DN 15. KINH ĐẠI DUYÊN (Tóm tắt)
1. Sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (Paṭiccasamuppāda)
Một thời, Thế Tôn trú tại thị trấn Kammāsadhamma của người Kuru. Tôn giả Ānanda đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppāda) này trông có vẻ sâu sắc, nhưng với con lại rất rõ ràng và dễ hiểu."
Thế Tôn đáp: "Chớ nói vậy, Ānanda! Sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc này thực sự rất sâu sắc. Chính vì không hiểu thấu đạt Điều (pháp / dhamma) này mà chúng sinh bị rối ren như cuộn chỉ thắt nút, không thể thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) vòng luân hồi và các cõi dữ."
Để giải thích, Thế Tôn chỉ rõ chuỗi nhân quả cốt lõi như sau:
- Già-chết (lão-tử / jarāmaraṇa) có Điều kiện (duyên / paccaya) sinh trưởng là sự Tái sinh (sinh / jāti).
- Sự Tái sinh có Điều kiện là Mầm sinh (hữu / bhava).
- Mầm sinh có Điều kiện là sự Giữ chặt (thủ / upādāna).
- Sự Giữ chặt có Điều kiện là sự yêu thích (ái / taṇhā).
- Sự yêu thích có Điều kiện là Cảm Giác (thọ / vedanā).
- Cảm Giác có Điều kiện là Xúc (xúc / phassa).
- Xúc có Điều kiện là Danh–sắc (danh-sắc / nāmarūpa).
- Danh–sắc có Điều kiện là 'Cái Biết' (đi tái sinh) (thức / viññāṇa).
- Ngược lại, 'Cái Biết' (đi tái sinh) cũng lấy Danh–sắc làm Điều kiện.
Ghi chú: Thông thường có 12 nhân duyên, ở đây chỉ thấy 9. Không có: Không Hiểu Biết (vô minh), Hoạt động (hành), và Sáu Xứ.
Như vậy, toàn bộ khối đau khổ (khổ / dukkha) bao gồm sầu, bi, ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng đều được hình thành (sinh / sambhavanti) từ chuỗi Điều kiện này. Đây là sự hình thành (tập / samudaya) của đau khổ.
Phân tích tính tất yếu của từng mắt xích: Thế Tôn chứng minh rằng nếu nguyên nhân bị chặn (diệt / nirodha) hoàn toàn, thì kết quả không thể tồn tại:
- Nếu không có sự Tái sinh ở bất kỳ cõi nào, thì già-chết không thể xuất hiện.
- Nếu không có Mầm sinh (thuộc sự dễ chịu giác quan [dục / kāma], cõi vật chất hay phi vật chất), thì sự Tái sinh không thể xuất hiện.
- Nếu không có sự Giữ chặt (vào sự dễ chịu giác quan, quan điểm sai [tà kiến / diṭṭhi], mê tín và giáo điều [giới cấm thủ / sīlabbata], hay bản ngã [ngã / atta]), thì Mầm sinh không thể xuất hiện.
- Nếu không có sự yêu thích (đối với hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, hay mọi Điều [pháp / dhamma]), thì sự Giữ chặt không thể xuất hiện.
- Nếu không có Cảm Giác (sinh ra từ Xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và giác quan Suy Nghĩ [ý căn / mano]), thì sự yêu thích không thể xuất hiện.
Chuỗi hệ lụy phụ phát sinh từ Cảm Giác: Từ Cảm Giác, một chuỗi hệ lụy khác cũng phát sinh: Phụ thuộc (duyên / paṭicca) vào Cảm Giác sinh ra yêu thích. Từ yêu thích dẫn đến sự tìm kiếm (tầm cầu / pariyesanā) → sự đạt được (lợi đắc / lābha) → sự đánh giá (thẩm lự / vinicchaya) → tham đắm (dục tham / chandarāga) → sự trói buộc (đắm trước / ajjhosāna) → sự chiếm hữu (chấp thủ / pariggaha) → sự keo kiệt (xan tham / macchariya) → sự bảo vệ (thủ hộ / ārakkha).
Chính từ sự bảo vệ này mà vô số những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) và ác nghiệp phát sinh như: cầm vũ khí, tranh cãi, đâm thọc và nói dối. Nếu truy ngược lại, nếu không có yêu thích (đối với sự dễ chịu giác quan, cõi tồn tại [hữu / bhava], hay sự không tồn tại), thì toàn bộ chuỗi hệ lụy này sẽ không xuất hiện. Hai nhánh này hội tụ lại tại Cảm Giác.
Mối quan hệ giữa Xúc, Danh-sắc và 'Cái Biết':
- Nếu không có Xúc (từ sáu giác quan), Cảm Giác không thể xuất hiện.
- Về Danh–sắc: Nếu tâm trí (Danh thân) không đặt tên, tạo khái niệm (chế định / paññatti), thì xúc-qua khái niệm (danh tự xúc / adhivacanasamphassa) không thể xảy ra. Nếu giác quan (Sắc thân) không nhận kích thích, thì xúc-qua va chạm vật lý (chướng ngại xúc / paṭighasamphassa) không thể xảy ra. Do đó, nếu không có Danh–sắc, Xúc không thể xuất hiện.
- Về 'Cái Biết' đi tái sinh: Nếu nó không đi vào bụng mẹ, hoặc vào rồi lại rời đi, hoặc bị cắt đứt khi còn nhỏ, thì Danh–sắc không thể hình thành và phát triển. Ngược lại, nếu 'Cái Biết' đi tái sinh không tìm được chỗ đứng trong Danh–sắc, thì sự Tái sinh và đau khổ cũng không xuất hiện.
Như vậy, Danh–sắc và 'Cái Biết' đi tái sinh luôn tồn tại trong mối quan hệ Điều kiện lẫn nhau. Đây chính là giới hạn của ngôn ngữ, khái niệm, trí tuệ và cơ chế vận hành của vòng luân hồi.
2 & 3. Niềm Tin và Không Niềm Tin Về Tự Ngã
Khi một người có niềm tin (thi thiết / paññapeti) về tự ngã, họ thường cho rằng tự ngã thuộc một trong bốn dạng:
- Có vật chất (sắc / rūpī) và có giới hạn (hữu lượng / paritta).
- Có vật chất và không giới hạn (vô lượng / ananta).
- Không có vật chất (vô sắc / arūpī) và có giới hạn.
- Không có vật chất và không giới hạn.
Họ tin điều này áp dụng cho hiện tại, tương lai, hoặc cố gắng tạo dựng nó. Khi đó, một quan điểm sai nằm tiềm ẩn (tùy miên kiến / anudiṭṭhi) đang ẩn (tùy miên / anuseti) trong họ. Ngược lại, khi một người hoàn toàn không có niềm tin về tự ngã theo bốn dạng trên ở bất kỳ thời điểm nào, thì không có quan điểm sai nằm tiềm ẩn nào tồn tại trong người ấy.
4. Quan Niệm Về Tự Ngã
Người ta thường quan niệm (quán / samanupassati) về tự ngã theo ba cách sai lầm:
- Cho rằng "cảm giác là tự ngã": Điều này sai vì có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu (thọ lạc / sukhā vedanā), cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkhā vedanā), và cảm giác không dễ chịu không khó chịu (thọ bất khổ bất lạc / adukkhamasukhā vedanā). Chúng không xuất hiện cùng lúc và đều không cố định (vô thường / anicca), do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc (duyên sinh / paṭiccasamuppanna), chịu sự hao mòn (hoại diệt pháp / khayadhamma), chịu sự suy tàn (diệt pháp / vayadhamma), chịu sự phai nhạt (ly tham pháp / virāgadhamma), và chịu sự cạn khô (đoạn diệt pháp / nirodhadhamma). Nếu tự ngã là cảm giác, thì khi cảm giác biến mất, tự ngã cũng biến mất.
- Cho rằng "tự ngã là vô cảm (vô giác / appaṭisaṁvedana)": Điều này sai vì nếu hoàn toàn không có sự cảm nhận (thọ lãnh / vediyati), ta không thể có ý niệm "Ta là thế này".
- Cho rằng "tự ngã là thứ nhận ra cảm nhận (năng lực cảm nhận / thọ pháp / vedanādhamma)": Điều này cũng sai, vì nếu mọi cảm nhận hoàn toàn chấm dứt, ý niệm "Ta là thế này" cũng không thể tồn tại.
Khi một Tỳ-kheo không bám víu vào ba quan niệm trên, vị ấy không bám giữ (chấp thủ / upādiyati) bất cứ điều gì ở đời, không lo âu (sợ hãi / paritassati), và tự mình hoàn toàn tịch diệt (viên tịch / parinibbāyati). Vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) rằng sự Tái sinh đã cạn sạch (tận / khīṇā).
Với một vị Tỳ-kheo có tâm được giải thoát (giải thoát tâm / vimuttacitta) nhờ hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhijānāti), mọi tranh luận về việc Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) có tồn tại sau khi chết hay không đều vô nghĩa và không thích hợp, vì vị ấy đã vượt qua mọi giới hạn của ngôn ngữ và khái niệm.
5. Bảy Nơi Trú Ngụ Của 'Cái Biết' và Hai Xứ
Có bảy nơi trú ngụ của 'Cái Biết' (thức trú / viññāṇaṭṭhiti):
- Chúng sinh khác nhau về thân hình (dị thân / nānattakāyā) và khác nhau về Nhận Thức (dị tưởng / nānattasaññino) (ví dụ: loài người, một số chư thiên).
- Chúng sinh khác nhau về thân hình nhưng giống nhau về Nhận Thức (nhất tưởng / ekattasaññino) (ví dụ: cõi Phạm chúng).
- Chúng sinh giống nhau về thân hình (nhất thân / ekattakāyā) nhưng khác nhau về Nhận Thức (ví dụ: cõi Quang Âm).
- Chúng sinh giống nhau về thân hình và giống nhau về Nhận Thức (ví dụ: cõi Biến Tịnh).
- Chúng sinh vượt qua vật chất, không để tâm (phi tác ý / amanasikārā) đến sự đa dạng, an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana).
- Chúng sinh an trú trong cõi 'Cái Biết' là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana).
- Chúng sinh an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana).
Và hai Xứ (āyatana):
- Xứ chúng sinh không có Nhận Thức (Asaññasattāyatana).
- Xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana).
Nếu một người hiểu rõ sự hình thành (tập / samudaya), sự tan biến (diệt / atthaṅgama), sự ngọt ngào (vị ngọt / assāda), sự nguy hiểm (ādīnava), và sự thoát khỏi của các cõi này, họ sẽ không vui thú chạy theo (hỷ lạc / abhinandati) chúng. Vị Tỳ-kheo thấu hiểu điều này và không bám giữ được gọi là người giải thoát bằng trí tuệ.
6. Tám Sự Giải Thoát
Có tám sự giải thoát (giải thoát / vimokkha):
- Người có vật chất quan sát vật chất bên ngoài.
- Người không còn Nhận Thức về vật chất bên trong, quan sát vật chất bên ngoài.
- Chú tâm trọn vẹn (chú tâm / adhimutta) vào sự vẻ đẹp (tịnh / subha).
- An trú trong cõi Không Gian là Vô Tận.
- An trú trong cõi 'Cái Biết' là Vô Tận.
- An trú trong cõi Không Có Vật Gì.
- An trú trong xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức".
- Đi vào sự làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha).
Khi một Tỳ-kheo có thể tự do ra vào tám sự giải thoát này theo chiều thuận (thuận / anuloma) và chiều nghịch (nghịch / paṭiloma), đồng thời cạn sạch các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), đạt được tâm giải thoát và tuệ giải thoát ngay trong đời sống hiện tại (hiện tại / diṭṭhadhamma), vị ấy được gọi là người giải thoát cả hai phần (câu phần giải thoát / ubhatobhāgavimutta). Không có sự giải thoát nào cao tột hơn trạng thái này.
Nghe Thế Tôn thuyết giảng, Tôn giả Ānanda hoan hỷ đón nhận.
Bảng thuật ngữ:
| Thuật ngữ Pali | Từ cũ (Hán-Việt) | Từ mới (Hiện đại) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| paṭiccasamuppāda | duyên khởi | sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc | |
| paccaya | duyên | Điều kiện | |
| jarāmaraṇa | lão-tử | già-chết | |
| jāti | sinh | sự Tái sinh | |
| bhava | hữu | Mầm sinh | dùng trong Duyên khởi |
| upādāna | thủ | Bám chặt | |
| taṇhā | ái | Khát ái | |
| vedanā | thọ | Cảm Giác | |
| phassa | xúc | Xúc | |
| nāmarūpa | danh-sắc | Danh–sắc | |
| viññāṇa | thức | sự Nhận biết đi tái sinh / sự Nhận biết | dùng "sự Nhận biết đi tái sinh" trong 12 nhân duyên |
| samudaya | tập / sinh | sự hình thành | |
| nirodha | diệt | bị chặn / biến mất / làm ngưng | |
| nissaraṇa | xuất ly | thoát khỏi | |
| [!] pariyesanā | cầu / tầm cầu | sự tìm kiếm | hành động tìm kiếm để thỏa mãn khát ái |
| [!] lābha | lợi đắc | sự đạt được | kết quả của việc tìm kiếm |
| [!] vinicchaya | thẩm lự | sự đánh giá | phán xét, cân nhắc giá trị của những gì đạt được |
| chandarāga | dục tham | nhiễm vào sự ước mong | |
| [!] ajjhosāna | đắm trước | sự đắm trước | sự dính mắc sâu sắc, trói buộc vào đối tượng |
| [!] pariggaha | chấp thủ | sự chiếm hữu | hành động giữ lấy làm của riêng |
| [!] macchariya | xan tham | sự keo kiệt | sự bủn xỉn, không muốn chia sẻ |
| [!] ārakkha | thủ hộ | sự bảo vệ | hành động canh giữ tài sản |
| [!] adhivacanasamphassa | danh tự xúc | xúc chạm qua ngôn ngữ | sự tiếp xúc thuộc về khái niệm, tên gọi (thuộc nhóm Danh) |
| [!] paṭighasamphassa | chướng ngại xúc | xúc chạm qua va vấp | sự tiếp xúc vật lý, có sự kháng cự (thuộc nhóm Sắc) |
| [!] atta | ngã | bản ngã | cái tôi cốt lõi, thường hằng |
| [!] paññatti | chế định | sự định danh | sự đặt tên, quy ước khái niệm |
| [!] rūpī | sắc | có hình thể | thuộc về vật chất, có hình dáng |
| [!] arūpī | vô sắc | không hình thể | phi vật chất |
| [!] paritta | thiểu | nhỏ hẹp | có giới hạn, hữu hạn |
| [!] ananta | vô lượng | vô tận | không có giới hạn |
| sukha-vedanā | thọ lạc | cảm giác dễ chịu | |
| dukkha-vedanā | thọ khổ | cảm giác khó chịu | |
| adukkhamasukha-vedanā | thọ bất khổ bất lạc | cảm giác không dễ chịu không khó chịu | |
| [!] anicca | vô thường | vô thường | không thường hằng, luôn thay đổi |
| saṅkhata | hữu vi | do Hợp mà thành | |
| paṭiccasamuppanna | duyên sinh | thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc | |
| khayā | đoạn tận | cạn sạch | |
| vayā | diệt | sự tàn hoại | |
| virāgā | ly tham | cạn hết đắm nhiễm | |
| [!] parinibbāyati | viên tịch | hoàn toàn tịch diệt | sự dập tắt hoàn toàn mọi phiền não và đau khổ |
| pajānāti | tuệ tri | thấy rõ | |
| Tathāgata | Như Lai | Người Đến Như Vậy | |
| abhiññā | thắng tri | hiểu biết trực tiếp | |
| [!] viññāṇaṭṭhiti | thức trú | trạm dừng của sự Nhận biết | nơi thức nương tựa, tồn tại |
| āyatana | xứ | xứ | |
| saññā | tưởng | Nhận Thức | |
| manasikāra | tác ý | suy nghĩ | |
| ākāsānañcāyatana | không vô biên xứ | cõi Không Gian là Vô Tận | |
| viññāṇañcāyatana | thức vô biên xứ | cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận | |
| ākiñcaññāyatana | vô sở hữu xứ | cõi Không Có Vật Gì | |
| nevasaññānāsaññāyatana | phi tưởng phi phi tưởng xứ | cõi Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" | |
| atthaṅgama | diệt | tan biến | |
| abhinandati | dục hỷ | vui thú chạy theo | |
| [!] vimokkha | giải thoát | sự giải thoát | sự cởi trói khỏi các trói buộc tâm lý |
| [!] saññāvedayitanirodha | diệt thọ tưởng định | sự làm ngưng Nhận thức và Cảm giác | trạng thái thiền định cao nhất làm ngưng mọi hoạt động tâm trí |
| āsava | lậu hoặc | nguồn ác | |
| [!] cetovimutti | tâm giải thoát | tâm giải thoát | sự giải thoát của tâm khỏi tham ái |
| [!] paññāvimutti | tuệ giải thoát | tuệ giải thoát | sự giải thoát nhờ trí tuệ phá vỡ vô minh |
| [!] ubhatobhāgavimutta | câu hữu giải thoát | giải thoát cả hai phần | người đạt được cả tâm giải thoát và tuệ giải thoát cùng các tầng thiền vô sắc |
| abhinandunti | hoan hỷ | vui mừng đón nhận |
(NHÁP và chú thích)
Bảng so sánh Thức trú và giải thoát
| Thức trú | Giải thoát |
|---|---|
| Thức trú 1: Thân khác, Tưởng khác Thức trú 2: Thân khác, Tưởng giống Thức trú 3: Thân giống, Tưởng khác Thức trú 4: Thân giống, Tưởng giống | Giải thoát 1: Có sắc nhìn sắc Giải thoát 2: Vô sắc nhìn sắc ngoài Giải thoát 3: Chú tâm vào cái Đẹp |
| Thức trú 5: Không vô biên xứ | Giải thoát 4: Không vô biên xứ |
| Thức trú 6: Thức vô biên xứ | Giải thoát 5: Thức vô biên xứ |
| Thức trú 7: Vô sở hữu xứ | Giải thoát 6: Vô sở hữu xứ |
| Xứ 1: Vô tưởng xứ (Ngộ cụt/Không có tuệ) | - |
| Xứ 2: Phi tưởng phi phi tưởng xứ | Giải thoát 7: Phi tưởng phi phi tưởng xứ |
| - | Giải thoát 8: Diệt thọ tưởng định (Tắt hoàn toàn tâm thức) |
12 Nhân duyên nhưng không thấy đủ, chỗ nào đúng ?
1 Vô minh (Avijjā): Không hiểu biết đúng đắn về Tứ diệu đế, vô ngã, vô thường. 2 Hành (Saṅkhārā): Các hành động, tạo tác (nghiệp) thân, khẩu, ý từ vô minh. 3 Thức (Viññāṇa): Sự nhận thức, tâm thức tái sinh. 4 Danh sắc (Nāmarūpa): Sự hình thành tâm lý (danh) và vật chất (sắc/thân thể). 5 Lục nhập (Saḷāyatana): Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc 6 trần. 6 Xúc (Phassa): Sự va chạm giữa căn, cảnh và thức. 7 Thọ (Vedanā): Cảm giác (vui, buồn, trung tính) từ xúc. 8 Ái (Taṇhā): Sự khao khát, thèm muốn, ham thích. 9 Thủ (Upādāna): Sự nắm giữ, chấp trước, bám víu. 10 Hữu (Bhava): Sự tồn tại, sự hình thành các nghiệp tạo ra sự tái sinh. 11 Sinh (Jāti): Sự ra đời, hiện hữu. 12 Lão tử (Jarāmaraṇa): Già, chết, ưu, bi, khổ, não.
Chuỗi Điều kiện theo kinh, thiếu 5, 2, 1:
- (12) già-chết
- (11) Tái sinh (sinh / jāti)
- (10) Mầm sinh (hữu / bhava)
- (9) Giữ chặt (thủ / upādāna)
- (8) yêu thích (ái / taṇhā)
- (7) Cảm Giác (thọ / vedanā)
- (6) Xúc (xúc / phassa) ?
- (4) Danh–sắc (danh-sắc / nāmarūpa)
- (3) sự Nhận biết (đi tái sinh) (thức / viññāṇa) -
- [Danh–sắc(lập lại)]
Nháp
"Này Ananda, khi ta nói 'Danh Sắc (Tâm và Thân) là điều kiện sinh ra Xúc' – con cần phải hiểu điều đó theo logic sau đây:
Giả sử không có bất kỳ đặc tính hay biểu hiện nào để nhận biết phần Tâm (Danh), thì liệu phần Thân (Sắc) có thể tự mình tạo ra những 'tiếp xúc về mặt nhận thức/khái niệm' được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
Này Ananda, do những hành tướng nào, do những đặc tướng nào, do những tướng trạng nào, do những chỉ định nào mà Danh thân được thi thiết định danh; nếu vắng mặt những hành tướng ấy, những đặc tướng ấy, những tướng trạng ấy, những chỉ định ấy, thì liệu Tăng ngữ xúc có thể hiển lộ ở nơi Sắc thân được chăng?"
Này Ānanda, những đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà Danh sắc (hệ thần kinh) đặt tên, khái niệm (chế định / paññatti); giả sử (hệ thần kinh) không có những (khái niệm về) đặc điểm, hình dáng, biểu hiện ấy; thì liệu sự xúc-qua khái niệm (danh tự xúc / adhivacanasamphassa) có thể xuất hiện từ Thân sắc (giác quan) được không?"
"Này Ānanda, bởi những khía cạnh nào, những đặc điểm nào, những hình dáng nào, những biểu hiện nào mà nhóm Sắc được định danh; nếu không có những khía cạnh ấy... những biểu hiện ấy, liệu xúc chạm qua va vấp (chướng ngại xúc / paṭighasamphassa) có thể xuất hiện trong nhóm Danh được không?"
Này Ānanda, với những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà Thân sắc (giác quan) cảm nhận được (sự kích thích); giả sử không có những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện ấy (kích thích), thì liệu xúc-qua va chạm vật lý (chướng ngại xúc / paṭighasamphassa) có thể tạo ra từ Danh sắc (hệ thần kinh) được không?
"Ngược lại, nếu không có bất kỳ đặc tính hay biểu hiện nào của phần Thân (Sắc) – như các giác quan – thì liệu phần Tâm (Danh) có thể trải nghiệm được những 'tiếp xúc do va chạm vật lý' không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Vậy nếu vắng bóng những đặc tính của cả Tâm lẫn Thân, thì liệu có bất kỳ loại tiếp xúc nào – dù là qua nhận thức hay qua va chạm vật lý – có thể xảy ra được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Nói tóm lại, nếu không có bất cứ dấu hiệu nào để hình thành nên Danh và Sắc, liệu Xúc có thể tồn tại được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Chính vì thế, này Ananda, con phải hiểu rằng: Danh và Sắc chính là cội nguồn, là nguyên nhân, và là điều kiện tiên quyết để sự Tiếp Xúc (Xúc) có thể sinh ra."
"'Do Danh-Sắc làm duyên, Xúc sinh khởi' — điều đó đã được nói như vậy. Này Ānanda, hãy hiểu điều đó theo cách giải thích sau: Chính nhờ những hình thái, những dấu hiệu, những tướng trạng, những đặc điểm mà danh thân được nhận biết và định danh — nếu những hình thái ấy, những dấu hiệu ấy, những tướng trạng ấy, những đặc điểm ấy không còn hiện hữu — thì liệu trên sắc thân có còn nhận ra được xúc qua ngôn danh nữa không?"
"'Do Danh-Sắc làm duyên, Xúc sinh khởi' — điều đó đã được nói như vậy. Này Ānanda, hãy hiểu điều đó theo cách giải thích sau: Chính nhờ những hình thái, những dấu hiệu, những tướng trạng, những đặc điểm mà danh thân được nhận biết và định danh — nếu những hình thái ấy, những dấu hiệu ấy, những tướng trạng ấy, những đặc điểm ấy không còn hiện hữu — thì liệu trên sắc thân có còn nhận ra được xúc qua ngôn danh nữa không?"
Sự tiếp xúc do 1) xúc do va chạm (xúc xuất phát từ giác quan) hoặc 2) xúc do danh xưng (xúc xuất phát từ não bộ) làm điều kiện cần. Điều này hiểu như nào?. Thông tin hình ảnh, âm thanh qua giác quan đi vào não, não [đặt tên, khái niệm hóa] những thông tin ấy.
Nếu những [tên đặt, khái niệm hóa] không còn, thì xúc xuất phát từ não bộ không ghi nhận ở giác quan khi gặp hình ảnh, âm thanh. Nếu những [hình ảnh, âm thanh] không đi vào giác quan, thì xúc xuất phát từ va chạm không ghi nhận ở não.
Này Ānanda, những đặc điểm, dấu hiệu, tướng trạng, và cách mô tả mà nhờ đó danh thân (phần tâm lý) được nhận biết — nếu tất cả những thứ đó không có mặt, thì liệu xúc do danh xưng (adhivacanasamphassa — sự tiếp xúc qua khái niệm/tên gọi) có thể xuất hiện ở sắc thân (phần vật chất) không?"
Giả sử không có bất kỳ đặc tính hay biểu hiện nào để nhận biết phần Tâm (Danh), thì liệu phần Thân (Sắc) có thể tự mình tạo ra những 'tiếp xúc về mặt nhận thức/khái niệm' được không?" — "Dạ không, bạch Thế Tôn."
sự Tiếp xúc phát sinh từ 2 nguồn : Do sự tiếp xúc qua giác quan hoặc sự suy nghĩ dựa trên khái niệm của não bộ. Điều này hiểu như nào ? đầu tiên [sự vật, hiện tượng] được ghi nhận qua giác quan và hình thành [khái niệm, đặt tên] trong não, sau đó não bộ tự hoạt động dựa trên những [khái niệm, tên gọi] này. Nếu khồng có sự vật, hiện tượng thì giác quan sẽ không ghi nhận, không ghi nhận sẽ không có [khái niệm, tên gọi] trong não, nên không có xúc?
CÕI DỤC GIỚI
[1] Thân khác — Tưởng khác → Người, một số Trời, Đọa xứ
CÕI SẮC GIỚI
[2] Thân khác — Tưởng giống → Phạm chúng (Sơ thiền mới sinh)
[3] Thân giống — Tưởng khác → Quang Âm thiên (Nhị thiền)
[4] Thân giống — Tưởng giống → Biến Tịnh thiên (Tam thiền)
CÕI VÔ SẮC GIỚI
[5] Không vô biên xứ
[6] Thức vô biên xứ
[7] Vô sở hữu xứ
HAI XỨ (ngoài 7 thức trú)
[*] Vô tưởng hữu tình xứ → Tứ thiền đặc biệt, không có tưởng
[*] Phi tưởng phi phi tưởng xứ → Vi tế đến mức không thể gọi là "có tưởng"Tưởng là máy tạo 'khái niệm', còn Thức là 'sự nhận biết' dựa vào các khái niệm đó. https://gemini.google.com/share/68c067c5efaa