Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 28. Kinh Tịnh Tín

Sampasādanīyasutta

1. Tiếng Rống Sư Tử của Ngài Xá Lợi Phất

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika.160 Bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất đến đảnh lễ Đức Phật, ngồi xuống một bên và thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Đức Phật đến mức con tin rằng không có một sa môn hay bà la môn nào khác—dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—có thắng trí về sự giác ngộ vượt hơn Đức Phật.”

"Này Xá Lợi Phất, đó là một lời tuyên bố thật hùng hồn và đanh thép. Con đã rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát và quả quyết rằng: ‘Con có niềm tin nơi Đức Phật đến mức con tin rằng không có một sa môn hay bà la môn nào khác—dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—có thắng trí về sự giác ngộ vượt hơn Đức Phật.’

Vậy còn tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác đã sống trong quá khứ thì sao? Con có thấu hiểu tâm của các vị ấy để biết rằng các vị Phật đó có giới hạnh như vậy, các phẩm chất như vậy, trí tuệ như vậy, thiền định như vậy, hay sự giải thoát như vậy không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Và còn tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác sẽ sống trong tương lai thì sao? Con có thấu hiểu tâm của các vị ấy để biết rằng các vị Phật đó sẽ có giới hạnh như vậy, các phẩm chất như vậy, trí tuệ như vậy, thiền định như vậy, hay sự giải thoát như vậy không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Và còn Ta, bậc A-la-hán, vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác ở hiện tại thì sao? Con có thấu hiểu tâm của Ta để biết rằng Ta có giới hạnh như vậy, các phẩm chất như vậy, trí tuệ như vậy, thiền định như vậy, hay sự giải thoát như vậy không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy thì, này Xá Lợi Phất, khi con không thấu hiểu tâm của các vị Phật trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, thì tại sao con lại đưa ra một lời tuyên bố hùng hồn và đanh thép như vậy, rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát và quả quyết như thế?”

"Bạch Thế Tôn, dù con không thấu hiểu tâm của các vị Phật trong quá khứ, tương lai, và hiện tại, nhưng con hiểu điều này qua suy luận từ giáo pháp. Ví như có một thành trì biên ải của nhà vua với các bờ lũy, thành quách và cổng vòm kiên cố, và chỉ có một cổng duy nhất. Và ở đó có một người gác cổng sáng suốt, tài năng và khôn khéo. Ông ta ngăn người lạ vào và chỉ cho những người quen biết đi qua. Khi đi tuần tra dọc theo con đường quanh thành, ông ta không thấy một lỗ hổng hay khe nứt nào trên tường, dù chỉ đủ lớn cho một con mèo chui lọt. Họ sẽ nghĩ rằng, ‘Bất kỳ sinh vật lớn nào ra vào thành trì này, tất cả đều phải đi qua cổng này.’

Cũng vậy, con hiểu điều này qua suy luận từ giáo pháp: ‘Tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác—dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—đều từ bỏ năm triền cái (hindrances / những điều làm ngăn cản tâm trí phát triển), những phiền não của tâm làm trí tuệ suy yếu. Tâm của các vị ấy an trú vững chắc trong bốn loại thiền niệm xứ. Các vị ấy phát triển đúng đắn bảy giác chi. Và các vị ấy chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.’

Bạch Thế Tôn, có lần con đã đến gần Đức Phật để nghe giáo pháp.161 Ngài đã giải thích Pháp với các giai đoạn ngày càng cao hơn, với các giai đoạn ngày càng tốt hơn, với các phương diện sáng và tối của nó. Khi con trực tiếp biết được một nguyên lý nào đó trong những lời dạy ấy, phù hợp với cách con được dạy, con đã đi đến một kết luận về giáo pháp. Con đã có niềm tin nơi Bậc Đạo Sư:162 ‘Đức Thế Tôn là một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Giáo pháp được khéo thuyết giảng. Tăng đoàn đang thực hành tốt đẹp.’

28. KINH TỰ HOAN HỶ

(Sampasàdanìya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

1. Một thời, Thế Tôn ở tại Nàlandà, trong rừng Pàvàrikambavana. Lúc bấy giờ, tôn giả Sàriputta (Xálợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn ở, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuốn một bên. Khì ngồi xuống một bên, tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn!

− Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.

− Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật là rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.” Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong tương lai, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong hiện tại Ta là vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát Thế Tôn là như vậy?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, hãy xem! Ngươi không có trí tuệ biết được tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở quá khứ, ở hiện tại và ở tương lai! Vậy sao, này Sàriputta, lời nói của Ngươi tuyên bố thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.”

2. Bạch Thế Tôn, con không có trí tuệ để được biết tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Bạch Thế Tôn, nhưng con biết truyền thống về Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì ở biên cảnh, có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa thành ra vào. Cửa thành có vị giữ cửa thông minh, biệt tài và giàu kinh nghiệm, ngăn chận những người lạ, chỉ cho vào những ai quen biết. Người này, trong khi đi tuần tiểu xung quanh thành, có thể không thấy hết các chắp nối và khe hở của tường, nhỏ cho đến một con mèo thể đi qua được. Nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn hơn muốn đi vào hay đi ra thành này, tất cả đều phải đi vào hay đi ra cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về Chánh pháp. Tất cả những vị A-lahán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả những bậc Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, đã khéo an trú tâm và Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tất cả những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả những bậc Thế Tôn này sẽ diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, sẽ như thật tu hạnh Bảy Giác chi và sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, và nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

Và nay ở đây, con một thời yết kiến Thế Tôn để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu. Bạch Thế Tôn, nhờ Thế Tôn Thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu như vậy, nên trong sự thâm hiểu Chánh pháp, một pháp được con thâm hiểu trọn vẹn, đó là lòng tin của con vào vị Bổn Sư - Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng và chúng Tăng đã khéo hành trì.

1.1. Giảng Dạy Các Pháp Thiện

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy các pháp thiện là vô song. Điều này bao gồm các pháp thiện như bốn loại thiền niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, và bát chánh đạo.163 Nhờ những pháp này, một vị Tỷ kheo chứng ngộ được tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ của mình do sự chấm dứt các lậu hoặc. Đây là điều vô song khi nói về các pháp thiện. Đức Phật hiểu rõ điều này không có ngoại lệ. Không có gì cần được hiểu biết thêm nữa mà một sa môn hay bà la môn khác có thể có thắng trí vượt hơn Đức Phật khi nói về các pháp thiện.

1.2. Mô Tả Các Xứ

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về việc mô tả các xứ là vô song. Có sáu nội ngoại xứ này.164 Mắt và sắc, tai và thanh, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Đây là điều vô song khi nói về việc mô tả các xứ. Đức Phật hiểu rõ điều này không có ngoại lệ. Không có gì cần được hiểu biết thêm nữa mà một sa môn hay bà la môn khác có thể có thắng trí vượt hơn Đức Phật khi nói về việc mô tả các xứ.

3. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về các thiện pháp. Ở đây những thiện pháp là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác chi, Thánh đạo tám ngành. Bạch Thế Tôn, ở đây vị Tỷ kheo tận diệt các lậu hoặc, có thể tự mình chứng tri và chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại, Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát vô lậu này. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng đối với các thiện pháp. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay một Bà-la-môn nào khác có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề các thiện pháp.

4. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về sự trình bày các Nhập xứ. Bạch Thế Tôn, sáu nội xứ và ngoại xứ, tức là mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về sự trình bày các Nhập xứ. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay một Bà-la-môn nào khác có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề trình bày các Nhập xứ.

1.3. Sự Nhập Thai

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về sự nhập thai là vô song. Có bốn loại nhập thai này.

Thứ nhất, có người không ý thức khi nhập vào bụng mẹ, không ý thức khi ở trong đó, và không ý thức khi ra đời. Đây là loại nhập thai thứ nhất.165

Hơn nữa, có người ý thức khi nhập vào bụng mẹ, nhưng không ý thức khi ở trong đó, và không ý thức khi ra đời. Đây là loại nhập thai thứ hai.

Hơn nữa, có người ý thức khi nhập vào bụng mẹ, ý thức khi ở trong đó, nhưng không ý thức khi ra đời. Đây là loại nhập thai thứ ba.

Hơn nữa, có người ý thức khi nhập vào bụng mẹ, ý thức khi ở trong đó, và ý thức khi ra đời. Đây là loại nhập thai thứ tư.

Đây là điều vô song khi nói về sự nhập thai.

5. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề nhập thai. Bạch Thế Tôn, có bốn loại nhập thai. Bạch Thế Tôn, ở đây, có loại không biết mình nhập bụng người mẹ, không biết mình trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ nhất.

Lại nữa bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, nhưng không biết mình an trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai nhứ hai.

Lại nữa bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ, và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ ba.

Lại nữa Bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ và biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ tư. Ðây là bốn loại nhập thai. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về vấn đề nhập thai.

1.4. Các Cách Thức Đọc Vị (Ways of Revealing)

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về các cách thức đọc vị khác nhau là vô song. Có bốn cách thức đọc vị này.166

Thứ nhất, có người đọc vị bằng một dấu hiệu, ‘Đây là điều ông đang nghĩ, tư tưởng của ông là như vậy, và đây là trạng thái tâm của ông.’ Và dù họ có đọc vị như vậy nhiều lần, kết quả vẫn chính xác như thế, không khác. Đây là cách thức đọc vị thứ nhất.

Hơn nữa, có người đọc vị sau khi nghe điều đó từ con người, phi nhân hay chư thiên, ‘Đây là điều ông đang nghĩ, tư tưởng của ông là như vậy, và đây là trạng thái tâm của ông.’ Và dù họ có đọc vị như vậy nhiều lần, kết quả vẫn chính xác như thế, không khác. Đây là cách thức đọc vị thứ hai.

Hơn nữa, có người đọc vị bằng cách nghe âm thanh của tư tưởng lan truyền khi ai đó đang suy nghĩ và cân nhắc, ‘Đây là điều ông đang nghĩ, tư tưởng của ông là như vậy, và đây là trạng thái tâm của ông.’ Và dù họ có đọc vị như vậy nhiều lần, kết quả vẫn chính xác như thế, không khác. Đây là cách thức đọc vị thứ ba.

Hơn nữa, có người thấu hiểu tâm của một người đã đạt đến trạng thái định tâm không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected/ không có sự hướng ý nghĩ đến đối tượng nào hay duy trì sự quan sát đối tượng nào). Họ hiểu rằng, ‘Dựa vào cách các ý định của người này được hướng đến, ngay sau trạng thái tâm này, họ sẽ nghĩ đến tư tưởng này.’ Và dù họ có đọc vị như vậy nhiều lần, kết quả vẫn chính xác như thế, không khác. Đây là cách thức đọc vị thứ tư.

Đây là điều vô song khi nói về các cách thức đọc vị.

6. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề sai khác trong sự ký tâm. Bạch Thế Tôn có bốn loại ký tâm sai khác như thế này. Bạch Thế Tôn, có hạng tự tỏ lộ bằng hình tướng: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thì sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ nhất.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, nhưng tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiên: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thì sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ hai.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi Người, phi nhân hay chư Thiên, mà tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý, phát ra từ sự suy tầm, tư duy: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ ba.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiên, cũng không tự tỏ lộ, sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý, phát ra từ sự suy tầm và tư duy, nhưng khi chứng được định, không tầm, không tứ, có thể biết được tâm mgười khác với tâm của mình: “Tùy ước nguyện hợp ý hành của Tôn giả này, vị này sẽ hướng tâm đến tâm này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác”. Như vậy là loại ký tâm thứ tư. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về vấn đề ký tâm sai khác.

1.5. Các Thành Tựu về Mắt Nhìn (Attainments of Vision)

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về các thành tựu về mắt nhìn là vô song. Có bốn thành tựu về mắt nhìn này.

Thứ nhất, một sa môn hay bà la môn nào đó—nhờ nỗ lực tinh cần, quyết tâm, chuyên chú, siêng năng và sự áp dụng tâm đúng đắn—trải nghiệm một trạng thái định tâm đến mức họ quan sát thân mình từ lòng bàn chân trở lên và từ ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da và đầy những thứ ô uế.167 ‘Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, dầu, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu.’ Đây là thành tựu về mắt nhìn thứ nhất.

Hơn nữa, một sa môn hay bà la môn nào đó trải nghiệm trạng thái định tâm đó và quan sát thân mình. ‘Trong thân này có tóc… nước tiểu.’ Đi xa hơn, họ quan sát bộ xương của một người với da, thịt và máu.168 Đây là thành tựu về mắt nhìn thứ hai.

Hơn nữa, một sa môn hay bà la môn nào đó trải nghiệm trạng thái định tâm đó và quan sát thân mình. ‘Trong thân này có tóc… nước tiểu.’ Đi xa hơn, họ quan sát bộ xương của một người với da, thịt và máu. Và họ hiểu về một người rằng dòng tâm thức của người đó nhất quán ở cả hai phía: được thiết lập ở cả thế giới này và thế giới bên kia.169 Đây là thành tựu về mắt nhìn thứ ba.

Hơn nữa, một sa môn hay bà la môn nào đó trải nghiệm trạng thái định tâm đó và quan sát thân mình. ‘Trong thân này có tóc… nước tiểu.’ Đi xa hơn, họ quan sát bộ xương của một người với da, thịt và máu. Họ hiểu về một người rằng dòng tâm thức của người đó nhất quán ở cả hai phía: không được thiết lập ở cả thế giới này lẫn thế giới bên kia. Đây là thành tựu về mắt nhìn thứ tư.

Đây là điều vô song khi nói về các thành tựu về mắt nhìn.

7. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: lúc Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề kiến định (dassanasamàpatti). Bạch Thế Tôn, có bốn loại kiến định như thế này: Ở đây bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Với tâm nhập định như vậy, vị ấy quan sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu. Như vậy là kiến định thứ nhất.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Với tâm nhập định như vậy, vị ấy quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu. Hơn nữa, vị ấy quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da. Như vậy là kiến định thứ hai.

Lại nữa bạch Thế Tôn,… Hơn nữa, vị ấy vượt qua sự quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da, quán sát giòng tâm thức của người ấy, không gián đoạn, như là an trú cả đời này và an trú cả đời sau. Như vậy là kiến định thứ ba.

Lại nữa, bạch Thế Tôn,… Hơn nữa, vị ấy vượt qua sự quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da, quán sát giòng tâm thức của người ấy, không gián đoạn, như là không an trú cả đời này và cả đời sau. Như vậy là kiến định thứ tư. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượg về vấn đề kiến định.

1.6. Mô Tả Các Hạng Người

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về việc mô tả các hạng người là vô song. Có bảy hạng người này: người được giải thoát cả hai phần, người được giải thoát bằng trí tuệ, người thân chứng, người đạt đến kiến, người được giải thoát bằng niềm tin, người tùy pháp hành, người tùy tín hành.170 Đây là điều vô song khi nói về việc mô tả các hạng người.

8. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề phân loại các loại Người. Bạch Thế Tôn, có bảy loại Người như thế này: Câu giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín thắng giải, Tùy pháp hành, Tùy tín hành. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề phân loại loài Người.

1.7. Các Loại Nỗ Lực

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về các loại nỗ lực là vô song. Có bảy giác chi này: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an (tranquility / sự yên ổn) giác chi, định giác chi, và xả giác chi.171 Đây là điều vô song khi nói về các loại nỗ lực.

9. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề tinh cần. Bạch Thế Tôn có Bảy Giác chi như thế này: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề tinh cần.

1.8. Các Cách Thực Hành

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về các cách thực hành là vô song.172

1. Thực hành khổ hạnh, chậm chứng đắc,

2. thực hành khổ hạnh, nhanh chứng đắc,

3. thực hành lạc hạnh, chậm chứng đắc, và

4. thực hành lạc hạnh, nhanh chứng đắc.

Trong số này, thực hành khổ hạnh, chậm chứng đắc được cho là kém hơn về cả hai mặt: vì nó đau khổ và vì nó chậm. Thực hành khổ hạnh, nhanh chứng đắc được cho là kém hơn vì nó đau khổ. Thực hành lạc hạnh, chậm chứng đắc được cho là kém hơn vì nó chậm. Nhưng thực hành lạc hạnh, nhanh chứng đắc được cho là ưu việt hơn về cả hai mặt: vì nó dễ chịu và vì nó nhanh.

Đây là điều vô song khi nói về các cách thực hành.

10. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề tiến bộ trong sự tu hành (Patipàda = đạo hành). Bạch Thế Tôn, có bốn loại đạo hành như thế này: Hành trì khổ chứng ngộ chậm, hành trì khổ chứng ngộ mau, hành trì lạc chứng ngộ chậm, hành trì lạc chứng ngộ mau.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì khổ, chứng ngộ chậm. Bạch Thế Tôn, sự hành trì cả hai phương diện đều được xem là hạ liệt, vừa khổ vừa chậm.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì khổ, chứng ngộ mau. Bạch Thế Tôn, sự hành trì này vì khổ nên được gọi là hạ liệt.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì lạc, chứng ngộ chậm. Bạch Thế Tôn, sự hành trì này vì chậm nên được gọi là hạ liệt.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì lạc, chứng ngộ mau. Bạch Thế Tôn sự hành trì này cả hai phương diện đều được xem là cao thượng, vừa lạc vừa mau. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề đạo hành (tiến bộ trên đường tu hành).

1.9. Hành Vi trong Lời Nói

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về hành vi trong lời nói là vô song. Đó là khi một người không dùng lời nói dối trá, chia rẽ, đâm thọc, hay hung hăng cố giành phần thắng.173 Họ chỉ nói những lời khuyên khôn ngoan, có giá trị và đúng lúc. Đây là điều vô song khi nói về hành vi trong lời nói.

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của một người là vô song.174 Đó là khi một người trung thực và đáng tin. Họ không dùng sự lừa dối, tâng bốc, ám chỉ, hay miệt thị, và họ không dùng vật chất để theo đuổi vật chất khác. Họ giữ gìn các giác quan và ăn uống có chừng mực. Họ công bằng, chuyên tâm tỉnh thức, không mệt mỏi, siêng năng, và thiền định. Họ có trí nhớ tốt, tài hùng biện, phạm vi hiểu biết rộng, khả năng ghi nhớ và suy tư. Họ không tham lam tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan). Họ chánh niệm và tỉnh giác.175 Đây là điều vô song khi nói về giới đức của một người.

11. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề chánh hạnh trong ngôn ngữ. Bạch Thế Tôn, ở đây, một người không những không nói những lời liên hệ đến nói láo, mà cũng phải, trong khi tìm cách thắng cuộc, không dùng lời vu khống, lời ác khẩu và lời ly gián; trái lại, người ấy nói lời từ hòa, sáng suốt, đáng được giữ gìn, và nói đúng thời. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về chánh hạnh trong ngôn ngữ.

12. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề giới hạnh của con người. Bạch Thế Tôn, ở đây, có người chân thật, thành tín, không dối trá, không lừa gạt, không gợi ý, không chiêm tướng, không lấy lợi câu lợi; hộ trì các căn, ăn uống tiết độ, hành động ôn hòa, luôn luôn cảnh giác, không chán nản, tinh cần, trầm tư, chánh niệm, ngôn từ lanh lợi, hành vi gan dạ, chịu đựng, biết điều, không tham dục, tỉnh giác, cẩn trọng. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề giới hạnh của con người.

1.10. Khả Năng Tiếp Thu Lời Dạy

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về các mức độ khác nhau của khả năng tiếp thu lời dạy là vô song. Có bốn mức độ tiếp thu lời dạy này.176

Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ) về một cá nhân khác:177 ‘Bằng cách thực hành theo lời dạy, cá nhân này, với sự chấm dứt ba kiết sử, sẽ trở thành bậc Nhập Lưu, không còn bị tái sanh vào cõi dữ, chắc chắn hướng đến giác ngộ.’ Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý về một cá nhân khác: ‘Bằng cách thực hành theo lời dạy, cá nhân này, với sự chấm dứt ba kiết sử, và làm suy yếu tham, sân, si, sẽ trở thành bậc Nhất Lai. Họ sẽ chỉ trở lại thế giới này một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau.’ Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý về một cá nhân khác: ‘Bằng cách thực hành theo lời dạy, cá nhân này, với sự chấm dứt năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sanh. Họ sẽ nhập diệt ở đó, và không còn trở lại thế giới đó nữa.’ Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý về một cá nhân khác: ‘Bằng cách thực hành theo lời dạy, cá nhân này sẽ chứng ngộ được tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ của mình do sự chấm dứt các lậu hoặc.’

Đây là điều vô song khi nói về các mức độ khác nhau của khả năng tiếp thu lời dạy.

13. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về sự sai biệt trong sự giảng dạy. Bạch Thế Tôn, có bốn loại giảng dạy. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy, biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ ba kiết sử, sẽ chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ được giác ngộ.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy, biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, sẽ chứng Nhất lai, phải sanh đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sanh và ở tại cảnh giới ấy nhập Niết bàn, không còn về lại đời này.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này theo sự giảng dạy hành trì như thế này, sẽ diệt trừ các lậu hoặc, tự mình giác tri, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề sai biệt trong sự giảng dạy.

1.11. Kiến Thức về Sự Giải Thoát của Người Khác

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về kiến thức và sự giải thoát của các cá nhân khác là vô song.178 Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý về một cá nhân khác: ‘Với sự chấm dứt ba kiết sử, cá nhân này sẽ trở thành bậc Nhập Lưu, không còn bị tái sanh vào cõi dữ, chắc chắn hướng đến giác ngộ.’ Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý về một cá nhân khác: ‘Với sự chấm dứt ba kiết sử, và làm suy yếu tham, sân, si, cá nhân này sẽ trở thành bậc Nhất Lai. Họ sẽ chỉ trở lại thế giới này một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau.’ Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý về một cá nhân khác: ‘Với sự chấm dứt năm hạ phần kiết sử, cá nhân này sẽ được hóa sanh. Họ sẽ nhập diệt ở đó, và không còn trở lại thế giới đó nữa.’ Đức Phật biết bằng cách như lý tác ý về một cá nhân khác: ‘Cá nhân này sẽ chứng ngộ được tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ của mình do sự chấm dứt các lậu hoặc.’ Đây là điều vô song khi nói về kiến thức và sự giải thoát của các cá nhân khác.

14. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về giải thoát trí của người khác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này diệt trừ ba kiết sử, sẽ chứng quả Dự lưu, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết được người khác: Người này sẽ diệt trừ ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, sẽ chứng quả Nhất lai, phải sanh đời này một lần nữa, sẽ diệt tận khổ đau.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết được người khác: Người này diệt trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sanh, tự chỗ ấy nhập Niết bàn, không còn phải trở lại đời này.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này, diệt trừ các lậu hoặc, tự tri tự chứng, đạt đạo và an trú ngay trong đời hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề giải thoát trí của người khác.

1.12. Thuyết Thường Kiến

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về các học thuyết thường kiến là vô song. Có ba học thuyết thường kiến này.179

Thứ nhất, một sa môn hay bà la môn nào đó—nhờ nỗ lực tinh cần, quyết tâm, chuyên chú, siêng năng và sự áp dụng tâm đúng đắn—trải nghiệm một trạng thái định tâm đến mức họ nhớ lại hàng trăm ngàn kiếp quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết. Họ nói, ‘Tôi biết rằng trong quá khứ, vũ trụ đã giãn nở hay co lại. Tôi không biết liệu trong tương lai, vũ trụ sẽ giãn nở hay co lại.180 Ngã và vũ trụ là thường hằng, bất biến, vững chắc như đỉnh núi, kiên cố như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi các chúng sanh này lang thang, luân hồi, chết đi và tái sanh.’ Đây là học thuyết thường kiến thứ nhất.

Hơn nữa, một sa môn hay bà la môn nào đó—nhờ nỗ lực tinh cần, quyết tâm, chuyên chú, siêng năng và sự áp dụng tâm đúng đắn—trải nghiệm một trạng thái định tâm đến mức họ nhớ lại các kiếp quá khứ của mình trong mười kiếp vũ trụ giãn nở và co lại,181 với các đặc điểm và chi tiết. Họ nói, ‘Tôi biết rằng trong quá khứ, vũ trụ đã giãn nở hay co lại. Tôi không biết liệu trong tương lai, vũ trụ sẽ giãn nở hay co lại. Ngã và vũ trụ là thường hằng, bất biến, vững chắc như đỉnh núi, kiên cố như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi các chúng sanh này lang thang, luân hồi, chết đi và tái sanh.’ Đây là học thuyết thường kiến thứ hai.

Hơn nữa, một sa môn hay bà la môn nào đó—nhờ nỗ lực tinh cần, quyết tâm, chuyên chú, siêng năng và sự áp dụng tâm đúng đắn—trải nghiệm một trạng thái định tâm đến mức họ nhớ lại các kiếp quá khứ của mình trong bốn mươi kiếp vũ trụ giãn nở và co lại, với các đặc điểm và chi tiết. Họ nói, ‘Tôi biết rằng trong quá khứ, vũ trụ đã giãn nở hay co lại. Tôi không biết liệu trong tương lai, vũ trụ sẽ giãn nở hay co lại. Ngã và vũ trụ là thường hằng, bất biến, vững chắc như đỉnh núi, kiên cố như cột trụ. Chúng vẫn như cũ mãi mãi, trong khi các chúng sanh này lang thang, luân hồi, chết đi và tái sanh.’ Đây là học thuyết thường kiến thứ ba.

Đây là điều vô song khi nói về các học thuyết thường kiến.

15. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Thường trú luận. Bạch Thế Tôn, có ba loại Thường trú luận như thế này. Bạch Thế Tôn ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn , nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định; khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, vô số trăm đời, vô số ngàn đời, vô số trăm ngàn đời, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, tuổi thọ như thế này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói rằng: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành hoại kiếp. Nhưng trong tương lai tôi không được biết thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Bản ngả và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đỉnh núi, như trụ đá. Còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ nhất.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một thành kiếp hoại kiếp, hai thành kiếp hoại kiếp, ba thành kiếp hoại kiếp, bốn thành kiếp hoại kiếp, năm thành kiếp hoại kiếp, mười thành kiếp hoại kiếp, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Trong tương lai, tôi biết được thế giới sẽ là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đỉnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ hai.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp hoại kiếp, hai mươi thành kiếp hoại kiếp, ba mươi thành kiếp hoại kiếp, bốn mươi thành kiếp hoại kiếp, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Trong tương lai, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay trong thành kiếp. Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vứng chắc như đỉnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sống lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ ba. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Thường trú luận.

1.13. Nhớ Lại Các Tiền Kiếp

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về kiến thức nhớ lại các tiền kiếp là vô song. Đó là khi một sa môn hay bà la môn nào đó—nhờ nỗ lực tinh cần, quyết tâm, chuyên chú, siêng năng và sự áp dụng tâm đúng đắn—trải nghiệm một trạng thái định tâm đến mức họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình. Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn kiếp tái sanh; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn nở, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn nở. Họ nhớ lại: ‘Ở đó, tôi tên là thế này, dòng họ của tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi qua đời từ nơi đó, tôi được tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, tôi cũng tên là thế này, dòng họ của tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi qua đời từ nơi đó, tôi được tái sanh ở đây.’ Và cứ thế, họ nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Bạch Thế Tôn, có những vị trời mà tuổi thọ không thể đếm hay tính toán được. Tuy nhiên, dù họ đã từng tái sanh trong bất kỳ kiếp nào trước đây—dù là cõi sắc, cõi vô sắc, cõi có tưởng, cõi không tưởng, hay cõi phi tưởng phi phi tưởng—họ vẫn nhớ lại nhiều loại tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Đây là điều vô song khi nói về kiến thức nhớ lại các tiền kiếp.

16. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Túc mạng trí. Bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp thành kiếp. Nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia tôi đã sống với tâm như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia tôi đã sống với tâm như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này.” Như vậy, vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Bạch Thế Tôn, có những chư Thiên, mà tuổi thọ không thể đếm được hay không thể tính được. Nhưng dưới bất cứ ngã thể nào được có trong quá khứ, hoặc có sắc hay không sắc, hoặc có tưởng hay không tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, chúng nhớ đến đời quá khứ với các đặc điểm và chi tiết như vậy. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Túc mạng trí.

1.14. Sự Chết và Tái Sanh

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về kiến thức về sự chết và tái sanh của chúng sanh là vô song. Đó là khi một sa môn hay bà la môn nào đó—nhờ nỗ lực tinh cần, quyết tâm, chuyên chú, siêng năng và sự áp dụng tâm đúng đắn—trải nghiệm một trạng thái định tâm đến mức với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, họ thấy chúng sanh chết đi và tái sanh—hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Họ hiểu chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp của họ: ‘Những chúng sanh thân mến này đã làm những điều xấu qua thân, khẩu, ý. Họ phỉ báng các bậc thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sanh vào nơi mất mát, nơi xấu, cõi âm, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sanh thân mến này đã làm những điều tốt qua thân, khẩu, ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sanh vào nơi tốt, cõi trời.’ Và cứ thế, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, họ thấy chúng sanh chết đi và tái sanh—hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Họ hiểu chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. Đây là điều vô song khi nói về kiến thức về sự chết và tái sanh.

17. Lại nữa, bạch Thế Tôn điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Sanh tử trí của các loài hữu tình. Ở đây, bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ: “Này các Hiền giả, những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo Chánh kiến, tạo các nghiệp theo Chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này”. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Sanh tử trí của các loại hữu tình.

1.15. Thần Thông

Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cách Đức Phật giảng dạy về thần thông là vô song. Có hai loại thần thông này. Có những loại thần thông đi kèm với lậu hoặc và chấp thủ, và được cho là hèn hạ.182 Và có những loại thần thông không có lậu hoặc và chấp thủ, và được cho là cao thượng. Những loại thần thông đi kèm với lậu hoặc và chấp thủ, và được cho là hèn hạ là gì? Đó là khi một sa môn hay bà la môn nào đó—nhờ nỗ lực tinh cần, quyết tâm, chuyên chú, siêng năng và sự áp dụng tâm đúng đắn—trải nghiệm một trạng thái định tâm đến mức họ sử dụng nhiều loại thần thông: tự nhân bản thân rồi trở lại thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành quách, hay núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như thể đó là nước; đi trên mặt nước như thể đó là đất; bay ngồi xếp bằng trên trời như chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng, những vật thể hùng mạnh và quyền năng; điều khiển thân thể đến tận cõi Phạm thiên. Đây là những loại thần thông đi kèm với lậu hoặc và chấp thủ, và được cho là hèn hạ.

Nhưng những loại thần thông không có lậu hoặc và chấp thủ, và được cho là cao thượng là gì? Đó là khi, nếu một vị Tỷ kheo muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định quán tưởng cái không đáng ghê tởm trong cái đáng ghê tởm,’ thì họ làm như vậy.183 Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định quán tưởng cái đáng ghê tởm trong cái không đáng ghê tởm,’ thì họ làm như vậy. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định quán tưởng cái không đáng ghê tởm trong cả cái đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm,’ thì họ làm như vậy. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định quán tưởng cái đáng ghê tởm trong cả cái không đáng ghê tởm và đáng ghê tởm,’ thì họ làm như vậy. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác, từ bỏ cả cái đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm,’ thì họ làm như vậy. Đây là những loại thần thông không có lậu hoặc và chấp thủ, và được cho là cao thượng. Đây là điều vô song khi nói về thần thông. Đức Phật hiểu rõ điều này không có ngoại lệ. Không có gì cần được hiểu biết thêm nữa mà một sa môn hay bà la môn khác có thể có thắng trí vượt hơn Đức Phật khi nói về thần thông.

1.16. Bốn Tầng Thiền

Đức Phật đã đạt được những gì một người thiện gia nam tử nên đạt được bằng cách siêng năng và mạnh mẽ, bằng sức người, sự siêng năng, nghị lực và nỗ lực. Đức Phật không đắm mình trong các thú vui giác quan, vốn là thấp kém, thô thiển, tầm thường, hèn hạ và vô ích. Và ngài không đắm mình trong sự khổ hạnh, vốn là đau khổ, hèn hạ và vô ích.184 Ngài đạt được bốn tầng thiền—những trạng thái thiền định an lạc trong đời này thuộc về tăng thượng tâm—bất cứ khi nào ngài muốn, không gặp khó khăn hay trở ngại.185

18. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Thần túc thông. Bạch Thế Tôn, có hai loại thần thông như thế này. Bạch Thế Tôn, có loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”. Bạch Thế Tôn, có loại thần thông vô lậu, vô dư y, được gọi là “bậc Thánh”.

Bạch Thế Tôn, thế nào là loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”? Ở đây, bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ cần mẫn, nhờ bất phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy chứng được nhiều loại Thần túc thông sai khác. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân. Hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Bạch Thế Tôn, như vậy là loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”.

Bạch Thế Tôn, thế nào là thần thông vô lậu, vô dư y, được gọi là “bậc Thánh?” Ở đây, bạch Thế Tôn vị Tỷ kheo, nếu vị này muốn: “Ðối với sự vật đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng không đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng không đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật không đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật đối nghịch và không đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng không đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng không đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật không đối nghịch và đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Loại bỏ cả hai đối nghịch và không đối nghịch, ta sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác”, và ở đây vị ấ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Bạch Thế Tôn, như vậy là thần thông vô lậu, vô dư y, và được gọi là “bậc Thánh”.

Bạch Thế Tôn, như vậy là vô thượng về các loại Thần túc thông. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết, và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác, có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề các loại Thần túc thông.

1.17. Về Việc Bị Chất Vấn

Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con, ‘Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, có sa môn hay bà la môn nào khác—dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—có thắng trí về sự giác ngộ vượt hơn Đức Phật không?’ Con sẽ trả lời họ là ‘Không.’

Nhưng nếu họ hỏi con, ‘Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, có sa môn hay bà la môn nào khác—dù trong quá khứ hay tương lai—có thắng trí về sự giác ngộ ngang bằng với Đức Phật không?’ Con sẽ trả lời họ là ‘Có.’ Nhưng nếu họ hỏi: ‘Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, có sa môn hay bà la môn nào khác ở hiện tại có thắng trí về sự giác ngộ ngang bằng với Đức Phật không?’ Con sẽ trả lời họ là ‘Không.’

19. Bạch Thế Tôn, những gì có thể đạt được bởi một thiện nam tử có lòng tin, có tinh tấn, có kiên trì bởi sự kiên trì của con người, bởi sự tinh tấn của con người, bởi sự tiến bộ của con người, bởi sự nhẫn nhục của con người, đều được Thế Tôn chứng đạt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không có đam mê các dục lạc, dục lạc này là đê tiện, hèn hạ, thuộc phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích. Thế Tôn cũng không đam mê tu hành khổ hạnh, khổ hạnh này là khổ, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích. Thế Tôn có thể đạt được nếu Ngài muốn, một cách dễ dàng, một cách đầy đủ, sự hạnh phúc ngay trong hiện tại, do bốn Thiền định đem lại.

Nhưng nếu họ hỏi con, ‘Nhưng tại sao Tôn giả Xá Lợi Phất lại thừa nhận điều này đối với một số trường hợp mà không phải những trường hợp khác?’ Con sẽ trả lời họ như thế này,186 'Thưa các Tôn giả, tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ Đức Phật: "Các bậc A-la-hán, các vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ có sự giác ngộ ngang bằng với chính tôi."187 Và tôi đã nghe và học điều này trực tiếp từ Đức Phật: “Các bậc A-la-hán, các vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác trong tương lai sẽ có sự giác ngộ ngang bằng với chính tôi.” Và tôi cũng đã nghe và học điều này trực tiếp từ Đức Phật: “Không thể có trường hợp hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác cùng xuất hiện trong một thế giới hệ vào cùng một thời điểm.”'188

Khi trả lời như vậy, con tin rằng con đã lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một lời nói dối. Con tin rằng lời giải thích của con phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để phản bác hay chỉ trích."

“Đúng vậy, Xá Lợi Phất, khi trả lời như vậy, con đã lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một lời nói dối. Lời giải thích của con phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để phản bác hay chỉ trích.”

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời quá khứ, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào còn lớn hơn, còn sáng suốt hơn Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con trả lời không. Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời vị lai, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào còn lớn hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi như vậy con trả lời không.

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời quá khứ, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời có. “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời vị lai, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời có.

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời hiện tại, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời không.

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Vì sao, Tôn giả Sàriputta một mặt thì xác nhận là có, một mặt xác nhận là không có?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con sẽ trả lời: “Này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn, tôi có nghe nói, từ nơi Ngài tôi có ghi nhận: “Trong thời quá khứ, có vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bằng Ta về phương diện giác ngộ.” Này Hiền giả trước mặt Thế Tôn tôi có nghe nói, từ nơi Ngài tôi có ghi nhận: “Trong thời vị lai, có các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bằng Ta về phương diện giác ngộ.” Này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn tôi có nghe nói từ nơi Ngài tôi có nghi nhận: “Không có trường hợp, không có sự kiện trong một thế giới, hai vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cùng xuất hiện ở đời, không trước, không sau. Sự kiện như vậy không thể xảy ra”. Bạch Thế Tôn, có phải khi được hỏi và trả lời như vậy, con đã nói lên đúng ý với Thế Tôn, không có sai lạc, không có hiểu lầm Thế Tôn? Có phải con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp? Có phải không một đối phương hợp pháp nào có thể tìm ra lý do để chỉ trích phê bình?

− Này Sàriputta, được hỏi và trả lời như vậy, Ngươi đã nói lên đúng ý với Ta, không có sai lạc, không có hiểu lầm Ta. Ngươi đã trả lời thuận pháp và đúng pháp. Không một đối phương hợp pháp nào có thể tìm ra lý do để chỉ trích, phê bình.

2. Thật Hy Hữu và Vi Diệu

Khi ngài nói xong, Tôn giả Udāyī thưa với Đức Phật,189 “Thật hy hữu, bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Đấng Như Lai ít ham muốn, biết đủ, và khiêm hạ đến dường nào! Vì dù Đấng Như Lai có năng lực và uy lực như vậy, ngài cũng không tự phô trương mình. Nếu các du sĩ ngoại đạo thấy được dù chỉ một trong những phẩm chất này ở bản thân họ, họ đã giương cờ đi khắp nơi để khoe khoang rồi. Thật hy hữu, bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Đấng Như Lai ít ham muốn, biết đủ, và khiêm hạ đến dường nào! Vì dù Đấng Như Lai có năng lực và uy lực như vậy, ngài cũng không tự phô trương mình.”

“Này Udāyī, hãy xem Đấng Như Lai ít ham muốn, biết đủ, và khiêm hạ đến dường nào. Vì dù Đấng Như Lai có năng lực và uy lực như vậy, ngài cũng không tự phô trương mình. Nếu các du sĩ ngoại đạo thấy được dù chỉ một trong những phẩm chất này ở bản thân họ, họ đã giương cờ đi khắp nơi để khoe khoang rồi. Này Udāyī, hãy xem Đấng Như Lai ít ham muốn, biết đủ, và khiêm hạ đến dường nào. Vì dù Đấng Như Lai có năng lực và uy lực như vậy, ngài cũng không tự phô trương mình.”

Sau đó, Đức Phật nói với Tôn giả Xá Lợi Phất, “Vậy thì Xá Lợi Phất, con nên thường xuyên nói bài giảng giáo pháp này cho các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Dù sẽ có một số người khờ dại có nghi ngờ hay hoang mang về Đấng Như Lai, khi họ nghe bài giảng giáo pháp này, họ sẽ từ bỏ sự nghi ngờ hay hoang mang đó.”

Đó là cách Tôn giả Xá Lợi Phất tuyên bố niềm tin của mình trước sự hiện diện của Đức Phật. Và đó là lý do tại sao bài pháp này có tên là “Tịnh Tín”.

20. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:

− Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ. Bạch Thế Tôn, nếu có một du sĩ ngoại đạo nào, tự thấy mình chứng được dầu chỉ có một pháp, họ đã dương cờ (gióng trống) lên rồi. Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ.

− Hãy ghi nhận, này Udàyi! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ. Này Udàyi, nếu có một du sĩ ngoại đạo nào, tự thấy mình dầu chỉ có một pháp như vậy, họ đã dương cờ (gióng trống) lên rồi. Này Udàyi hãy ghi nhận! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà khong tự mình tỏ lộ.

21. Rồi Thế Tôn bảo tôn giả Sàriputta:

− Vậy Sàriputta, Ngươi phải luôn luôn thuyết pháp phân biệt này cho các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, các Nam cư sĩ và các Nữ cư sĩ. Này Sàriputta, nếu có những kẻ ngu nào còn nghi ngờ hay ngần ngại đối với Như Lai, nếu họ được nghe pháp phân biệt này, nghi ngờ hay ngần ngại của họ đối với Như Lai sẽ được diệt trừ.

Như vậy, tôn giả Sàriputta nói lên lòng hoan hỷ của mình đối với Thế Tôn. Do vậy, danh từ “Sam pasàdaniyam, Tự hoan hỷ” được dùng cho câu trả lời này.

-ooOoo-