngươi hãy tự nuôi dưỡng, nuôi dưỡng cha mẹ, nuôi dưỡng vợ con, tiến hành các công việc, thực hiện sự cúng dường với công đức tối thượng cho các vị Sa môn, mà kết quả là hưởng lạc thọ hiện tại và sanh Thiên giới trong tương lai…

Này các Tỷ kheo, người ấy vâng theo lời vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu:

− Thưa vâng, Ðại vương!

11. Này các Tỷ kheo, rồi một người khác lấy của không cho của những người khác, tức là ăn trộm. Người ta bắt anh ta và dẫn đến trước mặt vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu vua:

− Tâu Ðại vương, người này lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.

Này các Tỷ kheo, khi nghe vậy, vua Quán đảnh Sát đế lỵ nói với người ấy:

− Này Ngươi, có phải Ngươi lấy của không cho của những người khác không, tức là ăn trộm?

− Tâu Ðại vương, sự thật có vậy.

− Sao lại làm vậy?

− Tâu Ðại vương, con không có gì để sống!

Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ liền cho người ấy tiền của và nói:

− Này Ngươi, với tiền của này, Ngươi hãy tự nuôi dưỡng, nuôi dưỡng cha mẹ, nuôi dưỡng vợ con, tiến hành các công việc, thực hiện sự cúng dường với công đức tối thắng cho các vị Sa môn, Bà la môn, mà kết quả là lạc thọ hiện tại và sanh thiên giới trong tương lai.

Này các Tỷ kheo, người ấy vâng theo lời vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu:

− Thưa vâng, Ðại vương!

12. Này các Tỷ kheo, nhiều người nghe: “Những ai lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm, vua cho những người ấy tiền của.” Nghe vậy, họ nghĩ: “Chúng ta hãy lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.”

Này các Tỷ kheo, lại một người khác lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm. Người ta bắt anh ta và dẫn đến trước vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu vua:

− Tâu Ðại vương, người này lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.

Này các Tỷ kheo, khi nghe nói vậy vua Quán đảnh Sát đến lỵ nói với người ấy:

− Này Ngươi, có phải Ngươi lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm?

− Tâu Ðại vương, sự thật có vậy?

− Sao lại làm vậy?

− Tâu Ðại vương, con không có gì để sống!

Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ suy nghĩ: “Nếu ai lấy vật không cho của những người khác tức là ăn trộm và ta cho họ tiền của, thì lấy vật không cho như vậy tăng trưởng. Nay ta phải ngăn chận triệt để người ấy, hình phạt thích đáng và chặt đầu nó!”

Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ ra lệnh cho các người:

− Này các Khanh, hãy lấy dây thật chắc, cột tay ra đàng sau với gút thật chặt, cạo đầu nó, dắt nó đi với tiếng trống khe khắt, từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, dắt nó ra khỏi cửa phía Nam, ngăn chận triệt để người ấy, hình phạt thích đáng và chặt đầu nó.

− Tâu Ðại vương, thưa vâng!

Này các Tỷ kheo, các người ấy vâng theo lệnh của vua Quán đảnh Sát đế lỵ, lấy dây thật chắc cột tay ra đàng sau với gút thật chặt, cạo đầu anh ta, dắt anh ta đi với tiếng trống khe khắt, từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, dắt anh ta ra khỏi cửa phía Nam, ngăn chận triệt để người ấy, hình phạt thích đáng và chặt đầu anh ta.

13. Này các Tỷ kheo, nhiều người nghe: “Những ai lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm, vua ngăn chận triệt để họ, hình phạt thích đáng và chém đầu họ.”

Nghe vậy, những người ấy nghĩ: “Chúng ta hãy rèn kiếm cho thật bén, với những kiếm bén này, chúng ta sẽ lấy vật không cho của họ tức là ăn trộm, sẽ ngăn chận triệt để chúng, hình phạt thích đáng chúng và chém đầu họ”.

Những người ấy rèn kiếm bén, sau khi rèn kiếm bén xong, họ đi cướp làng, họ đi cướp thôn xóm, họ đi cướp thành, họ đi cướp đường, họ lấy vật không cho tức là ăn trộm, họ ngăn chận triệt để những người mà họ ăn trộm, hình phạt thích đáng và chém đầu những người này.

14. Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho người nghèo tiền của, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm được tăng thịnh; và đao kiếm được tăng thịnh, nên sát sanh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh; vì nói láo tăng thịnh nên tuổi thọ của loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu; vì tuổi thọ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên loài Người tuổi thọ đến tám vạn năm và con của họ thọ bốn vạn năm.

Này các Tỷ kheo, khi loài Người thọ bốn vạn năm, một người khác lấy vật không cho tức là ăn trộm. Người ta bắt người này lại, dẫn đến trước vua Quán đảnh Sát đế lỵ và thưa:

− Tâu Ðại vương, người này lất vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.

Này các Tỷ kheo, khi nghe nói vậy, vua Quán đảnh Sát đế lỵ nói với người ấy:

− Này Ngươi, có thật Ngươi lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm không?

− Tâu Ðại vương, không!

Người ấy cố ý nói không thật.

15. Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm tăng thịnh; vì đao kiếm tăng thịnh nên sát sanh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh, vì nói láo tăng thịnh nên tuổi thọ của loài Người giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu; vì tuổi thọ giảm và sắc đẹp giảm thiểu, nên loài Người tuổi thọ đến bốn vạn năm và con của họ thọ hai vạn năm.

Này các Tỷ kheo, khi loài Người tuôi thọ đến hai vạn năm, một người khác lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm. Một người khác báo với vua Quán đảnh Sát đế lỵ về người ấy:

− Tâu Ðại vương, người này đã lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.

Như vậy người ấy đã bị nói xấu.

16. Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh… vì nói xấu được tăng nên tuổi thọ loài Người giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên tuổi thọ loài Người chỉ có hai vạn năm và con của họ chỉ có một vạn năm.

Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến một vạn năm, một số chúng sanh có sắc đẹp, một số không có sắc đẹp. Những chúng sanh không có sắc đẹp tham đắm những chúng sanh có sắc đẹp và có tà hạnh với vợ những người khác.

17. Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh… nên tà dâm tăng thịnh; vì tà dâm tăng thịnh nên tuổi thọ loài Người giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu, và sắc đẹp giảm thiểu nên tuổi thọ loài Người chỉ có một vạn năm và con của họ chỉ có năm ngàn năm.

Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có năm ngàn năm, thì hai pháp hưng thịnh, tức là ác khẩu và nói lời phù phiếm. Khi hai pháp này hưng thịnh, thời tuổi thọ các loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của chúng giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu nên tuổi thọ loài Người chỉ có năm ngàn năm và con của họ một số người sống hai ngàn năm trăm năm, một số người sống hai ngàn năm.

Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có hai ngàn năm trăm năm, tham và sân tăng thịnh. Vì tham và sân tăng thịnh nên tuổi thọ các loài hữu tình giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên tuổi thọ loài Người chỉ có hai ngàn năm trăm năm và các người con chỉ có một ngàn năm.

Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có một ngàn năm thì tà kiến tăng thịnh. Vì tà kiến tăng thịnh, nên tuổi thọ các loài hữu tình giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên tuổi thọ loài Người chỉ có một ngàn năm, và người con chỉ có năm trăm năm.

Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có năm trăm năm, thì ba pháp tăng thịnh: phi pháp dục, phi lý tham và tà kiến. Khi ba pháp này tăng thịnh, thời tuổi thọ của các loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu, tuổi thọ loài Người chỉ có năm trăm năm, còn những người con, một số sống đến hai trăm năm mươi năm, một số sống đến hai trăm năm.

Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có hai trăm năm mươi năm, những pháp sau này tăng thịnh: Thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà la môn, thiếu sự kính trọng đối với các vị cầm đầu trong gia đình.

18. Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh, nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm tăng thịnh; vì đao kiếm tăng thịnh nên sát sanh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh; vì nói láo tăng thịnh nên nói xấu tăng thịnh; vì nói xấu tăng thịnh nên tà hạnh tăng thịnh; vì tà hạnh tăng thịnh nên hai pháp tăng thịnh tức là ác khẩu và nói lời phù phiếm; vì hai pháp này tăng thịnh nên tham, sân tăng thịnh; vì tham, sân tăng thịnh nên tà kiến tăng thịnh; vì tà kiến tăng thịnh nên ba pháp tăng thịnh: phi pháp dục, phi lý tham và tà kiến. Vì ba pháp này tăng thịnh nên các pháp sau đây tăng thịnh: thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà la môn, thiếu sự kính trọng đối với các vị cầm đầu trong gia đình. Vì những pháp này tăng thịnh nên tuổi thọ các loài hữu tình này giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu, vì tuổi thọ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu nên loài Người chỉ sống có hai trăm năm mươi năm, và những người con chỉ có một trăm năm.

5. Khi Con Người Sống Mười Tuổi

Sẽ có một thời, này các Tỷ kheo, khi những người này sẽ có con cái sống được mười tuổi.76 Trong số những người sống được mười tuổi, các cô gái sẽ có thể kết hôn lúc năm tuổi.77 Các hương vị sau đây sẽ biến mất: bơ sữa, bơ, dầu, mật ong, mật đường, và muối. Loại thức ăn tốt nhất sẽ là hạt kê,78 giống như cơm ngon với thịt là loại thức ăn tốt nhất ngày nay.79

Mười cách làm việc thiện sẽ hoàn toàn biến mất, và mười cách làm việc ác sẽ bùng nổ.80 Những người đó thậm chí sẽ không có từ ‘thiện’, huống chi là người làm điều thiện.81 Và bất cứ ai không tôn kính cha mẹ, sa-môn và bà-la-môn, và không tôn trọng những người lớn tuổi trong gia đình sẽ được tôn kính và ca ngợi, giống như điều ngược lại được tôn kính và ca ngợi ngày nay.

Sẽ không có sự công nhận địa vị của mẹ, dì, hoặc vợ và bạn đời của các thầy giáo và những người đáng kính.82 Thế giới sẽ trở nên phóng đãng, giống như dê và cừu, gà và lợn, và chó và chó rừng.83

Họ sẽ đầy thù địch với nhau, với sự tức giận sâu sắc, ác tâm, và ý nghĩ giết người. Ngay cả một người mẹ cũng sẽ cảm thấy như vậy với con mình, và đứa con với mẹ mình, cha với con, con với cha, anh với em gái, và em gái với anh trai. Họ sẽ giống như một người thợ săn hươu khi nhìn thấy một con hươu—đầy thù địch, tức giận, ác tâm, và ý nghĩ giết chóc.

Trong số những người sống được mười tuổi, sẽ có một thời kỳ gươm đao kéo dài bảy ngày.84 Trong thời gian đó, họ sẽ xem nhau như thú vật.85 Những thanh gươm sắc bén sẽ xuất hiện trong tay họ, với chúng họ sẽ lấy mạng sống của nhau, la hét, ‘Đó là một con thú! Đó là một con thú!’

Nhưng rồi một số chúng sanh đó sẽ nghĩ: 'Chúng ta đừng giết cũng đừng bị giết! Tại sao chúng ta không trốn trong cỏ dày, rừng rậm, cây cối rậm rạp, những vùng sông nước khó tiếp cận, hoặc những ngọn núi hiểm trở và sống sót bằng rễ và quả rừng?'86 Và đó là những gì họ làm.

Khi bảy ngày đó trôi qua, sau khi ra khỏi nơi ẩn náu và ôm lấy nhau, họ sẽ cùng nhau cất lên một tiếng khóc,87 'Tuyệt vời, kẻ thù thân mến, bạn còn sống! Tuyệt vời, kẻ thù thân mến, bạn còn sống!'88

19. Này các Tỷ kheo, một thời sẽ đến khi những người con của loài Người chỉ sống đến mười tuổi. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ mười tuổi, con gái đến năm tuổi sẽ lập gia đình. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loại Người chỉ có mười tuổi, các loại sau này sẽ biến mất, tức là tô, lạc, dầu, đường cát và muối. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, loại hột Kudrusa trở thành món ăn tối thượng. Này các Tỷ kheo, như hiện nay cháo thịt là những món ăn tối thượng, cũng vậy này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, loại hột Kudrusa trở thành món ăn tối thượng. Khi tuổi thọ loài người đến mười tuổi, mười thiện hạnh hoàn toàn biến mất và mười bất thiện hạnh tăng thịnh tối đa. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài người đến mười tuổi, chữ thiện cũng sẽ không còn, nói gì ai là người làm điều thiện? Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, những ai thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự hiếu kính đối với Sa môn, Bà-la-môn, thiếu sự cung kính đối với người cầm đầu trong gia đình, những người ấy sẽ được người ta lễ bái, tán dương. Này các Tỷ kheo, như hiện nay những ai hiếu hính với cha mẹ, kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính đối với những người cầm đầu trong gia đình, những người ấy được người ta lễ bái tán dương. Cũng vậy này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, những ai thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà-la-môn, thiếu sự cung kính đối với các vị cầm đầu trong gia đình, những người ấy được người ta lễ bái tán dương.

20. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, không có phân biệt mẹ hay bá mẫu hay thúc mẫu, vợ con của sư trưởng, chị dâu của cha. Thế giới rơi vào thông dâm như dê, gà, heo, chó và chó rừng. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, các loài hữu tình đối với nhau, hại tâm rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt. Mẹ đối với con, con đối với mẹ, cha đối với con, con đối với cha, anh đối với em, em đối với anh, em đối với chị, chị đối với em, hại tâm rất mãnh liệt, sân tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt. Này các Tỷ kheo, như người thợ săn khi thấy loài thú, hại tâm rất mãnh liệt khởi lên, sân tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt khởi lên. Cũng vậy này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, các loài hữu tình đối với nhau, hại tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt.

21. Này các tỷ kheo, khi loài Người tuổi thọ chỉ có mười tuổi đao trượng kiếp khởi lên trong bảy ngày, trong thời gian ấy họ xem nhau như loài thú, dao kiếm sắc bén hiện ra trong tay của họ. Với dao kiếm sắc bén ấy họ tàn hại mạng nhau, xem nhau như loài thú. Này các Tỷ kheo, giữa các loài hữu tình ấy, một số suy nghĩ: “Chúng ta chớ giết ai; mong đừng ai giết chúng ta. Chúng ta hãy đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc hay kẽ núi và sống với rễ và trái cây”. Họ đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc, hay kẽ núi đi ra, ôm lấy nhau, cùng nhau an ủi, khoan khoái nói với nhau: “Sung sướng thay được thấy bạn còn sống! Sung sướng thay được thấy bạn còn sống!”

6. Thời Kỳ Tăng Trưởng

Bấy giờ những chúng sanh đó sẽ nghĩ: 'Chính vì chúng ta đã làm những điều bất thiện mà chúng ta phải chịu sự mất mát to lớn về người thân như vậy. Chúng ta nên làm điều thiện. Chúng ta nên làm điều thiện gì? Tại sao chúng ta không từ bỏ việc giết hại chúng sanh? Sau khi đã thực hành điều thiện này, chúng ta sẽ sống theo nó.'89 Và đó là những gì họ làm. Nhờ thực hành điều thiện này, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ sẽ tăng lên. Những người sống được mười tuổi sẽ có con cái sống được hai mươi tuổi.

Bấy giờ những chúng sanh đó sẽ nghĩ: ‘Nhờ thực hành điều thiện này, tuổi thọ và vẻ đẹp của chúng ta đang tăng lên. Tại sao chúng ta không làm nhiều điều thiện hơn nữa? Chúng ta nên làm điều thiện gì? Tại sao chúng ta không từ bỏ trộm cắp… tà dâm… nói dối… nói đâm thọc… lời nói ác độc… và lời nói vô nghĩa. Tại sao chúng ta không từ bỏ lòng tham… tức giận… tà kiến… ba điều: ham muốn bất chính, tham lam vô đạo đức, và tập tục sai lầm. Tại sao chúng ta không tôn kính cha mẹ, sa-môn và bà-la-môn, tôn trọng những người lớn tuổi trong gia đình? Sau khi đã thực hành điều thiện này, chúng ta sẽ sống theo nó.’ Và đó là những gì họ làm.

Nhờ thực hành điều thiện này, tuổi thọ và vẻ đẹp của họ sẽ tăng lên. Những người sống được hai mươi tuổi sẽ có con cái sống được bốn mươi tuổi. Những người sống được bốn mươi tuổi sẽ có con cái sống được tám mươi tuổi, rồi một trăm sáu mươi tuổi, ba trăm hai mươi tuổi, sáu trăm bốn mươi tuổi, 2.000 năm, 4.000 năm, 8.000 năm, 20.000 năm, 40.000 năm, và cuối cùng là 80.000 năm. Trong số những người sống được 80.000 năm, các cô gái sẽ có thể kết hôn lúc năm trăm tuổi.

Này các Tỷ kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: “Vì chúng ta tạo nhân bất thiện pháp nên bà con chúng ta bị giết hại nhiều như vậy. Vậy chúng ta hãy làm điều thiện. Chúng ta làm điều thiện như thế nào? Chúng ta chớ có sát sanh. Ðó là điều thiện chúng ta có thể làm”. “Chúng ta sẽ không sát sanh”, đó là điều thiện họ làm. Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ của họ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vì tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp đựoc tăng thịnh, nên tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi nhưng con của họ, thọ đến hai mươi tuổi.

22. Này các Tỷ kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: “Chúng ta nhờ hành thiện pháp làm nhân, nên tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vậy chúng ta hãy làm việc thiện nhiều hơn nữa. Chúng ta hãy gìn giữ không lấy của không cho, gìn giữ không làm các tà hạnh, gìn giữ không nói láo, gìn giữ không nói hai lưỡi, gìn giữ không ác khẩu, gìn giữ không nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ tà kiến, tà bỏ ba pháp tức là phi phápc dục, phi lý tham và tà kiến. Chúng ta hãy hiếu kính cha mẹ, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu trong gia đình. Chúng ta hãy thực hành thiện pháp ấy.”

Họ hiếu kính mẹ, hiếu kính cha, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu ở trong gia đình, họ sẽ thực hành thiện pháp này. Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ tăng thịnh, sắc đẹp tăng thịnh. Vì tuổi thọ họ tăng thịnh và sắc đẹp tăng thịnh, tuổi thọ loài Người đến hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến bốn mươi tuổi. Tuổi thọ loài người lên đến bốn mươi tuổi và các người con sẽ lên đến tám mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám mươi tuổi và các người con sẽ lên đến một trăm sáu mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến một trăm sáu mươi tuổi và các người con sẽ lên đến ba trăm hai mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến ba trăm hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi và các con sẽ lên đến hai ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến bốn ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến tám ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám ngàn tuổi và các con sẽ lên đên hai vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai vạn tuổi các người con sẽ lên đến bốn vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn vạn tuổi và các người con sẽ lên tám vạn tuổi.

7. Thời của Vua Saṅkha

Trong số những người sống được 80.000 năm, sẽ chỉ có ba nỗi khổ: tham lam, đói khát, và tuổi già.90 Vùng đất Cây Mận Đen sẽ thành công và thịnh vượng. Các làng mạc, thị trấn, và kinh đô sẽ không xa hơn một quãng gà bay. Và vùng đất sẽ đầy người đến nỗi bạn nghĩ rằng họ bị chen chúc với nhau, như một bụi sậy hay lau sậy. Kinh đô sẽ là Varanasi, được đổi tên thành Ketumatī. Và nó sẽ thành công, thịnh vượng, đông dân, đầy người, với nhiều lương thực.91 Sẽ có 84.000 thành phố ở vùng đất Cây Mận Đen, với kinh đô Ketumatī là hàng đầu.

Và tại kinh đô Ketumatī, một vị vua tên là Saṅkha sẽ xuất hiện, một vị vua Chuyển luân, một vị vua công chính và đúng theo Chánh pháp. Vương quốc của ngài sẽ trải rộng khắp bốn phương, ngài sẽ thiết lập sự ổn định trong nước, và sở hữu bảy báu vật.92 Ngài sẽ có bảy báu vật sau: bánh xe, voi, ngựa, ngọc, người nữ, người gia chủ, và vị chỉ huy là báu vật thứ bảy. Ngài sẽ có hơn một ngàn người con trai dũng mãnh và anh hùng, đè bẹp quân đội của kẻ thù. Sau khi chinh phục vùng đất được biển bao bọc này, ngài sẽ trị vì bằng Chánh pháp, không dùng đến roi vọt hay gươm đao.

23. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người kên đến tám vạn tuổi, các người con gái đến năm trăm tuổi có thể thành lập gia đình. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn tuổi, ba chứng bệnh sau đây có mặt: lòng dục, tham ăn và già. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này (Diêm phù đề) sẽ rất hùng mạnh và phong phú. Các làng mạc, tỉnh thành, kinh đô ở sát nhau đến nổi con gà gáy bên này, bên kia có thể nghe được! Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này như sẽ rất phồn thịnh với người Avidi (A-tỷ Ðịa ngục), giống như rừng lau hay rừng sậy. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, thành phố Baranasi này (Ba-la-nại) là kinh đô tên gọi Ketumati, rất là hùng mạnh, phong phú, đông dân cư và ăn uống đầy đủ. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi tại nước Jambudìpa này, sẽ có tám vạn bốn ngàn thành phố và Ketumati sẽ là kinh đô tối thượng.

24. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, ở kinh đô Ketumati, có vị Chuyển luân Thánh vương tên là Sankha ra đời, là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, cai trị các quốc độ, và đầy đủ bảy món báu, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch, vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị quốc, không dùng trượng, không dùng kiếm.

8. Sự Xuất Hiện của Đức Phật Di Lặc

Và Đức Thế Tôn tên là Di Lặc (Metteyya) sẽ xuất hiện trên thế gian—bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn—93 giống như Ta đã xuất hiện ngày nay.94 Ngài sẽ tự mình chứng ngộ thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và các vị thần—dân chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và con người—và làm cho người khác biết đến, giống như Ta làm ngày nay. Ngài sẽ giảng dạy Giáo pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời văn hay. Và Ngài sẽ tiết lộ một con đường tu tập hoàn toàn đầy đủ và trong sạch, giống như Ta làm ngày nay. Ngài sẽ lãnh đạo một Tăng đoàn gồm nhiều ngàn vị Tỷ kheo, giống như Ta lãnh đạo một Tăng đoàn gồm nhiều trăm vị ngày nay.95

Bấy giờ vua Saṅkha sẽ cho dựng lại cây cột tế lễ từng được vua Mahāpanāda xây dựng.96 Sau khi trị vì, ngài sẽ thoái vị, bố thí cho các sa-môn và bà-la-môn, người nghèo, người lang thang, người cầu xin, và người ăn xin. Rồi, sau khi cạo bỏ râu tóc và mặc y vàng, ngài sẽ từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia không nhà trước sự hiện diện của Đức Phật Di Lặc.97 Ngay sau khi xuất gia, sống ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí, ngài sẽ chứng ngộ mục đích tối thượng của con đường tu tập ngay trong đời này. Ngài sẽ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ mục tiêu mà vì đó những người con trai của các gia đình chân chính từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia không nhà.

Này các Tỷ kheo, hãy sống tự mình là hòn đảo cho chính mình, tự mình là nơi nương tựa cho chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy lấy Giáo pháp làm hòn đảo, lấy Giáo pháp làm nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác. Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Đó là khi một Tỷ kheo thiền định bằng cách quan sát một phương diện của thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, gạt bỏ tham ái và ưu bi ở đời. Vị ấy thiền định bằng cách quan sát một phương diện của các cảm thọ… của tâm… của các pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, gạt bỏ tham ái và ưu bi ở đời. Đó là cách một Tỷ kheo sống tự mình là hòn đảo, tự mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách vị ấy lấy Giáo pháp làm hòn đảo và nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác.

25. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời, là vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơ Sư, Phật, Thế Tôn; như Ta nay sanh ra ở đời này, là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị này tự mình biết, chứng, và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời, loài Người; như Ta hiện nay tự mình biết, chứng và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời và loài Người. Vị này sẽ thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; như Ta hiện nay thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hành hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Vị này sẽ có khoảng vài ngàn vị Tỷ kheo Tăng đoàn; như Ta hiện nay có khoảng vài trăm vị Tỷ kheo Tăng đoàn vậy.

26. Này các Tỷ kheo, vua Sankha sẽ cho thiết lập cung điện mà vùa Mahà Panada đã thiết lập. Sau khi thiết lập, vua trú tại đó. Sau vua lại bố thí cung điện ấy, dâng cúng cho các vị Sa môn, Bà-la-môn, các hàng bần cùng, du đảng, ăn xin, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn Metteyya, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Vị này xuất gia như vậy, sống một mình, biệt lập, tinh tấn, trì chú, chuyên tâm, chẳng bao lâu chứng được vô thượng phạm hạnh, mà vì mục đích này các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Với vô thượng phạm hạnh này, ngay trong hiện tại, vị này tự tu, tự chứng, đạt đến và an trú.

27. Này các Tỷ kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác. Này các Tỷ kheo, thế nào là một Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên tự thân, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để diệt trừ tham ưu ở đời, trên các cảm thọ… trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để có thể diệt trừ tham ưu ở đời. Như vậy này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.

9. Về Tuổi Thọ và Vẻ Đẹp của Tỷ Kheo

Này các Tỷ kheo, các ông nên đi trong lãnh địa của chính mình, trong phạm vi của tổ tiên. Làm như vậy, các ông sẽ tăng trưởng về tuổi thọ, vẻ đẹp, hạnh phúc, tài sản, và quyền lực.

Và tuổi thọ của một Tỷ kheo là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển nền tảng thần thông có sự nhập định do lòng nhiệt thành, và nỗ lực tích cực. Vị ấy phát triển nền tảng thần thông có sự nhập định do năng lượng, và nỗ lực tích cực. Vị ấy phát triển nền tảng thần thông có sự nhập định do sự phát triển tâm, và nỗ lực tích cực. Vị ấy phát triển nền tảng thần thông có sự nhập định do sự tìm tòi, và nỗ lực tích cực. Sau khi đã phát triển và tu tập bốn nền tảng thần thông này, nếu muốn, vị ấy có thể sống hết tuổi thọ thích hợp hoặc phần còn lại của nó. Đây là tuổi thọ của một Tỷ kheo.

Và vẻ đẹp của một Tỷ kheo là gì? Đó là khi một Tỷ kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), được chế ngự trong giới luật tu viện, hành xử tốt và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi lầm nhỏ nhất, vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ nhận. Đây là vẻ đẹp của một Tỷ kheo.

Và hạnh phúc của một Tỷ kheo là gì? Đó là khi một Tỷ kheo, hoàn toàn ly tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan), ly các pháp bất thiện, nhập và trú vào thiền thứ nhất, có niềm vui và sự an ổn do ly dục sinh, có tầm có tứ(placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó). Khi tầm và tứ được lắng dịu, vị ấy nhập và trú vào thiền thứ hai… thiền thứ ba… thiền thứ tư. Đây là hạnh phúc của một Tỷ kheo.

Và tài sản của một Tỷ kheo là gì? Đó là khi một Tỷ kheo thiền định, lan tỏa một trái tim đầy tình thương đến một phương, rồi đến phương thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Tương tự như vậy, trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, vị ấy lan tỏa một trái tim đầy tình thương đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không hận thù và không tức giận. Vị ấy thiền định, lan tỏa một trái tim đầy lòng bi… hỷ… xả đến một phương, rồi đến phương thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Tương tự như vậy, trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, vị ấy lan tỏa một trái tim đầy lòng xả đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không hận thù và không tức giận. Đây là tài sản của một Tỷ kheo.

Và quyền lực của một Tỷ kheo là gì? Đó là khi một Tỷ kheo chứng ngộ sự giải thoát tâm và giải thoát bằng trí tuệ không còn ô nhiễm ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự chấm dứt các lậu hoặc. Đây là quyền lực của một Tỷ kheo.

Này các Tỷ kheo, Ta không thấy một quyền lực nào khó đánh bại như quyền lực của Ma vương. Chính nhờ thực hành các phẩm chất thiện lành mà công đức tăng trưởng."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói.

28. Này các Tỷ kheo, hãy đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại. Này các Tỷ kheo, nếu các Ngươi đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại thời tuổi thọ sẽ được tăng thịnh, sắc đẹp sẽ được tăng thịnh, an lạc sẽ được tăng thịnh, tài sản sẽ được tăng thịnh, thế lực sẽ được tăng thịnh.

Này các Tỷ kheo, như thế nào vị Tỷ kheo tuổi thọ được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo tu tập thần túc, đầy đủ Dục thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc, đầy đủ Tinh tấn thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tâm định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tư duy thiền định tinh cần hành. Vị này tu tập bốn pháp thần túc này một cách tinh cần, nếu muốn sống kéo dài một kiếp hay năm còn lại của một kiếp. Này các Tỷ kheo, như vậy Ta nói vị Tỷ kheo tuổi thọ được tăng thịnh.

Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo sắc đẹp được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo sống giữ giới luật, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa), đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sắc đẹp được tăng thịnh.

Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo an lạc được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ; diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ… chứng và trú Thiền thứ ba… chứng và trú Thiền thứ tư. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo an lạc được tăng thịnh.

Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo tài sản được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân, với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo, tài sản được tăng thịnh.

Này các Tỷ kheo, như thế nào là vị Tỷ kheo thế lực được tăng thịnh? Này các tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo, với sự diệt tận các lậu hoặc, tự mình biết và chứng, đạt đến an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn các lậu hoặc. Này các Tỷ kheo, như vậy là vị Tỷ kheo thế lực được tăng thịnh.

Này các Tỷ kheo, ta quán sát và thấy không có một uy lực nào khác khó nhiếp phục hơn uy lực của Ma vương. Này các Tỷ kheo, chính nhờ chấp nhận và thực hành những thiện pháp ấy mà công đức này được tăng thịnh!

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn.

-ooOoo-