Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 15. KINH DÀI VỀ QUAN HỆ PHỤ THUỘC

(Mahānidānasutta)
Bản tóm tắt→

1. Sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (Paṭiccasamuppāda)

Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở giữa những người Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadhamma.

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn điều này: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppāda) này thật sâu sắc, bạch Thế Tôn, và có vẻ ngoài sâu sắc, nhưng đối với con, nó dường như rất rõ ràng, rất dễ hiểu.”

"Này Ānanda, chớ có nói vậy! Này Ānanda, chớ có nói vậy! Sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc này thật sâu sắc, này Ānanda, và có vẻ ngoài sâu sắc. Chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Điều (pháp / dhamma) này, này Ānanda, mà thế hệ này trở nên giống như một cuộn chỉ rối, giống như một búi chỉ thắt nút, giống như cỏ muñja và lau sậy, không thể thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) cõi dữ, ác thú, đọa xứ, và vòng luân hồi.

15. KINH ÐẠI DUYÊN

(Mahànidàna Sutta)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trụ tại bộ lạc Kuru (Câu-lâu), ở ấp Kuru tên là Kammassadhamma (Kiếm-ma-sắt-đàm). Tôn giả Ananda (A Nan) đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy, và giáo pháp này đối với con hết sức minh bạch rõ ràng.

− Này Ananda, chớ có nói vậy! Này Ananda chớ có nói vậy! Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy. Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.

Điều kiện (duyên / paccaya) cần nào để có sự già-chết (lão-tử / jarāmaraṇa) không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có già-chết?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do sự Tái sinh (sinh / jāti) làm Điều kiện cần, mà có già-chết’.

Điều kiện cần nào để có sự Tái sinh không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có sự Tái sinh?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do Mầm sinh (hữu / bhava) làm Điều kiện cần, mà có sự Tái sinh’.

Điều kiện cần nào để có Mầm sinh không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có Mầm sinh?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do sự Giữ chặt (thủ / upādāna) làm Điều kiện cần, mà có Mầm sinh’.

Điều kiện cần nào để có Bám chặt không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có sự Giữ chặt?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do yêu thích (ái / taṇhā) làm Điều kiện cần, mà có sự Giữ chặt’.

Điều kiện cần nào để có sự yêu thích không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có sự yêu thích?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do Cảm Giác (thọ / vedanā) làm Điều kiện cần, mà có yêu thích’.

Điều kiện cần nào để có Cảm Giác không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có Cảm Giác?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do Xúc (xúc / phassa) làm Điều kiện cần, mà có Cảm Giác’.

Điều kiện cần nào để có Xúc không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có Xúc?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do Danh–sắc (danh-sắc / nāmarūpa) làm Điều kiện cần, mà có Xúc’.

Điều kiện cần nào để có Danh–sắc không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có Danh–sắc?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) (thức / viññāṇa) làm Điều kiện cần, mà có Danh–sắc’.

Điều kiện cần nào để có ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) không?’, nếu được hỏi như vậy, này Ānanda, cần phải trả lời là ‘Có’. ‘Do Điều kiện gì mà có ‘Cái Biết’ (đi tái sinh)?’, nếu được hỏi như vậy, cần phải trả lời là ‘Do Danh–sắc làm Điều kiện cần, mà có ‘Cái Biết’ (đi tái sinh)’.

2. Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Già và chết do duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Già và chết do duyên gì?” Hãy đáp: “Già và chết do duyên sanh”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Sanh có duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Sanh do duyên gì?” Hãy đáp: “Sanh do duyên hữu”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Hữu có do duyên nào không? Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Hữu do duyên gì?” Hãy đáp: “Hữu do duyên thủ”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi. “Thủ có do duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Thủ do duyên gì?” Hãy đáp: “Thủ do duyên ái”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Ái có duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Ái do duyên gì?” Hãy đáp: “Ái do duyên thọ”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Thọ có do duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Thọ do duyên gì?” Hãy đáp: “Thọ do duyên xúc”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Xúc có do duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Xúc do duyên gì?” Hãy đáp: “Xúc do duyên danh sắc”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Danh sắc có duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Danh sắc do duyên gì? Hãy đáp: “Danh sắc do duyên thức”.

Này Ananda, nếu có ai hỏi: “Thức có do duyên nào không?” Hãy đáp: “Có”. Nếu có hỏi: “Thức do duyên gì?” Hãy đáp: “Thức do duyên danh sắc”.

Như vậy, này Ānanda, với Danh–sắc làm Điều kiện cần, có ‘Cái Biết’ (đi tái sinh); với ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) làm Điều kiện cần, có Danh–sắc; với Danh–sắc làm Điều kiện cần, có Xúc; với Xúc làm Điều kiện cần, có Cảm Giác; với Cảm Giác làm Điều kiện cần, có yêu thích; với yêu thích làm Điều kiện cần, có sự Giữ chặt; với sự Giữ chặt làm Điều kiện cần, có Mầm sinh; với Mầm sinh làm Điều kiện cần, có sự Tái sinh; với sự Tái sinh làm Điều kiện, già-chết, sầu, bi, đau khổ (khổ / dukkha), ưu phiền (ưu / domanassa), tuyệt vọng được hình thành (sinh / sambhavanti). Như vậy là sự hình thành (tập / samudaya) của toàn bộ khối đau khổ này.

3. Này Ananda, như vậy do duyên danh sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh sắc, xúc sanh; do duyên xúc, thọ sanh; do duyên thọ; ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ, hữu sanh; do duyên hữu, sanh sanh; do duyên sanh, lão tử sanh, do duyên lão tử, sầu, bi, khổ, ưu não sanh. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.

‘Do sự Tái sinh làm Điều kiện cần, mà có sự già-chết’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do sự Tái sinh làm Điều kiện cần, mà có già-chết. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự Tái sinh dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, vào bất kỳ cõi nào, cụ thể là—sự tái sinh của chư thiên vào cõi chư thiên, của càn thát bà vào cõi càn thát bà, của dạ xoa vào cõi dạ xoa, của chúng sinh vào cõi chúng sinh, của loài người vào cõi người, của loài bốn chân vào cõi bốn chân, của loài chim vào cõi chim, của loài bò sát vào cõi bò sát; này Ānanda, nếu không có sự Tái sinh của những chúng sinh ấy vào các cõi ấy. Khi hoàn toàn không có sự Tái sinh, do sự Tái sinh bị chặn (diệt / jātinirodhā), liệu già-chết có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của già-chết, tức là sự Tái sinh.

‘Do Mầm sinh làm Điều kiện cần, mà có sự Tái sinh’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do Mầm sinh làm Điều kiện cần, mà có sự Tái sinh. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có Mầm sinh dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, vào bất kỳ cõi nào, cụ thể là—Mầm sinh thuộc sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), Mầm sinh thuộc cõi vật chất, Mầm sinh thuộc cõi phi vật chất. Khi hoàn toàn không có Mầm sinh, do Mầm sinh bị chặn, liệu sự Tái sinh có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự Tái sinh, tức là Mầm sinh.

‘Do sự Giữ chặt làm Điều kiện cần, mà có Mầm sinh’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do sự Giữ chặt làm Điều kiện cần, mà có Mầm sinh. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự Giữ chặt dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, vào bất kỳ cõi nào, cụ thể là—sự Giữ chặt vào sự dễ chịu giác quan, sự Giữ chặt vào quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi), sự Giữ chặt vào mê tín và giáo điều (giới cấm thủ / sīlabbata), sự Giữ chặt vào học thuyết về bản ngã (ngã / atta). Khi hoàn toàn không có sự Giữ chặt, do sự Giữ chặt bị chặn, liệu Mầm sinh có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của Mầm sinh, tức là sự Giữ chặt.

‘Do yêu thích làm Điều kiện cần, mà có sự Giữ chặt’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do yêu thích làm Điều kiện cần, mà có sự Giữ chặt. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có yêu thích dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, vào bất kỳ cõi nào, cụ thể là—yêu thích đối với hình ảnh, yêu thích đối với âm thanh, yêu thích đối với mùi, yêu thích đối với vị, yêu thích đối với xúc chạm, yêu thích đối với mọi Điều (pháp / dhamma). Khi hoàn toàn không có yêu thích, do yêu thích bị chặn, liệu sự Giữ chặt có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự Giữ chặt, tức là yêu thích.

‘Do Cảm Giác làm Điều kiện cần, mà có yêu thích’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do Cảm Giác làm Điều kiện cần, mà có yêu thích. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có Cảm Giác dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, vào bất kỳ cõi nào, cụ thể là—Cảm Giác sinh ra từ Xúc của mắt, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của tai, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của mũi, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của lưỡi, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của thân, Cảm Giác sinh ra từ Xúc của giác quan Suy Nghĩ (ý căn / mano). Khi hoàn toàn không có Cảm Giác, do Cảm Giác bị chặn, liệu yêu thích có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của yêu thích, tức là Cảm Giác.

4. Trước đã nói: “Do duyên sanh; lão tử sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên sanh; lão tử sanh”? Này Ananda, nếu sanh không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, như chư Thiên hay Thiên giới, Càn-thát-bà hay Càn-thát-bà-giới, Dạ-xoa hay Dạ Xoa giới. Quỷ thần hay Quỷ thần giới, loài Người hay Nhân giới, loại bốn chân hay tứ túc giới, loài chim hay điểu giới, loài trùng xà hay trùng xà giới. Này Ananda, nếu không có sanh cho tất cả, do sanh diệt thời lão tử có thể hiện hữu không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của lão tử, tức là sanh.

5. Trước đã nói: “Do duyên hữu, sanh sanh ra”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên hữu, sanh sanh ra”? Này Ananda, nếu hữu không có bất cứ loại nào giới nào, bất cứ chỗ nào xứ nào, như dục hữu, sắc hữu hay vô sắc hữu. Nếu không có hữu cho tất cả, do hữu diệt thời sanh có thể hiện hữu không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của sanh, tức là hữu.

6. Trước đã nói: “Do duyên thủ, hữu sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu hỏi: “Do duyên thủ, hữu sanh”? Này Ananda, nếu thủ không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, như dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ hay ngã chấp thủ. Nếu không có thủ cho tất cả, do thủ diệt thời hữu có thể hiện hữu không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của hữu, tức là thủ.

7. Trước đã nói: “Do duyên ái, thủ sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên ái, thủ sanh”? Này Ananda, nếu ái không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, như sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái hay pháp ái. Nếu không có ái cho tất cả, do ái diệt thời thủ có thể hiện hữu không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của thủ, tức là ái.

8. Trước đã nói: “Do duyên thọ, ái sanh”. Này Ananda, nếu thọ không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, như nhãn xúc sở sanh thọ, nhĩ xúc sở sanh thọ, tỷ xúc sở sanh thọ, thiệt xúc sở sanh thọ, tỷ xúc sở sanh thọ, ý xúc sở sanh thọ. Nếu không có thọ cho tất cả, nếu thọ diệt thời ái có thể hiện hữu không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của ái, tức là thọ.

<đoạn-không-đúng-vị-trí>

Như vậy, này Ānanda, Phụ thuộc (duyên / paṭicca) vào Cảm Giácyêu thích; Phụ thuộc vào yêu thíchsự tìm kiếm (tầm cầu / pariyesanā); Phụ thuộc vào sự tìm kiếmsự đạt được (lợi đắc / lābha); Phụ thuộc vào sự đạt đượcsự đánh giá (thẩm lự / vinicchaya); Phụ thuộc vào sự đánh giátham đắm (dục tham / chandarāga); Phụ thuộc vào tham đắmsự trói buộc (đắm trước / ajjhosāna); Phụ thuộc vào sự trói buộcsự chiếm hữu (chấp thủ / pariggaha); Phụ thuộc vào sự chiếm hữusự keo kiệt (xan tham / macchariya); Phụ thuộc vào sự keo kiệtsự bảo vệ (thủ hộ / ārakkha). Do sự bảo vệ làm nguyên nhân, nhiều những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) và ác phát sinh: cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, cãi vã, tranh chấp, nói ‘mày mày’, nói đâm thọc, nói dối.

‘Do sự bảo vệ làm nguyên nhân, nhiều những điều không thiện và ác phát sinh: cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, cãi vã, tranh chấp, nói ‘mày mày’, nói đâm thọc, nói dối’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do sự bảo vệ làm nguyên nhân, nhiều những điều không thiện và ác phát sinh. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự bảo vệ dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có sự bảo vệ, do sự bảo vệ bị chặn, liệu các những điều không thiện và ác như cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, cãi vã, tranh chấp, nói ‘mày mày’, nói đâm thọc, nói dối có thể phát sinh được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

9. Này Ananda, như vậy do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, tìm cầu sanh; do duyên tìm cầu, lợi sanh; do duyên lợi, quyết định (sở dụng của lợi) sanh; do duyên quyết định, tham dục sanh; do duyên tham dục, đam trước sanh; do duyên đam trước, chấp thủ sanh; do duyên chấp thủ, hà tiện sanh; do duyên hà tiện, thủ hộ sanh; do duyên thủ hộ, phát sanh một số ác, bất thiện pháp như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ. 10. Trước đã nói: “Do duyên thủ hộ, phát sanh một số ác, bất thiện pháp, như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên thủ hộ, phát sanh một số ác, bất thiện pháp, như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ”? Này Ananda, nếu thủ hộ không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu không có thủ hộ cho tất cả, nếu thủ hộ diệt thời một số ác, bất thiện pháp như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của một số ác, bất thiện pháp như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ, tức là thủ hộ.

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện cho sự phát sinh của nhiều những điều không thiện và ác như cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, cãi vã, tranh chấp, nói ‘mày mày’, nói đâm thọc, nói dối, tức là sự bảo vệ.

‘Phụ thuộc vào sự keo kiệtsự bảo vệ’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào sự keo kiệtsự bảo vệ. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự keo kiệt dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có sự keo kiệt, do sự keo kiệt bị chặn, liệu sự bảo vệ có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự bảo vệ, tức là sự keo kiệt.

‘Phụ thuộc vào sự chiếm hữusự keo kiệt’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào sự chiếm hữusự keo kiệt. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự chiếm hữu dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có sự chiếm hữu, do sự chiếm hữu bị chặn, liệu sự keo kiệt có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự keo kiệt, tức là sự chiếm hữu.

‘Phụ thuộc vào sự trói buộcsự chiếm hữu’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào sự trói buộcsự chiếm hữu. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự trói buộc dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có sự trói buộc, do sự trói buộc bị chặn, liệu sự chiếm hữu có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự chiếm hữu, tức là sự trói buộc.

‘Phụ thuộc vào tham đắmsự trói buộc’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào tham đắmsự trói buộc. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có tham đắm dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có tham đắm, do tham đắm bị chặn, liệu sự trói buộc có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự trói buộc, tức là tham đắm.

‘Phụ thuộc vào sự đánh giátham đắm’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào sự đánh giátham đắm. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự đánh giá dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có sự đánh giá, do sự đánh giá bị chặn, liệu tham đắm có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của tham đắm, tức là sự đánh giá.

‘Phụ thuộc vào sự đạt đượcsự đánh giá’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào sự đạt đượcsự đánh giá. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự đạt được dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có sự đạt được, do sự đạt được bị chặn, liệu sự đánh giá có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự đánh giá, tức là sự đạt được.

‘Phụ thuộc vào sự tìm kiếmsự đạt được’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào sự tìm kiếmsự đạt được. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có sự tìm kiếm dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai. Khi hoàn toàn không có sự tìm kiếm, do sự tìm kiếm bị chặn, liệu sự đạt được có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự đạt được, tức là sự tìm kiếm.

‘Phụ thuộc vào yêu thíchsự tìm kiếm’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào Phụ thuộc vào yêu thíchsự tìm kiếm. Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có yêu thích dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, cụ thể là—yêu thích đối với sự dễ chịu giác quan, yêu thích đối với cõi tồn tại (hữu / bhava), yêu thích đối với sự không tồn tại. Khi hoàn toàn không có yêu thích, do yêu thích bị chặn, liệu sự tìm kiếm có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của sự tìm kiếm, tức là yêu thích. Như vậy, này Ānanda, hai Điều này thông qua hai ngã rẽ hội tụ lại thành một tại Cảm Giác.

</đoạn-không-đúng-vị-trí>

11. Trước đã nói: “Do duyên hà tiện, thủ hộ sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên hà tiện thủ hộ sanh”? Này Ananda, nếu hà tiện không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu không có hà tiện, cho tất cả, nếu hà tiện diệt thời thủ hộ có thể hiện hữu không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của thủ hộ, tức là hà tiện.

12. Trước đã nói: “Do duyên chấp thủ, hà tiện sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên chấp thủ, hà tiện sanh”? Này Ananda, nếu chấp thủ không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu không chấp thủ cho tất cả, nếu chấp thủ diệt thời hà tiện có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của hà tiện, tức là chấp thủ.

13. Trước đã nói: “Do duyên đam trước, chấp thủ sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên đam trước, chấp thủ sanh”? Này Ananda, nếu đam trước không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu không có đam trước cho tất cả, nếu đam trước diệt thời chấp thủ có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của chấp thủ, tức là đam mê.

14. Trước đã nói: “Do duyên tham dục, đam trước sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên tham dục, đam trước sanh”? Này Ananda, nếu tham dục không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu không có tham dục cho tất cả, nếu tham dục diệt thời đam trước có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của đam trước, tức là tham dục.

15. Trước đã nói: “Do duyên quyết định, tham dục sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên quyết định tham dục sanh”? Này Ananda, nếu quyết định không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu không có quyết định cho tất cả, nếu quyết định diệt thời tham dục có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của tham dục tức là quyết định.

16. Trước đã nói: “Do duyên lợi, quyết định sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên lợi quyết định sanh”? Này Ananda, nếu lợi không có không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu lợi không có cho tất cả, nếu lợi diệt thời quyết định có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của quyết định, tức là lợi.

17. Trước đã nói: “Do duyên tầm cầu, lợi sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên tầm cầu, lợi sanh”? Này Ananda, nếu tầm cầu không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu tầm cầu không có cho tất cả, nếu tầm cầu diệt thời lợi có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của lợi, tức là tầm cầu.

18. Trước đã nói: “Do duyên ái, tầm cầu sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên ái, tầm cầu sanh”? Này Ananda, nếu không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu ái không có cho tất cả, nếu ái diệt thời tầm cầu có thể hiện hữu được không?- Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của tầm cầu, tức là ái.

Này Ananda, như vậy hai phương diện (của ái) tuy hai nhưng hòa hợp thành một, nhờ thọ (làm duyên sanh).

‘Do Xúc làm Điều kiện cần, mà có Cảm Giác’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do Xúc làm Điều kiện cần, mà có Cảm Giác.

Này Ānanda, nếu hoàn toàn không có Xúc dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, của bất kỳ ai, cụ thể là—Xúc của mắt, Xúc của tai, Xúc của mũi, Xúc của lưỡi, Xúc của thân, Xúc của giác quan Suy Nghĩ. Khi hoàn toàn không có Xúc, do Xúc bị chặn, liệu Cảm Giác có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của Cảm Giác, tức là Xúc.

‘Do Danh–sắc làm Điều kiện cần, mà có Xúc’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do Danh–sắc làm Điều kiện cần, mà có Xúc.

“Này Ānanda, với những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà Danh thân (tâm trí) đặt tên, tạo khái niệm (chế định / paññatti); giả sử (tâm trí) không có những (khái niệm về) khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện; thì liệu sự xúc-qua khái niệm (danh tự xúc / adhivacanasamphassa) có thể xuất hiện từ Sắc thân (giác quan) được không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Ānanda, với những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà Sắc thân (giác quan) cảm nhận được [sự kích thích]; giả sử không có [kích thích từ] những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện ấy, thì liệu xúc-qua va chạm vật lý (chướng ngại xúc / paṭighasamphassa) có thể tạo ra từ Danh thân (tâm trí) được không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Ānanda, với những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà cả Danh thânSắc thân (thân và tâm) cảm nhận hay đặt tên (paññapeti/thi thiết); nếu không có những khía cạnh ấy… những biểu hiện ấy, liệu xúc-qua khái niệm hoặc xúc-qua va chạm vật lý có thể xuất hiện được không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Ānanda, với những khía cạnh, đặc điểm, hình dáng, biểu hiện mà Danh–sắc cảm nhận hay đặt tên (thi thiết); nếu không có những khía cạnh ấy… những biểu hiện ấy, liệu Xúc có thể xuất hiện được không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của Xúc, tức là Danh–sắc.

‘Do ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) làm Điều kiện cần, mà có Danh–sắc’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do ‘Cái Biết’ (đi tái sinh) làm Điều kiện cần, mà có Danh–sắc. Này Ānanda, nếu ‘Cái Biết’(đi tái sinh) không đi vào bụng mẹ, liệu Danh–sắc có thể hình thành trong bụng mẹ được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Ānanda, nếu ‘Cái Biết’ đi tái sinh sau khi đi vào bụng mẹ lại rời đi, liệu Danh–sắc có thể sinh ra trong trạng thái này được không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Ānanda, nếu ‘Cái Biết’ đi tái sinh bị cắt đứt khi còn là một đứa trẻ, bé trai hay bé gái, liệu Danh–sắc có thể đạt đến sự tăng trưởng, phát triển và sung mãn được không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của Danh–sắc—tức là ‘Cái Biết’ đi tái sinh.

‘Do Danh–sắc làm Điều kiện cần, mà có ‘Cái Biết’ đi tái sinh’, điều này đã được nói đến, này Ānanda, cần phải được hiểu theo cách này, như thế nào do Danh–sắc làm Điều kiện cần, mà có ‘Cái Biết’ đi tái sinh. Này Ānanda, nếu ‘Cái Biết’ đi tái sinh không tìm được chỗ đứng trong Danh–sắc, liệu trong tương lai sự Tái sinh, già-chết, và sự hình thành của khối đau khổ có thể xuất hiện được không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, đây chính là nguyên nhân, đây là nguồn gốc, đây là sự hình thành, đây là Điều kiện của ‘Cái Biết’ đi tái sinh, tức là Danh–sắc. Cho đến chừng mực này, này Ānanda, người ta có thể sinh ra, già đi, chết đi, biến mất hay tái sinh. Cho đến chừng mực này là con đường của ngôn ngữ, cho đến chừng mực này là con đường của từ vựng, cho đến chừng mực này là con đường của sự định danh, cho đến chừng mực này là phạm vi của trí tuệ, cho đến chừng mực này vòng luân hồi xoay chuyển để chỉ định trạng thái này, tức là Danh–sắc cùng với ‘Cái Biết’ đi tái sinh diễn tiến trong mối quan hệ Điều kiện lẫn nhau.

19. Trước đã nói: “Do duyên xúc, thọ sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên xúc, thọ sanh”? Này Ananda, nếu xúc không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, như nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc, nếu xúc không có cho tất cả, nếu xúc diệt thời thọ có thể hiện hữu không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của thọ, tức là xúc.

20. Trước đã nói: “Do duyên danh sắc, xúc sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên danh sắc, xúc sanh”? Này Ananda, nếu những hình, những sắc, những tướng, những mạo, nhờ đó mà danh thân và sắc thân thi thiết; nếu những hình, những sắc, những tướng, những mạo ấy không có, thời danh mục xúc trong sắc thân có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, những hình, những sắc, những tướng, những mạo ấy nhờ đó mà sắc thân được thi thiết, nếu những hình, những sắc, những tướng, những mạo ấy không có, thời hữu đối xúc trong danh thân có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, những hình, những sắc, những tướng, những mạo nhờ đó mà danh thân và sắc thân được thi thiết, nếu những hình, những sắc, những tướng, những mạo ấy không có, thời danh mục xúc hay hữu đối xúc có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, những hình, những sắc, những tướng, những mạo nhờ đó mà danh sắc được thi thiết, nếu những hình, những sắc, những tướng, những mạo ấy không có thì xúc có thể hiện hữu được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

Do vậy, này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của xúc, tức là danh sắc.

21. Trước đã nói: “Do duyên thức, danh sắc sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên thức, danh sắc sanh”? Này Ananda, nếu thức không đi vào trong bụng của người mẹ, thời danh sắc có thể hình thành trong bụng bà mẹ không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, nếu thức đi vào trong bụng bà mẹ rồi bị tiêu diệt, thời danh sắc có thể hình thành trạng thái này, trạng thái khác không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, nếu thức bị đoạn trừ trong đứa con nít, hoặc là đồng nam hay đồng nữ, thời danh sắc có thể lớn hơn, trưởng thành và thành mãn được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Do vậy, này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của danh sắc, tức là thức.

22. Trước đã nói: “Do duyên danh sắc, thức sanh”. Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: “Do duyên sanh sắc thức sanh “? Này Ananda, nếu thức không an trú được trong danh sắc, thời trong tương lai, có thể hiện hữu sự hình thành của sanh, lão, tử, khổ, tập không?

− Bạch Thế Tôn, không! − Do vậy, này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của thức, tức là danh sắc.

− Này Ananda, trong giới hạn con người được sanh, con người được già, con người được chết, con người được diệt, hay con người được tái sanh, trong giới hạn ấy là danh mục đạo, trong giới hạn ấy là ngôn ngữ đạo, trong giới hạn ấy là thi thiết đạo, trong giới hạn ấy là tuệ giới, trong giới hạn ấy là lưu chuyển luân hồi hiện hữu trạng thái này trạng thái khác nghĩa là danh sắc và thức.

2. Niềm Tin về Tự Ngã (Attapaññatti)

Này Ānanda, khi một người có niềm tin(tuyên bố) (thi thiết / paññapeti) về tự ngã thì có những hình thức nào (kittāvatā)?

Này Ānanda, người ta tin là tự ngã có vật chất (sắc / rūpī) và có giới hạn (hữu lượng / paritta) và tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi có vật chấtcó giới hạn.’ Hoặc này Ānanda, người ta tin là tự ngã có vật chấtkhông giới hạn (vô lượng / ananta) và tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi có vật chấtkhông giới hạn.’ Hoặc này Ānanda, người ta tin là tự ngã không có vật chất (vô sắc / arūpī) và có giới hạn và tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi không có vật chấtcó giới hạn.’ Hoặc này Ānanda, người ta tin là tự ngã không có vật chấtkhông giới hạn và tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi không có vật chấtkhông giới hạn.’

Này Ānanda, trong trường hợp một người tin là tự ngã có vật chấtcó giới hạn, người ấy tin về điều đó cho hiện tại, hoặc người ấy tin về điều đó cho tương lai, hoặc người ấy nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói đó là một quan điểm sai nằm tiềm ẩn (tùy miên kiến / anudiṭṭhi) về tự ngã có vật chấtcó giới hạn đang ẩn (tùy miên / anuseti) trong người ấy.

Này Ānanda, trong trường hợp một người tin là tự ngã có vật chấtkhông giới hạn, người ấy tin về điều đó cho hiện tại, hoặc người ấy tin về điều đó cho tương lai, hoặc người ấy nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói đó là một quan điểm sai nằm tiềm ẩn về tự ngã có vật chấtkhông giới hạn đang ẩn trong người ấy.

Này Ānanda, trong trường hợp một người tin là tự ngã không có vật chấtcó giới hạn, người ấy tin về điều đó cho hiện tại, hoặc người ấy tin về điều đó cho tương lai, hoặc người ấy nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói đó là một quan điểm sai nằm tiềm ẩn về tự ngã không có vật chấtcó giới hạn đang ẩn trong người ấy.

Này Ānanda, trong trường hợp một người tin là tự ngã không có vật chấtkhông giới hạn, người ấy tin về điều đó cho hiện tại, hoặc người ấy tin về điều đó cho tương lai, hoặc người ấy nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói đó là một quan điểm sai nằm tiềm ẩn về tự ngã không có vật chấtkhông giới hạn đang ẩn trong người ấy.

Này Ānanda, đó là những hình thức mà một người tin và tuyên bố về tự ngã.

23. Này Ananda, có bao nhiêu lời tuyên bố về ngã? Này Ananda, hoặc ngã được tuyên bố là có sắc và hạn lượng trong câu: “Ngã của tôi có sắc và hạn lượng”. Này Ananda, hoặc ngã được tuyên bố là có sắc và vô lượng trong câu: “Ngã của tôi có sắc và vô lượng”. Này Ananda, hoặc ngã được tuyên bố là không có sắc và có hạn lượng trong câu: “Ngã của tôi không có sắc và có hạn lượng”. Này Ananda, hoặc ngã được tuyên bố là không có sắc và vô lượng trong câu: “Ngã của tôi không có sắc và vô lượng”.

24. Này Ananda, có người tuyên bố ngã có sắc và có hạn lượng trong hiện tại, người này tuyên bố hoặc ngã có sắc và có hạn lượng trong tương lai. Hoặc như thế này: “Ngã của tôi không phải như vậy, tôi sẽ uốn nắn cho như vậy”. Này Ananda, sự việc là như vậy thời lời tuyên bố về tà kiến ngã có sắc và có hạn lượng như vậy là quá đủ rồi.

Này Ananda, có người tuyên bố ngã có sắc và vô lượng người này tuyên bố hoặc ngã có sắc và vô lượng trong hiện tại, hoặc ngã có sắc và vô lượng trong tương lai. Hoặc như thế này: “Ngã của tôi không phải như vậy, tôi sẽ uốn nắn cho như vậy”. Này Ananda, sự việc là như vậy thời lời tuyên bố về tà kiến ngã có sắc và vô lượng như vậy là quá đủ rồi.

Này Ananda, có người tuyên bố ngã không có sắc và có hạn lượng, người này tuyên bố hoặc ngã không có sắc và có hạn lượng trong hiện tại hoặc ngã không có sắc và có hạn lượng trong tương lai… hoặc ngã không có sắc và vô lượng trong tương lai. Hoặc như thế này: “Ngã của tôi không phải như vậy, tôi sẽ uốn nắn cho như vậy”. Này Ananda, sự việc là như vậy thời lời tuyên bố về tà kiến ngã có sắc và vô lượng như vậy là quá đủ rồi. Này Ananda, như vậy, là có bấy nhiêu lời tuyên bố về ngã.

3. Không Tin về Tự Ngã (Naattapaññatti)

Này Ānanda, khi một người không tin có tự ngã thì có những hình thức nào ?

Này Ānanda, khi không tin về tự ngã, người ta không tin là tự ngã có vật chấtcó giới hạn và không tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi có vật chấtcó giới hạn.’ Hoặc này Ānanda, khi không tin về tự ngã, người ta không tin là tự ngã có vật chấtkhông giới hạn và không tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi có vật chấtkhông giới hạn.’ Hoặc này Ānanda, khi không tin về tự ngã, người ta không tin là tự ngã không có vật chấtcó giới hạn và không tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi không có vật chấtcó giới hạn.’ Hoặc này Ānanda, khi không tin về tự ngã, người ta không tin là tự ngã không có vật chấtkhông giới hạn và không tuyên bố: ‘Tự ngã của tôi không có vật chấtkhông giới hạn.’

Này Ānanda, trong trường hợp một người không tin là tự ngã có vật chấtcó giới hạn. Người ấy không tin điều đó cho hiện tại, người ấy không tin điều đó cho tương lai, và người ấy cũng không nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói: không có một quan điểm tiềm ẩn về tự ngã có vật chấtcó giới hạn được ẩn trong người ấy.

Này Ānanda, trong trường hợp một người không tin là tự ngã có vật chấtkhông giới hạn. Người ấy không tin điều đó cho hiện tại, người ấy không tin điều đó cho tương lai, và người ấy cũng không nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói: không có một quan điểm tiềm ẩn về tự ngã có vật chấtkhông giới hạn được ẩn trong người ấy.

Này Ānanda, trong trường hợp một người không tin là tự ngã không có vật chấtcó giới hạn. Người ấy không tin điều đó cho hiện tại, người ấy không tin điều đó cho tương lai, và người ấy cũng không nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói: không có một quan điểm tiềm ẩn về tự ngã không có vật chấtcó giới hạn được ẩn trong người ấy.

Này Ānanda, trong trường hợp một người không tin là tự ngã không có vật chấtkhông giới hạn. Người ấy không tin điều đó cho hiện tại, người ấy không tin điều đó cho tương lai, và người ấy cũng không nghĩ: ‘Dù nó hiện không phải như vậy, ta sẽ tạo dựng nó thành như vậy.’ Khi sự việc như vậy, có thể chính đáng để nói: không có một quan điểm tiềm ẩn về tự ngã không có vật chấtkhông giới hạn được ẩn trong người ấy.

Này Ānanda, đó là những hình thức mà một người không tin và không tuyên bố về tự ngã.

25. Này Ananda, có bao nhiêu lời không tuyên bố về ngã? Này Ananda, hoặc ngã không được tuyên bố là có sắc và có hạn lượng trong câu: “Ngã của tôi có sắc và có hạn lượng”. Này Ananda, hoặc ngã không được tuyên bố là có sắc và vô lượng trong câu: “Ngã của tôi có sắc và vô lượng”. Này Ananda, hoặc ngã không được tuyên bố là không có sắc và có hạn lượng trong câu: “Ngã của tôi không có sắc và có hạn lượng”. Này Ananda, hoặc ngã không được tuyên bố là không có sắc và vô lượng trong câu: “Ngã của tôi không có sắc và vô lượng”.

26. Này Ananda, có người không tuyên bố ngã có sắc và có hạn lượng, người này không tuyên bố, hoặc ngã có sắc và có hạn lượng trong hiện tại, hoặc ngã có sắc và có hạn lượng trong tương lai. Hoặc không như thế này: “Ngã của tôi không phải như vậy, tôi sẽ uốn nắn cho như vậy”. Này Ananda, sự việc là như vậy thời lời không tuyên bố về tà kiến ngã có sắc và có hạn lượng như vậy là quá đủ rồi.

Này Ananda, có người không tuyên bố ngã có sắc và vô lượng, người này không tuyên bố hoặc ngã có sắc và vô lượng trong hiện tại, hoặc ngã có sắc và vô lượng trong tương lai. Hoặc không như thế này. “Ngã của tôi không phải như vậy, tôi sẽ uốn nắn cho như vậy”. Này Ananda, sự việc là như vậy thời lời không tuyên bố về tà kiến ngã có sắc và vô lượng như vậy là quá đủ rồi.

Này Ananda, có người không tuyên bố ngã không có sắc và có hạn lượng, người này tuyên bố, hoặc ngã không có sắc và có hạn lượng trong hiện tại, hoặc ngã không có sắc và có hạn lượng trong tương lai. Hoặc không như thế này: “Ngã của tôi không phải như vậy, tôi sẽ uốn nắn cho như vậy”. Này Ananda, sự việc là như vậy thời lời không tuyên bố về tà kiến ngã không có sắc và có hạn lượng như vậy là quá đủ rồi.

Này Ananda, có người không tuyên bố ngã không có sắc và vô lượng, người này không tuyên bố ngã không có sắc và vô lượng trong hiện tại, hoặc ngã không có sắc và vô lượng trong tương lai. Hoặc không như thế này: “Ngã của tôi không phải như vậy, tôi sẽ uốn nắn cho như vậy”. Này Ananda, sự việc là như vậy thời lời không tuyên bố về tà kiến ngã có sắc và vô lượng như vậy là quá đủ rồi.

Này Ananda, như vậy là có bấy nhiêu lời không tuyên bố về ngã.

4. Quan niệm Về Tự Ngã (Attasamanupassanā)

Này Ānanda, theo những cách nào một người quan niệm (quán / samanupassati)về tự ngã?

Này Ānanda, khi quan niệm về tự ngã, người ta có quan niệm cảm giác (thọ / vedanā) là tự ngã: ‘cảm giác là tự ngã của tôi.’ Hoặc này Ānanda, khi quan niệm về tự ngã, người ta quan niệm: ‘cảm giác không phải là tự ngã của tôi, tự ngã của tôi là vô cảm (vô giác / appaṭisaṁvedana).’ Hoặc này Ānanda, khi quan niệm về tự ngã, người ta quan niệm: ‘cảm giác không phải là tự ngã của tôi, tự ngã của tôi cũng không phải là vô cảm; tự ngã của tôi là thứ nhận ra cảm nhận (thọ lãnh / vediyati), vì tự ngã của tôi chính là năng lực cảm nhận’ (thọ pháp / vedanādhamma).’

Này Ānanda, trong trường hợp, với người nói rằng: ‘cảm giác là tự ngã của tôi’, nên nói với người ấy thế này: ‘Này bạn, có ba cảm giác: cảm giác dễ chịu (thọ lạc / sukhā vedanā), cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkhā vedanā), và cảm giác không dễ chịu không khó chịu (thọ bất khổ bất lạc / adukkhamasukhā vedanā). Trong ba cảm giác này, bạn quan niệm điều nào là tự ngã?’ Này Ānanda, trong lúc một người cảm nhận một cảm giác dễ chịu, thì trong lúc đó người ấy không cảm nhận một cảm giác khó chịu, không cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu; trong lúc đó người ấy chỉ cảm nhận cảm giác dễ chịu. Này Ānanda, trong lúc một người cảm nhận một cảm giác khó chịu, thì trong lúc đó người ấy không cảm nhận một cảm giác dễ chịu, không cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu; trong lúc đó người ấy chỉ cảm nhận cảm giác khó chịu. Này Ānanda, trong lúc một người cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu, thì trong lúc đó người ấy không cảm nhận một cảm giác dễ chịu, không cảm nhận một cảm giác khó chịu; trong lúc đó người ấy chỉ cảm nhận cảm giác không dễ chịu không khó chịu.

Này Ānanda, cảm giác dễ chịukhông cố định (vô thường / anicca), do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc (duyên sinh / paṭiccasamuppanna), chịu sự hao mòn (hoại diệt pháp / khayadhamma), chịu sự suy tàn (diệt pháp / vayadhamma), chịu sự phai nhạt (ly tham pháp / virāgadhamma), và chịu sự cạn khô (đoạn diệt pháp / nirodhadhamma). Này Ānanda, cảm giác khó chịukhông cố định, do Hợp mà thành, là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, chịu sự hao mòn, chịu sự suy tàn, chịu sự phai nhạtchịu sự cạn khô. Này Ānanda, cảm giác không dễ chịu không khó chịukhông cố định, do Hợp mà thành, là thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc, chịu sự hao mòn, chịu sự suy tàn, chịu sự phai nhạtchịu sự cạn khô.

Đối với người đang cảm nhận một cảm giác dễ chịu, người ấy nghĩ: ‘Đây là tự ngã của tôi.’ Khi chính cảm giác dễ chịu ấy biến mất, người ấy lại nghĩ: ‘Tự ngã của tôi đã rời bỏ tôi.’ Đối với người đang cảm nhận một cảm giác khó chịu, người ấy nghĩ: ‘Đây là tự ngã của tôi.’ Khi chính cảm giác khó chịu ấy biến mất, người ấy lại nghĩ: ‘Tự ngã của tôi đã rời bỏ tôi.’ Đối với người đang cảm nhận một cảm giác không dễ chịu không khó chịu, người ấy nghĩ: ‘Đây là tự ngã của tôi.’ Khi chính cảm giác không dễ chịu không khó chịu ấy biến mất, người ấy lại nghĩ: ‘Tự ngã của tôi đã rời bỏ tôi.’ Như vậy, người nào nói ‘cảm giác là tự ngã của tôi’, người ấy đang quan niệm một tự ngã bị xáo trộn bởi sự dễ chịu và khó chịu ngay trong đời sống hiện tại, có bản chất sinh ra và tan biến. Do đó, này Ānanda, điều này không thích hợp để quan niệm: ‘cảm giác là tự ngã của tôi.’

Này Ānanda, trong trường hợp, với người nói rằng: ‘cảm giác không phải là tự ngã của tôi, tự ngã của tôi là vô cảm’, nên nói với người ấy thế này: ‘Này bạn, ở nơi nào hoàn toàn không có một sự cảm nhận nào, liệu ở đó có thể có suy nghĩ “Ta là thế này” không?’

“Dạ không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, điều này không thích hợp để quan niệm: ‘cảm giác không phải là tự ngã của tôi, tự ngã của tôi là vô cảm.’

Này Ānanda, trong trường hợp, với người nói rằng: ‘cảm giác không phải là tự ngã của tôi, tự ngã của tôi cũng không phải là vô cảm; tự ngã của tôi là thứ nhận ra cảm nhận, vì tự ngã của tôi chính là năng lực cảm nhận’, nên nói với người ấy thế này: ‘Này bạn, nếu mọi cảm nhận ở mọi khía cạnh, không sót một cái nào, theo mọi phương diện — đều hoàn toàn chấm dứt và tan biến. Thì khi đó, trong trạng thái hoàn toàn không còn cảm nhận, liệu ở đó có thể có suy nghĩ “Ta là thế này” không?’

“Dạ không, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, điều này không thích hợp để quan niệm: ‘cảm giác không phải là tự ngã của tôi, tự ngã của tôi cũng không phải là vô cảm; tự ngã của tôi là thứ nhận ra cảm nhận, vì tự ngã của tôi chính là năng lực cảm nhận

27. Này Ananda, dưới bao nhiêu hình thức, ngã được quan niệm? Này Ananda, ngã được quan niệm như thọ trong câu: “Ngã của tôi là thọ”. Hay trái lại: “Ngã của tôi không phải là thọ, ngã của tôi không có cảm thọ”. Này Ananda, hoặc ngã được quan niệm như trong câu: “Ngã của tôi không phải là thọ, cũng không phải là không có cảm thọ; ngã của tôi có cảm thọ, ngã của tôi có khả năng cảm thọ”. Như vậy, này Ananda, ngã được quan niệm.

28. Này Ananda, ai nói: “ngã của tôi là thọ”. Người ấy cần được trả lời: “Này Hiền giả, có ba loại cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Trong ba loại thọ này, loại nào ông xem là ngã?”

Này Ananda, khi cảm giác một lạc thọ, chúng ta không cảm giác một khổ thọ, không cảm giác một bất khổ bất lạc thọ, khi ấy chỉ cảm giác một lạc thọ thôi. Này Ananda, khi cảm giác một khổ thọ, chúng ta không cảm giác một lạc thọ, không cảm giác một bất khổ bất lạc thọ, khi ấy chỉ cảm giác một khổ thọ thôi. Này Ananda, khi cảm giác một bất khổ bất lạc thọ, chúng ta không cảm giác một lạc thọ, không cảm giác một khổ thọ, khi ấy chỉ cảm giác một bất khổ bất lạc thọ thôi.

29. Lại nữa, này Ananda, lạc thọ là vô thường, hữu vi, là pháp duyên khởi, là pháp đoạn hoại, là pháp đoạn diệt, là pháp ly dục, là pháp diệt tận. Này Ananda, khổ thọ là vô thường, hữu vi, là pháp duyên khởi, là pháp đoạn hoại, là pháp đoạn diệt, là pháp ly dục, là pháp diệt tận. Này Ananda, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, là pháp duyên khởi, là pháp đoạn hoại, là pháp đoạn diệt, là pháp ly dục, là pháp diệt tận. Khi cảm giác một lạc thọ mà nói rằng: “Ðó là ngã của tôi”, thời khi lạc thọ ấy diệt mất người ấy cũng nghĩ rằng: “Ngã của tôi cũng diệt”. Khi cảm giác một khổ thọ mà nói rằng: “Ðó là ngã của tôi”, thời khi khổ thọ ấy diệt mất người ấy cũng nghĩ rằng: “Ngã của tôi cũng diệt”. Khi cảm giác một bất khổ bất lạc thọ mà nói rằng: “Ðó là ngã của tôi”, thời khi bất khổ bất lạc thọ ấy diệt mất, người ấy cũng nghĩ rằng: “Ngã của tôi cũng diệt”.

Vậy những ai nói rằng: “Ngã của tôi là thọ”, người ấy sẽ xem ngã của mình như một cái gì trong hiện tại, cái gì ấy là vô thường, lạc khổ xen lẫn, là pháp sanh diệt. Do vậy, này Ananda, không thể chấp nhận quan niệm “Ngã của tôi là thọ”.

30. Này Ananda, ai nói như sau: “Ngã của tôi không phải là thọ, ngã của tôi không có cảm thọ”, người ấy cần được trả lời: “Này Hiền giả, chỗ nào không có một cảm thọ gì cả, chỗ ấy có thể xem là “Tôi có” được không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Do vậy, này Ananda, không thể chấp nhận quan niệm “Ngã của tôi không phải là thọ, ngã của tôi không có cảm thọ”.

31. Này Ananda, ai nói như sau: “Ngã của tôi không phải là thọ, ngã của tôi không phải không có cảm thọ; ngã của tôi có cảm thọ, ngã của tôi có khả năng cảm thọ”, người ấy cần được trả lời: “Này Hiền giả nếu tất cả mọi loại cảm thọ đều đoạn diệt hoàn toàn, khi không còn một loại cảm thọ nào cả, khi thọ đã tận diệt, thời ở tại chỗ ấy, có thể nói: “Tôi là như vậy” chăng?”

− Bạch Thế Tôn, không!

− Do vậy, này Ananda, không thể chấp nhận quan niệm “Ngã của tôi không phải là thọ, ngã của tôi không phải không có cảm thọ; ngã của tôi có cảm thọ, ngã của tôi có khả năng cảm thọ”.

Này Ānanda, khi một Tỳ-kheo không quan niệm cảm giác là tự ngã, cũng không quan niệm vô cảm là tự ngã, cũng không quan niệm ‘tự ngã của tôi là thứ nhận ra cảm nhận, vì tự ngã của tôi chính là năng lực cảm nhận’. Do không quan niệm như vậy, vị ấy không bám giữ (chấp thủ / upādiyati) bất cứ điều gì ở đời; không bám giữ, vị ấy không lo âu (sợ hãi / paritassati); không lo âu, vị ấy tự mình hoàn toàn tịch diệt (viên tịch / parinibbāyati). Vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti): ‘sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn sạch (tận / khīṇā), đời sống thanh tịnh đã hoàn tất, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

Này Ānanda, đối với vị Tỳ-kheo có tâm được giải thoát (giải thoát tâm / vimuttacitta) như vậy, nếu ai nói: ‘Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) tồn tại sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy’ – điều đó không thích hợp. ‘Không tồn tại Người Đến Như Vậy sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy’ – điều đó không thích hợp. ‘Vừa tồn tại vừa không tồn tại Người Đến Như Vậy sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy’ – điều đó không thích hợp. ‘Cũng không phải tồn tại, cũng không phải không tồn tại Người Đến Như Vậy sau khi chết, đó là quan điểm của vị ấy’ – điều đó không thích hợp.

Vì sao vậy? Này Ānanda, đâu là đặt tên, đâu là giới hạn của sự đặt tên; đâu là ngôn ngữ, đâu giới hạn của ngôn ngữ; đâu là khái niệm, đâu là giới hạn của khái niệm; đến đâu là trí tuệ, đâu là giới hạn của trí tuệ; đâu là vòng luân hồi, và cơ chế vận hành của nó; vị Tỳ-kheo đã được giải thoát nhờ sự hiểu biết trực tiếp về những điều này. Đối với vị Tỳ-kheo đã giải thoát nhờ hiểu biết trực tiếp ấy, nếu nói rằng ‘quan điểm của vị ấy là không biết, không thấy’ — thì điều đó hoàn toàn không đúng, không chính xác."

32. Này Ananda, khi có một vị Tỷ-kheo không quan niệm ngã là thọ, không quan niệm ngã không phải thọ, không quan niệm: “Ngã của tôi là thọ, ngã của tôi có khả năng cảm thọ”, khi ấy vị này sẽ không chấp trước một điều gì ở trên đời, vì không chấp trước nên không sợ hãi; vì không sợ hãi nên hoàn toàn tự mình tịch diệt. Vị ấy biết sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, sau đời này không còn đời nào khác nữa.

Này Ananda, với vị Tỷ-kheo có tâm giải thoát như vậy, nếu có ai nói vị Tỷ-kheo ấy có tà kiến như sau: “Như Lai có tồn tại sau khi chết” thời thật hoàn toàn phi lý. Hoặc có tà kiến như sau: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, thời thật hoàn toàn phi lý. Hoặc có tà kiến như sau: “Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết”, thời thật hoàn toàn phi lý. Hoặc có tà kiến như sau: “Như Lai không có tồn tại và không không có tồn tại sau khi chết”, thời thật hoàn toàn phi lý. Tại sao vậy? Này Ananda, ví dầu có bao nhiêu danh mục, bao nhiêu danh mục đạo, dầu có bao nhiêu ngôn ngữ, bao nhiêu ngôn ngữ đạo, dầu có bao nhiêu thi thiết, bao nhiêu thi thiết đạo, dầu có bao nhiêu trí tuệ, bao nhiêu trí tuệ giới, dầu có bao nhiêu luân chuyển, bao nhiêu vận hành, với thắng trí hiểu biết tất cả, vị Tỷ-kheo được giải thoát. Với vị Tỷ-kheo thắng trí giải thoát như vậy mà nói rằng vị Tỷ-kheo ấy không biết, không thấy, thời thật là một sự phi lý.

5. Bảy Nơi Trú Ngụ Của ‘Cái Biết’ (Sattaviññāṇaṭṭhiti)

Này Ānanda, có bảy nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ (thức trú / viññāṇaṭṭhiti) và hai Xứ (āyatana). Bảy nơi đó là gì?

Này Ānanda, có những chúng sinh khác nhau về thân hình (dị thân / nānattakāyā) và khác nhau về Nhận Thức (dị tưởng / nānattasaññino), như loài người, một số chư thiên và một số chúng sinh ở cõi khổ. Đây là nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ nhất.

Này Ānanda, có những chúng sinh khác nhau về thân hình nhưng giống nhau về Nhận Thức (nhất tưởng / ekattasaññino), như chư thiên ở cõi Phạm chúng sinh ra từ kiếp đầu tiên. Đây là nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ hai.

Này Ānanda, có những chúng sinh giống nhau về thân hình (nhất thân / ekattakāyā) nhưng khác nhau về Nhận Thức, như chư thiên ở cõi Quang Âm. Đây là nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ ba.

Này Ānanda, có những chúng sinh giống nhau về thân hìnhgiống nhau về Nhận Thức, như chư thiên ở cõi Biến Tịnh. Đây là nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ tư.

Này Ānanda, có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua Nhận Thức [bị giới hạn bởi] vật chất, phá vỡ Nhận Thức về kháng cự, va chạm [vật lý] (đoạn diệt chướng ngại tưởng), không để tâm (phi tác ý / amanasikārā) đến Nhận Thức về sự đa dạng [của vạn vật], thấy được rằng ‘Không gian là vô tận’, đi vào cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana). Đây là nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ năm.

Này Ānanda, có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, thấy được rằng “‘cái biết’ là vô tận”, đi vào cõi ‘cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana). Đây là nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ sáu.

Này Ānanda, có những chúng sinh đã hoàn toàn vượt qua cõi ‘cái biết’ là Vô Tận, thấy được rằng ‘Không có vật gì’, đi vào cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana). Đây là nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ bảy.

(Hai xứ) Xứ thứ nhất: chúng sinh không có Nhận Thức (Asaññasattāyatana) và xứ thứ hai là xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana).

Này Ānanda, trong các nơi đó, nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ thứ nhất là những chúng sinh khác nhau về thân hìnhkhác nhau về Nhận Thức, như loài người, một số chư thiên và một số chúng sinh ở cõi khổ. Nếu một người biết rõ nơi đó, biết rõ sự hình thành (tập / samudaya) của nó, biết rõ sự tan biến (diệt / atthaṅgama) của nó, biết rõ sự ngọt ngào (vị ngọt / assāda) của nó, biết rõ sự nguy hiểm (ādīnava) của nó, và biết rõ sự thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) nó. Liệu người ấy có thích hợp để vui thú chạy theo (hỷ lạc / abhinandati) nó không?

“Dạ không, bạch Thế Tôn.” …

“Này Ānanda, đối với cõi chúng sinh không có Nhận Thức này. Nếu một người biết rõ nó, biết rõ sự hình thành của nó, biết rõ sự tan biến của nó, biết rõ sự ngọt ngào của nó, biết rõ sự nguy hiểm của nó, và biết rõ sự thoát khỏi nó. Liệu người ấy có thích hợp để vui thú chạy theo nó không?” - “Dạ không, bạch Thế Tôn.”

“Này Ānanda, đối với cõi Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” này. Nếu một người biết rõ nó, biết rõ sự hình thành của nó, biết rõ sự tan biến của nó, biết rõ sự ngọt ngào của nó, biết rõ sự nguy hiểm của nó, và biết rõ sự thoát khỏi nó. Liệu người ấy có thích hợp để vui thú chạy theo nó không?” - “Dạ không, bạch Thế Tôn.”

"Này Ānanda, khi một Tỳ-kheo biết như thật sự hình thành, sự tan biến, sự ngọt ngào, sự nguy hiểm, và sự thoát khỏi bảy nơi trú ngụ của ‘Cái Biết’ và hai Xứ này, rồi được giải thoát mà không bám giữ, vị Tỳ-kheo này, này Ānanda, được gọi là người giải thoát bằng trí tuệ.

33. Này Ananda, có bảy trú xứ của thức và hai xứ. Thế nào là bảy? Này Ananda, có những loại hữu tình, thân dị loại và tưởng dị loại, như loài Người, một số chư Thiên và một số trong địa ngục. Ðó là trú xứ thứ nhất của thức.

Này Ananda, có những loại hữu tình, thân dị loại nhưng tưởng nhất loại, như các vị Phạm Chúng thiên được sanh vào cõi ấy, nhờ sơ Thiền. Ðó là trú xứ thứ hai của thức.

Này Ananda, có những loại hữu tình, thân nhất loại nhưng tưởng dị loại, như các vị Quang Âm thiên (Abhassarà). Ðó là trú xứ thứ ba của thức.

Này Ananda, có những loại hữu tình, thân nhất loại và tưởng cũng nhất loại, như các vị Biến Tịnh thiên (Subhakinna). Ðó là trú xứ thứ tư của thức. Này Ananda, có những loại hữu tình, vượt ra khỏi tất cả sắc tưởng, đoạn trừ tất cả hữu đối tưởng, không suy tư đến mọi dị loại tưởng, chỉ có tưởng “Hư không là vô biên”, được sanh vào cõi Hư không vô biên xứ. Ðó là trú xứ thứ năm của thức. Này Ananda, có những loại hữu tình hoàn toàn vượt ra khỏi Không vô biên xứ, chỉ có tưởng “Thức là vô biên”, được sanh vào cõi Thức vô biên xứ. Ðó là trú xứ thứ sáu của thức.

Này Ananda, có những loại hữu tình, hoàn toàn vượt ra khỏi Thức vô biên xứ, chỉ có tưởng “Vô sở hữu”, được sanh vào cõi Vô sở hữu xứ. Ðó là trú xứ thứ bảy của thức.

Hai xứ là Vô tưởng hữu tình xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

34. Này Ananda, trong thức trú xứ thứ nhất có thân dị loại và tưởng dị loại này, như loài Người, một số chư Thiên và một số hữu tình trong địa ngục. Này Ananda nếu có ai hiểu được trú xứ này, hiểu được sự tập khởi, hiểu được sự đoạn diệt, hiểu được vị ngọt, hiểu được sự nguy hiểm và hiểu được sự xuất ly của trú xứ này, một vị như vậy có thể còn hoan hỷ ưa thích trú xứ này không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, trong thức trú xứ thứ hai … thứ ba … thứ tư … thứ năm … thứ sáu … Này Ananda, trong thức trú xứ thứ bảy, hoàn toàn vượt ra khỏi Thức vô biên xứ, chỉ có tưởng “Vô sở hữu”, được sanh vào cõi Vô sở hữu xứ. Này Ananda nếu có ai hiểu được trú xứ này, hiểu được sự tập khởi, hiểu được sự đoạn diệt, hiểu được sự tập khởi, hiểu được sự đoạn diệt, hiểu được vị ngọt, hiểu được sự nguy hiểm và hiểu được sự xuất ly của trú xứ này, một vị như vậy có thể còn hoan hỷ ưa thích trú xứ này không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, với Vô tưởng hữu tình xứ này, này Ananda, nếu có ai hiểu được trú xứ này, hiểu được sự tập khởi, hiểu được sự đoạn diệt, hiểu được vị ngọt, hiểu được sự nguy hiểm và hiểu được sự xuất ly của trú xứ này, một vị như vậy có thể còn hoan hỷ ưa thích trú xứ này không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, với Phi tưởng phi phi tưởng xứ này, này Ananda nếu có ai hiểu được trú xứ này, hiểu được sự tập khởi, hiểu được sự đoạn diệt, hiểu được vị ngọt, hiểu được sự nguy hiểm và hiểu được sự xuất ly của trú xứ này, một vị như vậy có thể còn hoan hỷ ưa thích trú xứ này không?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Ananda, bởi bảy thức trú xứ và hai xứ này, nếu có vị Tỷ-kheo đã như chơn hiểu được tập khởi, đoạn trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm, xuất ly của chúng, nhờ không còn chấp thủ, vị này được giải thoát. Này Ananda, vị Tỷ-kheo như vậy được gọi là Tuệ giải thoát.

6. Tám Sự Giải Thoát (Aṭṭhavimokkha)

Này Ānanda, có tám sự giải thoát (giải thoát / vimokkha). Tám sự đó là gì?

Người vật chất, quan sát vật chất bên ngoài, đây là sự giải thoát thứ nhất.

Người bên trong không còn Nhận Thức về vật chất, quan sát vật chất bên ngoài, đây là sự giải thoát thứ hai.

Vị ấy chú tâm trọn vẹn (chú tâm / adhimutta) vào sự vẻ đẹp (tịnh / subha), đây là sự giải thoát thứ ba.

Hoàn toàn vượt qua Nhận Thức [bị giới hạn bởi] vật chất,phá vỡ Nhận Thức về kháng cự, va chạm [vật lý], không để tâm đến Nhận Thức về sự đa dạng [của vạn vật], thấy được rằng ‘Không gian là vô tận’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận, đây là sự giải thoát thứ tư.

Hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, thấy được rằng “‘Cái Biết’ là vô tận”, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, đây là sự giải thoát thứ năm.

Hoàn toàn vượt qua cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, thấy được rằng ‘Không có vật gì’, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì, đây là sự giải thoát thứ sáu.

Hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, đây là sự giải thoát thứ bảy.

Hoàn toàn vượt qua cõi Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, vị ấy đi vào và an trú trong sự làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha), đây là sự giải thoát thứ tám.

Này Ānanda, đây là tám sự giải thoát.

Này Ānanda, khi một Tỳ-kheo đi vào tám sự giải thoát này theo chiều thuận (thuận / anuloma), đi vào theo chiều nghịch (nghịch / paṭiloma), đi vào theo cả chiều thuận lẫn chiều nghịch; vị ấy đi vào và ra khỏi chúng ở bất cứ nơi nào vị ấy muốn, vào bất cứ lúc nào vị ấy muốn, và trong bao lâu vị ấy muốn. Đồng thời, nhờ sự cạn sạch các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), vị ấy tự mình chứng ngộ bằng sự hiểu biết trực tiếp, đạt đến và an trú trong tâm giải thoát (cetovimutti) và tuệ giải thoát (paññāvimutti) không còn nguồn ác ngay trong đời sống hiện tại (hiện tại / diṭṭhadhamma). Vị Tỳ-kheo này, này Ānanda, được gọi là người giải thoát cả hai phần (câu phần giải thoát / ubhatobhāgavimutta). Này Ānanda, ngoài sự giải thoát cả hai phần này, không có sự giải thoát cả hai phần nào khác cao tột hơn hay thù thắng hơn."

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ vui thú chạy theo những lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Đại Duyên (Mahānidānasutta) thứ hai.

35. Này Ananda, có tám giải thoát. Thế nào là tám?

Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.

Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải thoát thứ ba.

Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ; đó là sự giải thoát thứ tư.

Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.

Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu.

Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám. Này Ananda, như vậy là tám giải thoát.

36. Này Ananda, khi một vị Tỷ-kheo thuận thứ thể nhập tám giải thoát này, có thể nhập và có thể xuất khỏi bất cứ giải thoát nào khi nào mình muốn, chỗ nào mình muốn và dài bao lâu mình muốn - và với các lậu hoặc được đoạn trừ, vị Tỷ-kheo chứng và an trú trong tám giải thoát và tuệ giải thoát, không còn lậu hoặc ngay trong thời hiện tại, tự mình thấu đạt và chứng ngộ. Này Ananda, không còn có một Câu giải thoát nào khác cao hơn và thù thắng hơn Câu giải thoát này.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-