Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 27. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn

Aggaññasutta

Như vầy tôi nghe.98 Một thời, Đức Phật trú gần thành Sāvatthī, tại Lộc Tử Mẫu Giảng Đường trong Tu viện phía Đông.99

Lúc bấy giờ, Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang sống như những người tập sự giữa các Tỷ kheo với hy vọng được thọ giới.100 Rồi vào buổi chiều, Đức Phật từ giảng đường đi xuống và đang đi kinh hành ngoài trời, dưới bóng của giảng đường.

Vāseṭṭha thấy Ngài101 và nói với Bhāradvāja, “Thưa hiền giả Bhāradvāja, Đức Phật đang đi kinh hành ngoài trời, dưới bóng của giảng đường. Nào, thưa hiền giả, chúng ta hãy đến chỗ Đức Phật. Hy vọng chúng ta sẽ được nghe một bài Pháp thoại từ Ngài.”

“Vâng, thưa hiền giả,” Bhāradvāja đáp.

Thế là họ đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, và đi bên cạnh Ngài.

Rồi Đức Phật nói với Vāseṭṭha, “Này Vāseṭṭha, cả hai con đều là người Bà-la-môn về dòng dõi và gia tộc, và đã từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà cửa từ một gia đình Bà-la-môn. Ta hy vọng các con không phải chịu đựng sự lăng mạ và sỉ nhục từ những người Bà-la-môn.”

“Thưa Ngài, thật ra, những người Bà-la-môn có sỉ nhục và lăng mạ chúng con bằng những lời sỉ nhục điển hình của họ một cách thậm tệ nhất.”

“Nhưng những người Bà-la-môn sỉ nhục các con như thế nào?”

“Thưa Ngài, những người Bà-la-môn nói rằng: ‘Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp cao nhất; các giai cấp khác là hạ đẳng.102 Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp thanh bạch; các giai cấp khác là hắc ám.103 Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, không phải các hạng người khác.104 Chỉ có Bà-la-môn là những người con chân chính của Phạm Thiên, sinh ra từ miệng ngài, do Phạm Thiên sinh, do Phạm Thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm Thiên. Cả hai ngươi đã từ bỏ giai cấp cao nhất để gia nhập một giai cấp hạ đẳng, tức là bọn đầu trọc, sa-môn giả, hạng người hạ tiện, những đứa con đen đúa sinh ra từ chân của bà con chúng ta.105 Điều này không đúng, không phải lẽ!’ Đó là cách những người Bà-la-môn sỉ nhục chúng con.”

"Thật ra, này Vāseṭṭha, những người Bà-la-môn đang quên đi truyền thống của họ khi nói điều này với các con. Vì người ta vẫn thấy những người phụ nữ Bà-la-môn có kinh nguyệt, mang thai, sinh con, và cho con bú.106 Tuy nhiên, dù được sinh ra từ bụng mẹ Bà-la-môn, họ vẫn nói: ‘Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp cao nhất; các giai cấp khác là hạ đẳng. Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp thanh bạch; các giai cấp khác là hắc ám. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, không phải các hạng người khác. Chỉ có Bà-la-môn là những người con chân chính của Phạm Thiên, sinh ra từ miệng ngài, do Phạm Thiên sinh, do Phạm Thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm Thiên.’ Họ xuyên tạc về người Bà-la-môn, nói lời gian dối, và tạo ra nhiều điều ác.

27. KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN

(Agganna Sutta)

Như vầy tôi nghe:

1. Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), Pubbàràma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vàsettha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.

2. Vàsettha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vàsettha nói với Bhàradvàja:

− Này bạn Bhàradvàja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bhàradvàja, chúng ta hãy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn.

− Thưa vâng, Hiền giả!

Bhàradvàja vâng theo lời Vàsettha. Rồi cả Vàsettha và Bhàradvàja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.

3. Rồi Thế Tôn nói với Vàsettha:

− Này Vàsettha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vàsettha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?

− Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

− Này Vàsettha, các vị Bà-la-môn dùng lời lẽ như thế nào để chỉ trích các Ngươi, phỉ báng các Ngươi, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện?

− Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên. Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện - giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân. Làm vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiệt, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân”. Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

4. - Này Vàsettha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cáp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên”. Này Vàsettha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng… là con cháu thừa tự của Phạm thiên”.

1. Sự Thanh Tịnh trong Bốn Giai Cấp

Này Vāseṭṭha, có bốn giai cấp này: quý tộc, Bà-la-môn, nông dân, và tiện dân. Một số người quý tộc sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Họ dùng lời nói dối trá, chia rẽ, thô ác, và vô ích. Và họ tham lam, ác ý, với tà kiến. Những điều này là bất thiện, đáng chê trách, không nên tu tập, không xứng với bậc thánh—và được xem là như vậy. Chúng là những hành vi đen tối với kết quả đen tối, bị người có trí tuệ chỉ trích. Những điều như vậy thể hiện ở một số người quý tộc.107 Và chúng cũng được thấy ở một số người Bà-la-môn, nông dân, và tiện dân.

Nhưng một số người quý tộc từ bỏ sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Họ từ bỏ lời nói dối trá, chia rẽ, thô ác, và vô ích. Và họ biết đủ, có lòng từ, với chánh kiến. Những điều này là thiện, không đáng chê trách, nên tu tập, xứng với bậc thánh—và được xem là như vậy. Chúng là những hành vi trong sáng với kết quả trong sáng, được người có trí tuệ tán thán. Những điều như vậy thể hiện ở một số người quý tộc. Và chúng cũng được thấy ở một số người Bà-la-môn, nông dân, và tiện dân.

Cả hai điều này xảy ra như vậy, trộn lẫn trong bốn giai cấp này—điều đen tối và điều trong sáng, điều được tán thán và điều bị người có trí tuệ chỉ trích. Tuy nhiên, về điều này, những người Bà-la-môn nói: ‘Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp cao nhất; các giai cấp khác là hạ đẳng. Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp thanh bạch; các giai cấp khác là hắc ám. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, không phải các hạng người khác. Chỉ có Bà-la-môn là những người con chân chính của Phạm Thiên, sinh ra từ miệng ngài, do Phạm Thiên sinh, do Phạm Thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm Thiên.’

Người có trí tuệ không công nhận điều này. Tại sao vậy? Bởi vì bất kỳ Tỷ kheo nào từ bốn giai cấp này mà đã chứng đắc A-la-hán—với các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tinh thần) đã tận, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm những gì cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu của mình, đã hoàn toàn đoạn tận hữu kiết sử (fetter of continued existence / sợi dây ràng buộc vào sự tồn tại), và được giải thoát một cách chân chính nhờ trí tuệ viên mãn—thì được xem là tối thượng nhờ vào Pháp, chứ không phải trái với Pháp.108 Vì Pháp, này Vāseṭṭha, là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

Và đây là cách để hiểu tại sao lại như vậy.

Vua Pasenadi của xứ Kosala biết rằng sa-môn Gotama đã xuất gia từ dòng họ Thích-ca lân cận. Và người Thích-ca là thần dân của vua.109 Người Thích-ca thể hiện sự tôn kính đối với Vua Pasenadi bằng cách cúi đầu, đứng dậy, chắp tay chào, và tuân thủ các nghi thức phù hợp với vua. Giờ đây, Vua Pasenadi cũng thể hiện sự tôn kính tương tự đối với Như Lai. Nhưng vua không nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama xuất thân cao quý, ta xuất thân hèn kém.110 Ngài có quyền lực, ta yếu thế. Ngài đẹp đẽ, ta xấu xí. Ngài có ảnh hưởng, ta tầm thường.’ Thay vào đó, khi thể hiện sự tôn kính như vậy đối với Như Lai, vua chỉ đang tôn vinh, kính trọng, và sùng kính Pháp. Và đây là một cách khác để hiểu tại sao Pháp là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

Này Vāseṭṭha, các con có dòng dõi, tên họ, gia tộc, và gia đình khác nhau, nhưng đã từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà cửa.111 Khi người ta hỏi các con là ai, các con tự nhận mình là những sa-môn theo dòng Thích-ca. Nhưng chỉ khi một người có niềm tin vào Như Lai—vững chắc, bám rễ sâu, mạnh mẽ, không thể bị lay chuyển bởi bất kỳ sa-môn, Bà-la-môn, thần linh, Ma vương, hay bất kỳ ai trên thế gian—thì người đó mới thích hợp để nói rằng: 'Tôi là người con chân chính của Đức Phật, sinh ra từ miệng Ngài, sinh ra từ Pháp, được tạo ra bởi Pháp, là người thừa tự của Pháp.'112 Tại sao vậy? Vì đây là những danh xưng của Như Lai: ‘hiện thân của Pháp’, và ‘hiện thân của Phạm Thiên’, và ‘biểu hiện của Pháp’, và ‘biểu hiện của Phạm Thiên’.113

Có một thời điểm, này Vāseṭṭha, sau một thời gian rất dài trôi qua, thế giới này co lại.114 Khi thế giới co lại, chúng sanh hầu hết hướng về Quang Âm Thiên (realm of streaming radiance / cõi trời của các vị trời có ánh sáng rực rỡ). Ở đó, họ do ý tạo thành, nuôi sống bằng niềm vui, tự mình phát sáng, bay đi trong không trung, vinh quang bền vững, và họ cứ như vậy trong một thời gian rất dài.

Có một thời điểm, sau một thời gian rất dài trôi qua, thế giới này giãn ra. Khi thế giới giãn ra, chúng sanh hầu hết từ cõi trời quang âm ấy mệnh chung và trở lại cõi này.115 Ở đây, họ do ý tạo thành, nuôi sống bằng niềm vui, tự mình phát sáng, bay đi trong không trung, vinh quang bền vững, và họ cứ như vậy trong một thời gian rất dài.116

5. Này Vàsettha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la). Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha có người Bà-la-môn… Này Vàsettha có người Phệ xá… Này Vàsettha, có người Thủ đà la sát sanh… có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện… là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

6. Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha, có người Bà-la-môn… Này Vàsettha, có người Phệ xá… Này Vàsettha, có người Thủ đà la không sát sanh… không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

7. Này Vàsettha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn gai cấp này, nên ở đây, những Bà-la-môn nào nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên.” Các vị có trí không thể chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Vàsettha, vì rằng nếu có ai trông bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát, vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp, không phải không xứng với Pháp. Này Vàsettha, Phàp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

8. Này Vàsettha, đây là một chứng minh điển hình để biết vì sao Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

Này Vàsettha, vua Pasenadi (Ba tư nặc) nước Kosala biết rằng: “Sa môn Gotama xuất gia từ giòng họ liên hệ Sàkyà tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với vua Pasenadi nước Kosala rất lễ độ phải phép. Cũng vậy vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép, vì vua nghĩ: “Có phải Sa môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh; Sa môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa môn Gotama có dáng mặt đẹp đẽ, còn ta có dáng mặt thô xấu; Sa môn Gotama là vị có nhiều thế lực, còn ta ít có thế lực?” Vì rằng vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, kính lễ Pháp nên vua tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép. Này Vàsettha, với chứng minh điển hình này, cần hiểu như thế nào Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

9. Này Vàsettha, các Ngươi, sanh sai biệt, danh sai biệt, tánh sai biệt, gia hệ sai biệt, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu có ai hỏi: “Các vị là ai?”, các Ngươi cần trả lời: “Chúng tôi là Sa môn, dưới sự lãnh đạo của Thích ca tử”. Này Vàsettha, ai có lòng tin Như Lai, lòng tin ấy được an trí, có căn đế, an trú và chắc chắn, một lòng tin không bị lôi kéo bởi Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một vị nào ở trên đời, vị ấy có thể nói: “Ta là con chính tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp tạo ra, là con cháu thừa tự của Pháp.” Vì sao vậy? Này Vàsettha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể.

10. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.

2. Vị Đất Xuất Hiện

Nhưng khối nước duy nhất vào thời điểm đó hoàn toàn tối tăm.117 Mặt trăng và mặt trời không được tìm thấy, cũng không có các vì sao và chòm sao, ngày và đêm, tháng và nửa tháng, năm và mùa, hay nam và nữ. Chúng sanh chỉ được biết đến là ‘chúng sanh’.118 Sau một thời gian rất dài trôi qua, vị đất đông lại trong nước.119 Nó xuất hiện giống như lớp váng trên mặt cháo sữa nóng khi nguội đi. Nó đẹp, thơm, và ngon, như bơ lỏng hay bơ đặc. Và nó ngọt như mật ong rừng nguyên chất.120 Bấy giờ, một trong những chúng sanh đó đã tùy tiện. Nghĩ rằng, ‘Ồ, đây có thể là gì nhỉ?’ họ nếm vị đất bằng ngón tay của mình.121 Họ thích thú, và lòng tham ái sinh khởi trong họ.122 Và các chúng sanh khác, theo gương chúng sanh đó, nếm vị đất bằng ngón tay của họ. Họ cũng thích thú, và lòng tham ái sinh khởi trong họ.

11. Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.

3. Mặt Trăng và Mặt Trời Xuất Hiện

Rồi những chúng sanh đó bắt đầu ăn vị đất, bẻ nó thành từng miếng. Nhưng khi họ làm điều này, ánh sáng của họ biến mất. Và với sự biến mất của ánh sáng, mặt trăng và mặt trời xuất hiện, các vì sao và chòm sao xuất hiện, ngày và đêm được phân biệt, và cả tháng và nửa tháng, năm và mùa cũng vậy. Thế giới đã tiến hóa trở lại đến mức đó.

Rồi những chúng sanh đó ăn vị đất, với đó làm thức ăn và dưỡng chất, tồn tại trong một thời gian rất dài. Nhưng chừng nào họ còn ăn vị đất đó, thân thể họ trở nên rắn chắc hơn và họ khác biệt về ngoại hình; một số đẹp, một số xấu. Và những chúng sanh đẹp nhìn xuống những người xấu xí:123 ‘Chúng ta đẹp hơn, chúng là những kẻ xấu xí!’ Và lòng kiêu mạn của những người đẹp đã làm cho vị đất biến mất. Họ tụ tập lại và than thở, ‘Ôi, thật là một hương vị! Ôi, thật là một hương vị!’ Và ngay cả ngày nay khi người ta có được thứ gì ngon, họ cũng nói: ‘Ôi, thật là một hương vị! Ôi, thật là một hương vị!’ Họ chỉ đang nhớ lại một câu nói cổ xưa từ thời nguyên thủy, nhưng họ không hiểu ý nghĩa của nó.124

12. Này Vàsettha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: “Kìa xem, vật này là gì vậy?”, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vàsettha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất. Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vàsettha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.

13. Này Vàsettha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!”, như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!” Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

4. Nấm Đất

Khi vị đất đã biến mất, nấm đất xuất hiện với những chúng sanh đó.125 Nó xuất hiện giống như một cây nấm. Nó đẹp, thơm, và ngon, như bơ lỏng hay bơ đặc. Và nó ngọt như mật ong rừng nguyên chất.

Rồi những chúng sanh đó bắt đầu ăn nấm đất. Với đó làm thức ăn và dưỡng chất, họ tồn tại trong một thời gian rất dài. Nhưng chừng nào họ còn ăn nấm đất đó, thân thể họ trở nên rắn chắc hơn và họ khác biệt về ngoại hình; một số đẹp, một số xấu. Và những chúng sanh đẹp nhìn xuống những người xấu xí: ‘Chúng ta đẹp hơn, chúng là những kẻ xấu xí!’ Và lòng kiêu mạn của những người đẹp đã làm cho nấm đất biến mất.

5. Cây Leo Bám

Khi nấm đất đã biến mất, cây leo bám xuất hiện, giống như quả của cây kadam.126 Chúng đẹp, thơm, và ngon, như bơ lỏng hay bơ đặc. Và chúng ngọt như mật ong rừng nguyên chất.

Rồi những chúng sanh đó bắt đầu ăn cây leo bám. Với đó làm thức ăn và dưỡng chất, họ tồn tại trong một thời gian rất dài. Nhưng chừng nào họ còn ăn những cây leo bám đó, thân thể họ trở nên rắn chắc hơn và họ khác biệt về ngoại hình; một số đẹp, một số xấu. Và những chúng sanh đẹp nhìn xuống những người xấu xí: ‘Chúng ta đẹp hơn, chúng là những kẻ xấu xí!’ Và lòng kiêu mạn của những người đẹp đã làm cho cây leo bám biến mất.

Họ tụ tập lại và than thở, ‘Ôi, chúng ta đã mất gì! Ôi, chúng ta đã mất gì—những cây leo bám đó!’ Và ngay cả ngày nay khi người ta trải qua đau khổ, họ nói: ‘Ôi, chúng ta đã mất gì! Ôi, chúng ta đã mất gì!’ Họ chỉ đang nhớ lại một câu nói cổ xưa từ thời nguyên thủy, nhưng họ không hiểu ý nghĩa của nó.

14. Này Vàsettha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vàsettha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đát. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thanh cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta”. Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.

15. Này Vàsettha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì những hữu tình này bắt đàu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!”; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!” Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

6. Lúa Chín Mọc Tự Nhiên

Khi cây leo bám đã biến mất, lúa chín mọc tự nhiên xuất hiện với những chúng sanh đó. Nó không có cám hay trấu, tinh khiết và thơm, chỉ có hạt gạo. Những gì họ lấy cho bữa tối, đến sáng hôm sau đã mọc lại và chín. Và những gì họ lấy cho bữa sáng, đến chiều đã mọc lại và chín, không để lại dấu vết nào. Rồi những chúng sanh đó ăn lúa chín mọc tự nhiên, với đó làm thức ăn và dưỡng chất, tồn tại trong một thời gian rất dài.

7. Tình Dục Xuất Hiện

Nhưng chừng nào họ còn ăn lúa chín mọc tự nhiên đó, thân thể họ trở nên rắn chắc hơn và họ khác biệt về ngoại hình. Và nữ tính xuất hiện ở người nữ, trong khi nam tính xuất hiện ở người nam.127 Phụ nữ dành quá nhiều thời gian nhìn ngắm đàn ông, và đàn ông nhìn ngắm phụ nữ. Họ trở nên dục vọng, và thân thể họ bừng cháy vì ham muốn. Do ham muốn này, họ đã quan hệ tình dục với nhau.

Những người thấy họ quan hệ tình dục đã ném đất, cục đất, hoặc phân bò vào họ, nói rằng,128 'Cút đi, đồ dơ bẩn! Cút đi, đồ dơ bẩn! 129 Làm sao một chúng sanh lại có thể làm điều đó với một chúng sanh khác?'130 Và ngay cả ngày nay, ở một số quốc gia, khi rước dâu, người ta ném đất, cục đất, hoặc phân bò vào cô dâu.131 Họ chỉ đang nhớ lại một câu nói cổ xưa từ thời nguyên thủy, nhưng họ không hiểu ý nghĩa của nó.

16. Này Vàsettha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Này Vàsettha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm. Này Vàsettha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: “Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?”; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

8. Giao Hợp

Điều được coi là phi pháp vào thời đó, ngày nay lại được coi là hợp pháp.132 Những chúng sanh giao hợp với nhau không được phép vào làng hay thị trấn trong một hoặc hai tháng. Kể từ khi họ quá sa đà vào sự vô đạo đức, họ bắt đầu xây nhà để che giấu những hành vi vô đạo đức của mình.133 Rồi một trong những chúng sanh có tính lười biếng nghĩ rằng, 'Này, tại sao ta phải bận tâm đi lấy gạo vào buổi tối cho bữa tối, và vào buổi sáng cho bữa sáng? Sao ta không lấy gạo cho cả bữa tối và bữa sáng cùng một lúc?'134

Thế là người đó đã làm vậy. Rồi một chúng sanh khác đến gần chúng sanh đó và nói, ‘Nào, bạn hiền, chúng ta hãy đi lấy gạo.’ ‘Không cần đâu, bạn hiền! Tôi đã lấy gạo cho cả bữa tối và bữa sáng cùng một lúc rồi.’ Thế là chúng sanh kia, theo gương họ, đã lấy gạo cho hai ngày cùng một lúc, nghĩ rằng: 'Điều này có vẻ ổn.'135

Rồi một chúng sanh khác đến gần chúng sanh đó và nói, ‘Nào, bạn hiền, chúng ta hãy đi lấy gạo.’ ‘Không cần đâu, bạn hiền! Tôi đã lấy gạo cho hai ngày cùng một lúc rồi.’ Thế là chúng sanh kia, theo gương họ, đã lấy gạo cho bốn ngày cùng một lúc, nghĩ rằng: ‘Điều này có vẻ ổn.’

Rồi một chúng sanh khác đến gần chúng sanh đó và nói, ‘Nào, bạn hiền, chúng ta hãy đi lấy gạo.’ ‘Không cần đâu, bạn hiền! Tôi đã lấy gạo cho bốn ngày cùng một lúc rồi.’ Thế là chúng sanh kia, theo gương họ, đã lấy gạo cho tám ngày cùng một lúc, nghĩ rằng: ‘Điều này có vẻ ổn.’

Nhưng khi họ bắt đầu tích trữ gạo để ăn, hạt gạo bị bọc trong cám và trấu, nó không mọc lại sau khi gặt, để lại dấu vết, và lúa mọc thành từng cụm.136

17. Này Vàsettha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vàsettha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ. Này Vàsettha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: “Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiếu cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?” Này Vàsettha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng. Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói:

− Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!

− Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.

Này Vàsettha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày. − Này Bạn, như vậy là tốt.

Này Vàsettha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói:

− Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.

− Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.

Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.

− Này Bạn, như vậy là tốt.

Này Vàsettha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói:

− Này Bạn, chúng ta hữu đi tìm lúa!

− Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!

Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.

− Này Bạn, như vậy là tốt.

Này Vàsettha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.

9. Phân Chia Lúa Gạo

Rồi những chúng sanh đó tụ tập lại và than thở, 'Ôi, những điều xấu xa đã xuất hiện giữa các chúng sanh! 137 Vì chúng ta từng do ý tạo thành, nuôi sống bằng niềm vui, tự mình phát sáng, bay đi trong không trung, vinh quang bền vững, và chúng ta đã như vậy trong một thời gian rất dài. Sau một thời gian rất dài trôi qua, vị đất đông lại trong nước. Nhưng do những điều xấu, bất thiện giữa chúng ta, vị đất đã biến mất, rồi nấm đất biến mất, cây leo bám biến mất, và bây giờ hạt gạo đã bị bọc trong cám và trấu, nó không mọc lại sau khi gặt, để lại dấu vết, và lúa mọc thành từng cụm. Tốt hơn hết chúng ta nên phân chia lúa gạo và đặt ra ranh giới.'138 Thế là họ đã làm vậy.

Bấy giờ, một trong những chúng sanh đó đã liều lĩnh. Trong khi canh giữ phần của mình, họ đã lấy phần của người khác mà không được cho, và ăn nó.139

Họ bắt người đã làm điều đó và nói, ‘Ngươi đã làm một điều xấu, bạn hiền, khi đang canh giữ phần của mình, ngươi đã lấy phần của người khác mà không được cho, và ăn nó. Đừng làm điều như vậy nữa.’

‘Vâng, thưa các ngài,’ chúng sanh đó đáp. Nhưng lần thứ hai, và lần thứ ba họ cũng làm điều tương tự, và bị bảo là không được tiếp tục.140 Và rồi họ đánh chúng sanh đó, một số bằng nắm đấm, một số bằng đá, và một số khác bằng gậy.141 Từ ngày đó, trộm cắp được thấy, và sự đổ lỗi, và nói dối, và việc dùng đến gậy gộc.142

18. Này Vàsettha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền:

− Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.

Này Vàsettha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.

19. Này Vàsettha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói:

− Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.

− Thưa Bạn, vâng!

Này Vàsettha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vàsettha, một lần thứ hai… Này Vàsettha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói:

− Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy… Ngươi chớ có làm như vậy nữa.

Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vàsettha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.

10. Vị Vua Được Bầu Lên

Rồi những chúng sanh đó tụ tập lại và than thở, 'Ôi, những điều xấu xa đã xuất hiện giữa các chúng sanh, khi mà trộm cắp được thấy, và sự đổ lỗi, nói dối và việc dùng đến gậy gộc! Sao chúng ta không bầu ra một chúng sanh có thể khiển trách đúng người đáng bị, quở trách đúng người đáng bị, và trục xuất đúng người đáng bị?143 Chúng ta sẽ trả công cho họ bằng một phần lúa gạo.'144

Rồi những chúng sanh đó đến gần chúng sanh trong số họ mà hấp dẫn nhất, ưa nhìn nhất, đáng yêu nhất, và lừng lẫy nhất, và nói,145 ‘Nào, bạn hiền, hãy khiển trách đúng người đáng bị, quở trách đúng người đáng bị, và trục xuất đúng người đáng bị.146 Chúng tôi sẽ trả công cho ngài bằng một phần lúa gạo.’ ‘Vâng, thưa các ngài,’ chúng sanh đó đáp. Họ đã hành động tương ứng, và được trả công bằng một phần lúa gạo.

‘Được dân chúng bầu lên’, này Vāseṭṭha, là ý nghĩa của ‘người được bầu’ (mahāsammata), danh xưng đầu tiên được dùng cho họ.147

‘Chủ của những cánh đồng’ là ý nghĩa của ‘quý tộc’ (khattiya), danh xưng thứ hai được dùng cho họ.148

‘Họ làm hài lòng người khác bằng Pháp’ là ý nghĩa của ‘vua’ (rājā), danh xưng thứ ba được dùng cho họ.149

Và đó, này Vāseṭṭha, là cách mà các danh xưng nguyên thủy cổ xưa cho giai cấp quý tộc được tạo ra; cho chính những chúng sanh đó, không phải những người khác; cho những người giống họ, không phải không giống; nhờ vào Pháp, không phải trái với Pháp. Vì Pháp, này Vāseṭṭha, là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

20. Này Vàsettha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc:

− Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.

− Xin vâng, các Tôn giả!

Này Vàsettha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.

21. Này Vàsettha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vàsettha, “Vị chủ của ruộng vườn” tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên” Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp”, tức là Ràja (vị vua). Ràja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

11. Giai Cấp Bà-la-môn

Rồi một số trong cùng những chúng sanh đó nghĩ rằng, 'Ôi, những điều xấu xa đã xuất hiện giữa các chúng sanh, khi mà trộm cắp được thấy, và sự đổ lỗi, nói dối và việc dùng đến gậy gộc và sự trục xuất! Sao chúng ta không loại bỏ những điều xấu, bất thiện?'150 Thế là họ đã làm vậy.

‘Họ loại bỏ những điều xấu, bất thiện’ là ý nghĩa của ‘Bà-la-môn’ (brāhmaṇa), danh xưng đầu tiên được dùng cho họ.151

Họ xây những túp lều lá trong một vùng hoang dã nơi họ thiền định trong sạch và sáng suốt, không đốt lửa nấu ăn hay đào đất. Họ xuống làng, thị trấn, hoặc kinh thành vào buổi sáng để khất thực bữa sáng và vào buổi tối để khất thực bữa tối.152 Khi đã có thức ăn, họ tiếp tục thiền định trong những túp lều lá.

Khi mọi người nhận thấy điều này, họ nói, ‘Những chúng sanh này xây những túp lều lá trong một vùng hoang dã nơi họ thiền định trong sạch và sáng suốt, không đốt lửa nấu ăn hay đào đất. Họ xuống làng, thị trấn, hoặc kinh thành vào buổi sáng để khất thực bữa sáng và vào buổi tối để khất thực bữa tối. Khi đã có thức ăn, họ tiếp tục thiền định trong những túp lều lá.’

‘Họ thiền định’ là ý nghĩa của ‘người thiền định’ (jhāyaka), danh xưng thứ hai được dùng cho họ.153

Nhưng một số trong những chúng sanh đó không thể duy trì việc thiền định của họ trong những túp lều lá ở nơi hoang dã. Họ xuống khu vực lân cận một ngôi làng hoặc thị trấn nơi họ ở và biên soạn kinh sách.154

Khi mọi người nhận thấy điều này, họ nói, ‘Những chúng sanh này không thể duy trì việc thiền định của họ trong những túp lều lá ở nơi hoang dã. Họ xuống khu vực lân cận một ngôi làng hoặc thị trấn nơi họ ở và biên soạn kinh sách. Bây giờ họ không thiền định.’

‘Bây giờ họ không thiền định’ là ý nghĩa của ‘người tụng đọc’ (ajjhāyaka), danh xưng thứ ba được dùng cho họ.155 Điều được coi là tồi tệ hơn vào thời đó, ngày nay lại được coi là tốt nhất.

Và đó, này Vāseṭṭha, là cách mà các danh xưng nguyên thủy cổ xưa cho giai cấp Bà-la-môn được tạo ra; cho chính những chúng sanh đó, không phải những người khác; cho những người giống họ, không phải không giống; nhờ vào Pháp, không phải trái với Pháp. Vì Pháp, này Vāseṭṭha, là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

12. Giai Cấp Nông Dân

Một số trong cùng những chúng sanh đó, chấp nhận đời sống tình dục tích cực, đã dấn thân vào nhiều công việc khác nhau.

‘Sau khi chấp nhận đời sống tình dục tích cực, họ dấn thân vào nhiều công việc khác nhau’ là ý nghĩa của ‘nông dân’ (vessa), danh xưng được dùng cho họ.156

Và đó, này Vāseṭṭha, là cách mà danh xưng nguyên thủy cổ xưa cho giai cấp nông dân được tạo ra; cho chính những chúng sanh đó, không phải những người khác; cho những người giống họ, không phải không giống; nhờ vào Pháp, không phải trái với Pháp. Vì Pháp, này Vāseṭṭha, là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

13. Giai Cấp Tiện Dân

Những chúng sanh còn lại sống bằng nghề săn bắn tàn nhẫn và các công việc nhỏ nhặt.

‘Họ sống bằng nghề săn bắn tàn nhẫn và các công việc nhỏ nhặt’ là ý nghĩa của ‘tiện dân’ (sudda), danh xưng được dùng cho họ.157

Và đó, này Vāseṭṭha, là cách mà danh xưng nguyên thủy cổ xưa cho giai cấp tiện dân được tạo ra; cho chính những chúng sanh đó, không phải những người khác; cho những người giống họ, không phải không giống; nhờ vào Pháp, không phải trái với Pháp. Vì Pháp, này Vāseṭṭha, là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

Đã có lúc một người quý tộc,158 Bà-la-môn, nông dân, hoặc tiện dân, chê bai nghề nghiệp của mình, đã từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà cửa, nghĩ rằng, ‘Ta sẽ trở thành một sa-môn.’

Từ bốn giai cấp này, này Vāseṭṭha, giai cấp sa-môn được tạo ra; cho chính những chúng sanh đó, không phải những người khác; cho những người giống họ, không phải không giống; nhờ vào Pháp, không phải trái với Pháp. Vì Pháp, này Vāseṭṭha, là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

22. Này Vàsettha, một số các vị hữu tình suy nghĩ:

− Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.

Vác vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngã nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền. Các người khác thấy vậy, nói như sau:

− Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.

Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngã nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thi xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vàsettha, họ “Jhàyanti”, tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jahàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.

23. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:

“Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quah thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.

Này Vàsettha, “Na dàn ime Jhàyanti” tức là ajjhàyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

24. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vàsettha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

25. Này Vàsettha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vàsettha, được gọi là Suddà. Và danh từ Suddsà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha, là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Suddà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

26. Này Vàsettha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Này Vàsettha, giai cấp Samana (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

14. Về Hành Vi Xấu

Một người quý tộc, Bà-la-môn, nông dân, tiện dân, hoặc sa-môn có thể làm những điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Họ có tà kiến, và họ hành động dựa trên tà kiến đó. Và vì thế, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi mất mát, nơi xấu, thế giới ngầm, địa ngục.

Một người quý tộc, Bà-la-môn, nông dân, tiện dân, hoặc sa-môn có thể làm những điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Họ có chánh kiến, và họ hành động dựa trên chánh kiến đó. Và vì thế, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào nơi tốt lành, cõi trời.

Một người quý tộc, Bà-la-môn, nông dân, tiện dân, hoặc sa-môn có thể làm những điều thiện ác lẫn lộn qua thân, khẩu, và ý. Họ có kiến giải hỗn hợp, và họ hành động dựa trên kiến giải hỗn hợp đó. Và vì thế, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ trải nghiệm cả lạc và khổ.

27. Này Vàsettha,vị Khattiya, làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn … Này Vàsettha,vị Vessà … Này Vàsettha, vị Suddà làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

28. Này Vàsettha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn… Này Vàsettha, vị Sessà… Này Vàsettha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhớ duyên, sạu khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.

29. Này Vàsettha, vị Khattiya, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhân duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn… Này Vàsettha, vị Vessà… Này Vàsettha, vị Suddà, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến, có tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.

15. Những Phẩm Chất Dẫn Đến Giác Ngộ

Một người quý tộc, Bà-la-môn, nông dân, tiện dân, hoặc sa-môn, người thu thúc thân, khẩu, và ý, và phát triển thất giác chi (seven qualities that lead to awakening / bảy yếu tố đưa đến giác ngộ), sẽ đạt được Niết-bàn ngay trong đời này.

Bất kỳ Tỷ kheo nào từ bốn giai cấp này mà đã chứng đắc A-la-hán—với các lậu hoặc đã tận, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm những gì cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu của mình, đã hoàn toàn đoạn tận hữu kiết sử, và được giải thoát một cách chân chính nhờ trí tuệ viên mãn—thì được xem là tối thượng nhờ vào Pháp, không phải trái với Pháp. Vì Pháp, này Vāseṭṭha, là điều cao quý nhất cho mọi người trong cả đời này và đời sau.

Vị trời Sanaṅkumāra cũng đã nói bài kệ này:

‘Người quý tộc là cao quý nhất trong những người
lấy gia tộc làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu về minh và hạnh
là bậc nhất trong chư thiên và loài người.’

Bài kệ đó đã được vị trời Sanaṅkumāra hát lên rất hay, không phải hát dở; nói rất hay, không phải nói dở; có lợi ích, không có hại, và Ta đồng ý với nó.159 Ta cũng nói rằng:

Người quý tộc là cao quý nhất trong những người
lấy gia tộc làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu về minh và hạnh
là bậc nhất trong chư thiên và loài người."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Lòng đầy hoan hỷ, Vāseṭṭha và Bhāradvāja đã tán thán những gì Đức Phật nói.

30. Này Vàsettha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn… vị Vessà… Này Vàsettha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.

31. Này Vàsettha, trong bốn giai cấp này, vị Tỷ kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.

32. Này Vàsettha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:

Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.

Này Vàsettha, bài kệ này được Phạm thiên Sanamkumàra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vàsettha, Ta cũng nói như sau:

Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vàsêttha và Bhàradvàja hoan hỷ tín thọ lời giảng Thế Tôn.

-ooOoo-