Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 34. Kinh Mười Pháp

Dasuttarasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā cùng với một Tăng đoàn lớn gồm năm trăm vị Tỷ kheo.456 Tại đó, Ngài Xá Lợi Phất ngỏ lời với các vị Tỷ kheo:457 “Thưa các hiền giả Tỷ kheo!”

“Thưa hiền giả,” họ đáp. Ngài Xá Lợi Phất nói như sau:

"Tôi sẽ thuyết giảng các pháp môn458
theo số mười để đạt đến Niết-bàn,
để chấm dứt khổ đau,
giải thoát khỏi mọi ràng buộc.459

34. KINH THẬP THƯỢNG

(Dasuttara Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Tụng Phẩm I

1.Một thời Thế Tôn trú tại Campa (Chiêm-bà) trên bờ hồ Gaggara (Già-già), cùng với đại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị. Rồi tôn giả Sàriputta bảo các vị Tỳ kheo: “Này các Hiền giả Tỷ kheo”. “Thưa Hiền giả” các vị Tỷ kheo ấy đáp ứng tôn giả Sàriputta, tôn giả Sàriputta nói như sau:

Tôi nói Thập thượng pháp,
Pháp đưa đến Niết-bàn,
Diệt trừ mọi khổ đau,
Giải thoát mọi triền phược.

1. Một Pháp

Thưa các hiền giả, có một pháp hữu ích, một pháp cần được phát triển, một pháp cần được hiểu rõ, một pháp cần được từ bỏ, một pháp dẫn đến thoái hóa, một pháp dẫn đến tiến bộ, một pháp khó giải thích, một pháp cần được làm cho nảy sinh, một pháp cần được trực tiếp nhận ra, một pháp cần được thực chứng.460

Một pháp hữu ích là gì? Siêng năng trong các thiện pháp.461

Một pháp cần được phát triển là gì? Niệm thân tràn đầy an ổn.462

Một pháp

2. Này các Hiền giả, một pháp có nhiều tác dụng, một pháp cần phải tu tập, một pháp cần phải biến tri, một pháp cần phải đoạn trừ, một pháp chịu phần tai hại, một pháp đưa đến thù thắng, một pháp rất khó thể nhập, một pháp cần được sanh khởi, một pháp cần được thắng tri, một pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là một pháp có nhiều tác dụng? Bất phóng dật đối với các thiện pháp. Ðó là một pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là một pháp cần được tu tập? Niệm thân câu hữu với khả ý. Ðó là một pháp cần được tu tập.

Một pháp cần được hiểu rõ là gì? Xúc (contact / sự tiếp xúc giữa giác quan, đối tượng và ý thức), đi cùng với phiền não và có xu hướng nuôi dưỡng sự chấp thủ.463

Một pháp cần được từ bỏ là gì? Ngã mạn ‘tôi là’.

Một pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Không như lý tác ý (apply the mind irrationally / suy tư không với trí tuệ).

Một pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ).

Một pháp khó giải thích là gì? Sự định tâm có kết quả tức thời.464

Một pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Bất động trí.

Một pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Tất cả chúng sinh tồn tại nhờ thức ăn.

Một pháp cần được thực chứng là gì? Tâm được Giải thoát vững chắc không lay động.

Như vậy, mười pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

iii) Thế nào là một pháp cần phải biến tri? Xúc hữu lậu hữu thủ. Ðó là một pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là một pháp cần phải đoạn trừ? Ngã mạn. Ðó là một pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là một pháp chịu phần tai hại? Bất chánh tác ý. Ðó là một pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là một pháp đưa đến thù thắng? Chơn chánh tác ý. Ðó là một pháp đưa đến thù thắng.

vii) Thế nào là một pháp rất khó thể nhập? Vô gián tâm định. Ðó là một pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là một pháp cần được sanh khởi? Bất động trí. Ðó là một pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là một pháp cần được thắng tri? Tất cả loài hữa tình do ăn uống mà an trú. Ðó là một pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là một pháp cần được tác chứng? Bất động tâm giải thoát. Ðó là một pháp cần được tác chứng.

Như vậy, mười pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

2. Hai Pháp

Có hai pháp hữu ích, hai pháp cần được phát triển, hai pháp cần được hiểu rõ, hai pháp cần được từ bỏ, hai pháp dẫn đến thoái hóa, hai pháp dẫn đến tiến bộ, hai pháp khó giải thích, hai pháp cần được làm cho nảy sinh, hai pháp cần được thắng tri, hai pháp cần được thực chứng.465

Hai pháp hữu ích là gì? Niệm (Mindfulness / quan sát liên tục) và tỉnh giác.

Hai pháp cần được phát triển là gì? Chỉ và Quán (Serenity and discernment /Thanh tịnh và sáng suốt).

Hai pháp cần được hiểu rõ là gì? Danh và sắc (Name and form / Tên và hình dạng).

Hai pháp cần được từ bỏ là gì? Vô minh và Hữu ái (Ignorance and craving for continued existence/ Vô minh và khao khát được tồn tại tiếp tục).

Hai pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Khó khuyên bảo và có bạn xấu.

Hai pháp

3. Có hai pháp có nhiều tác dụng, có hai pháp cần phải tu tập, có hai pháp cần phải biến tri, có hai pháp cần phải đoạn trừ, có hai pháp chịu phần tai hại, có hai pháp đưa đến thù thắng, hai pháp rất khó thể nhập, có hai pháp cần được sanh khởi, có hai pháp cần được thắng tri, có hai pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là hai pháp có nhiều tác dụng? Niệm và tỉnh giác. Ðó là hai pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là hai pháp cần phải tu tập? Chỉ và quán. Ðó là hai pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là hai pháp cần được biến tri? Danh và sắc. Ðó là hai pháp cần được biến tri.

iv) Thế nào là hai pháp cần phải đoạn trừ? Vô minh và hữu ái. Ðó là hai pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là hai pháp chịu phần tai hại? Ác ngôn và ác hữu. Ðó là hai pháp chịu phần tai hại.

Hai pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Dễ khuyên bảo và có bạn tốt.

Hai pháp khó giải thích là gì? Đâu là nhân và duyên (causes and reasons / nguyên nhân và lý do) cho sự ô nhiễm của chúng sinh, và đâu là nhân và duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh.

Hai pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Hai trí: tận trí và vô sinh trí (knowledge of ending, and knowledge of non-arising / Hiểu biết về sự chấm dứt và hiểu biết về không sinh khởi).

Hai pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Hai giới: giới hữu vi và giới vô vi (the conditioned element and the unconditioned element / yếu tố cần có điều kiện và yếu tố không cần có điều kiện).466

Hai pháp cần được thực chứng là gì? Minh và giải thoát.

Như vậy, hai mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

vi) Thế nào là hai pháp hướng đến thù thắng? Thiện ngôn và thiện hữu. Ðó là hai pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là hai pháp rất khó thể nhập? Nhơn và duyên làm ác nhiễm các loài hữu tình. Nhân và duyên làm thanh tịnh các loài hữu tình. Ðó là hai pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là hai pháp cần được sanh khởi? Tận trí và vô sanh trí. Ðó là hai pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là hai pháp cần được thắng tri? Hai giới: hữu vi giới và vô vi giới. Ðó là hai pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là hai pháp cần được tác chứng? Minh và giải thoát. Ðó là hai pháp cần được tác chứng.

Như vậy hai mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

3. Ba Pháp

Ba pháp hữu ích, v.v.

Ba pháp hữu ích là gì? Thân cận bậc chân nhân, lắng nghe diệu pháp, và thực hành đúng theo pháp.467

Ba pháp cần được phát triển là gì? Ba loại định. Định có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó). Định không tầm, chỉ có tứ (without placing the mind, merely keeping it connected / không có sự hướng ý nghĩ đến đối tượng nào, mà đơn thuân giữ sự quan sát đối tượng bất kỳ). Định không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected/ không có sự hướng ý nghĩ đến đối tượng nào hay duy trì sự quan sát đối tượng nào).

Ba pháp cần được hiểu rõ là gì? Ba loại cảm thọ: lạc thọ (pleasant / cảm giác dễ chịu), khổ thọ (painful / cảm giác khó chịu), và xả thọ (neutral / cảm giác trung tính).

Ba pháp cần được từ bỏ là gì? Ba loại ái (craving / sự khao khát): dục ái (craving for sensual pleasures / sự khao khát các ham muốn giác quan), hữu ái (craving for continued existence / sự khao khát được tiếp tục tồn tại), và vô hữu ái (craving to end existence / sự khao khát chấm dứt sự tồn tại).

Ba pháp

4. Có ba pháp có nhiều tác dụng, có ba pháp cần phải tu tập, có ba pháp cần phải biến tri, có ba pháp cần phải đoạn trừ, có ba pháp chịu phần tai hại, có ba pháp đưa đến thù thắng, có ba pháp rất khó thể nhập, có ba pháp cần được sanh khởi, có ba pháp cần được thắng tri, có ba pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là ba pháp có nhiều tác dụng? Giao thiệp với thiện nhân, nghe diệu pháp, hành trì pháp và tùy pháp. Ðó là ba pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là ba pháp cần phải tu tập? Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định. Ðó là ba pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là ba pháp cần phải biến tri? Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðó là ba pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là ba pháp cần phải đoạn trừ? Ba ái: Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ðó là ba pháp cần phải đoạn trừ.

Ba pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Ba gốc rễ bất thiện: tham (greed / lòng tham), sân (hate / sự tức giận), si (delusion / sự mê lầm).

Ba pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Ba gốc rễ thiện: biết đủ (contentment / sự hài lòng), tình thương (love / lòng từ), và hiểu biết (understanding / trí tuệ).

Ba pháp khó giải thích là gì? Ba yếu tố thoát ly: Xuất ly (renunciation / từ bỏ) là sự thoát ly khỏi các dục lạc giác quan. Vô sắc (the formless / cảnh giới không hình tướng) là sự thoát ly khỏi sắc tướng. Diệt (cessation / sự chấm dứt) là sự thoát ly khỏi tất cả những gì được tạo tác, có điều kiện và phụ thuộc lẫn nhau.468

Ba pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Ba loại Trí (knowledges / sự hiểu biết): trí về quá khứ, trí về tương lai, và trí về hiện tại.469

Ba pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Ba yếu tố: dục (sensuality / các ham muốn giác quan), sắc (form / hình tướng), và vô sắc (formlessness / không hình tướng).

Ba pháp cần được thực chứng là gì? Ba loại minh (knowledges / sự hiểu biết): nhớ lại các đời sống quá khứ, biết được sự chết và tái sinh của chúng sinh, và biết được sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / phiền não).

Như vậy, ba mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

v) Thế nào là ba pháp chịu phần tai hại? Ba bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si thiện căn. Ðó là ba pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là ba pháp đưa đến thù thắng? Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn. Ðó là ba pháp đưa đến thù thắng.

vii) Thế nào là ba pháp rất khó thể nhập? Ba xuất yếu giới: Xuất ly khỏi các dục vọng, tức là ly dục; xuất ly khỏi các sắc pháp, tức là vô sắc; phàm pháp gì hiện hữu, hữu vi, do duyên khởi, sự xuất ly khỏi pháp ấy tức là diệt. Ðó là ba pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là ba pháp cần phải sanh khởi? Ba trí: Trí đối với quá khứ, trí đối với tương lai, trí đối với hiện tại. Ðó là ba pháp cần phải sanh khởi.

ix) Thế nào là ba pháp cần được thắng tri? Ba giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Ðó là ba pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là ba pháp cần được tác chứng? Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh diệt trí minh, chư Lậu tận trí minh. Ðó là ba pháp cần được tác chứng.

Như vậy ba mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

4. Bốn Pháp

Bốn pháp hữu ích, v.v.

Bốn pháp hữu ích là gì? Bốn hoàn cảnh: sống ở một vùng đất thích hợp, nương tựa bậc chân nhân, tự mình có quyết tâm chân chánh, và có phước báu từ quá khứ.470

Bốn pháp cần được phát triển là gì? Bốn niệm xứ. Một vị Tỷ kheo thiền định bằng cách quan sát một phương diện của thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Vị ấy thiền định bằng cách quan sát một phương diện của thọ… tâm… các pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.

Bốn pháp cần được hiểu rõ là gì? Bốn loại thức ăn: đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, và thức thực là thứ tư.

Bốn pháp cần được từ bỏ là gì? Bốn bộc lưu: dục, hữu, kiến, và vô minh.

Bốn pháp

5. Có bốn pháp có nhiều tác dụng, có bốn pháp cần phải tu tập, có bốn pháp cần phải biến tri, có bốn pháp cần phải đoạn trừ, có bốn pháp chịu phần tai hại, có bốn pháp đưa đến thù thắng, có bốn pháp rất khó thể nhập, có bốn pháp cần được sanh khởi, có bốn pháp cần được thắng tri, có bốn pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là bốn pháp có nhiều tác dụng? Bốn bánh xe: Trú ở trung quốc, thân cận thắng nhân, chánh nguyện tự thân, tạo phước trong quá khứ. Ðó là bốn pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là bốn pháp cần phải tu tập? Bốn niệm xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị, Tỳ kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời; quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời. Ðó là bốn pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là bốn pháp cần phải biến tri? Bốn thực: Ðoàn thực loại cứng hay loại mềm, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Ðó là bốn pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là bốn pháp cần phải đoạn trừ? Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộ lưu. Ðó là bốn pháp cần phải đoạn trừ.

Bốn pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Bốn ách: ách của dục, hữu, kiến, và vô minh.

Bốn pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Bốn sự tháo gỡ ách: tháo gỡ khỏi ách của dục, hữu, kiến, và vô minh.

Bốn pháp khó giải thích là gì? Bốn loại định: định dễ bị suy thoái, định ổn định, định dẫn đến tiến bộ, và định dẫn đến sự xuyên thấu.471

Bốn pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Bốn trí: trí về các pháp hiện tại, trí suy luận, trí biết tâm người khác, và trí thông thường.

Bốn pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Bốn sự thật cao quý: khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường dẫn đến sự diệt khổ.

Bốn pháp cần được thực chứng là gì? Bốn quả của đời sống Sa-môn: quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai, và quả A-la-hán.

Như vậy, bốn mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

v) Thế nào là bốn pháp chịu phần tai hại? Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách. Ðó là bốn pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là bốn pháp hướng đến thù thắng? Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách. Ðó là bốn pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là bốn pháp rất khó thể nhập? Bốn định: Xả phần định, chỉ phần định, thắng phần định, quyết trạch phần định. Ðó là bốn pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là bốn pháp cần được sanh khởi? Bốn trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí. Ðó là bốn pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là bốn pháp cần được thắng tri? Bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế. Ðó là bốn pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là bốn pháp cần được tác chứng? Bốn Sa-môn quả: Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả. Ðó là bốn pháp cần được tác chứng.

Như vậy là bốn mươi pháp chân, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

5. Năm Pháp

Năm pháp hữu ích, v.v.

Năm pháp hữu ích là gì? Năm yếu tố hỗ trợ thiền định. Một vị Tỷ kheo có niềm tin vào sự giác ngộ của Như Lai: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, một vị Phật chánh đẳng chánh giác, đầy đủ minh và hạnh, thiện thệ, thế gian giải, bậc vô thượng điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy ít bệnh, ít đau. Dạ dày của vị ấy tiêu hóa tốt, không quá nóng cũng không quá lạnh, mà vừa phải, và thích hợp cho việc thiền định. Vị ấy không gian xảo hay lừa dối. Vị ấy bộc lộ bản thân một cách chân thật với Bậc Đạo Sư hoặc các bạn đồng tu đáng kính. Vị ấy sống với sự siêng năng được khơi dậy để từ bỏ các pháp bất thiện và tiếp nhận các pháp thiện. Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì tinh tấn, không lơ là khi phát triển các pháp thiện. Vị ấy có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh và diệt, một trí tuệ cao thượng, có khả năng xuyên thấu, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.

Năm pháp cần được phát triển là gì? Chánh định với năm yếu tố: sự thấm nhuần với niềm vui, sự thấm nhuần với an ổn, sự thấm nhuần với tâm, sự thấm nhuần với ánh sáng, và cơ sở để quán xét.472

Năm pháp cần được hiểu rõ là gì? Năm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

Năm pháp cần được từ bỏ là gì? Năm triền cái (hindrances / những điều làm ngăn cản tâm trí phát triển): tham dục, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và hoài nghi.

Năm pháp

6. Có năm pháp có nhiều tác dụng, có năm pháp cần phải tu tập, có năm pháp cần phải biến tri, có năm pháp cần phải đoạn trừ, có năm pháp chịu phần tai hại, có năm pháp đưa đến thù thắng, có năm pháp rất khó thể nhập, có năm pháp cần được sanh khởi, có năm pháp cần được thắng tri, có năm pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là năm pháp có nhiều tác dụng? Năm cần chi. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai - “Ðây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau. Ðó là năm pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là năm pháp cần được tu tập? Năm chánh định chi: Hỷ biến mãn, lạc biến mãn, tâm biến mãn, quang biến mãn, quán sát tướng. Ðó là năm pháp cần được tu tập.

iii) Thế nào là năm pháp cần phải biến tri? Năm thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Ðó là năm pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là năm pháp cần phải đoạn trừ? Năm triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, thụy miên hôn trầm triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền cái. Ðó là năm pháp cần phải đoạn trừ.

Năm pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Năm loại tâm chai cứng. Thứ nhất, một vị Tỷ kheo có hoài nghi về Bậc Đạo Sư. Vị ấy không chắc chắn, không quyết đoán, và thiếu niềm tin. Vì vậy, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là loại tâm chai cứng thứ nhất. Hơn nữa, một vị Tỷ kheo có hoài nghi về giáo pháp… về Tăng đoàn… về sự tu tập… Một vị Tỷ kheo tức giận và khó chịu với các bạn đồng tu của mình, oán giận và khép kín. Vì vậy, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự tận tụy, sự kiên trì, và sự nỗ lực. Đây là loại tâm chai cứng thứ năm.

Năm pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Năm căn: niềm tin, siêng năng, niệm, định, và trí tuệ.

Năm pháp khó giải thích là gì? Năm xuất ly giới. Một vị Tỷ kheo chú tâm vào các tham dục, nhưng tâm của vị ấy không hứng khởi, không có được niềm tin, không an trụ, và không trở nên quyết đoán. Nhưng khi vị ấy chú tâm vào sự ly dục, tâm của vị ấy hứng khởi, có được niềm tin, an trụ, và trở nên quyết đoán. Tâm của vị ấy ở trong trạng thái tốt, được phát triển tốt, được khơi dậy tốt, được giải thoát tốt, và được tách rời tốt khỏi các tham dục. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não đau khổ và nóng bức phát sinh do các tham dục, vì vậy vị ấy không trải qua loại cảm giác đó. Đây là cách giải thích về sự thoát khỏi các tham dục.

Hãy xem một trường hợp khác, một vị Tỷ kheo chú tâm vào sự tức giận, nhưng tâm của vị ấy không hứng khởi… Nhưng khi vị ấy chú tâm vào lòng từ, tâm của vị ấy hứng khởi… Tâm của vị ấy ở trong trạng thái tốt… được tách rời tốt khỏi sự tức giận. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não đau khổ và nóng bức phát sinh do sự tức giận, vì vậy vị ấy không trải qua loại cảm giác đó. Đây là cách giải thích về sự thoát khỏi sự tức giận.

Hãy xem một trường hợp khác, một vị Tỷ kheo chú tâm vào sự hãm hại, nhưng tâm của vị ấy không hứng khởi… Nhưng khi vị ấy chú tâm vào lòng bi, tâm của vị ấy hứng khởi… Tâm của vị ấy ở trong trạng thái tốt… được tách rời tốt khỏi sự hãm hại. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não đau khổ và nóng bức phát sinh do sự hãm hại, vì vậy vị ấy không trải qua loại cảm giác đó. Đây là cách giải thích về sự thoát khỏi sự hãm hại.

Hãy xem một trường hợp khác, một vị Tỷ kheo chú tâm vào sắc, nhưng tâm của vị ấy không hứng khởi… Nhưng khi vị ấy chú tâm vào vô sắc, tâm của vị ấy hứng khởi… Tâm của vị ấy ở trong trạng thái tốt… được tách rời tốt khỏi các sắc. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não đau khổ và nóng bức phát sinh do sắc, vì vậy vị ấy không trải qua loại cảm giác đó. Đây là cách giải thích về sự thoát khỏi các sắc.

Hãy xem một trường hợp một vị Tỷ kheo chú tâm vào thực tại hữu thể, nhưng tâm của vị ấy không hứng khởi, không có được niềm tin, không an trụ, và không trở nên quyết đoán. Nhưng khi vị ấy chú tâm vào sự chấm dứt của thực tại hữu thể, tâm của vị ấy hứng khởi, có được niềm tin, an trụ, và trở nên quyết đoán. Tâm của vị ấy ở trong trạng thái tốt, được phát triển tốt, được khơi dậy tốt, được giải thoát tốt, và được tách rời tốt khỏi thực tại hữu thể. Vị ấy được giải thoát khỏi những phiền não đau khổ và nóng bức phát sinh do thực tại hữu thể, vì vậy vị ấy không trải qua loại cảm giác đó. Đây là cách giải thích về sự thoát khỏi thực tại hữu thể.

Năm pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Chánh định với năm trí. Các trí sau đây tự thân nảy sinh cho bạn: ‘Định này hiện tại là an lạc, và trong tương lai cũng có kết quả an lạc.’ ‘Định này là cao thượng và không thuộc về xác thịt.’ ‘Định này không được những kẻ tội lỗi tu tập.’ ‘Định này là thanh tịnh, cao siêu, yên ổn và hợp nhất, không được duy trì bằng sự đè nén mạnh mẽ.’ ‘Ta chánh niệm đi vào và đi ra khỏi định này.’

v) Thế nào là năm pháp chịu phần tai hại? Năm tâm hoang vu. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ … đối với Pháp… đối với Tăng… đối với học Pháp… Lại nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.

Ðó là năm pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là năm pháp hướng đến thù thắng? Năm căn: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Ðó là năm pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là năm pháp rất khó thể nhập? Năm giới hướng đến giải thoát. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên, các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tôn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.

Ðó là năm pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là năm pháp cần được sanh khởi? Năm chánh định trí: “Ðây là định đưa đến hiện tại lạc và lạc quả tương lai”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc bậc Thánh, xuất thế”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc hàng hiền thiện thực hành”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại”, tự mình khởi trí như vậy. “Tôi với chánh niệm nhập định này, và với chánh niệm xuất định này”, tự mình khởi trí như vậy. Ðó là năm pháp cần được sanh khởi.

Năm pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Năm cơ hội giải thoát. Thứ nhất, Bậc Đạo Sư hoặc một bạn đồng tu đáng kính giảng Pháp cho một vị Tỷ kheo. Vị Tỷ kheo đó cảm thấy được truyền cảm hứng bởi ý nghĩa và giáo lý trong Pháp đó, bất kể Bậc Đạo Sư hay bạn đồng tu đáng kính giảng dạy như thế nào. Cảm thấy được truyền cảm hứng, niềm vui khởi sinh. Khi vui vẻ, niềm vui lớn (hỷ) khởi sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui lớn, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, người ấy cảm thấy an lạc. Và khi an lạc, tâm trở nên định tĩnh. Đây là cơ hội giải thoát thứ nhất.

Lại nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay một bạn đồng tu đáng kính giảng Pháp cho một vị Tỷ kheo. Nhưng vị Tỷ kheo đó giảng Pháp chi tiết cho người khác như những gì mình đã học và ghi nhớ. Vị Tỷ kheo đó cảm thấy được truyền cảm hứng bởi ý nghĩa và giáo lý trong Pháp đó, bất kể vị ấy giảng chi tiết cho người khác như thế nào. Cảm thấy được truyền cảm hứng, niềm vui khởi sinh. Khi vui vẻ, niềm vui lớn khởi sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui lớn, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, người ấy cảm thấy an lạc. Và khi an lạc, tâm trở nên định tĩnh. Đây là cơ hội giải thoát thứ hai.

Lại nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay… vị Tỷ kheo giảng Pháp. Nhưng vị Tỷ kheo đó tụng đọc giáo pháp một cách chi tiết như những gì mình đã học và ghi nhớ. Vị Tỷ kheo đó cảm thấy được truyền cảm hứng bởi ý nghĩa và giáo lý trong Pháp đó, bất kể vị ấy tụng đọc chi tiết như thế nào. Cảm thấy được truyền cảm hứng, niềm vui khởi sinh. Khi vui vẻ, niềm vui lớn khởi sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui lớn, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, người ấy cảm thấy an lạc. Và khi an lạc, tâm trở nên định tĩnh. Đây là cơ hội giải thoát thứ ba.

Lại nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay… vị Tỷ kheo giảng Pháp… cũng không phải vị Tỷ kheo tụng đọc giáo pháp. Nhưng vị Tỷ kheo đó suy ngẫm và xem xét giáo pháp trong tâm mình, khảo sát nó bằng tâm trí như những gì mình đã học và ghi nhớ. Vị Tỷ kheo đó cảm thấy được truyền cảm hứng bởi ý nghĩa và giáo lý trong Pháp đó, bất kể vị ấy suy ngẫm và xem xét nó trong tâm mình như thế nào. Cảm thấy được truyền cảm hứng, niềm vui khởi sinh. Khi vui vẻ, niềm vui lớn khởi sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui lớn, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, người ấy cảm thấy an lạc. Và khi an lạc, tâm trở nên định tĩnh. Đây là cơ hội giải thoát thứ tư.

Lại nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay… vị Tỷ kheo giảng Pháp… cũng không phải vị Tỷ kheo tụng đọc giáo pháp… hay suy ngẫm về nó. Nhưng một đề mục thiền định làm cơ sở cho sự định tâm được nắm bắt đúng đắn, chú tâm, ghi nhớ, và thấu hiểu bằng trí tuệ. Vị Tỷ kheo đó cảm thấy được truyền cảm hứng bởi ý nghĩa và giáo lý trong Pháp đó, bất kể một đề mục thiền định làm cơ sở cho sự định tâm được nắm bắt, chú tâm, ghi nhớ, và thấu hiểu bằng trí tuệ như thế nào. Cảm thấy được truyền cảm hứng, niềm vui khởi sinh. Khi vui vẻ, niềm vui lớn khởi sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui lớn, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, người ấy cảm thấy an lạc. Và khi an lạc, tâm trở nên định tĩnh. Đây là cơ hội giải thoát thứ năm.

Năm pháp cần được thực chứng là gì? Năm pháp uẩn: giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến.

Như vậy, năm mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

ix) Thế nào là năm pháp cần được thắng tri? Năm giải thoát xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ tư.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ khoe nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ năm.

Ðó là năm pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là năm pháp cần được tác chứng? Năm pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Ðó là năm pháp cần được tác chứng.

Như vậy năm mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

6. Sáu Pháp

Sáu pháp hữu ích, v.v.

Sáu pháp hữu ích là gì? Sáu pháp đáng nhớ. Thứ nhất, một vị Tỷ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu của mình bằng lòng từ ái qua thân, cả ở nơi công cộng và nơi riêng tư. Pháp đáng nhớ này tạo ra sự yêu mến và kính trọng, dẫn đến sự hòa hợp, đoàn kết, và thống nhất, không có cãi vã.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu của mình bằng lòng từ ái qua lời nói.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo luôn đối xử với các bạn đồng tu của mình bằng lòng từ ái qua ý nghĩ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo chia sẻ không dè dặt bất kỳ vật chất nào mình có được bằng phương tiện hợp pháp, ngay cả thức ăn trong bát khất thực, dùng chung với các bạn đồng tu có đạo đức của mình.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo sống theo các giới luật được chia sẻ với các bạn đồng tu của mình, cả ở nơi công cộng và nơi riêng tư. Những giới luật đó là nguyên vẹn, không tì vết, không tì vết, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị hiểu sai, và dẫn đến định.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo sống theo quan điểm được chia sẻ với các bạn đồng tu của mình, cả ở nơi công cộng và nơi riêng tư. Quan điểm đó là cao thượng và giải thoát, và đưa người thực hành nó đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Pháp đáng nhớ này tạo ra sự yêu mến và kính trọng, dẫn đến sự hòa hợp, đoàn kết, và thống nhất, không có cãi vã.

Sáu pháp cần được phát triển là gì? Sáu pháp Cần phải nhớ: Cần phải nhớ về Phật, về Pháp, về Tăng, về giới, về sự bố thí, và về các vị trời.

Sáu pháp cần được hiểu rõ là gì? Sáu nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý.

Sáu pháp cần được từ bỏ là gì? Sáu loại ái: ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp.

Sáu pháp

7. Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là sáu pháp có nhiều tác dụng? Sáu hòa kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp. Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Ðó là sáu pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là sáu pháp cần phải tu tập? Sáu tùy niệm xứ: Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giời tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm. Ðó là sáu pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là sáu pháp cần phải biến tri? Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Ðó là sáu pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là sáu pháp cần phải đoạn trừ? Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Ðó là sáu pháp cần phải đoạn trừ.

Sáu pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Sáu loại bất kính. Một vị Tỷ kheo thiếu sự kính trọng và tôn kính đối với Bậc Đạo Sư, giáo pháp, và Tăng đoàn, sự tu tập, sự siêng năng, và lòng hiếu khách.

Sáu pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Sáu loại kính trọng. Một vị Tỷ kheo có sự kính trọng và tôn kính đối với Bậc Đạo Sư, giáo pháp, và Tăng đoàn, sự tu tập, sự siêng năng, và lòng hiếu khách.

Sáu pháp khó giải thích là gì? Sáu xuất ly giới. Có một vị Tỷ kheo nói rằng: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng lòng từ. Tôi đã tu tập nó, biến nó thành cỗ xe và nền tảng của tôi, duy trì nó, củng cố nó, và thực hành nó đúng đắn. Nhưng không hiểu sao sự tức giận vẫn chiếm hữu tâm trí tôi.’ Vị ấy nên được bảo rằng: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả! Đừng nói vậy. Đừng xuyên tạc Đức Phật, vì xuyên tạc Đức Phật là không tốt. Và Đức Phật sẽ không nói như vậy. Điều đó là không thể, thưa hiền giả, không thể xảy ra rằng tâm giải thoát bằng lòng từ đã được phát triển và thực hành đúng đắn, mà không hiểu sao sự tức giận vẫn chiếm hữu tâm trí. Vì chính tâm giải thoát bằng lòng từ là sự thoát khỏi sự tức giận.’

Có một vị Tỷ kheo khác nói rằng: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng lòng bi. Tôi đã tu tập nó, biến nó thành cỗ xe và nền tảng của tôi, duy trì nó, củng cố nó, và thực hành nó đúng đắn. Nhưng không hiểu sao ý nghĩ hãm hại vẫn chiếm hữu tâm trí tôi.’ Vị ấy nên được bảo rằng: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả! … Vì chính tâm giải thoát bằng lòng bi là sự thoát khỏi ý nghĩ hãm hại.’

Có một vị Tỷ kheo khác nói rằng: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng lòng hỷ. … Nhưng không hiểu sao sự bất mãn vẫn chiếm hữu tâm trí tôi.’ Vị ấy nên được bảo rằng: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả! … Vì chính tâm giải thoát bằng lòng hỷ là sự thoát khỏi sự bất mãn.’

Có một vị Tỷ kheo khác nói rằng: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát bằng lòng xả. … Nhưng không hiểu sao ham muốn vẫn chiếm hữu tâm trí tôi.’ Vị ấy nên được bảo rằng: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả! … Vì chính tâm giải thoát bằng lòng xả là sự thoát khỏi ham muốn.’

Có một vị Tỷ kheo khác nói rằng: ‘Tôi đã phát triển tâm giải thoát vô tướng. … Nhưng không hiểu sao ý thức của tôi vẫn chạy theo các tướng.’ Vị ấy nên được bảo rằng: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả! … Vì chính tâm giải thoát vô tướng là sự thoát khỏi tất cả các tướng.’

Có một vị Tỷ kheo khác nói rằng: ‘Tôi đã thoát khỏi ngã mạn “tôi là”. Và tôi không coi bất cứ thứ gì là “tôi là cái này”. Nhưng không hiểu sao mũi tên của sự hoài nghi và do dự vẫn chiếm hữu tâm trí tôi.’ Vị ấy nên được bảo rằng: ‘Không phải vậy, thưa hiền giả! Đừng nói vậy. Đừng xuyên tạc Đức Phật, vì xuyên tạc Đức Phật là không tốt. Và Đức Phật sẽ không nói như vậy. Điều đó là không thể, thưa hiền giả, không thể xảy ra rằng ngã mạn “tôi là” đã được loại bỏ, và không có gì được coi là “tôi là cái này”, mà không hiểu sao mũi tên của sự hoài nghi và do dự vẫn chiếm hữu tâm trí. Vì chính sự nhổ bỏ ngã mạn “tôi là” là sự thoát khỏi mũi tên của sự hoài nghi và do dự.’

v) Thế nào là sáu pháp chịu phần tai hại? Sáu bất cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo sống không cung kính, chống đối bậc Ðạo Sư, chống đối với Pháp… chống đối với Tăng… chống đối với học pháp… chống đối với bất phóng dật… Sống không cung kính, chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là sáu pháp hướng đến thù thắng? Sáu cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo cung kính, không chống đối bậc Ðạo sư… không chống đối với Pháp… không chống đối với Tăng… không chống đối với học pháp… không chống đối với bất phóng dật… cung kính, không chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là sáu pháp rất khó thể nhập? Sáu xuất ly giới. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trú, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.

Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh, an trú nơi tôi”. Sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn “tôi có mặt”, mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.

Ðó là sáu pháp rất khó thể nhập.

Sáu pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Sáu phản ứng nhất quán. Một vị Tỷ kheo, khi thấy một cảnh sắc bằng mắt, không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác. Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi…

Khi cảm nhận một sự xúc chạm bằng thân… Khi biết một ý niệm bằng tâm, vị ấy không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác.

Sáu pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Sáu pháp vô thượng: thấy vô thượng, nghe vô thượng, thu nhận vô thượng, tu tập vô thượng, phục vụ vô thượng, và Cần phải nhớ vô thượng.

Sáu pháp cần được thực chứng là gì? Sáu thắng trí. Một vị Tỷ kheo vận dụng nhiều loại thần thông: tự nhân bản mình rồi lại trở thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như thể đó là nước; đi trên mặt nước như thể đó là đất liền; bay xếp bằng trên không trung như một con chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, thật hùng mạnh và quyền năng; điều khiển thân thể đến tận cõi trời Phạm thiên.

Với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của con người và của trời, dù ở gần hay xa.

Vị ấy hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, đã thấu hiểu chúng bằng chính tâm của mình.

Vị ấy nhớ lại nhiều kiếp quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết.

Với thiên nhãn thông thanh tịnh và siêu phàm, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh—hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Vị ấy hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ.

Vị ấy chứng ngộ sự giải thoát không ô nhiễm của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã chứng ngộ nó bằng chính tuệ giác của mình do sự chấm dứt các phiền não.

Như vậy, sáu mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

viii) Thế nào là sáu pháp cần phải sanh khởi? Sáu hằng trú pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm tinh giác; tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi niếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là sáu pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là sáu pháp cần được thắng tri? Sáu vô thượng chi: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng. Ðó là sáu pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là sáu pháp cần được tác chứng? Sáu thắng trí. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo chứng được thần túc sai biệt… với thân có thể đến Phạm thiên giới; với thiên nhĩ thanh tịnh vượt khỏi loài Người, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, xa và gần; với tâm của mình có thể biết tâm của các loài hữu tình khác, của các loài người khác, như tâm có tham… tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát; nhớ đến rất nhiều các đời trước, như một đời, hai đời… nhớ đến các đời trước với các chi tiết và các hình thức; với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài Người… biết được cái loài hữu tình tùy theo nghiệp của mình; với sự diệt trừ các lậu hoặc; sau khi tự tri, tự chứng ngay trong đời hiện tại; đạt đến và an trú vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Ðó là sáu pháp cần được tác chứng.

Như vậy sáu mươi pháp này là chân, thực, như thị, không phải không như thị, không có sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

7. Bảy Pháp

Bảy pháp hữu ích, v.v.

Bảy pháp hữu ích là gì? Bảy tài sản của bậc Thánh: tài sản niềm tin, giới, xấu hổ, sợ điều ác, học hỏi, bố thí, và trí tuệ.

Bảy pháp cần được phát triển là gì? Bảy yếu tố giác ngộ: niệm, trạch pháp, siêng năng, niềm vui, khinh an, định, và xả.

Bảy pháp cần được hiểu rõ là gì? Bảy thức trú. Có những chúng sinh có thân khác nhau và nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) khác nhau, chẳng hạn như con người, một số vị trời, và một số chúng sinh ở cõi thấp. Đây là thức trú thứ nhất.

Có những chúng sinh có thân khác nhau và nhận thức thống nhất, chẳng hạn như các vị trời được tái sinh trong cõi Phạm Chúng Thiên qua thiền thứ nhất. Đây là thức trú thứ hai.

Có những chúng sinh có thân thống nhất và nhận thức khác nhau, chẳng hạn như các vị trời Quang Âm Thiên. Đây là thức trú thứ ba.

Có những chúng sinh có thân thống nhất và nhận thức thống nhất, chẳng hạn như các vị trời Biến Tịnh Thiên. Đây là thức trú thứ tư.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua nhận thức về sắc. Với sự chấm dứt nhận thức về sự va chạm, không chú tâm vào nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô biên’, họ đã được tái sinh vào cõi không vô biên xứ. Đây là thức trú thứ năm.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi không vô biên xứ. Ý thức rằng ‘thức là vô biên’, họ đã được tái sinh vào cõi thức vô biên xứ. Đây là thức trú thứ sáu.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi thức vô biên xứ. Ý thức rằng ‘không có gì cả’, họ đã được tái sinh vào cõi vô sở hữu xứ. Đây là thức trú thứ bảy.

Bảy pháp cần được từ bỏ là gì? Bảy tùy miên: tham dục, sân hận, kiến, nghi, mạn, hữu tham, và vô minh.

Bảy pháp

8. Có bảy pháp có nhiều tác dụng, có bảy pháp cần phải tu tập, có bảy pháp cần phải biến tri, có bảy pháp cần phải đoạn trừ, có bảy pháp chịu phần tai hại, có bảy pháp đưa đến thù thắng, có bảy pháp rất khó thể nhập, có bảy pháp cần được sanh khởi, có bảy pháp cần được thắng tri, có bảy pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là bảy pháp, có nhiều tác dụng? Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quí tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Ðó là bảy pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là bảy pháp cần tu tập? Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Ðó là bảy pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là bảy pháp cần phải biến tri? Bảy thức trú. Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó là loại thức trú thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại thức trú thứ tư. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ năm. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ sáu. Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì cả”. Ðó là loại thức trú thứ bảy.

Ðó là bảy pháp cần được biến tri.

iv) Thế nào là bảy pháp cần được đoạn trừ? Bảy tùy miên: Tham dục tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên. Ðó là bảy pháp cần phải đoạn trừ.

Bảy pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Bảy pháp xấu: một vị Tỷ kheo không có niềm tin, không xấu hổ, không sợ điều ác, ít học, lười biếng, sao nhãng, và không có trí tuệ.

Bảy pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Bảy pháp tốt: một vị Tỷ kheo có niềm tin, có lòng xấu hổ, có lòng sợ điều ác, học nhiều, siêng năng, chánh niệm, và có trí tuệ.

Bảy pháp khó giải thích là gì? Bảy phương diện trong giáo pháp của bậc chân nhân: một vị Tỷ kheo biết giáo pháp, biết ý nghĩa, biết chính mình, biết chừng mực, biết đúng thời điểm, biết các hội chúng, và biết người.

Bảy pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Bảy nhận thức: nhận thức về vô thường, nhận thức về vô ngã, nhận thức về sự bất tịnh, nhận thức về sự nguy hại, nhận thức về sự từ bỏ, nhận thức về sự ly tham, và nhận thức về sự đoạn diệt.

Bảy pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Bảy phẩm chất để tốt nghiệp. Một vị Tỷ kheo có lòng nhiệt thành để thực hành sự tu tập… để khảo sát giáo pháp… để loại bỏ ham muốn… để ẩn dật… để khơi dậy sự siêng năng… để có chánh niệm và tỉnh giác… để thâm nhập về mặt lý thuyết. Và vị ấy không đánh mất những mong muốn này trong tương lai.

Bảy pháp cần được thực chứng là gì? Bảy năng lực của người đã đoạn tận các phiền não. Thứ nhất, một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng tất cả các pháp hữu vi thực sự là vô thường. Đây là một năng lực mà một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não dựa vào để tuyên bố: ‘Các phiền não của tôi đã được đoạn tận.’

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng các tham dục thực sự giống như một hố than hồng. …

Lại nữa, tâm của một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não hướng về, nghiêng về, và xuôi về sự ẩn dật. Vị ấy sống viễn ly, yêu thích sự từ bỏ, và đã loại bỏ hoàn toàn các ảnh hưởng ô nhiễm. …

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não đã phát triển tốt bốn niệm xứ. …

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não đã phát triển tốt năm căn. …

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não đã phát triển tốt bảy yếu tố giác ngộ. …

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não đã phát triển tốt Bát chánh đạo. … Đây là một năng lực mà một vị Tỷ kheo đã đoạn tận các phiền não dựa vào để tuyên bố: ‘Các phiền não của tôi đã được đoạn tận.’

Như vậy, bảy mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

v) Thế nào là bảy pháp chịu phần tai hại? Bảy phi diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đãi, thất niệm, ác tuệ. Như vậy là bảy pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là bảy pháp hướng đến thù thắng? Bảy diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo có lòng tin, có tàm, có quý, đa văn, tinh cần, niệm hiện tiền, có trí tuệ. Như vậy là bảy pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là bảy pháp rất khó thể nhập? Bảy thượng nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tri pháp, tri nghĩa, tri ngã, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân. Như vậy là bảy pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là bảy pháp cần phải sanh khởi? Bảy tướng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, quá hoạn tưởng, đoạn trừ tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là bảy pháp cần phải sanh khởi.

ix) Thế nào là bảy pháp cần phải thắng tri? Bảy thù diệu sự. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai; tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai; tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai; tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai; tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai; tha thiết quán sát tự niệm và khát vọng quán sát tự niệm trong tương lai; tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.

Như vậy là bảy pháp cần phải thắng tri.

x) Thế nào là bảy pháp cần được tác chứng? Bảy lậu tận lực. Này các Hiền giả, ở đây, vị lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi với chánh tuệ. Này các Hiền giả, vị Lậu tận, Tỷ kheo chánh quán như chân với chánh tuệ tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi, chánh quán ấy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo ấy. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được sự diệt tận các lậu hoặc: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân với chánh tuệ các dục vọng như lửa than hừng… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo tâm hướng xuất ly, tâm thiên xuất ly, tâm nặng về xuất ly, tâm lấy xuất ly làm mục đích, tâm hoan hỷ ly dục, đoạn trừ hoàn toàn mọi lậu hoặc trú. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, bốn niệm an trú được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, năm căn được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bảy Giác chi đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập, như vậy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”. Như vậy là bảy pháp cần được tu chứng. Như vậy bảy mươi pháp này là chơn, thực như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

8. Tám Pháp

Tám pháp hữu ích, v.v.

Tám pháp hữu ích là gì? Có tám nhân và tám duyên dẫn đến việc có được trí tuệ căn bản cho đời sống phạm hạnh, và cho sự tăng trưởng, phát triển, và viên mãn của nó một khi đã có được. Tám điều đó là gì? Đó là khi một vị Tỷ kheo sống nương tựa vào Bậc Đạo Sư hoặc một bạn đồng tu trong vai trò người thầy. Và vị ấy thiết lập một ý thức sâu sắc về lòng xấu hổ và sợ điều ác đối với họ, với sự nồng hậu và kính trọng. Đây là nhân thứ nhất.

Khi một vị Tỷ kheo sống nương tựa vào Bậc Đạo Sư hoặc một bạn đồng tu trong vai trò người thầy—với một ý thức sâu sắc về lòng xấu hổ và sợ điều ác đối với họ, với sự nồng hậu và kính trọng—thỉnh thoảng vị ấy đến và hỏi họ: ‘Thưa tôn giả, tại sao lại nói như vậy? Điều đó có nghĩa là gì?’ Những vị tôn giả đó làm sáng tỏ những gì chưa rõ, tiết lộ những gì còn ẩn khuất, và xua tan sự hoài nghi về nhiều vấn đề đáng ngờ. Đây là nhân thứ hai.

Sau khi nghe giáo pháp đó, vị ấy hoàn thiện sự viễn ly cả về thân và tâm. Đây là nhân thứ ba.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), được chế ngự trong giới luật tu viện, hành xử tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi lầm nhỏ nhất, vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ nhận. Đây là nhân thứ tư.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo rất uyên bác, ghi nhớ và giữ gìn những gì đã học. Những giáo lý này tốt ở đoạn đầu, tốt ở đoạn giữa, và tốt ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn phong hay, mô tả một thực hành tâm linh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Vị ấy rất uyên bác trong những giáo lý như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, xem xét chúng trong tâm, và thấu hiểu chúng về mặt lý thuyết. Đây là nhân thứ năm.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo sống với sự siêng năng được khơi dậy để từ bỏ các pháp bất thiện và tiếp nhận các pháp thiện. Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì tinh tấn, không lơ là khi phát triển các pháp thiện. Đây là nhân thứ sáu.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo có chánh niệm. Vị ấy có chánh niệm và tỉnh giác tối thượng, và có thể nhớ lại và hồi tưởng những gì đã nói và làm từ lâu. Đây là nhân thứ bảy.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo thiền định bằng cách quan sát sự sinh và diệt trong năm thủ uẩn. ‘Sắc là như vậy, nguồn gốc của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy, nguồn gốc của thọ là như vậy, sự chấm dứt của thọ là như vậy. Tưởng là như vậy, nguồn gốc của tưởng là như vậy, sự chấm dứt của tưởng là như vậy. Hành là như vậy, nguồn gốc của hành là như vậy, sự chấm dứt của hành là như vậy. Thức là như vậy, nguồn gốc của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.’ Đây là nhân thứ tám.473

Tám pháp cần được phát triển là gì? Bát chánh đạo, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Tám pháp cần được hiểu rõ là gì? Tám ngọn gió đời: được và mất, danh và không danh, chê và khen, vui và khổ.

Tám pháp cần được từ bỏ là gì? Tám tà đạo: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, và tà định.

Tụng Phẩm II

Tám pháp

1. Có tám pháp có nhiều tác dụng, có tám pháp cần phải tu tập, có tám pháp cần phải biến tri, có tám pháp cần phải đoạn trừ, có tám pháp chịu phần tai hại, có tám pháp đưa đến thù thắng, có tám pháp rất khó thể nhập, có tám pháp cần được sanh khởi, có tám pháp cần được thắng tri, có tám pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là tám pháp có nhiều tác dụng? Có tám nhân, tám duyên đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được. Này các Hiền giả, ở đây, ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Như vậy là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.

Ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Người này thỉnh thoảng đến các vị ấy và đặt những câu hỏi: “Này Tôn giả, vấn đề này là thế nào? Vấn đề này nghĩa như thế nào?” Và các vị này đối với người ấy, nêu rõ những gì bị che khuất, phơi bày ra những gì bị giấu kín, và diệt trừ mọi nghi ngờ đối với những vấn đề đang còn nghi ngờ. Như vậy là nhân thứ hai, duyên thứ hai đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.

Sau khi đã nghe pháp, vị này được hai sự an tịnh, an tịnh về thân và an tịnh về tâm. Như vậy là nhân thứ ba, duyên thứ ba, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự giới bổn Patimokka, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong các học pháp. Như vậy là nhân thứ tư, duyên thứ tư, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe. Với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, gìn giữ, ghi nhớ, nhờ lặp đi lặp lại, tâm ý suy tư, khéo thành đạt chánh trí. Như vậy là nhân thứ năm, duyên thứ năm, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, vững chắc, kiên trì đối với các thiện pháp. Như vậy là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có chánh niệm, có chánh niệm tối thượng và phân tích rõ ràng ghi nhận, nhớ rõ điều làm đã lâu ngày, nói đã lâu ngày. Như vậy là nhân thứ bảy, là duyên thứ bảy, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống quán sát sự sanh diệt của năm thủ uẩn: Ðây là sắc, đây là tập của sắc, đây là diệt của sắc. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức. Ðây là tập của thức, đây là diệt của thức. Như vậy là nhân thứ tám, duyên thứ tám, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Như vậy là tám pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là tám pháp cần phải tu tập? Bát Thánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Ðây là tám pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là tám pháp cần phải biến tri? Tám thế pháp: Ðắc và không đắc, không có thanh danh và có thanh danh, chê và khen, lạc và khổ. Như vậy là tám pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào tám pháp cần được đoạn trừ? Tám tà: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà miệm, tà định. Như vậy là tám pháp cần phải đoạn trừ.

Tám pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Tám cơ sở của sự lười biếng. Thứ nhất, một vị Tỷ kheo có việc phải làm. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi có việc phải làm. Nhưng trong khi làm, thân thể tôi sẽ mệt. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, và không khơi dậy sự siêng năng để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là cơ sở thứ nhất của sự lười biếng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã làm xong việc. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã làm xong việc. Nhưng trong khi làm, thân thể tôi đã mệt. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, và không khơi dậy sự siêng năng… Đây là cơ sở thứ hai của sự lười biếng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo phải đi một chuyến. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi phải đi một chuyến. Nhưng trong khi đi, thân thể tôi sẽ mệt. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, và không khơi dậy sự siêng năng… Đây là cơ sở thứ ba của sự lười biếng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đi một chuyến. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã đi một chuyến. Nhưng trong khi đi, thân thể tôi đã mệt. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, và không khơi dậy sự siêng năng… Đây là cơ sở thứ tư của sự lười biếng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đi khất thực, nhưng không được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã đi khất thực, nhưng không được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Thân thể tôi mệt mỏi và không thích hợp để làm việc. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’… Đây là cơ sở thứ năm của sự lười biếng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đi khất thực, và được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã đi khất thực, và được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Thân thể tôi nặng nề, không thích hợp để làm việc, giống như vừa ăn một đống đậu. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’… Vị ấy nằm xuống, và không khơi dậy sự siêng năng… Đây là cơ sở thứ sáu của sự lười biếng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo cảm thấy hơi ốm. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi cảm thấy hơi ốm. Nằm xuống sẽ tốt cho tôi. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, và không khơi dậy sự siêng năng… Đây là cơ sở thứ bảy của sự lười biếng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo vừa mới khỏi bệnh. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi vừa mới khỏi bệnh. Thân thể tôi yếu và không thích hợp để làm việc. Tốt hơn là tôi nên nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, và không khơi dậy sự siêng năng… Đây là cơ sở thứ tám của sự lười biếng.

Tám pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Tám cơ sở để khơi dậy sự siêng năng. Thứ nhất, một vị Tỷ kheo có việc phải làm. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi có việc phải làm. Trong khi làm việc, không dễ để chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.’ Vị ấy khơi dậy sự siêng năng để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là cơ sở thứ nhất để khơi dậy sự siêng năng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã làm xong việc. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã làm xong việc. Trong khi làm việc, tôi đã không thể chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng.’… Đây là cơ sở thứ hai để khơi dậy sự siêng năng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo phải đi một chuyến. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi phải đi một chuyến. Trong khi đi, không dễ để chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng.’… Đây là cơ sở thứ ba để khơi dậy sự siêng năng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đi một chuyến. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã đi một chuyến. Trong khi đi, tôi đã không thể chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng.’… Đây là cơ sở thứ tư để khơi dậy sự siêng năng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đi khất thực, nhưng không được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã đi khất thực, nhưng không được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Thân thể tôi nhẹ nhàng và thích hợp để làm việc. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng.’… Đây là cơ sở thứ năm để khơi dậy sự siêng năng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo đã đi khất thực, và được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi đã đi khất thực, và được no đủ như ý muốn, dù là thức ăn thô hay tế. Thân thể tôi khỏe mạnh và thích hợp để làm việc. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng.’… Đây là cơ sở thứ sáu để khơi dậy sự siêng năng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo cảm thấy hơi ốm. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi cảm thấy hơi ốm. Có thể bệnh này sẽ nặng hơn. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng.’… Đây là cơ sở thứ bảy để khơi dậy sự siêng năng.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo vừa mới khỏi bệnh. Vị ấy nghĩ: ‘Tôi vừa mới khỏi bệnh. Có thể bệnh sẽ tái phát. Tốt hơn là tôi nên chủ động khơi dậy sự siêng năng để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.’ Vị ấy khơi dậy sự siêng năng để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là cơ sở thứ tám để khơi dậy sự siêng năng.

Tám pháp khó giải thích là gì? Tám thời điểm không có cơ hội tu tập. Thứ nhất, một vị Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Ngài giảng dạy giáo pháp dẫn đến sự an tịnh, Niết-bàn, giác ngộ, như được bậc Thánh tuyên bố. Nhưng một người đã tái sinh vào địa ngục. Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ nhất.

Lại nữa, một vị Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào cõi súc sinh. Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ hai.

Lại nữa, một vị Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào cõi ngạ quỷ. Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ ba.

Lại nữa, một vị Như Lai đã xuất hiện trên thế gian.474 Nhưng một người đã tái sinh vào một trong những cõi trời sống lâu. Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ tư.

Lại nữa, một vị Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh ở vùng biên địa, giữa những người ngoại quốc không có học thức, nơi không có Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ đến. Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ năm.

Lại nữa, một vị Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Và một người được tái sinh ở một quốc gia trung tâm. Nhưng họ có tà kiến và quan điểm sai lệch: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường, hay lễ vật. Không có quả hay kết quả của việc làm tốt và xấu. Không có thế giới bên kia. Không có cái gọi là cha và mẹ, hay chúng sinh được tái sinh tự nhiên. Và không có Sa-môn hay Bà-la-môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả thế giới bên kia sau khi chứng ngộ nó bằng chính tuệ giác của mình.’ Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ sáu.

Lại nữa, một vị Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Và một người được tái sinh ở một quốc gia trung tâm. Nhưng họ không có trí tuệ, đần độn, ngốc nghếch, và không thể phân biệt được điều gì được nói hay và điều gì được nói dở. Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ bảy.

Lại nữa, không có vị Như Lai nào xuất hiện trên thế gian,475 vì vậy không có giáo pháp dẫn đến sự an tịnh, Niết-bàn, giác ngộ, như được bậc Thánh tuyên bố. Nhưng một người được tái sinh ở một quốc gia trung tâm. Và họ có trí tuệ, sáng suốt, thông minh, và có thể phân biệt được điều gì được nói hay và điều gì được nói dở. Đây là thời điểm không có cơ hội tu tập thứ tám.

Tám pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Tám suy nghĩ của bậc đại nhân. 'Giáo pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn. Nó dành cho người biết đủ, không phải cho người thiếu biết đủ. Nó dành cho người sống ẩn dật, không phải cho người thích giao du. Nó dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng. Nó dành cho người có chánh niệm, không phải cho người sao nhãng. Nó dành cho người có định, không phải cho người không có định. Nó dành cho người có trí tuệ, không phải cho người không có trí tuệ. Giáo pháp này dành cho những người không thích hý luận, không phải cho những người thích hý luận.'476

v) Thế nào là tám pháp chịu phần tai hại? Tám giải đãi sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: “Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được, như vậy là giải đãi sự thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, một việc đã được vị Tỷ kheo làm. Vị này nghĩ: “Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… như vậy là giải đãi sự thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, con đường vị Tỷ kheo đã đi. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ tư.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta bị mệt mỏi không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn. Như vậy là giải đãi sự thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đố ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: “Nay ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được. Như vậy là giải đãi sự thứ tám.

Như vậy là tám pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là tám pháp hướng đến thù thắng? Tám tinh tấn sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm, vị ấy nghĩ: “Có công việc, ta sẽ phải làm, nếu ta làm việc, thì không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Như vậy là tinh tấn sự thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: “Ta đã làm xong công việc. Khi ta làm công việc, ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta phải cố gắng tinh tấn…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Ðây là con đường mà ta có thể sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã đi con đường. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường ấy. Khi ta đi con đường, ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ tư.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân ta mạnh, có thể làm việc, vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: “Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của ta có thể trở lại. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, và chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Ðó là tinh tấn sự thứ tám.

Như vậy là tám pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là tám pháp rất khó thể nhập? Phạm hạnh trú, tám bất thời bất tiết. Này các Hiền giả, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào bàng sanh. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ hai.

… sanh vào ngạ quỷ… bất thời bất tiết thứ ba.

…sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài… bất thời bất tiết thứ tư.

…sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà la môn đã chứng đạt chơn chánh, đã thực thành chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng Pháp không được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ tám.

Như vậy là tám pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là tám pháp cần được sanh khởi? Tám Ðại nhân tầm: Pháp này cho người thiểu dục, pháp này không phải cho người đa dục; pháp này cho người tri túc, pháp này không phải cho người không tri túc; pháp này cho người an tịnh độc cư, pháp này không phải cho người ưa tụ hội; pháp này cho người siêng năng tinh tấn, pháp này không phải cho người giải đãi; pháp này cho người có niệm hiền tiền, pháp này không phải cho người thất niệm; pháp này là cho người có định tâm, pháp này không phải cho người không có định tâm; pháp này cho người có trí tuệ, pháp này không phải cho người có ác tuệ; pháp này cho người không ưa thích lý luận, pháp này không phải cho người ưa thích lý luận. Như vậy là tám pháp cần được sanh khởi.

Tám pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Tám xứ thắng. Nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp và xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ nhất.

Nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, không giới hạn, cả đẹp và xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ hai.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp và xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ ba.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, không giới hạn, cả đẹp và xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ tư.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu xanh, với màu sắc xanh và vẻ ngoài xanh. Chúng giống như một bông hoa lanh màu xanh, với màu sắc xanh và vẻ ngoài xanh. Hoặc một tấm vải từ Varanasi được làm mịn cả hai mặt, màu xanh, với màu sắc xanh và vẻ ngoài xanh. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ năm.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu vàng, với màu sắc vàng và vẻ ngoài vàng. Chúng giống như một bông hoa champak màu vàng, với màu sắc vàng và vẻ ngoài vàng. Hoặc một tấm vải từ Varanasi được làm mịn cả hai mặt, màu vàng, với màu sắc vàng và vẻ ngoài vàng. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ sáu.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu đỏ, với màu sắc đỏ và vẻ ngoài đỏ. Chúng giống như một bông hoa cẩm quỳ đỏ tươi màu đỏ, với màu sắc đỏ và vẻ ngoài đỏ. Hoặc một tấm vải từ Varanasi được làm mịn cả hai mặt, màu đỏ, với màu sắc đỏ và vẻ ngoài đỏ. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ bảy.

Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Chúng giống như sao mai màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Hoặc một tấm vải từ Varanasi được làm mịn cả hai mặt, màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Làm chủ chúng, họ nhận thức: ‘Tôi biết và thấy.’ Đây là xứ thắng thứ tám.

Tám pháp cần được thực chứng là gì? Tám giải thoát. Có hình sắc, họ thấy các hình sắc. Đây là giải thoát thứ nhất.

Không nhận thức hình sắc bên trong, một người thấy các hình sắc bên ngoài. Đây là giải thoát thứ hai.

Họ chỉ chú tâm vào vẻ đẹp. Đây là giải thoát thứ ba.

Hoàn toàn vượt qua nhận thức về sắc, với sự chấm dứt nhận thức về sự va chạm, không chú tâm vào nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô biên’, họ nhập và an trú trong cõi không vô biên xứ. Đây là giải thoát thứ tư.

Hoàn toàn vượt qua cõi không vô biên xứ, ý thức rằng ‘thức là vô biên’, họ nhập và an trú trong cõi thức vô biên xứ. Đây là giải thoát thứ năm.

Hoàn toàn vượt qua cõi thức vô biên xứ, ý thức rằng ‘không có gì cả’, họ nhập và an trú trong cõi vô sở hữu xứ. Đây là giải thoát thứ sáu.

Hoàn toàn vượt qua cõi vô sở hữu xứ, họ nhập và an trú trong cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đây là giải thoát thứ bảy.

Hoàn toàn vượt qua cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ, họ nhập và an trú trong sự diệt thọ tưởng. Đây là giải thoát thứ tám.

Như vậy, tám mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

ix) Thế nào là tám pháp cần được thắng tri? Tám thắng xứ. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.

Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như bông bandhujìvaka màu đỏ - như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng - như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thứ rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám.

Như vậy là tám pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là tám pháp cần được chứng ngộ? Tám giải thoát.

Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là giải thoát thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là giải thoát thứ hai.

Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là giải thoát thứ ba.

Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên” chứng và trú Không vô biên xứ; đó là giải thoát thứ tư.

Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.

Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là giải thoát thứ sáu.

Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.

Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám.

Như vậy là tám pháp cần được chứng ngộ.

Như vậy tám mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

9. Chín Pháp

Chín pháp hữu ích, v.v.

Chín pháp hữu ích là gì? Chín pháp bắt nguồn từ như lý tác ý. Khi bạn suy tư với trí tuệ, niềm vui khởi sinh. Khi bạn vui vẻ, niềm vui lớn khởi sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui lớn, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, bạn cảm thấy an lạc. Và khi bạn an lạc, tâm trở nên định tĩnh. Khi tâm bạn định tĩnh, bạn biết và thấy một cách chân thật. Khi bạn biết và thấy một cách chân thật, bạn trở nên nhàm chán. Khi nhàm chán, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, bạn được giải thoát.477

Chín pháp cần được phát triển là gì? Chín yếu tố của nỗ lực thanh tịnh. Các yếu tố của nỗ lực thanh tịnh trong giới, tâm, kiến, vượt qua hoài nghi, tri kiến về đâu là đạo và đâu không phải là đạo, tri kiến về thực hành, tri kiến, trí tuệ, và giải thoát.478

Chín pháp cần được hiểu rõ là gì? Chín nơi ở của chúng sinh. Có những chúng sinh có thân khác nhau và nhận thức khác nhau, chẳng hạn như con người, một số vị trời, và một số chúng sinh ở cõi thấp. Đây là nơi ở thứ nhất của chúng sinh.

Có những chúng sinh có thân khác nhau và nhận thức thống nhất, chẳng hạn như các vị trời được tái sinh trong cõi Phạm Chúng Thiên qua thiền thứ nhất. Đây là nơi ở thứ hai của chúng sinh.

Có những chúng sinh có thân thống nhất và nhận thức khác nhau, chẳng hạn như các vị trời Quang Âm Thiên. Đây là nơi ở thứ ba của chúng sinh.

Có những chúng sinh có thân thống nhất và nhận thức thống nhất, chẳng hạn như các vị trời Biến Tịnh Thiên. Đây là nơi ở thứ tư của chúng sinh.

Có những chúng sinh không có nhận thức và không trải nghiệm bất cứ điều gì, chẳng hạn như các vị trời vô tưởng. Đây là nơi ở thứ năm của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua nhận thức về sắc. Với sự chấm dứt nhận thức về sự va chạm, không chú tâm vào nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô biên’, họ đã được tái sinh vào cõi không vô biên xứ. Đây là nơi ở thứ sáu của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi không vô biên xứ. Ý thức rằng ‘thức là vô biên’, họ đã được tái sinh vào cõi thức vô biên xứ. Đây là nơi ở thứ bảy của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi thức vô biên xứ. Ý thức rằng ‘không có gì cả’, họ đã được tái sinh vào cõi vô sở hữu xứ. Đây là nơi ở thứ tám của chúng sinh.

Có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi vô sở hữu xứ. Họ đã được tái sinh vào cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đây là nơi ở thứ chín của chúng sinh.

Chín pháp cần được từ bỏ là gì? Chín pháp bắt nguồn từ ái. Ái là nguyên nhân của sự tìm cầu. Tìm cầu là nguyên nhân của việc có được vật chất. Có được vật chất là nguyên nhân của sự đánh giá. Đánh giá là nguyên nhân của ham muốn và dục vọng. Ham muốn và dục vọng là nguyên nhân của sự chấp trước. Chấp trước là nguyên nhân của sự sở hữu. Sở hữu là nguyên nhân của sự keo kiệt. Keo kiệt là nguyên nhân của sự bảo vệ. Do sự bảo vệ, nhiều điều xấu, bất thiện phát sinh: cầm gậy và kiếm, cãi vã, tranh luận, tranh chấp, cáo buộc, lời nói chia rẽ, và dối trá.479

Chín pháp

2) Có chín pháp có nhiều tác dụng, có chín pháp cần phải tu tập, có chín pháp cần phải biến tri, có chín pháp cần phải đoạn trừ, có chín pháp chịu phần tai hại, có chín pháp đưa đến thù thắng, có chín pháp rất khó thể nhập, có chín pháp cần được sanh khởi, có chín pháp cần được thắng tri, có chín pháp cần được chứng ngộ.

i) Thế nào là chín pháp có nhiều tác dụng? Chín pháp tư duy về căn pháp. Do chánh tư duy, hân hoan sinh; do hân hoan, hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc, thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tỉnh; do tâm định tỉnh, biết được, thấy được sự vật như chân; do biết, nhờ thấy như chơn, yểm ly sanh; do yểm ly, ly dục sanh; do ly dục, vị ấy được giải thoát. Như vậy là chín pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là chín pháp cần phải tu tập? Chín thanh tịnh cần chi: Giới hạnh thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tâm thanh tịnh thanh tịnh cần chi, kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đoạn nghi thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tuệ thanh tịnh thanh tịnh cần chi, giải thoát thanh tịnh thanh tịnh cần chi. Như vậy là chín pháp cần được tu tập.

iii) Thế nào là chín pháp cần được biến tri? Chín hữu tình trú. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.

Như vậy là chín pháp cần được biến tri.

iv) Thế nào là chín pháp cần phải đoạn trừ? Chín ái căn pháp. Do duyên ái, tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, đắc lợi sanh; do duyên đắc lợi, phân biệt sanh; do duyên phân biệt, tham dục sanh; do duyên tham dục, thủ trước sanh; do duyên thủ trước; chấp trì sanh; do duyên chấp trì, xan tham sanh; do duyên xam tham; hộ trì sanh; do duyên hộ trì, chấp trượng, chấp kiến, tránh tụng, tranh luận, tương phản, ly gián ngữ, vọng ngôn, và các ác bất thiện pháp khai sanh. Như vậy là chín pháp cần phải đoạn trừ.

Chín pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Chín cơ sở của sự oán hận. Nghĩ rằng: ‘Họ đã làm điều sai trái với tôi,’ bạn nuôi lòng oán hận. Nghĩ rằng: ‘Họ đang làm điều sai trái với tôi’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với tôi’ … ‘Họ đã làm điều sai trái với người tôi yêu’ … ‘Họ đang làm điều sai trái với người tôi yêu’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với người tôi yêu’ … ‘Họ đã giúp người tôi ghét’ … ‘Họ đang giúp người tôi ghét’ … Nghĩ rằng: ‘Họ sẽ giúp người tôi ghét,’ bạn nuôi lòng oán hận.

Chín pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Chín phương pháp để loại bỏ sự oán hận. Nghĩ rằng: ‘Họ đã làm điều sai trái với tôi, nhưng tôi có thể làm gì được chứ?’ bạn loại bỏ sự oán hận. Nghĩ rằng: ‘Họ đang làm điều sai trái với tôi…’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với tôi…’ … ‘Họ đã làm điều sai trái với người tôi yêu…’ … ‘Họ đang làm điều sai trái với người tôi yêu…’ … ‘Họ sẽ làm điều sai trái với người tôi yêu…’ … ‘Họ đã giúp người tôi ghét…’ … ‘Họ đang giúp người tôi ghét…’ … Nghĩ rằng: ‘Họ sẽ giúp người tôi ghét, nhưng tôi có thể làm gì được chứ?’ bạn loại bỏ sự oán hận.

Chín pháp khó giải thích là gì? Chín loại đa dạng. Sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc. Sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các thọ. Sự đa dạng của các thọ làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức. Sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy. Sự đa dạng của các tư duy làm phát sinh sự đa dạng của các ham muốn. Sự đa dạng của các ham muốn làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê. Sự đa dạng của các đam mê làm phát sinh sự đa dạng của các tìm kiếm. Sự đa dạng của các tìm kiếm làm phát sinh sự đa dạng của các thành quả.480

Chín pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Chín nhận thức: nhận thức về sự bất tịnh, cái chết, sự ghê tởm trong thức ăn, sự bất mãn với toàn thế giới, vô thường, khổ trong vô thường, vô ngã trong khổ, sự từ bỏ, và sự ly tham.481

Chín pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Chín thiền định tuần tự. Một vị Tỷ kheo, hoàn toàn ly khỏi các tham dục, ly khỏi các pháp bất thiện, nhập và an trú trong thiền thứ nhất… thiền thứ hai… thiền thứ ba… thiền thứ tư. Hoàn toàn vượt qua nhận thức về sắc, với sự chấm dứt nhận thức về sự va chạm, không chú tâm vào nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô biên’, họ nhập và an trú trong cõi không vô biên xứ. Hoàn toàn vượt qua cõi không vô biên xứ, ý thức rằng ‘thức là vô biên’, họ nhập và an trú trong cõi thức vô biên xứ. Hoàn toàn vượt qua cõi thức vô biên xứ, ý thức rằng ‘không có gì cả’, họ nhập và an trú trong cõi vô sở hữu xứ. Hoàn toàn vượt qua cõi vô sở hữu xứ, họ nhập và an trú trong cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ. Hoàn toàn vượt qua cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ, họ nhập và an trú trong sự diệt thọ tưởng.

Chín pháp cần được thực chứng là gì? Chín sự đoạn diệt tuần tự. Đối với người đã đạt thiền thứ nhất, nhận thức về dục đã chấm dứt. Đối với người đã đạt thiền thứ hai, tầm và tứ đã chấm dứt. Đối với người đã đạt thiền thứ ba, niềm vui lớn đã chấm dứt. Đối với người đã đạt thiền thứ tư, hơi thở đã chấm dứt. Đối với người đã đạt cõi không vô biên xứ, nhận thức về sắc đã chấm dứt. Đối với người đã đạt cõi thức vô biên xứ, nhận thức về cõi không vô biên xứ đã chấm dứt. Đối với người đã đạt cõi vô sở hữu xứ, nhận thức về cõi thức vô biên xứ đã chấm dứt. Đối với người đã đạt cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhận thức về cõi vô sở hữu xứ đã chấm dứt. Đối với người đã đạt diệt thọ tưởng, nhận thức và cảm thọ đã chấm dứt.

Như vậy, chín mươi pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác.

v) Thế nào là chín pháp chịu phần tai hại? Chín hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy đang làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy sẽ làm hại tôi”, xung đột khởi lên.

“Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến”… “người ấy đang làm hại… “ … “người ấy sẽ làm hại…”, xung đột khởi lên.

“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến”… “người ấy đang làm lợi…” …” người ấy sẽ làm lợi…”, xung đột khởi lên.

Như vậy là chín pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là chín pháp hướng đến thù thắng? Chín điều phục hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?”. Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy, xung đột được điều phục.

“Người ấy đã làm hại người tôi thương…”, …” người ấy đang làm hại…”, …” người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến…”, …” người ấy đang làm lợi…”, …” người ấy sẽ làm lợi… Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.

Như vậy là chín pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là chín pháp rất khó thể nhập? Chín loại sai biệt. Do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh; do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh; do duyên thọ sai biệt; tưởng sai biệt sanh; do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh; do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh; do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh; do duyên nhiệt tình sai biệt; tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, sai biệt, đắc lợi sanh. Như vậy là chín pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là chín pháp cần được sanh khởi? Chín tưởng: Bất tịnh yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tâm tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên ngã, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng. Như vậy là chín pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là chín pháp cần được thắng tri? Chín thứ đệ trú. Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ… Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… chứng và trú vào Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: “Không có sự vật gì tất cả”. Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.

Như vậy là chín pháp cần được thắng trí.

x) Thế nào là chín pháp cần được chứng ngộ? Chín thứ đệ diệt. Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt; thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.

Như vậy là chín pháp cần được chứng ngộ.

Như vậy là chín mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

10. Mười Pháp

Mười pháp hữu ích, mười pháp cần được phát triển, mười pháp cần được hiểu rõ, mười pháp cần được từ bỏ, mười pháp dẫn đến thoái hóa, mười pháp dẫn đến tiến bộ, mười pháp khó giải thích, mười pháp cần được làm cho nảy sinh, mười pháp cần được thắng tri, mười pháp cần được thực chứng.

Mười pháp hữu ích là gì? Mười pháp bảo hộ. Thứ nhất, một vị Tỷ kheo có giới đức, được chế ngự trong giới luật tu viện, hành xử tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi lầm nhỏ nhất, vị ấy giữ gìn các giới luật đã thọ nhận. Đây là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo uyên bác. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo có bạn tốt, đồng hành, và cộng sự tốt. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo dễ khuyên bảo, có những phẩm chất khiến họ dễ khuyên bảo. Họ kiên nhẫn, và tiếp thu lời chỉ dạy một cách kính trọng. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo khéo léo và không mệt mỏi trong nhiều nhiệm vụ khác nhau cho các bạn đồng tu của mình, hiểu cách thực hiện công việc để hoàn thành và tổ chức công việc. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo yêu thích giáo pháp và rất vui khi trò chuyện, tràn đầy niềm vui trong giáo pháp và sự tu tập. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo biết đủ với bất kỳ loại y phục, thực phẩm khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo siêng năng. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo có chánh niệm. Vị ấy có chánh niệm và tỉnh giác tối thượng, và có thể nhớ lại và hồi tưởng những gì đã nói và làm từ lâu. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Lại nữa, một vị Tỷ kheo có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh và diệt, một trí tuệ cao thượng, có khả năng xuyên thấu, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây cũng là một phẩm chất bảo hộ.

Mười pháp cần được phát triển là gì? Mười biến xứ. Một người nhận thức thiền về biến xứ đất ở trên, dưới, ngang, không phân chia và vô hạn. Họ nhận thức thiền về biến xứ nước… thiền về biến xứ lửa… thiền về biến xứ gió… thiền về biến xứ xanh… thiền về biến xứ vàng… thiền về biến xứ đỏ… thiền về biến xứ trắng… thiền về biến xứ không gian… Họ nhận thức thiền về biến xứ thức ở trên, dưới, ngang, không phân chia và vô hạn.

Mười pháp cần được hiểu rõ là gì? Mười xứ: mắt và sắc, tai và thanh, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc.

Mười pháp cần được từ bỏ là gì? Mười tà đạo: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, và tà giải thoát.

Mười pháp

3) Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là mười phát có nhiều có tác dụng? Mười pháp hộ trì nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn… khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn… nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh… vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp… vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng… Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng… nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí… chơi chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Như vậy là mười pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là mười pháp cần phải tu tập? Mười biến xứ. Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến… Một vị biết được hỏa biến… Một vị biết được phong biến… Một vị biết được thanh biến… Một vị biết được hoàng biến… Một vị biết được xích biến… Một vị biết được bạch biến… Một vị biết được hư không biến… Một vị biết được thức biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Như vậy là mười pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là mười pháp cần phải biến tri? Mười xứ: Nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, thanh xứ, nhĩ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ. Như vậy là mười pháp cần được biến tri

iv) Thế nào là mười pháp cần phải đoạn trừ? Mười tà pháp: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát. Như vậy là mười pháp cần được đoạn trừ.

Mười pháp dẫn đến thoái hóa là gì? Mười hành vi bất thiện: sát sinh, trộm cắp, và tà dâm; lời nói dối trá, chia rẽ, thô lỗ, hoặc vô nghĩa; tham lam, tức giận, và tà kiến.

Mười pháp dẫn đến tiến bộ là gì? Mười hành vi thiện: từ bỏ sát sinh, trộm cắp, và tà dâm; tránh lời nói dối trá, chia rẽ, thô lỗ, hoặc vô nghĩa; biết đủ, thiện chí, và chánh kiến.

Mười pháp khó giải thích là gì? Mười nơi ở của bậc Thánh. Một vị Tỷ kheo đã từ bỏ năm yếu tố, sở hữu sáu yếu tố, có một người bảo vệ duy nhất, có bốn chỗ nương tựa, đã loại bỏ những diễn giải chân lý theo ý riêng, đã hoàn toàn từ bỏ sự tìm kiếm, có ý định không ô uế, đã làm lắng dịu tiến trình thể chất, và được giải thoát tốt về tâm và giải thoát tốt bằng trí tuệ.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo đã từ bỏ năm yếu tố? Đó là khi một vị Tỷ kheo đã từ bỏ tham dục, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và hoài nghi. Đó là cách một vị Tỷ kheo đã từ bỏ năm yếu tố.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo sở hữu sáu yếu tố? Một vị Tỷ kheo, khi thấy một cảnh sắc bằng mắt, không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác. Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi…

Khi cảm nhận một sự xúc chạm bằng thân… Khi biết một ý niệm bằng tâm, vị ấy không vui cũng không buồn. Vị ấy giữ tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác. Đó là cách một vị Tỷ kheo sở hữu sáu yếu tố.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo có một người bảo vệ duy nhất? Đó là khi tâm của một vị Tỷ kheo được bảo vệ bởi chánh niệm. Đó là cách một vị Tỷ kheo có một người bảo vệ duy nhất.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo có bốn chỗ nương tựa? Sau khi thẩm xét, một vị Tỷ kheo sử dụng một số thứ, chịu đựng một số thứ, tránh một số thứ, và loại bỏ một số thứ. Đó là cách một vị Tỷ kheo có bốn chỗ nương tựa.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo đã loại bỏ những diễn giải chân lý theo ý riêng? Các Sa-môn và Bà-la-môn khác nhau có những diễn giải chân lý theo ý riêng khác nhau. Một vị Tỷ kheo đã xua tan, loại bỏ, vứt bỏ, từ chối, buông bỏ, từ bỏ, và từ bỏ tất cả những điều này. Đó là cách một vị Tỷ kheo đã loại bỏ những diễn giải chân lý theo ý riêng.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo đã hoàn toàn từ bỏ sự tìm kiếm? Đó là khi họ đã từ bỏ việc tìm kiếm các tham dục, tìm kiếm sự tồn tại tiếp diễn, và tìm kiếm một con đường tâm linh. Đó là cách một vị Tỷ kheo đã hoàn toàn từ bỏ sự tìm kiếm.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo có ý định không ô uế? Đó là khi họ đã từ bỏ các ý định về dục, ác ý, và tàn nhẫn. Đó là cách một vị Tỷ kheo có ý định không ô uế.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo đã làm lắng dịu tiến trình thể chất? Từ bỏ lạc và khổ, và chấm dứt hạnh phúc và buồn phiền trước đây, họ nhập và an trú trong thiền thứ tư, không có lạc hay khổ, với tâm xả và chánh niệm trong sạch. Đó là cách một vị Tỷ kheo đã làm lắng dịu tiến trình thể chất.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo được giải thoát tốt về tâm? Đó là khi tâm của một vị Tỷ kheo được giải thoát khỏi tham, sân, và si. Đó là cách một vị Tỷ kheo được giải thoát tốt về tâm.

Và làm thế nào một vị Tỷ kheo được giải thoát tốt bằng trí tuệ? Đó là khi một vị Tỷ kheo hiểu rằng: ‘Tôi đã từ bỏ tham, sân, và si, chặt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng giống như một gốc cây cọ, xóa sổ chúng, để chúng không thể phát sinh trong tương lai.’ Đó là cách tâm của một vị Tỷ kheo được giải thoát tốt bằng trí tuệ.

Mười pháp cần được làm cho nảy sinh là gì? Mười nhận thức: nhận thức về sự bất tịnh, cái chết, sự ghê tởm trong thức ăn, sự bất mãn với toàn thế giới, vô thường, khổ trong vô thường, vô ngã trong khổ, sự từ bỏ, sự ly tham, và sự đoạn diệt.482

Mười pháp cần được trực tiếp nhận ra là gì? Mười cơ sở để bào mòn. Đối với người có chánh kiến, tà kiến bị bào mòn. Và nhiều phẩm chất xấu, bất thiện phát sinh do tà kiến cũng bị bào mòn. Đối với người có chánh tư duy, tà tư duy bị bào mòn. … Đối với người có chánh ngữ, tà ngữ bị bào mòn. … Đối với người có chánh nghiệp, tà nghiệp bị bào mòn. … Đối với người có chánh mạng, tà mạng bị bào mòn. … Đối với người có chánh tinh tấn, tà tinh tấn bị bào mòn. … Đối với người có chánh niệm, tà niệm bị bào mòn. … Đối với người có chánh định, tà định bị bào mòn. … Đối với người có chánh trí, tà trí bị bào mòn. … Đối với người có chánh giải thoát, tà giải thoát bị bào mòn. Và nhiều phẩm chất xấu, bất thiện phát sinh do tà giải thoát cũng bị bào mòn.

Mười pháp cần được thực chứng là gì? Mười phẩm chất của bậc vô học: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, và chánh giải thoát của bậc vô học.483

Như vậy, một trăm pháp này là chân thật, là thực, là chính xác, không phải là không thực, không phải là khác, đã được Như Lai chánh giác." Đây là những gì Tôn giả Xá Lợi Phất đã nói. Các vị Tỷ kheo hoan hỷ, tán thán những gì Ngài Xá Lợi Phất đã nói.

v) Thế nào là mười pháp chịu phần tai hại? Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến. Như vậy là mười pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là mười pháp hướng đến thù thắng? Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, lỳ tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si. Như vậy là mười pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là mười pháp rất khó thể nhập? Mười thánh cư: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ trì, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi. Này các hiền giả, như vậy là đoạn trừ năm chi.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tại nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo một hộ trì? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo thành tựu sự hộ trì về niệm. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo một hộ trì.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo có thực hiện bốn y? Này các Hiền giả,vị Tỷ kheo sau khi suy tư, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp; sau khi suy tư tránh xa một pháp. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo thực hiện bốn y.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều? Này các Hiền giả, ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỷ kheo đều loại bỏ, phóng xả. Này các Hiền giả, như vậy gọi là Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược.

Này các Hiền giả, thể nào là vị Tỷ kheo, thân hành được khinh an? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ- kheo thân hành được khinh an.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ- kheo, tâm thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ- kheo tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ kheo tâm thiện giải thoat.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo biết rằng: “Tham tâm của ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Sân tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Si tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát.

Như vậy là mười pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là mười pháp cần được sanh khởi? Mười tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là mười pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là mười pháp cần được thắng tri? Mười đoạn tận sự: Tà kiến do chánh kiến đoạn tận; do duyên tà kiến, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh kiến các thiện pháp được tăng cường, viên mãn; tà tư duy do chánh tư duy đoạn tận… tà ngữ do chánh ngữ đoạn tận… tà nghiệp cho chánh nghiệp đoạn tận… tà mạng do chánh mạng đoạn tận… tà niệm do chánh niệm đoạn tận… tà định do chánh định đoạn tận… tà trí do chánh trí đoạn tận… tà giải thoát do chánh giải thoát đoạn tận… do duyên tà giải thoát, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh giải thoát, các thiện pháp này được tăng cường, viên mãn. Như vậy là mười pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là mười pháp cần được chứng ngộ? Mười vô học pháp: Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm. vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.

Như vậy là mười pháp cần được chứng ngộ.

Như vậy một trăm pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Như vậy tôn giả Sàriputta thuyết giảng. Các vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của tôn giả Sàriputta.

-ooOoo-

Source: Con Đường Gỉải Thoát: http://www.budsas.org, Compiled into Acrobat format by: LotusMedia.Net