Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 14. KINH DÀI VỀ NGUỒN GỐC

(Mahāpadānasutta)
Bản tóm tắt→

1. Câu chuyện về đời sống quá khứ (Pubbenivāsapaṭisaṁyuttakathā)

Tôi nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại tu viện Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại ngôi chòi Kareri.

Khi ấy, nhiều vị tỳ-kheo sau bữa ăn, lúc đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp tại sảnh đường Kareri, thì một câu chuyện về đời sống quá khứ (tiền kiếp / pubbenivāsa) khởi lên: “Như thế này là đời sống quá khứ, như thế này là đời sống quá khứ”.

Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh, vượt xa khả năng của con người, đã nghe được cuộc trò chuyện này của các tỳ-kheo. Rồi Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến sảnh đường Kareri; sau khi đến, Ngài ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xong, Thế Tôn gọi các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, các vị đang ngồi tụ họp ở đây bàn về câu chuyện gì; và câu chuyện gì của các vị đang nói dang dở?”

Khi được nói vậy, các tỳ-kheo bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, ở đây, sau bữa ăn, lúc đi khất thực trở về, chúng con đang ngồi tụ họp tại sảnh đường Kareri, thì một câu chuyện về đời sống quá khứ khởi lên: ‘Như thế này là đời sống quá khứ, như thế này là đời sống quá khứ’. Bạch Thế Tôn, đây là câu chuyện đang nói dang dở của chúng con. Rồi Thế Tôn quang lâm.”

“Này các tỳ-kheo, các vị có muốn nghe một bài giảng (pháp / dhamma) về đời sống quá khứ không?”

“Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời; bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời; nếu Thế Tôn giảng một bài giảng về đời sống quá khứ, các tỳ-kheo sau khi nghe Thế Tôn giảng sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các tỳ-kheo, hãy lắng nghe, hãy chú ý kỹ, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

14. KINH ÐẠI BỔN

(Mahàpadàna Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vậy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở tại nước Sàvatthi (Xá-vệ) rừng Jeta (Kỳ-đà), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc), trong am thất cây Kareri (Hoa Lâm). Lúc bấy giờ, số đông các Tỷ-kheo đi khất thực về, sau khi dùng bữa xong, cùng ngồi và tụ họp lại Hoa Lâm viên đường, pháp thoại thuộc về tiền thân được khởi lên: “Ðây là tiền thân, đây là tiền thân”.

2. Thế Tôn, với thiên nhĩ thanh tịnh vượt quá loài người nghe được câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo. Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Hoa Lâm viên đường. Khi đến xong, Ngài ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì, các người đang ngồi bàn? Câu chuyện gì đã bị gián đoạn giữa các người?

Khi được nói vậy, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực về, sau khi dùng bữa xong, cùng ngồi và tụ họp tại Hoa Lâm viên đường, pháp thoại về tiền thân được khởi lên: “Ðây là tiền thân, đây là tiền thân”. Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang được bàn đến giữa chúng con thời Thế Tôn đến.

3. - Này các Tỷ-kheo, các người có muốn nghe pháp thuộc thoại về tiền thân không?

− Bạch Thế Tôn, thật là đúng thời; bạch Thiện Thệ, thật là đúng thời để Thế Tôn giảng pháp thoại thuộc về tiền thân. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

− Vậy này các Tỷ-kheo, các người hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Dạ vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo này đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

"Này các tỳ-kheo, cách đây chín mươi mốt kiếp, Thế Tôn Vipassī (Tỳ-bà-thi), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Này các tỳ-kheo, cách đây ba mươi mốt kiếp, Thế Tôn Sikhī (Thi-khí), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Này các tỳ-kheo, cũng trong kiếp thứ ba mươi mốt ấy, Thế Tôn Vessabhū (Tỳ-xá-phù), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Này các tỳ-kheo, ngay trong hiền kiếp này, Thế Tôn Kakusandha (Câu-lưu-tôn), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Này các tỳ-kheo, ngay trong hiền kiếp này, Thế Tôn Koṇāgamana (Câu-na-hàm-mâu-ni), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Này các tỳ-kheo, ngay trong hiền kiếp này, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp), bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Này các tỳ-kheo, ngay trong hiền kiếp này, Ta hiện nay là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ, xuất hiện trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Sikhī… sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ… Thế Tôn Vessabhū… sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ… Thế Tôn Kakusandha… sinh ra trong giai cấp Bà-la-môn, xuất hiện trong gia tộc Bà-la-môn. Thế Tôn Koṇāgamana… sinh ra trong giai cấp Bà-la-môn… Thế Tôn Kassapa… sinh ra trong giai cấp Bà-la-môn… Này các tỳ-kheo, Ta hiện nay là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ, xuất hiện trong gia tộc Sát-đế-lỵ.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī… thuộc dòng họ Koṇḍañña (Kiều-trần-như). Thế Tôn Sikhī… thuộc dòng họ Koṇḍañña. Thế Tôn Vessabhū… thuộc dòng họ Koṇḍañña. Thế Tôn Kakusandha… thuộc dòng họ Kassapa. Thế Tôn Koṇāgamana… thuộc dòng họ Kassapa. Thế Tôn Kassapa… thuộc dòng họ Kassapa. Này các tỳ-kheo, Ta hiện nay… thuộc dòng họ Gotama (Cồ-đàm).

4. - Này các Tỷ-kheo, chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi), bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, ba mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Sikhì (Thi-khí) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp ấy, Thế Tôn Vessabhù (Tỳ-xábà) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kakusandha (Câu-lâu-tôn) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Konàgamana (Câu-na-hàm) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, nay Ta, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời.

5. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipasì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Bà-la-môn, sanh trong giai cấp Bà-la-môn . Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Bà-la-môn , sanh trong giai cấp Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Bà-la-môn, sanh trong giai cấp Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc A-lahán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ.

6. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipasì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna (Câuly-nhã). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamara, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm).

Này các tỳ-kheo, tuổi thọ của Thế Tôn Vipassī… là tám mươi ngàn năm. Tuổi thọ của Thế Tôn Sikhī… là bảy mươi ngàn năm. Tuổi thọ của Thế Tôn Vessabhū… là sáu mươi ngàn năm. Tuổi thọ của Thế Tôn Kakusandha… là bốn mươi ngàn năm. Tuổi thọ của Thế Tôn Koṇāgamana… là ba mươi ngàn năm. Tuổi thọ của Thế Tôn Kassapa… là hai mươi ngàn năm. Này các tỳ-kheo, tuổi thọ của Ta hiện nay rất ngắn ngủi, ít ỏi, mau lẹ; ai sống lâu thì được một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn một chút.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī… giác ngộ dưới gốc cây Pāṭalī. Thế Tôn Sikhī… giác ngộ dưới gốc cây Puṇḍarīka. Thế Tôn Vessabhū… giác ngộ dưới gốc cây Sāla. Thế Tôn Kakusandha… giác ngộ dưới gốc cây Sirīsa. Thế Tôn Koṇāgamana… giác ngộ dưới gốc cây Udumbara. Thế Tôn Kassapa… giác ngộ dưới gốc cây Nigrodha. Này các tỳ-kheo, Ta hiện nay… giác ngộ dưới gốc cây Assattha.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī… có cặp đệ tử hàng đầu, cặp đệ tử xuất chúng tên là Khaṇḍa và Tissa. Thế Tôn Sikhī… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Abhibhū và Sambhava. Thế Tôn Vessabhū… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Soṇa và Uttara. Thế Tôn Kakusandha… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Vidhura và Sañjīva. Thế Tôn Koṇāgamana… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Bhiyyosa và Uttara. Thế Tôn Kassapa… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Tissa và Bhāradvāja. Này các tỳ-kheo, Ta hiện nay có cặp đệ tử hàng đầu, cặp đệ tử xuất chúng tên là Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallāna (Mục-kiền-liên).

7. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là tám vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bảy vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là sáu vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bốn vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là ba vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ của loài người là hai vạn năm. Này các Tỷ-kheo, nay tuổi thọ của Ta không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút.

8. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây pàtali (bà-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây pundarika (phân-đà-ly). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây sirĩsa (thi-lợi-sa). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây udumbara (ô-tam-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây nigrodha (ni-câu-luật-đà). Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa-la).

9. Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhứt đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhứt đệ tử của Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Abhibhù (A-tỳ-phù) và Sambhava (Tam-bà-bà). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vessabhu, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Sona (Phù-du) và Uttara (Uất-đa-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Vidhùra (Tỳ-lâu) và Sanjìva (Tát-ni). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bhiyyosa (Thư-bàn-na) và Uttara (Uất-đa-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Tissa (Ðề-xá) và Bhàradvàja (Bà-la-bà). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Ta là Sãriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallàna (Mục-kiền-liên).

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī… có ba lần đại hội đệ tử. Một lần đại hội đệ tử có sáu triệu tám trăm ngàn tỳ-kheo, một lần đại hội đệ tử có một trăm ngàn tỳ-kheo, một lần đại hội đệ tử có tám mươi ngàn tỳ-kheo. Này các tỳ-kheo, ba lần đại hội đệ tử này của Thế Tôn Vipassī… tất cả đều là người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava).

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Sikhī… có ba lần đại hội đệ tử. Một lần có một trăm ngàn tỳ-kheo, một lần có tám mươi ngàn tỳ-kheo, một lần có bảy mươi ngàn tỳ-kheo. Tất cả đều là người đã sạch nguồn ác.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vessabhū… có ba lần đại hội đệ tử. Một lần có tám mươi ngàn tỳ-kheo, một lần có bảy mươi ngàn tỳ-kheo, một lần có sáu mươi ngàn tỳ-kheo. Tất cả đều là người đã sạch nguồn ác.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Kakusandha… có một lần đại hội đệ tử gồm bốn mươi ngàn tỳ-kheo. Tất cả đều là người đã sạch nguồn ác.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Koṇāgamana… có một lần đại hội đệ tử gồm ba mươi ngàn tỳ-kheo. Tất cả đều là người đã sạch nguồn ác.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Kassapa… có một lần đại hội đệ tử gồm hai mươi ngàn tỳ-kheo. Tất cả đều là người đã sạch nguồn ác.

Này các tỳ-kheo, Ta hiện nay có một lần đại hội đệ tử gồm một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo. Lần đại hội đệ tử này của Ta tất cả đều là người đã sạch nguồn ác.

10. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội sáu mươi tám triệu Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội sáu vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội bốn vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội ba vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội hai vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc A-la-hán. Này các Tỷ kheo, nay trong thời của Ta có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Asoka. Thế Tôn Sikhī… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Khemaṅkara. Thế Tôn Vessabhū… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Upasanta. Thế Tôn Kakusandha… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Buddhija. Thế Tôn Koṇāgamana… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Sotthija. Thế Tôn Kassapa… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Sabbamitta. Này các tỳ-kheo, Ta hiện nay có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Ānanda.

11. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Khemankara (Nhẫn Hành), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhũ, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Upasannaka (Tịch Diệt) vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Vuddhija (Thiện Giác), vị này là thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sotthija (An Hòa), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sabbamitta (Thiện Hữu), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, nay Ta có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Ananda (A-nan), vị này là vị thị giả đệ nhất.

Này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī… có cha là vua Bandhumā. Mẹ sinh thành là hoàng hậu Bandhumatī. Kinh đô của vua Bandhumā là thành phố Bandhumatī.

Thế Tôn Sikhī… có cha là vua Aruṇa. Mẹ sinh thành là hoàng hậu Pabhāvatī. Kinh đô của vua Aruṇa là thành phố Aruṇavatī.

Thế Tôn Vessabhū… có cha là vua Suppatita. Mẹ sinh thành là hoàng hậu Vassavatī. Kinh đô của vua Suppatita là thành phố Anoma.

Thế Tôn Kakusandha… có cha là Bà-la-môn Aggidatta. Mẹ sinh thành là nữ Bà-la-môn Visākhā. Này các tỳ-kheo, vào thời đó có vị vua tên là Khema. Kinh đô của vua Khema là thành phố Khemavatī.

Thế Tôn Koṇāgamana… có cha là Bà-la-môn Yaññadatta. Mẹ sinh thành là nữ Bà-la-môn Uttarā. Này các tỳ-kheo, vào thời đó có vị vua tên là Sobha. Kinh đô của vua Sobha là thành phố Sobhavatī.

Thế Tôn Kassapa… có cha là Bà-la-môn Brahmadatta. Mẹ sinh thành là nữ Bà-la-môn Dhanavatī. Này các tỳ-kheo, vào thời đó có vị vua tên là Kikī. Kinh đô của vua Kikī là thành phố Bārāṇasī (Ba-la-nại).

Này các tỳ-kheo, Ta hiện nay có cha là vua Suddhodana (Tịnh Phạn). Mẹ sinh thành là hoàng hậu Māyā (Ma-da). Kinh đô là thành phố Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ)."

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá.

12. Này các Tỷ-kheo, phụ vương của Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bandhumà (Bàn-đầu); mẫu hậu tên là Bandhumati (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhumà tên là Bandhumatì. Này các Tỷ-kheo, phụ vương Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Aruna (Minh Tướng); mẫu hậu tên là Pabhãvatĩ (Quang Huy); kinh thành của vua Aruna tên là Pabhàvatì.

Này các Tỷ-kheo, phụ vương Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Suppatìta (Thiện Ðăng), mẫu hậu tên là Yasavati (Xứng Giới); Kinh thành của vua Suppatita tên là Anopama (Vô Dụ).

Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Aggidatta (Tự Ðắc); mẫu thân Bà-la-môn tên là Visàkhà (Thiện Chi). Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ vua trị vì tên là Khema (An Hòa); kinh thành vua Khema tên là Khemavatì (An Hòa). Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Yannadatta (Ðạt Ðức) mẫu thân Bà-la-môn tên là Uttarà (Thiện Thắng; Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, vua trị vì tên là Sobha (Thanh Tịnh); kinh thành của vua Sobha tên là Sobhavatì (Thanh Tịnh).

Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Brahmadatta (Phạm Thi) mẫu thân Bà-la-môn tên là Dhanavatì (Tài Chủ). Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ vua trị vì tên là Kikì (Hấp Tỳ); kinh thành vua Kikì là Baranasì (Ba-la-nại).

Này các Tỷ-kheo, nay phụ vương của Ta tên là Suddhodana (Tịnh Phạn); mẫu hậu của Ta tên là Màyà (Ma-da); kinh thành tên là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Giảng xong Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.

Rồi không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, giữa các tỳ-kheo ấy khởi lên câu chuyện dang dở này:

“Thật kỳ diệu thay, thưa các hiền giả! Thật phi thường thay, thưa các hiền giả! Sự thần thông vĩ đại, uy lực vĩ đại của Như Lai. Rằng Như Lai có thể nhớ lại các vị Phật trong quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã cắt đứt sự nhân rộng của tâm trí (hý luận / papañca), đã cắt đứt vòng luân hồi (luân chuyển / vaṭuma), đã làm cạn kiệt vòng lặp, đã vượt qua mọi đau khổ; Ngài nhớ lại từ sự Tái sinh (sinh / jāti), nhớ lại từ tên gọi, nhớ lại từ dòng họ, nhớ lại từ tuổi thọ, nhớ lại từ cặp đệ tử, nhớ lại từ đại hội đệ tử: ‘Các Thế Tôn ấy có sự Tái sinh như thế này, có tên như thế này, có dòng họ như thế này, có giới hạnh như thế này, có Quy luật như thế này, có trí tuệ như thế này, có đời sống như thế này, có sự giải thoát như thế này’.”

“Thưa các hiền giả, có phải chính Như Lai đã thấu suốt bản chất của các quy luật (pháp giới / dhammadhātu) này, và nhờ thấu suốt bản chất của các quy luật này mà Như Lai nhớ lại các vị Phật trong quá khứ… ‘Các Thế Tôn ấy có sự Tái sinh như thế này… có sự giải thoát như thế này’? Hay là các chư thiên đã báo cho Như Lai biết ý nghĩa này, nhờ đó Như Lai nhớ lại các vị Phật trong quá khứ… ‘Các Thế Tôn ấy có sự Tái sinh như thế này… có sự giải thoát như thế này’?” Đây là câu chuyện đang nói dang dở của các tỳ-kheo ấy.

13. Thế Tôn đi ra chẳng bao lâu cuộc đàm thoại sau đây khởi lên giữa những Tỷ-kheo ấy:

− Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Này các liền giả, thật kỳ diệu thay, đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy? Hay là chư Thiên mách bảo Như Lai và nhờ sự mách bảo này, Như Lai nhớ được các đức Phật quá khứ, các vị này đã nhập Niết bàn đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát như thế này?”

Như vậy là cuộc đàm thoại đang khởi lên giữa những Tỷ-kheo ấy.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, sau khi xuất định, đi đến sảnh đường Kareri; sau khi đến, Ngài ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xong, Thế Tôn gọi các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, các vị đang ngồi tụ họp ở đây bàn về câu chuyện gì; và câu chuyện gì của các vị đang nói dang dở?”

Khi được nói vậy, các tỳ-kheo bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, ở đây, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, giữa chúng con khởi lên câu chuyện dang dở này: ‘Thật kỳ diệu thay… (như trên)… Hay là các chư thiên đã báo cho Như Lai biết ý nghĩa này…?’ Bạch Thế Tôn, đây là câu chuyện đang nói dang dở của chúng con, rồi Thế Tôn quang lâm.”

"Này các tỳ-kheo, chính Như Lai đã thấu suốt bản chất của các quy luật này, nhờ thấu suốt bản chất của các quy luật này mà Như Lai nhớ lại các vị Phật trong quá khứ đã nhập Niết-bàn… ‘Các Thế Tôn ấy có sự Tái sinh như thế này… có sự giải thoát như thế này’. Và các chư thiên cũng đã báo cho Như Lai biết ý nghĩa này, nhờ đó Như Lai nhớ lại các vị Phật trong quá khứ… ‘Các Thế Tôn ấy có sự Tái sinh như thế này… có sự giải thoát như thế này’.

14. Bấy giờ Thế Tôn, vào buổi chiều tối, sau khi xuất định, liền đến Hoa Lâm viên đường, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xong, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nay các Ngươi ngồi luận bàn vấn đề gì? Ðề tài gì đã được luận bàn giữa các Ngươi?

Khi được hỏi vậy, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đi ra chẳng bao lâu, cuộc đàm thoại sau đây đã khởi lên giữa chúng con: “Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Này các hiền giả thật kỳ diệu thay đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy?” Hay là chư Thiên mách bảo Như Lai và nhờ sự mách bảo này, Như Lai nhớ được các đức Phật quá khứ, các vị này đã nhập Niết bàn đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát như thế này?” Bạch Thế Tôn, như vậy là vấn đề bàn luận giữa chúng con, khi Thế Tôn đến.

Này các tỳ-kheo, các vị có muốn nghe thêm một bài giảng về đời sống quá khứ một cách chi tiết hơn không?"

“Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời; bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời; nếu Thế Tôn giảng thêm một bài giảng về đời sống quá khứ một cách chi tiết hơn, các tỳ-kheo sau khi nghe Thế Tôn giảng sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các tỳ-kheo, hãy lắng nghe, hãy chú ý kỹ, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

15. - Này các Tỷ-kheo, như vậy là pháp giới ấy được khéo chứng đạt bởi Như Lai, và nhờ chúng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”.

Này các Tỷ-kheo, vậy hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau:

"Này các tỳ-kheo, cách đây chín mươi mốt kiếp, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Thế Tôn Vipassī… sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ… thuộc dòng họ Koṇḍañña… tuổi thọ là tám mươi ngàn năm… giác ngộ dưới gốc cây Pāṭalī… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Khaṇḍa và Tissa… có ba lần đại hội đệ tử… tất cả đều là người đã sạch nguồn ác… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Asoka… có cha là vua Bandhumā, mẹ là hoàng hậu Bandhumatī, kinh đô là thành phố Bandhumatī.

16. - Này các Tỷ-kheo, cách đây chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Sát-đế-ly, sanh trong giai cấp Sát-đế-ly. Này các Tỷ kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ đến tám vạn năm. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Patali (Ba-ba-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội sáu mươi tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Phụ Vương Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bandhumà (Bàn-đầu), mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề), kinh thành của Bandhumà tên là Bandhumatì.

2. Quy luật của Bồ-tát (Bodhisattadhammatā)

Này các tỳ-kheo, khi ấy Bồ-tát Vipassī từ cõi trời Tusita (Đâu-suất) mạng chung, quan sát và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / sato sampajāno) nhập vào thai mẹ. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát từ cõi trời Tusita mạng chung nhập vào thai mẹ, thì trong thế giới gồm chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong quần chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, một ánh sáng vô lượng, rực rỡ xuất hiện, vượt qua cả uy lực của chư thiên. Ngay cả những khoảng không gian tối tăm, trống rỗng, không có điểm tựa, nơi mà mặt trăng và mặt trời với thần thông vĩ đại, uy lực vĩ đại như vậy cũng không thể chiếu sáng tới, thì tại đó cũng xuất hiện một ánh sáng vô lượng, rực rỡ, vượt qua cả uy lực của chư thiên. Và những chúng sinh sinh ra tại đó nhờ ánh sáng ấy mà nhận ra nhau: ‘Thưa các bạn, hóa ra cũng có những chúng sinh khác sinh ra ở đây’. Và hệ thống mười ngàn thế giới này rung chuyển, chấn động, rung lắc mạnh. Một ánh sáng vô lượng, rực rỡ xuất hiện ở đời, vượt qua cả uy lực của chư thiên. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát nhập vào thai mẹ, bốn vị thiên tử đi đến bốn phương để bảo vệ: ‘Không để cho bất kỳ con người, phi nhân hay ai khác làm hại Bồ-tát hoặc mẹ của Bồ-tát’. Đây là Quy luật ở đây.

17. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy, Bồ-tát Vipassì, sau khi từ giã cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi Bồ-tát Vipassì từ giã cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới, không có nền tảng, tối tăm, u ám, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu ấy, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ -tát nhập mẫu thai, bốn vị Thiên tử đứng canh gác bốn phương trời và nói: “Không cho một ai, người hay không phải loài người, được hãm hại vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy”.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát nhập vào thai mẹ, mẹ của Bồ-tát tự nhiên trở nên có giới hạnh, từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu và các chất say gây buông thả. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát nhập vào thai mẹ, trong tâm mẹ của Bồ-tát không khởi lên dục vọng đối với đàn ông liên quan đến sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa), và mẹ của Bồ-tát không thể bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có tâm đắm nhiễm. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát nhập vào thai mẹ, mẹ của Bồ-tát được thụ hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng. Bà được cung cấp, được trang bị và vui chơi với năm sợi dây trói buộc của bản năng. Đây là Quy luật ở đây.

18. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu men, rượu nấu. Pháp nhĩ là như vậy.

19. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và không vị phạm tiết hạnh với bất kỳ người đàn ông nào dầu người này có tâm ái nhiễm đối với bà. Pháp nhĩ là gì vậy.

20. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát có được năm món dục lạc đầy đủ, tận hưởng, trọn hưởng năm món dục lạc ấy. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát nhập vào thai mẹ, mẹ của Bồ-tát không mắc phải bất kỳ căn bệnh nào. Mẹ của Bồ-tát cảm thấy dễ chịu, cơ thể không mệt mỏi, và mẹ của Bồ-tát nhìn thấy Bồ-tát nằm trong thai nhi với đầy đủ các bộ phận cơ thể, không thiếu sót một giác quan nào. Này các tỳ-kheo, giống như một viên ngọc lưu ly tuyệt đẹp, chất lượng tốt, có tám mặt, được mài giũa khéo léo, trong suốt, sáng sủa, không vẩn đục, hoàn hảo về mọi mặt. Trong đó có xâu một sợi chỉ màu xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc màu vàng nhạt. Một người có mắt sáng đặt nó trên tay và quan sát: ‘Đây là viên ngọc lưu ly tuyệt đẹp… hoàn hảo về mọi mặt. Trong đó có xâu sợi chỉ màu xanh… hoặc màu vàng nhạt’.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi Bồ-tát nhập vào thai mẹ, mẹ của Bồ-tát không mắc phải bất kỳ căn bệnh nào, cảm thấy dễ chịu, cơ thể không mệt mỏi, và nhìn thấy Bồ-tát nằm trong thai nhi với đầy đủ các bộ phận cơ thể, không thiếu sót một giác quan nào. Đây là Quy luật ở đây.

21. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay.

Này các Tỷ-kheo, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: “Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lạt”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Bảy ngày sau khi Bồ-tát sinh ra, mẹ của Bồ-tát qua đời và tái sinh vào cõi trời Tusita. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Giống như những người phụ nữ khác mang thai trong bụng chín hoặc mười tháng rồi mới sinh, mẹ của Bồ-tát không sinh Bồ-tát như vậy. Mẹ của Bồ-tát mang thai Bồ-tát trong bụng đúng mười tháng rồi mới sinh. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Giống như những người phụ nữ khác ngồi hoặc nằm khi sinh, mẹ của Bồ-tát không sinh Bồ-tát như vậy. Mẹ của Bồ-tát đứng khi sinh Bồ-tát. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát từ thai mẹ sinh ra, chư thiên đỡ lấy trước, sau đó mới đến loài người. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát từ thai mẹ sinh ra, Bồ-tát chưa chạm đất thì bốn vị thiên tử đã đỡ lấy và đặt trước mặt người mẹ: ‘Thưa hoàng hậu, hãy vui mừng; một người con có uy lực vĩ đại đã sinh ra cho bà’. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát từ thai mẹ sinh ra, Ngài sinh ra hoàn toàn sạch sẽ, không bị dính nước ối, không bị dính chất nhầy, không bị dính máu, không bị dính bất kỳ chất bẩn nào, thanh khiết và sạch sẽ. Này các tỳ-kheo, giống như một viên ngọc quý đặt trên tấm vải Kāsī, viên ngọc quý không làm bẩn tấm vải Kāsī, và tấm vải Kāsī cũng không làm bẩn viên ngọc quý. Vì sao vậy? Vì cả hai đều sạch sẽ.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi Bồ-tát từ thai mẹ sinh ra, Ngài sinh ra hoàn toàn sạch sẽ, không bị dính nước ối, không bị dính chất nhầy, không bị dính máu, không bị dính bất kỳ chất bẩn nào, thanh khiết và sạch sẽ. Đây là Quy luật ở đây.

22. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Sau khi sanh vị Bồ-tát bảy ngày, mẹ vị Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cảnh trời Ðâu suất. Pháp nhĩ là như vậy.

23. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang vị Bồ-tát trong bụng mười tháng trời mới sanh. Pháp nhĩ là như vậy.

24. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác, hoặc ngồi, hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát đứng mà sanh vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy.

25. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người. Pháp nhĩ là như vậy.

26. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, vị Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ. Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Pháp nhĩ là như vậy.

27. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh thịnh, trong sạch. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các Tỷ-kheo, như viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Hòn ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nại cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ sự vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát từ thai mẹ sinh ra, hai dòng nước từ trên không trung hiện ra—một dòng lạnh, một dòng ấm—để thực hiện việc tắm rửa cho Bồ-tát và cho người mẹ. Đây là Quy luật ở đây.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Ngay khi vừa sinh ra, Bồ-tát đứng vững trên hai chân, hướng về phía Bắc, bước đi bảy bước trong khi một chiếc lọng trắng được che theo, Ngài nhìn khắp các hướng và thốt lên lời nói dõng dạc: ‘Ta là bậc tối thượng ở đời, Ta là bậc trưởng thượng ở đời, Ta là bậc cao quý nhất ở đời, đây là sự Tái sinh cuối cùng, nay không còn mầm sinh (hữu / bhava) nào nữa’. Đây là Quy luật ở đây.

28. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho vị Bồ-tát và cho bà mẹ. Pháp nhĩ là như vậy.

29. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các tỳ-kheo, đây là Quy luật: Khi Bồ-tát từ thai mẹ sinh ra, thì trong thế giới gồm chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong quần chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, một ánh sáng vô lượng, rực rỡ xuất hiện, vượt qua cả uy lực của chư thiên. Ngay cả những khoảng không gian tối tăm… (như trên)… Một ánh sáng vô lượng, rực rỡ xuất hiện ở đời, vượt qua cả uy lực của chư thiên. Đây là Quy luật ở đây.

30. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới, không có nền tảng, tối tăm, u ám, những cảnh giới mà mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu ấy thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Pháp nhĩ là như vậy.

3. Ba mươi hai tướng đại nhân (Dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇā)

Này các tỳ-kheo, khi thái tử Vipassī vừa sinh ra, người ta báo cho vua Bandhumā: ‘Tâu bệ hạ, một người con trai đã sinh ra cho ngài, xin bệ hạ hãy đến xem’. Này các tỳ-kheo, vua Bandhumā nhìn thấy thái tử Vipassī, sau khi nhìn thấy, vua cho gọi các đạo sĩ Bà-la-môn xem tướng và nói: ‘Xin các vị đạo sĩ Bà-la-môn xem tướng hãy xem thái tử’. Này các tỳ-kheo, các đạo sĩ Bà-la-môn xem tướng nhìn thấy thái tử Vipassī, sau khi nhìn thấy, họ tâu với vua Bandhumā: 'Tâu bệ hạ, hãy vui mừng, một người con có uy lực vĩ đại đã sinh ra cho ngài. Thật là một lợi ích cho ngài, tâu đại vương, thật là một điều may mắn cho ngài, tâu đại vương, khi trong gia tộc của ngài có một người con như vậy sinh ra. Tâu bệ hạ, thái tử này được trang bị ba mươi hai tướng đại nhân, mà đối với một đại nhân được trang bị những tướng này, chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống đời tại gia, ngài sẽ trở thành một vị vua Chuyển luân, một vị vua cai trị theo Quy luật công bằng, chinh phục bốn phương, mang lại sự ổn định cho đất nước, được trang bị bảy báu vật. Bảy báu vật của ngài là: Bánh xe báu, Voi báu, Ngựa báu, Ngọc báu, Nữ báu, Gia chủ báu, và Tướng quân báu là thứ bảy. Ngài sẽ có hơn một ngàn người con trai dũng cảm, hình dáng anh hùng, có khả năng đè bẹp quân thù. Ngài sẽ chinh phục và cai trị trái đất này cho đến tận bờ biển bằng Quy luật công bằng, không dùng gậy gộc, không dùng vũ khí. Nếu ngài rời bỏ gia đình, xuất gia (pabbajati) sống đời không nhà, ngài sẽ trở thành bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, người vén bức màn vô minh ở đời.

Tâu bệ hạ, thái tử này được trang bị ba mươi hai tướng đại nhân nào, mà đối với một đại nhân được trang bị những tướng này, chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác… (như trên)… Nếu ngài rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, ngài sẽ trở thành bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, người vén bức màn vô minh ở đời?

Tâu bệ hạ, thái tử này có bàn chân đặt bằng phẳng trên mặt đất. Việc thái tử có bàn chân đặt bằng phẳng trên mặt đất, đây là một tướng đại nhân của đại nhân này.

Tâu bệ hạ, dưới lòng bàn chân của thái tử có hình bánh xe với một ngàn nan hoa, có vành, có trục, hoàn hảo về mọi mặt. Việc dưới lòng bàn chân của thái tử có hình bánh xe… đây là một tướng đại nhân của đại nhân này.

Tâu bệ hạ, thái tử này có gót chân dài …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có ngón tay, ngón chân dài …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có bàn tay, bàn chân mềm mại, non nớt …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có bàn tay, bàn chân có màng lưới …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có mắt cá chân nhô cao …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có bắp chân như bắp chân con linh dương …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này khi đứng thẳng không cần cúi xuống cũng có thể chạm và xoa bóp hai đầu gối bằng hai lòng bàn tay …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có bộ phận sinh dục ẩn trong vỏ bọc …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có màu da vàng ươm, làn da sáng như vàng …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có làn da mịn màng; vì làn da mịn màng nên bụi bẩn không bám vào cơ thể …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có lông mọc từng sợi một; mỗi lỗ chân lông chỉ có một sợi lông …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có lông mọc hướng lên trên; các sợi lông mọc hướng lên trên có màu xanh đen như thuốc bôi mắt, xoắn lại thành vòng và xoay về bên phải …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có cơ thể thẳng tắp như Phạm thiên …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có bảy chỗ đầy đặn …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có nửa thân trên như thân sư tử …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có khoảng giữa hai vai đầy đặn …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có tỷ lệ cơ thể như cây đa: chiều cao cơ thể bằng sải tay, sải tay bằng chiều cao cơ thể …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có phần cổ tròn trịa …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có vị giác tuyệt hảo …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có quai hàm như quai hàm sư tử …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có bốn mươi cái răng …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có hàm răng đều đặn …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có hàm răng không có khe hở …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có răng nanh trắng muốt …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có lưỡi dài và rộng …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có giọng nói như Phạm thiên, âm vang như chim Karavīka …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có đôi mắt xanh thẳm …pe… Tâu bệ hạ, thái tử này có lông mi như lông mi con bò cái …pe…

Tâu bệ hạ, giữa hai lông mày của thái tử có một sợi lông trắng mọc lên, mềm mại như bông. Việc giữa hai lông mày của thái tử có một sợi lông trắng mọc lên, mềm mại như bông, đây là một tướng đại nhân của đại nhân này.

Tâu bệ hạ, thái tử này có nhục kế trên đỉnh đầu. Việc thái tử có nhục kế trên đỉnh đầu, đây là một tướng đại nhân của đại nhân này.

31. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sinh ra, vua Bandhumà được báo tin: “Ðại vương đã được sinh một hoàng tử”. Này các Tỷ-kheo, khi thấy hoàng tử xong, vua Bandhumà liền cho mời các vị Bàla-môn đoán tướng và nói: “Này các Hiền giả, hãy xem tướng cho Hoàng tử”. Này các Tỷ-kheo, khi xem tướng Hoàng tử Vipassì xong, các vị Bà-la-môn đoán tướng tâu với vua Bandhumà: “Ðại vương hãy hân hoan; Ðại vương đã sinh một bậc vĩ nhân! May mắn thay cho Ðại vương, đại hạnh thay cho Ðại vương đã được một Hoàng tử như vậy sanh trong gia đình. Tâu Ðại vương, Hoàng tử này có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân. Ai có đủ ba mươi hai tướng tốt này sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương, dùng chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tương quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời”.

32. “Ðại vương, ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân là gì mà Hoàng tử nếu đầy đủ những tướng tốt này sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương dùng chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc lộ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.

“Ðại vương, Hoàng tử này có lòng bàn chân bằng phẳng, tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân.

“Ðại vương, dưới hai bàn chân của Hoàng tử này, có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe, vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ, tướng này được xem là tướng của bậc Ðại nhân.

“Ðại vương, Hoàng tử này có gót chân thon dài… (như trước)

“Ðại vương, Hoàng tử này có ngón tay, ngón chân dài…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân mềm mại…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân có màn da lưới…

“Ðại vương, Hoàng tử này có mắt cá tròn như con sò…

“Ðại vương, Hoàng tử này có ống chân như con dê rừng…

“Ðại vương, Hoàng tử này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể rờ từ đầu gối với hai bàn tay…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tướng mã âm tàng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có màu da như đồng, màu sắc như vàng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có da trơn mướt khiến bụi không thể bám dính vào…

“Ðại vương, Hoàng tử này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông…

“Ðại vương, Hoàng tử này có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt…

“Ðại vương, Hoàng tử này có thân hình cao thẳng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có bảy chỗ tròn đầy…

“Ðại vương, Hoàng tử này có nửa thân trước như con sư tử… “Ðại vương, Hoàng tử này không có lõm khuyết giữa hai vai…

“Ðại vương, Hoàng tử này có thân thể cân đối như cây bàng (nigrodha: ni-câu-luật). Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân…

“Ðại vương, Hoàng tử này có bán thân trên vuông tròn…

“Ðại vương, Hoàng tử này có vị giác hết sức sắc bén…

“Ðại vương, Hoàng tử này co quai hàm như con sư tử…

“Ðại vương, Hoàng tử này có bốn mươi răng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có răng đều đặn…

“Ðại vương, Hoàng tử này có răng không khuyết hở…

“Ðại vương, Hoàng tử này có răng cửa (thái xỉ) trơn láng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tướng lưỡi rộng dài…

“Ðại vương, Hoàng tử này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim ca-lăng-tần-già (Karavika)…

“Ðại vương, Hoàng tử này có hai mắt màu xanh đậm…

“Ðại vương, Hoàng tử này có lông mi con bò cái…

“Ðại vương, Hoàng tử này giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng như bông nhẹ…

“Ðại vương, Hoàng tử này có nhục kế trên đầu, tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân…

Tâu bệ hạ, thái tử này được trang bị ba mươi hai tướng đại nhân này, mà đối với một đại nhân được trang bị những tướng này, chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống đời tại gia, ngài sẽ trở thành một vị vua Chuyển luân… (như trên)… Nếu ngài rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, ngài sẽ trở thành bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, người vén bức màn vô minh ở đời.’

33. “Ðại vương, Hoàng tử có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân, với ba mươi hai tướng tốt này, Hoàng tử sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, Hoàng tử sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành sở hữu của Ngài, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu Hoàng tử từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, Hoàng tử sẽ thành bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời”.

4. Tên gọi Vipassī (Vipassīsamaññā)

Này các tỳ-kheo, khi ấy vua Bandhumā ban tặng cho các đạo sĩ Bà-la-môn xem tướng những bộ quần áo mới tinh và làm họ thỏa mãn với mọi mong muốn. Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā sắp xếp các nhũ mẫu cho thái tử Vipassī. Người thì cho bú sữa, người thì tắm rửa, người thì bế ẵm, người thì bồng trên hông. Này các tỳ-kheo, khi thái tử Vipassī sinh ra, một chiếc lọng trắng được che cho ngài cả ngày lẫn đêm: ‘Không để cho lạnh, nóng, cỏ, bụi, hay sương làm phiền ngài’. Này các tỳ-kheo, khi thái tử Vipassī sinh ra, ngài trở nên đáng yêu và làm hài lòng rất nhiều người. Này các tỳ-kheo, giống như hoa súng xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng rất đáng yêu và làm hài lòng nhiều người; cũng vậy, này các tỳ-kheo, thái tử Vipassī trở nên đáng yêu và làm hài lòng rất nhiều người. Ngài liên tục được chuyền từ tay người này sang tay người khác.

Này các tỳ-kheo, khi thái tử Vipassī sinh ra, ngài có giọng nói êm ái, giọng nói truyền cảm, giọng nói ngọt ngào và giọng nói đáng yêu. Này các tỳ-kheo, giống như trên núi Himalaya có loài chim tên là Karavīka có giọng nói êm ái, truyền cảm, ngọt ngào và đáng yêu; cũng vậy, này các tỳ-kheo, thái tử Vipassī có giọng nói êm ái, truyền cảm, ngọt ngào và đáng yêu.

Này các tỳ-kheo, khi thái tử Vipassī sinh ra, thiên nhãn sinh ra từ quả báo của nghiệp quá khứ xuất hiện, nhờ đó ngài có thể nhìn thấy xung quanh xa đến một do-tuần cả ngày lẫn đêm.

Này các tỳ-kheo, khi thái tử Vipassī sinh ra, ngài nhìn mà không chớp mắt, giống như chư thiên ở cõi Đao-lợi (Tāvatiṁsa). Này các tỳ-kheo, vì ‘Thái tử nhìn mà không chớp mắt’, nên tên gọi ‘Vipassī, Vipassī’ (Người nhìn thấu suốt) đã khởi lên cho thái tử Vipassī.

Này các tỳ-kheo, khi ấy vua Bandhumā đang ngồi xử án, cho thái tử Vipassī ngồi trên đùi và phán quyết các vụ án. Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī ngồi trên đùi cha, xem xét kỹ lưỡng và phán quyết các vụ án một cách đúng đắn. Này các tỳ-kheo, vì ‘Thái tử xem xét kỹ lưỡng và phán quyết các vụ án một cách đúng đắn’, nên tên gọi ‘Vipassī, Vipassī’ lại càng được dùng nhiều hơn cho thái tử Vipassī.

Này các tỳ-kheo, khi ấy vua Bandhumā cho xây dựng ba cung điện cho thái tử Vipassī: một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa hè; và cung cấp năm sợi dây trói buộc của bản năng. Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī trong cung điện mùa mưa, suốt bốn tháng được giải trí bởi các nữ nhạc công, không hề bước xuống tầng dưới của cung điện.

(Hết phần tụng thứ nhất).

Này các Tỷ-kheo, Vua Bandhumà ra lệnh cúng dường các vị Bà-la-môn đoán tướng ấy, các áo vải mới và làm thỏa mãn mọi sự đòi hỏi ước muốn.

34. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà ra lệnh cúng dường vị các vị Bà-la-môn đoán tướng ấy, các áo vải mới và làm thỏa mãn mọi sự đòi hỏi ước muốn.

34. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà cho nuôi những người vú cho hoàng tử Vipassì. Người cho bú, người tắm, người lo bồng ẵm, người mang trên nách. Này các Tỷ-kheo, một lọng trắng ngày đêm được che trên hoàng tử Vipassì, và lệnh được truyền ra: “Không được để lạnh hay nóng, cỏ, bụi, hay sương làm phiền hoàng tử”. Hoàng tử Vipassì được mọi người âu yếm. Này các Tỷ-kheo, cũng như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng được mọi người yêu thích. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì được mọi người âu yếm, gần như được ẵm từ nách này qua nách người khác.

35. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì được sinh ra, hoàng tử phát âm rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, giống như con chim ca-lăng-tân-già sinh trong núi Hy-mãlạp sơn, giọng chim rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Hoàng Tử Vipassì phát âm rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn.

36. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sanh ra, Thiên nhãn hiện ra với Ngài, do nghiệp báo sanh, và nhờ Thiên nhãn ấy, Ngài có thể nhìn khắp chung quanh đến một do tuần, ban ngày cũng như ban đêm.

37. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sanh ra, Ngài nhìn thẳng sự vật với cặp mắt không nhấp nháy, như hàng Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì hoàng tử Vipassì nhìn không nhấp nháy, nên này các Tỷ-kheo, hoàng tử được gọi tên là “Vipassì” - “Vị đã nhìn thấy”. Này các Tỷ-kheo, khi vua Bandhumà ngồi xử kiện, vua cho đặt hoàng tử Vipassì ngồi bên nách mình để xử kiện. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì ngồi bên nách vua cha như vậy và chú tâm quan sát phương thức xử kiện đến nỗi tự mình cũng có thể phán đoán xử kiện. Này các Tỷ-kheo, do hoàng tử Vipassì “có thể quan sát và xử kiện đúng luật pháp” và danh từ “Vipassì” càng được dùng để đặt tên cho Ngài.

38. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà cho xây dựng ba tòa lâu đài cho hoàng tử Vipassì, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa lạnh, và năm món dục lạc đều được chuẩn bị đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống bốn tháng mưa trong lâu đài dành cho mùa mưa, được hầu hạ mua vui với các nữ nhạc sĩ, và không một lần nào, Ngài bước xuống khỏi lầu.

Tụng Phẩm II

5. Người già (Jiṇṇapurisa)

Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, đã gọi người đánh xe: ‘Này người đánh xe bạn tôi, hãy thắng những cỗ xe tốt nhất, chúng ta sẽ đi đến khu vườn để ngắm cảnh đẹp’.

‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī, thắng những cỗ xe tốt nhất và báo cho thái tử Vipassī: ‘Tâu điện hạ, những cỗ xe tốt nhất đã được thắng xong, nay ngài hãy xem đã đến lúc chưa’. Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī lên một cỗ xe tuyệt đẹp và cùng với những cỗ xe tuyệt đẹp khác đi đến khu vườn.

Này các tỳ-kheo, khi đang đi đến khu vườn, thái tử Vipassī nhìn thấy một người già yếu, cong như mái nhà, gập người lại, chống gậy, bước đi run rẩy, ốm yếu, tuổi thanh xuân đã qua. Thấy vậy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Này người đánh xe bạn tôi, người đàn ông này bị làm sao vậy? Tóc của ông ta không giống những người khác, cơ thể của ông ta cũng không giống những người khác’.

‘Tâu điện hạ, đó gọi là người già’.

‘Này người đánh xe bạn tôi, thế nào gọi là người già?’

‘Tâu điện hạ, đó gọi là người già. Ông ta không còn sống được bao lâu nữa’.

‘Này người đánh xe bạn tôi, ta cũng có bản chất phải già, không thể vượt qua sự già nua sao?’

‘Tâu điện hạ, cả ngài và tôi, tất cả chúng ta đều có bản chất phải già, không thể vượt qua sự già nua’.

‘Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hôm nay đi đến khu vườn thế là đủ rồi. Hãy quay xe trở về cung điện từ đây’.

‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī và quay xe trở về cung điện từ đó.

Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī trở về cung điện, buồn bã, chán nản và suy tư: ‘Thật đáng khinh thay cái gọi là sự Tái sinh, vì đối với người đã sinh ra, sự già nua sẽ xuất hiện’.

Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā cho gọi người đánh xe và hỏi: ‘Này người đánh xe, thái tử có vui thích ở khu vườn không? Này người đánh xe, thái tử có hài lòng ở khu vườn không?’

‘Tâu bệ hạ, thái tử không vui thích ở khu vườn, tâu bệ hạ, thái tử không hài lòng ở khu vườn’.

‘Này người đánh xe, vậy thái tử đã nhìn thấy gì khi đi đến khu vườn?’ 'Tâu bệ hạ, khi đang đi đến khu vườn, thái tử nhìn thấy một người già yếu, cong như mái nhà, gập người lại, chống gậy, bước đi run rẩy, ốm yếu, tuổi thanh xuân đã qua. Thấy vậy, ngài hỏi tôi: “Này người đánh xe bạn tôi, người đàn ông này bị làm sao vậy, tóc của ông ta không giống những người khác, cơ thể của ông ta cũng không giống những người khác?” “Tâu điện hạ, đó gọi là người già”. “Này người đánh xe bạn tôi, thế nào gọi là người già?” “Tâu điện hạ, đó gọi là người già, ông ta không còn sống được bao lâu nữa”. “Này người đánh xe bạn tôi, ta cũng có bản chất phải già, không thể vượt qua sự già nua sao?” “Tâu điện hạ, cả ngài và tôi, tất cả chúng ta đều có bản chất phải già, không thể vượt qua sự già nua”.

“Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hôm nay đi đến khu vườn thế là đủ rồi, hãy quay xe trở về cung điện từ đây”. “Thưa vâng, tâu điện hạ”, tâu bệ hạ, tôi vâng lời thái tử Vipassī và quay xe trở về cung điện từ đó. Tâu bệ hạ, thái tử trở về cung điện, buồn bã, chán nản và suy tư: “Thật đáng khinh thay cái gọi là sự Tái sinh, vì đối với người đã sinh ra, sự già nua sẽ xuất hiện”'.

1. - Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh” - “Thưa vâng, Hoàng Tử”. Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.

2. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến vườn ngự uyển, thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, khổ não, không còn đâu là tuổi trẻ. Thấy vậy hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người đó là ai vậy? Sao thân người đó không giống các người khác?” “Tâu Hoàng tử, người đó là một người được gọi là già vậy”. - “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người già?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy gọi là già vì nay người ấy sống không bao lâu nữa”. - “Này khanh, vậy rồi Ta có bị già không, một người chưa qua tuổi già?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ bị già nua, dầu chúng ta chưa qua tuổi già!” - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy là vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử, cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ. “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh. Và ai sanh ra cũng phải già yếu như vậy!”.

3. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không, tại vườn ngự uyển? “Này khanh, Hoàng tử có hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?”. - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có hoan hỷ, tại vườn ngự uyển” - “Này khanh, khi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?” - “Tâu đại vương, Hoàng tử trong khi đi đến vườn ngự uyển, thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà, chống gậy vừa đi vừa run rẩy, khổ não không còn đâu là tuổi trẻ. Thấy vậy, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, người đó là ai vậy? Sao tóc người đó không giống các người khác? Sao thân người đó không giống các người khác?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là vậy” - “Này khanh, sao người ấy được gọi là người già? “Tâu Hoàng tử, người ấy gọi là già, vì nay người ấy sống không bao lâu nữa”. - “Này khanh, vậy rồi Ta có phải bị già không, một người chưa qua tuổi già?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ bị già nua, dầu chúng ta chưa qua tuổi già” - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng Tử!”. Tâu Ðại vương, con vâng lời Hoàng tử Vipassì, cho đánh xe trở về cung. Tâu Ðại vương, Hoàng tử trở về cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ. “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh. Và ai sanh ra cũng phải già yếu như vậy”.

6. Người bệnh (Byādhitapurisa)

Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā suy nghĩ: ‘Đừng để chuyện thái tử Vipassī không cai trị vương quốc thành sự thật, đừng để thái tử Vipassī rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, đừng để lời tiên tri của các đạo sĩ Bà-la-môn trở thành sự thật’. Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā cung cấp cho thái tử Vipassī nhiều hơn nữa năm sợi dây trói buộc của bản năng: ‘Để thái tử Vipassī cai trị vương quốc, để thái tử Vipassī không rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, để lời tiên tri của các đạo sĩ Bà-la-môn trở thành sai lệch’. Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī được cung cấp, được trang bị và vui chơi với năm sợi dây trói buộc của bản năng.

Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī sau nhiều năm …pe…

Này các tỳ-kheo, khi đang đi đến khu vườn, thái tử Vipassī nhìn thấy một người bệnh tật, đau đớn, ốm nặng, nằm lăn lộn trong phân và nước tiểu của chính mình, phải nhờ người khác đỡ dậy, phải nhờ người khác đặt nằm xuống. Thấy vậy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Này người đánh xe bạn tôi, người đàn ông này bị làm sao vậy? Mắt của ông ta không giống những người khác, giọng nói của ông ta cũng không giống những người khác?’

‘Tâu điện hạ, đó gọi là người bệnh’.

‘Này người đánh xe bạn tôi, thế nào gọi là người bệnh?’

‘Tâu điện hạ, đó gọi là người bệnh, có lẽ ông ta sẽ không qua khỏi căn bệnh này’.

‘Này người đánh xe bạn tôi, ta cũng có bản chất phải bệnh, không thể vượt qua bệnh tật sao?’

‘Tâu điện hạ, cả ngài và tôi, tất cả chúng ta đều có bản chất phải bệnh, không thể vượt qua bệnh tật’.

‘Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hôm nay đi đến khu vườn thế là đủ rồi, hãy quay xe trở về cung điện từ đây’.

‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī và quay xe trở về cung điện từ đó.

Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī trở về cung điện, buồn bã, chán nản và suy tư: ‘Thật đáng khinh thay cái gọi là sự Tái sinh, vì đối với người đã sinh ra, sự già nua sẽ xuất hiện, bệnh tật sẽ xuất hiện’.

Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā cho gọi người đánh xe và hỏi: ‘Này người đánh xe, thái tử có vui thích ở khu vườn không, này người đánh xe, thái tử có hài lòng ở khu vườn không?’

‘Tâu bệ hạ, thái tử không vui thích ở khu vườn, tâu bệ hạ, thái tử không hài lòng ở khu vườn’.

‘Này người đánh xe, vậy thái tử đã nhìn thấy gì khi đi đến khu vườn?’ ‘Tâu bệ hạ, khi đang đi đến khu vườn, thái tử nhìn thấy một người bệnh tật, đau đớn, ốm nặng, nằm lăn lộn trong phân và nước tiểu của chính mình, phải nhờ người khác đỡ dậy, phải nhờ người khác đặt nằm xuống. Thấy vậy, ngài hỏi tôi: “Này người đánh xe bạn tôi, người đàn ông này bị làm sao vậy, mắt của ông ta không giống những người khác, giọng nói của ông ta cũng không giống những người khác?” “Tâu điện hạ, đó gọi là người bệnh”. “Này người đánh xe bạn tôi, thế nào gọi là người bệnh?” “Tâu điện hạ, đó gọi là người bệnh, có lẽ ông ta sẽ không qua khỏi căn bệnh này”. “Này người đánh xe bạn tôi, ta cũng có bản chất phải bệnh, không thể vượt qua bệnh tật sao?” “Tâu điện hạ, cả ngài và tôi, tất cả chúng ta đều có bản chất phải bệnh, không thể vượt qua bệnh tật”. “Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hôm nay đi đến khu vườn thế là đủ rồi, hãy quay xe trở về cung điện từ đây”. “Thưa vâng, tâu điện hạ”, tâu bệ hạ, tôi vâng lời thái tử Vipassī và quay xe trở về cung điện từ đó. Tâu bệ hạ, thái tử trở về cung điện, buồn bã, chán nản và suy tư: “Thật đáng khinh thay cái gọi là sự Tái sinh, vì đối với người đã sinh ra, sự già nua sẽ xuất hiện, bệnh tật sẽ xuất hiện”’.

4. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì. Không thể để cho Hoàng tử Vipassì xuất gia. Không thể để cho lời của các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”.

Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có thể trị vì, để hoàng tử Vipassì khỏi phải xuất gia, để cho lời các vị Bàla-môn đoán tướng không trúng sự thật. Và, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống tận hưởng đầy đủ sung túc năm món dục lạc.

5. Này các Tỷ-kheo hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe… (tương tự như đoạn kinh II.1).

6. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, khi đang đi đến vườn ngự uyển, thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần có người khác nâng đỡ, cần có người khác dìu dắt. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe. “Này khanh, người này đã làm gì, mà mắt của nó không giống mắt của những người khác, giọng nói của nó không giống giọng nói của những người khác?” “Tâu Hoàng tử, đó là một người được gọi là một người bệnh vậy”. - “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là một người bệnh vì người ấy chưa thoát khỏi căn bệnh của mình” - “Này khanh, vậy rồi ta có bị bệnh không, một người chưa bị bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh tật”. - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh! Và ai sanh ra, cũng phải già, cũng phải bệnh!”

7. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không tại vườn ngự uyển? Hoàng tử có hoan hỷ không tại vườn ngự uyển?” - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển” - “Này khanh, khi đi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?” - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử trong khi đến vườn ngự uyển thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần có người khác nâng đỡ, cần có người khác dìu dắt. Thấy vậy, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, người đó đã làm gì mà mắt của nó không giống mắt của người khác, giọng nói của nó không giống giọng nói của những người khác?” - “Tâu Hoàng tử, đó là một người được gọi là môt người bệnh” Vậy: - “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người bệnh, vì người ấy chưa khỏi căn bệnh của mình!” - “Này khanh, vậy rồi ta có bị bệnh không, môt người chưa bị bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh tật”. - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi! Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”. Con vâng theo lời Hoàng tử cho đánh xe trở về cung. Tâu Ðại vương, Hoàng tử về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh! Và ai sanh ra, cũng phải già, cũng phải bệnh!”.

7. Người chết (Kālaṅkatapurisa)

Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā suy nghĩ: ‘Đừng để thái tử Vipassī không cai trị vương quốc, đừng để thái tử Vipassī rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, đừng để lời tiên tri của các đạo sĩ Bà-la-môn trở thành sự thật’. Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā cung cấp cho thái tử Vipassī nhiều hơn nữa năm sợi dây trói buộc của bản năng: ‘Để thái tử Vipassī cai trị vương quốc, để thái tử Vipassī không rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, để lời tiên tri của các đạo sĩ Bà-la-môn trở thành sai lệch’. Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī được cung cấp, được trang bị và vui chơi với năm sợi dây trói buộc của bản năng.

Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī sau nhiều năm …pe…

Này các tỳ-kheo, khi đang đi đến khu vườn, thái tử Vipassī nhìn thấy một đám đông tụ tập và đang làm một chiếc cáng bằng những mảnh vải nhiều màu sắc. Thấy vậy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Này người đánh xe bạn tôi, đám đông tụ tập kia đang làm gì với chiếc cáng bằng những mảnh vải nhiều màu sắc vậy?’

‘Tâu điện hạ, đó gọi là người chết’.

‘Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hãy lái xe đến chỗ người chết đó’.

‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī và lái xe đến chỗ người chết đó.

Này các tỳ-kheo, thái tử Vipassī nhìn thấy thi thể người chết, thấy vậy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Này người đánh xe bạn tôi, thế nào gọi là người chết?’

‘Tâu điện hạ, đó gọi là người chết. Nay cha mẹ, hay những người thân, họ hàng khác sẽ không còn nhìn thấy ông ta nữa, và ông ta cũng sẽ không còn nhìn thấy cha mẹ, hay những người thân, họ hàng khác nữa’.

‘Này người đánh xe bạn tôi, ta cũng có bản chất phải chết, không thể vượt qua cái chết sao; vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác sẽ không còn nhìn thấy ta nữa; và ta cũng sẽ không còn nhìn thấy vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác nữa sao?’

‘Tâu điện hạ, cả ngài và tôi, tất cả chúng ta đều có bản chất phải chết, không thể vượt qua cái chết; vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác sẽ không còn nhìn thấy ngài nữa; và ngài cũng sẽ không còn nhìn thấy vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác nữa’.

‘Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hôm nay đi đến khu vườn thế là đủ rồi, hãy quay xe trở về cung điện từ đây’.

‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī và quay xe trở về cung điện từ đó.

Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī trở về cung điện, buồn bã, chán nản và suy tư: ‘Thật đáng khinh thay cái gọi là sự Tái sinh, vì đối với người đã sinh ra, sự già nua sẽ xuất hiện, bệnh tật sẽ xuất hiện, cái chết sẽ xuất hiện’.

Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā cho gọi người đánh xe và hỏi: ‘Này người đánh xe, thái tử có vui thích ở khu vườn không, này người đánh xe, thái tử có hài lòng ở khu vườn không?’

‘Tâu bệ hạ, thái tử không vui thích ở khu vườn, tâu bệ hạ, thái tử không hài lòng ở khu vườn’.

‘Này người đánh xe, vậy thái tử đã nhìn thấy gì khi đi đến khu vườn?’ ‘Tâu bệ hạ, khi đang đi đến khu vườn, thái tử nhìn thấy một đám đông tụ tập và đang làm một chiếc cáng bằng những mảnh vải nhiều màu sắc. Thấy vậy, ngài hỏi tôi: “Này người đánh xe bạn tôi, đám đông tụ tập kia đang làm gì với chiếc cáng bằng những mảnh vải nhiều màu sắc vậy?” “Tâu điện hạ, đó gọi là người chết”. “Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hãy lái xe đến chỗ người chết đó”. “Thưa vâng, tâu điện hạ”, tâu bệ hạ, tôi vâng lời thái tử Vipassī và lái xe đến chỗ người chết đó. Tâu bệ hạ, thái tử nhìn thấy thi thể người chết, thấy vậy, ngài hỏi tôi: “Này người đánh xe bạn tôi, thế nào gọi là người chết?” “Tâu điện hạ, đó gọi là người chết. Nay cha mẹ, hay những người thân, họ hàng khác sẽ không còn nhìn thấy ông ta nữa, và ông ta cũng sẽ không còn nhìn thấy cha mẹ, hay những người thân, họ hàng khác nữa”. “Này người đánh xe bạn tôi, ta cũng có bản chất phải chết, không thể vượt qua cái chết sao; vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác sẽ không còn nhìn thấy ta nữa; và ta cũng sẽ không còn nhìn thấy vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác nữa sao?” “Tâu điện hạ, cả ngài và tôi, tất cả chúng ta đều có bản chất phải chết, không thể vượt qua cái chết; vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác sẽ không còn nhìn thấy ngài nữa, và ngài cũng sẽ không còn nhìn thấy vua cha, hoàng hậu, hay những người thân, họ hàng khác nữa”. “Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hôm nay đi đến khu vườn thế là đủ rồi, hãy quay xe trở về cung điện từ đây”. “Thưa vâng, tâu điện hạ”, tâu bệ hạ, tôi vâng lời thái tử Vipassī và quay xe trở về cung điện từ đó. Tâu bệ hạ, thái tử trở về cung điện, buồn bã, chán nản và suy tư: “Thật đáng khinh thay cái gọi là sự Tái sinh, vì đối với người đã sinh ra, sự già nua sẽ xuất hiện, bệnh tật sẽ xuất hiện, cái chết sẽ xuất hiện”’.

− Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho Hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì! Không thể để cho Hoàng tử Vipassì xuất gia! Không thể để cho lời của các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhuma, lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có thể trị vì, để hoàng tử Vipassì không thể xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng không trúng sự thật. Và này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống tận hưởng, đầy đủ, sung túc năm món dục lạc.

9. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.

10. - Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến vườn ngự uyển, thấy một số đông người, mặc sắc phục khác nhau, và đang dựng một dàn hỏa táng. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, vì sao đám đông người ấy mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng?” - “Tâu Hoàng tử, vì có một người vừa mới mệnh chung” - “Này khanh, vậy ngươi hãy đánh xe đến gần người vừa mới mệnh chung!” - “Thưa vâng, tâu Hoàng tử.”

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử, cho đánh xe đến người vừa mới mệnh chung. Này các Tỷ-kheo, khi thấy thây người chết, hoàng tử Vipassì hỏi: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người đã chết?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết vì nay bà mẹ, ông cha, các người bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa; và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông cha hay những người bà con ruột thịt khác!” - “Này khanh, vậy Ta chưa chết, rồi có bị chết không? Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng, và Ta sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay những bà con ruột thịt chăng?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết nhưng rồi sẽ cũng bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Hoàng Tử, và Hoàng tử sẽ không thấy Phụ vương. Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác”. “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử, cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh! Và ai sanh ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy!”.

11. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không, tại vườn ngự uyển? Hoàng tử có hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?”- “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Hoàng tử không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển”. - “Này khanh đi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?” - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử trong khi đang đi đến vườn ngự uyển, thấy một số đông người, mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng. Thấy vậy Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, vì sao đám đông người ấy, mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng?” - “Tâu Hoàng tử, vì có một người mới mệnh chung”. - “Này khanh, vậy ngươi hãy đánh xe lại gần người vừa mới mệnh chung”. - “Thưa vâng, tâu Hoàng tử”. Con vâng theo lời Hoàng tử, cho đánh xe đến gần người vừa mới mệnh chung. Khi thấy thây chết, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người đã chết?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết, vì nay bà mẹ, ông cha hay những bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa! Và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông cha hay những người bà con ruột thịt khác”. - “Này khanh, vậy Ta chưa chết rồi có bị chết không? Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng? Và Ta sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác chăng?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết nhưng rồi cũng sẽ bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy hoàng tử, và hoàng tử sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác” - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”. Con vâng theo lời hoàng tử Vipassì cho đánh xe trở về cung. Hoàng tử về trong cung đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh! Và ai sanh ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy!”.

8. Người xuất gia (Pabbajita)

Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā suy nghĩ: ‘Đừng để thái tử Vipassī không cai trị vương quốc, đừng để thái tử Vipassī rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, đừng để lời tiên tri của các đạo sĩ Bà-la-môn trở thành sự thật’. Này các tỳ-kheo, rồi vua Bandhumā cung cấp cho thái tử Vipassī nhiều hơn nữa năm sợi dây trói buộc của bản năng: ‘Để thái tử Vipassī cai trị vương quốc, để thái tử Vipassī không rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, để lời tiên tri của các đạo sĩ Bà-la-môn trở thành sai lệch’. Này các tỳ-kheo, tại đó, thái tử Vipassī được cung cấp, được trang bị và vui chơi với năm sợi dây trói buộc của bản năng.

Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, đã gọi người đánh xe: ‘Này người đánh xe bạn tôi, hãy thắng những cỗ xe tốt nhất, chúng ta sẽ đi đến khu vườn để ngắm cảnh đẹp’. ‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī, thắng những cỗ xe tốt nhất và báo cho thái tử Vipassī: ‘Tâu điện hạ, những cỗ xe tốt nhất đã được thắng xong, nay ngài hãy xem đã đến lúc chưa’. Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī lên một cỗ xe tuyệt đẹp và cùng với những cỗ xe tuyệt đẹp khác đi đến khu vườn.

Này các tỳ-kheo, khi đang đi đến khu vườn, thái tử Vipassī nhìn thấy một người cạo trọc đầu, xuất gia, mặc áo cà-sa. Thấy vậy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Này người đánh xe bạn tôi, người đàn ông này bị làm sao vậy? Đầu của ông ta không giống những người khác, quần áo của ông ta cũng không giống những người khác?’

‘Tâu điện hạ, đó gọi là người xuất gia’.

‘Này người đánh xe bạn tôi, thế nào gọi là người xuất gia?’

‘Tâu điện hạ, người xuất gia nghĩa là thực hành Quy luật một cách tốt đẹp, thực hành sự bình lặng một cách tốt đẹp, thực hành những việc thiện một cách tốt đẹp, thực hành những việc phước đức một cách tốt đẹp, không làm hại một cách tốt đẹp, có lòng thương xót đối với chúng sinh một cách tốt đẹp’.

‘Này người đánh xe bạn tôi, thật tốt đẹp thay cái gọi là người xuất gia, thật tốt đẹp thay việc thực hành Quy luật, thực hành sự bình lặng, thực hành những việc thiện, thực hành những việc phước đức, không làm hại, có lòng thương xót đối với chúng sinh. Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hãy lái xe đến chỗ người xuất gia đó’.

‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī và lái xe đến chỗ người xuất gia đó.

Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī hỏi người xuất gia đó: ‘Này bạn, bạn làm gì mà đầu của bạn không giống những người khác, quần áo của bạn cũng không giống những người khác?’

‘Tâu điện hạ, tôi được gọi là người xuất gia’.

‘Này bạn, thế nào gọi là người xuất gia?’

‘Tâu điện hạ, người xuất gia nghĩa là thực hành Quy luật một cách tốt đẹp, thực hành sự bình lặng một cách tốt đẹp, thực hành những việc thiện một cách tốt đẹp, thực hành những việc phước đức một cách tốt đẹp, không làm hại một cách tốt đẹp, có lòng thương xót đối với chúng sinh một cách tốt đẹp’.

‘Này bạn, thật tốt đẹp thay bạn là người xuất gia, thật tốt đẹp thay việc thực hành Quy luật, thực hành sự bình lặng, thực hành những việc thiện, thực hành những việc phước đức, không làm hại, có lòng thương xót đối với chúng sinh’.

12. Nay các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì! Không thể để cho hoàng tử Vipassì xuất gia. Không thể để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”.

− Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có tể trị vì, để hoàng tử Vipassì không thể xuất gia, để cho lời các vị Bàla-môn đoán tướng không đúng sự thật. Và này các Tỷ-kheo, Hoàng tử Vipassì sống tận hưởng, đầy đủ, sung túc năm món dục lạc.

13. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.

14. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến ngự uyển thấy một vị xuất gia, đầu trọc, đắp áo cà sa. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người này đã làm gì, mà đầu người ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người ấy cũng khác áo của những người khác?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia!” - “Này khanh, sao người ấy được gọi là người xuất gia?” - “Tâu Hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh!” “Này khanh, hãy đánh xe đến gần vị xuất gia”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử Vipassì, đánh xe đến gần người xuất gia. Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì hỏi vị xuất gia: “Thưa Hiền giả, Ngài đã làm gì, mà đầu của Ngài không giống những người khác, và áo của Ngài không giống các người khác?” - “Thưa Hoàng tử, tôi là một người xuất gia!” - “Thưa Hiền giả, thế nào gọi là người xuất gia?” - “Thưa Hoàng tử, tôi là người được gọi là xuất gia, vì tôi khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”. - “Thưa Hiền giả, lành thay hạnh xuất gia của Ngài, lành thay khéo tu phạm hạnh, khéo tu tính hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”.

9. Bồ-tát xuất gia (Bodhisattapabbajjā)

Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Vipassī bảo người đánh xe: ‘Nếu vậy, này người đánh xe bạn tôi, hãy mang cỗ xe này quay trở về cung điện từ đây. Còn ta, ngay tại đây, ta sẽ cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà’.

‘Thưa vâng, tâu điện hạ’, này các tỳ-kheo, người đánh xe vâng lời thái tử Vipassī, mang cỗ xe quay trở về cung điện từ đó.

Còn thái tử Vipassī, ngay tại đó, đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà.

15. Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì bảo người đánh xe: “Này khanh, hãy lấy xe này và cho đánh xe về cung. Còn Ta ở nơi đây, sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”. Người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì lấy xe và đánh xe về cung. Còn hoàng tử Vipassì, chính tại chỗ ấy, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

10. Đám đông xuất gia theo (Mahājanakāyaanupabbajjā)

Này các tỳ-kheo, một đám đông gồm tám mươi tư ngàn người ở kinh đô Bandhumatī nghe tin: ‘Thái tử Vipassī đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà’. Nghe xong, họ suy nghĩ: ‘Chắc chắn Quy luật và kỷ luật này không phải là tầm thường, sự xuất gia này không phải là tầm thường, nơi mà thái tử Vipassī đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà. Ngay cả thái tử Vipassī còn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, huống hồ là chúng ta’.

Này các tỳ-kheo, rồi đám đông tám mươi tư ngàn người đó đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia sống đời không nhà theo sau Bồ-tát Vipassī. Này các tỳ-kheo, được bao quanh bởi hội chúng đó, Bồ-tát Vipassī đi du hành qua các làng mạc, thị trấn, vùng quê và kinh đô.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī khi đang ở một mình, tĩnh cư, một suy nghĩ như vầy khởi lên trong tâm: ‘Thật không thích hợp cho ta khi sống chen chúc như thế này, hay là ta nên sống một mình, tách biệt khỏi đám đông’. Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī sau đó đã sống một mình, tách biệt khỏi đám đông; tám mươi tư ngàn người xuất gia kia đi một đường, còn Bồ-tát Vipassī đi một đường khác.

16. Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, tại kinh đô Bandhumatì có một đại chúng tám vạn bốn ngàn người nghe tin: “Hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Khi nghe tin, các vị ấy suy nghĩ: “Pháp luật như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không phải tầm thường, vì hoàng tử Vipassì trong pháp luật ấy đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Nay hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình tại sao chúng ta lại không?” Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng tám vạn bốn ngàn người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, dưới sự lãnh đạo của Bồ-tát Vipassì. Rồi Bồ-tát Vipassì cùng với đồ chúng, du hành, đi ngang qua những làng, thị xã và đô thị.

17. Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Sao Ta lại sống bị bao vây bởi đồ chúng này. Tốt hơn là Ta sống một mình, lánh xa đồ chúng này!”

Này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Bồ-tát Vipassì sống một mình, lánh xa đồ chúng, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này đi một ngả, Bồ-tát Vipassì đi một ngả.

11. Sự thấu hiểu của Bồ-tát (Bodhisattaabhinivesa)

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī khi đã đến nơi ở, đang ở một mình, tĩnh cư, một suy nghĩ như vầy khởi lên trong tâm: ‘Thế giới này thật sự đã rơi vào tình trạng khốn khổ: nó sinh ra, già đi, chết đi, mạng chung và tái sinh; nhưng lại không biết cách thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già-chết (lão tử / jarāmaraṇa). Đến bao giờ mới tìm ra cách thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già-chết?’

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì già-chết có mặt, già-chết Phụ thuộc (duyên / paccaya) vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ (như lý tác ý / yoniso manasikāra), Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự Tái sinh (sinh / jāti) có mặt thì già-chết có mặt, Phụ thuộc vào sự Tái sinhgià-chết sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì sự Tái sinh có mặt, sự Tái sinh Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi mầm sinh (hữu / bhava) có mặt thì sự Tái sinh có mặt, Phụ thuộc vào mầm sinhsự Tái sinh sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì mầm sinh có mặt, mầm sinh Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự bám giữ (thủ / upādāna) có mặt thì mầm sinh có mặt, Phụ thuộc vào sự bám giữmầm sinh sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì sự bám giữ có mặt, sự bám giữ Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự thèm khát (ái / taṇhā) có mặt thì sự bám giữ có mặt, Phụ thuộc vào sự thèm khátsự bám giữ sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì sự thèm khát có mặt, sự thèm khát Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Cảm Giác (thọ / vedanā) có mặt thì sự thèm khát có mặt, Phụ thuộc vào Cảm Giácsự thèm khát sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì Cảm Giác có mặt, Cảm Giác Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Xúc (phassa) có mặt thì Cảm Giác có mặt, Phụ thuộc vào XúcCảm Giác sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì Xúc có mặt, Xúc Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sáu Xứ (lục nhập / saḷāyatana) có mặt thì Xúc có mặt, Phụ thuộc vào sáu XứXúc sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì sáu Xứ có mặt, sáu Xứ Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Danh-sắc (nāmarūpa) có mặt thì sáu Xứ có mặt, Phụ thuộc vào Danh-sắcsáu Xứ sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì Danh-sắc có mặt, Danh-sắc Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự Nhận biết (thức / viññāṇa) có mặt thì Danh-sắc có mặt, Phụ thuộc vào sự Nhận biếtDanh-sắc sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì sự Nhận biết có mặt, sự Nhận biết Phụ thuộc vào cái gì?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Danh-sắc có mặt thì sự Nhận biết có mặt, Phụ thuộc vào Danh-sắcsự Nhận biết sinh ra’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Sự Nhận biết này quay trở lại từ Danh-sắc, nó không đi xa hơn nữa. Chừng này là đủ để sinh ra, già đi, chết đi, mạng chung hay tái sinh; đó là: Phụ thuộc vào Danh-sắcsự Nhận biết sinh ra, Phụ thuộc vào sự Nhận biếtDanh-sắc sinh ra, Phụ thuộc vào Danh-sắcsáu Xứ sinh ra, Phụ thuộc vào sáu XứXúc sinh ra, Phụ thuộc vào XúcCảm Giác sinh ra, Phụ thuộc vào Cảm Giácsự thèm khát sinh ra, Phụ thuộc vào sự thèm khátsự bám giữ sinh ra, Phụ thuộc vào sự bám giữmầm sinh sinh ra, Phụ thuộc vào mầm sinhsự Tái sinh sinh ra, Phụ thuộc vào sự Tái sinhgià-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra. Như vậy là sự hình thành (tập / samudaya) của toàn bộ khối đau khổ này’.

Sự hình thành, sự hình thành’, này các tỳ-kheo, đối với các Quy luật chưa từng được nghe trước đây, nơi Bồ-tát Vipassī, mắt đã mở ra, sự hiểu biết đã mở ra, trí tuệ đã mở ra, minh đã mở ra, ánh sáng đã mở ra.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì già-chết không có mặt, do cái gì bị chặn (diệt / nirodha) thì già-chết bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự Tái sinh không có mặt thì già-chết không có mặt, do sự Tái sinh bị chặn nên già-chết bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì sự Tái sinh không có mặt, do cái gì bị chặn thì sự Tái sinh bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi mầm sinh không có mặt thì sự Tái sinh không có mặt, do mầm sinh bị chặn nên sự Tái sinh bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì mầm sinh không có mặt, do cái gì bị chặn thì mầm sinh bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự bám giữ không có mặt thì mầm sinh không có mặt, do sự bám giữ bị chặn nên mầm sinh bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì sự bám giữ không có mặt, do cái gì bị chặn thì sự bám giữ bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự thèm khát không có mặt thì sự bám giữ không có mặt, do sự thèm khát bị chặn nên sự bám giữ bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì sự thèm khát không có mặt, do cái gì bị chặn thì sự thèm khát bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Cảm Giác không có mặt thì sự thèm khát không có mặt, do Cảm Giác bị chặn nên sự thèm khát bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì Cảm Giác không có mặt, do cái gì bị chặn thì Cảm Giác bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Xúc không có mặt thì Cảm Giác không có mặt, do Xúc bị chặn nên Cảm Giác bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì Xúc không có mặt, do cái gì bị chặn thì Xúc bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sáu Xứ không có mặt thì Xúc không có mặt, do sáu Xứ bị chặn nên Xúc bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì sáu Xứ không có mặt, do cái gì bị chặn thì sáu Xứ bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Danh-sắc không có mặt thì sáu Xứ không có mặt, do Danh-sắc bị chặn nên sáu Xứ bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì Danh-sắc không có mặt, do cái gì bị chặn thì Danh-sắc bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi sự Nhận biết không có mặt thì Danh-sắc không có mặt, do sự Nhận biết bị chặn nên Danh-sắc bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì sự Nhận biết không có mặt, do cái gì bị chặn thì sự Nhận biết bị chặn?’ Này các tỳ-kheo, nhờ tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ: ‘Khi Danh-sắc không có mặt thì sự Nhận biết không có mặt, do Danh-sắc bị chặn nên sự Nhận biết bị chặn’.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī suy nghĩ: ‘Ta đã đạt được con đường dẫn đến giác ngộ này, đó là: do Danh-sắc bị chặn nên sự Nhận biết bị chặn, do sự Nhận biết bị chặn nên Danh-sắc bị chặn, do Danh-sắc bị chặn nên sáu Xứ bị chặn, do sáu Xứ bị chặn nên Xúc bị chặn, do Xúc bị chặn nên Cảm Giác bị chặn, do Cảm Giác bị chặn nên sự thèm khát bị chặn, do sự thèm khát bị chặn nên sự bám giữ bị chặn, do sự bám giữ bị chặn nên mầm sinh bị chặn, do mầm sinh bị chặn nên sự Tái sinh bị chặn, do sự Tái sinh bị chặn nên già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều chấm dứt. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này’.

‘Sự chấm dứt, sự chấm dứt’, này các tỳ-kheo, đối với các Quy luật chưa từng được nghe trước đây, nơi Bồ-tát Vipassī, mắt đã mở ra, sự hiểu biết đã mở ra, trí tuệ đã mở ra, minh đã mở ra, ánh sáng đã mở ra.

Này các tỳ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassī sau đó đã sống quan sát sự sinh ra và sự tan biến trong năm nền tảng của sự bám giữ: ‘Đây là vật chất, đây là sự hình thành của vật chất, đây là sự tan biến của vật chất; đây là Cảm Giác, đây là sự hình thành của Cảm Giác, đây là sự tan biến của Cảm Giác; đây là Nhận Thức, đây là sự hình thành của Nhận Thức, đây là sự tan biến của Nhận Thức; đây là hoạt động (hành / saṅkhārā), đây là sự hình thành của hoạt động, đây là sự tan biến của hoạt động; đây là sự Nhận biết, đây là sự hình thành của sự Nhận biết, đây là sự tan biến của sự Nhận biết’. Khi ngài sống quan sát sự sinh ra và sự tan biến trong năm nền tảng của sự bám giữ này, không lâu sau, tâm ngài được giải thoát khỏi các nguồn ác, không còn sự bám giữ.

(Hết phần tụng thứ hai).

18. Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, phải sanh rồi già, rồi chết, rồi từ bỏ thế giới này để tái sanh thế giới khác. Không một ai biết một con đường giải thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già và chết”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, già chết mới có mặt? Do duyên gì, già chết sanh?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh có mặt, nên già, chết có mặt. Do duyên sanh, già chết sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt? Do duyên gì, sanh phát khởi?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu có mặt nên sanh mới có mặt. Do duyên hữu, nên sanh phát khởi”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, hữu mới có mặt? Do duyên gì, hữu phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ có mặt nên hữu mới có mặt. Do duyên thủ, hữu phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt thủ mới có mặt? Do duyên gì, thủ phát sanh?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái có mặt, thủ mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, ái mới có mặt. Do duyên gì, ái phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ có mặt, ái mới có mặt. Do duyên thọ, ái phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên gì, thọ mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên xúc, thọ mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên gì xúc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên lục nhập, xúc mới phát sanh “.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên gì, lục nhập mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên danh sắc, lục nhập mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, danh sắc mới có mặt? Do duyên gì, danh sắc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức có mặt, danh sắc có mới có mặt. Do duyên thức, danh sắc mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thức mới có mặt. Do duyên gì, thức mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, thức mới có mặt. Do duyên danh sắc, thức mới phát sanh”.

19. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: “Thức này xoay trở lui lại, từ nơi danh sắc, không vượt khỏi danh sắc. Chỉ như thế này, con người được sanh ra hay trở thành già, hay bị chết, hay từ biệt cõi này, hay sanh lại ở cõi khác, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh sắc, lục nhập sanh; do duyên lục nhập, xúc sanh; do duyên xúc, thọ sanh; do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ, hữu sanh; do duyên hữu, sanh sanh; do duyên sanh, lão, tử, sầu bi, khổ ưu não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này”.

“Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi sanh pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.

20. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, già chết không có mặt? Cái gì diệt, già chết diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh không có mặt, già chết không có mặt, do sanh diệt, già chết diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, sanh không có mặt? Cái gì diệt, sánh diệt!. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu không có mặt, sanh không có mặt, do hữu diệt, sanh diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, hữu không có mặt? Cái gì diệt, hữu diệt?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ không có mặt, hữu không có mặt, do thủ diệt, hữu diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thủ không có mặt? Cái gì diệt, thủ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái không có mặt, thủ không có mặt, do ái diệt, thủ diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, ái không có mặt? Cái gì diệt, ái diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ không có mặt, ái không có mặt, do thọ diệt, ái diệt”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thọ không có mặt? Cái gì diệt, thọ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc không có mặt, thọ không có mặt, do xúc diệt, thọ diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt xúc không có mặt? Cái gì diệt, xúc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập không có mặt, xúc không có mặt, do lục nhập diệt, xúc diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì có mặt, lục nhập không có mặt? Cái gì diệt, lục nhập diệt”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, lục nhập không có mặt, do danh sắc diệt, lục nhập diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, danh sắc không có mặt? Cái gì diệt danh sắc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức không có mặt, danh sắc không có mặt, do thức diệt, danh sắc diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì không có mặt, thức không có mặt? Do cái gì diệt, thức diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, thức không có mặt, do danh sắc diệt, thức diệt”.

21. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Ôi, Ta đã chứng được con đường đưa đến Bồ-đề, nhờ pháp tu quán. Nghĩa là, do danh sắc diệt, thức diệt; do thức diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt, do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, ưu, bi, khổ, sầu, não diệt. Như vậy, toàn bộ khổ uẩn diệt”.

“Diệt, diệt”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi hành pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.

22. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau một thời gian sống quán sự sanh diệt trong năm uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành diệt! Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức diệt”.

Và đối với Ngài, sau khi sống quán pháp sanh diệt trong năm thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ và Ngài được giải thoát.

Tụng Phẩm III.

12. Phạm thiên thỉnh cầu (Brahmayācanakathā)

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, suy nghĩ: ‘Hay là ta nên giảng dạy Quy luật’.

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, suy nghĩ: ‘Quy luật mà ta đã đạt được này thật sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, bình lặng, cao thượng, vượt ngoài phạm vi của lý luận, vi tế, chỉ những người trí mới có thể trải nghiệm. Nhưng quần chúng này lại thích thú sự bám víu, vui mừng trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu. Đối với quần chúng thích thú sự bám víu, vui mừng trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu này, thì nguyên lý này thật khó thấy, đó là sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppāda). Nguyên lý này cũng thật khó thấy, đó là sự lắng dịu của mọi hoạt động, sự từ bỏ mọi nền tảng của tái sinh, sự cạn kiệt của sự thèm khát, sự cạn hết đắm nhiễm, sự chấm dứt, Niết-bàn. Nếu ta giảng dạy Quy luật mà người khác không hiểu ta, thì đó sẽ là sự mệt mỏi cho ta, đó sẽ là sự phiền phức cho ta’.

Này các tỳ-kheo, và những vần kệ kỳ diệu này, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện lên trong tâm Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác:

'Điều ta đạt được qua bao gian khổ,
Nay không cần thiết phải công bố ra;
Những kẻ bị đắm nhiễm và thù ghét bao phủ,
Không dễ gì giác ngộ Quy luật này.

Đi ngược dòng đời, vi tế,
Sâu sắc, khó thấy, nhỏ nhiệm;
Những kẻ say mê đắm nhiễm sẽ không thấy được,
Vì bị khối bóng tối bao trùm’.

Này các tỳ-kheo, khi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, suy xét như vậy, tâm ngài hướng về sự thụ động, không hướng về việc giảng dạy Quy luật.

Này các tỳ-kheo, rồi một vị Đại Phạm thiên, khi biết được suy nghĩ trong tâm của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã suy nghĩ: ‘Thế giới này sẽ tiêu vong, thế giới này sẽ bị hủy diệt, vì tâm của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hướng về sự thụ động, không hướng về việc giảng dạy Quy luật’. Này các tỳ-kheo, rồi vị Đại Phạm thiên đó, nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ-kheo, rồi vị Đại Phạm thiên đó đắp áo tràng qua một bên vai, quỳ đầu gối phải xuống đất, chắp tay hướng về phía Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và thưa với Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giảng dạy Quy luật, xin Thiện Thệ hãy giảng dạy Quy luật, có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt; nếu không được nghe Quy luật, họ sẽ sa đọa, sẽ có những người hiểu được Quy luật’.

Khi được nói vậy, này các tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nói với vị Đại Phạm thiên đó: 'Này Phạm thiên, ta cũng đã suy nghĩ: “Hay là ta nên giảng dạy Quy luật”. Này Phạm thiên, ta đã suy nghĩ: “Quy luật mà ta đã đạt được này thật sâu sắc… (như trên)… Nếu ta giảng dạy Quy luật mà người khác không hiểu ta, thì đó sẽ là sự mệt mỏi cho ta, đó sẽ là sự phiền phức cho ta”. Này Phạm thiên, và những vần kệ kỳ diệu này, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện lên trong tâm ta:

“Điều ta đạt được qua bao gian khổ…
Vì bị khối bóng tối bao trùm”.

Này Phạm thiên, khi ta suy xét như vậy, tâm ta hướng về sự thụ động, không hướng về việc giảng dạy Quy luật’.

Này các tỳ-kheo, lần thứ hai vị Đại Phạm thiên đó …pe… lần thứ ba vị Đại Phạm thiên đó thưa với Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giảng dạy Quy luật, xin Thiện Thệ hãy giảng dạy Quy luật, có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt, nếu không được nghe Quy luật, họ sẽ sa đọa, sẽ có những người hiểu được Quy luật’.

1. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác liền suy nghĩ: “Nay Ta hãy thuyết pháp”.

Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý “Y tánh duyên khởi pháp” (ida_paccayata paticca samuppàda); thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được_ trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!” 2. Này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên:

Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó thấy pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.

Này các Tỷ-kheo, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp. Khi bấy giờ, một trong các vị Ðại Phạm thiên, khi biết được tư tưởng của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhờ tư tưởng của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi, thế giới sẽ bị tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong, nếu tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp!”

3. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên ấy, như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, cũng vậy vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp”.

4. Này các Tỷ-kheo, được nghe nói vậy, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói với vị Ðại Phạm thiên: “Này Phạm thiên, Ta đã suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật mệt mỏi cho Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta”. Này Phạm thiên, khi ấy những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng nghe khởi lên nơi Ta:

Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó mà thấy được pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.

Này Phạm thiên, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.

5. Này các Tỷ-kheo, lần thứ hai vị Ðại Phạm thiên ấy… (như trên)…

6. Này các Tỷ-kheo, lần thứ ba, vị Ðại Phạm thiên ấy bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiên Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp!”

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hiểu được lời thỉnh cầu của Phạm thiên và vì lòng thương xót đối với chúng sinh, ngài đã dùng Phật nhãn quan sát thế giới. Này các tỳ-kheo, khi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, dùng Phật nhãn quan sát thế giới, ngài nhìn thấy những chúng sinh có ít bụi trong mắt, có nhiều bụi trong mắt, có giác quan nhạy bén, có giác quan chậm chạp, có tính cách tốt, có tính cách xấu, dễ dạy, khó dạy, một số sống thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi lầm ở đời sau, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi lầm ở đời sau. Giống như trong một hồ hoa súng xanh, hồ hoa sen hồng, hay hồ hoa sen trắng, có một số hoa súng xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm dưới nước. Có một số hoa súng xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, đứng ngang bằng mặt nước. Có một số hoa súng xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn cao khỏi mặt nước, không bị nước làm ướt.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, dùng Phật nhãn quan sát thế giới, ngài nhìn thấy những chúng sinh có ít bụi trong mắt, có nhiều bụi trong mắt, có giác quan nhạy bén, có giác quan chậm chạp, có tính cách tốt, có tính cách xấu, dễ dạy, khó dạy, một số sống thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi lầm ở đời sau, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi lầm ở đời sau.

Này các tỳ-kheo, rồi vị Đại Phạm thiên đó, khi biết được suy nghĩ trong tâm của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thưa với Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác bằng những vần kệ:

'Giống như người đứng trên đỉnh núi đá,
Có thể nhìn thấy mọi người xung quanh;
Cũng vậy, hỡi bậc Trí tuệ,
Hãy bước lên lâu đài Quy luật, hỡi bậc có con mắt nhìn khắp nơi;
Ngài đã thoát khỏi sầu não, hãy nhìn xuống quần chúng đang chìm trong sầu não,
Đang bị sự Tái sinh và già nua áp đảo.

Hãy đứng lên, hỡi vị anh hùng chiến thắng,
Hỡi vị trưởng toán thương buôn, người không mắc nợ, hãy đi khắp thế gian;
Xin Thế Tôn hãy giảng dạy Quy luật,
Sẽ có những người hiểu được’.

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đáp lại vị Đại Phạm thiên đó bằng vần kệ:

‘Cửa bất tử đã mở cho họ,
Những ai có tai hãy đặt niềm tin;
Vì nghĩ đến sự phiền phức, ta đã không nói ra,
Quy luật cao thượng, tuyệt diệu giữa loài người, này Phạm thiên’.

Này các tỳ-kheo, rồi vị Đại Phạm thiên đó nghĩ: ‘Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã cho phép ta thỉnh cầu việc giảng dạy Quy luật’, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi vòng quanh ngài theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.

Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết được lời khuyên thỉnh của vị Phạm Thiên, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhìn quanh thế giới với Phật nhãn. Ngài thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, một số ít thấy sự nguy hiểm phải tính sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm.

7. Rồi vị Ðại Phạm thiên, với tâm mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, liền nói với Ngài, bài kệ sau đây:

Như con người đứng trên đỉnh núi nhìn quanh dân chúng phía dưới.
Cũng vậy Ngài Sumedha lên lầu chánh pháp, bậc biến nhãn, thoát ly sầu muộn.
Nhìn xuống quần chúng, âu lo sầu muộn bị sanh già áp bức.
Hãy đứng lên, bậc anh hùng, bậc chiến thắng ở chiến trường!
Vị trưởng đoàn lữ khách, đấng thoát ly mọi nợ nần!
Thế Tôn hãy đi khắp thế giới hoằng dương chánh pháp.
Có người nhờ được nghe, sẽ thâm hiểu diệu nghĩa!

Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trả lời vị Ðại Phạm thiên với bài kệ sau đây:

Cửa bất diệt đã được mở rộng, Hỡi những ai được nghe, hãy từ bỏ tà kiến của mình. Vì nghĩ đến mệt mỏi hoài công, này Phạm Thiên. Ta không muốn giảng Chánh pháp vi diệu cho loài người!

Này các Tỷ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên với ý nghĩ: “Ta đã là người mở đường cho Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết pháp”, rồi đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.

13. Cặp đệ tử hàng đầu (Aggasāvakayuga)

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, suy nghĩ: ‘Ta nên giảng dạy Quy luật cho ai đầu tiên? Ai sẽ hiểu Quy luật này một cách nhanh chóng?’ Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, suy nghĩ: ‘Có thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa đang sống ở kinh đô Bandhumatī, họ là những người thông minh, sáng suốt, có trí tuệ, từ lâu đã có ít bụi trong mắt. Hay là ta nên giảng dạy Quy luật cho thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa đầu tiên, họ sẽ hiểu Quy luật này một cách nhanh chóng’.

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—biến mất khỏi gốc cây Bồ-đề và xuất hiện tại khu rừng nai Khema ở kinh đô Bandhumatī.

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, gọi người gác rừng: ‘Này người gác rừng bạn tôi, hãy đi vào kinh đô Bandhumatī và nói với thái tử Khaṇḍa cùng con trai vị tư tế Tissa như sau: “Thưa các ngài, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã đến kinh đô Bandhumatī và đang ở tại khu rừng nai Khema, ngài muốn gặp các ngài”’.

‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn’, này các tỳ-kheo, người gác rừng vâng lời Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi vào kinh đô Bandhumatī và nói với thái tử Khaṇḍa cùng con trai vị tư tế Tissa: ‘Thưa các ngài, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã đến kinh đô Bandhumatī và đang ở tại khu rừng nai Khema; ngài muốn gặp các ngài’.

Này các tỳ-kheo, rồi thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa cho thắng những cỗ xe tốt nhất, lên một cỗ xe tuyệt đẹp và cùng với những cỗ xe tuyệt đẹp khác đi ra khỏi kinh đô Bandhumatī. Họ đi về phía khu rừng nai Khema. Họ đi xe cho đến nơi xe có thể đi được, rồi xuống xe, đi bộ đến chỗ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và ngồi xuống một bên.

8. Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Ta thuyết pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ mau hiểu chánh pháp này?”

Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Nay vương tử Khanda (Kiển-trà) và con vương sư Tissa (Ðề-xá) trú ở kinh đô Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề) là bậc trí thức đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm ô bởi bụi đời. Nay ta hãy thuyết pháp cho vương tử Khanda và con vương sư Tissa trước tiên, hai vị này sẽ sớm thâm hiểu chánh pháp này”.

Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, biến mất từ cây Bồ đề, hiện ra tại vườn Lộc Uyển Khenma, kinh đô Bhadhumatì.

9. Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi người giữ vườn: “Này bạn, hãy vào kinh đô Bandhumatì, nhắn với vương tử Khanda và con vương sư Tissa rằng Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì, hiện trú ở Lộc Uyển Khema và muốn gặp hai vị!” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, người giữ vườn vâng theo lời dạy của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào kinh đô Bandhumatì và thưa với vương tử Khanda và con vương sư Tissa: “Thưa quý vị, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì và hiện ở Lộc Uyển Khema. Ngài muốn gặp quý vị!”

10. Này các Tỷ-kheo, Vương tử Khanda và con vương sư Tissa cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng rồi cùng với các cỗ xe thù thắng khác, cho xe ra khỏi kinh thành Bandhumati, đi đến Lộc Uyển Khema, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến trước Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Khi đến nơi, hai vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã giảng cho họ một bài giảng tuần tự, đó là—bài giảng về bố thí, bài giảng về đạo đức, bài giảng về cõi trời, chỉ rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự ô uế của sợi dây trói buộc của bản năng, và lợi ích của việc từ bỏ. Khi Thế Tôn biết tâm họ đã sẵn sàng, mềm mỏng, không còn bị che lấp, phấn chấn, trong sáng, ngài liền giảng bài giảng đặc thù của chư Phật—đau khổ, sự hình thành, sự chấm dứt, con đường. Giống như một tấm vải sạch, không có vết đen, sẽ dễ dàng thấm hút thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi đó, mắt Quy luật không bụi, không vết bẩn đã khởi lên cho thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa: ‘Bất cứ Quy luật nào có tính chất hình thành, tất cả Quy luật đó đều có tính chất chấm dứt’.

Họ đã thấy Quy luật, đạt được Quy luật, biết được Quy luật, thâm nhập Quy luật, vượt qua nghi ngờ, loại bỏ sự do dự, đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, họ thưa với Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Giống như người lật ngửa một vật bị úp, hay mở ra một vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy hình ảnh; cũng vậy, Thế Tôn đã dùng nhiều phương pháp để làm sáng tỏ Quy luật. Chúng con xin quy y Thế Tôn và Quy luật. Xin cho chúng con được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, xin cho chúng con được thọ giới tỳ-kheo’.

Này các tỳ-kheo, thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã được thọ giới tỳ-kheo. Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã dùng bài giảng để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho họ phấn chấn và hoan hỷ; ngài chỉ rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự ô uế của các hoạt động, và lợi ích của Niết-bàn. Khi họ được Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, dùng bài giảng chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, không lâu sau, tâm họ được giải thoát khỏi các nguồn ác, không còn sự bám giữ.

11. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng, và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà được chư Phật đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, vương tử Khanda và con vương sư Tissa, chính tại chỗ ngồi này chứng được Pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt”.

12. Hai vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự, diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật di diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới”.

13. Này các Tỷ-kheo, vương tử Khanda và con vương sư Tissa được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy hai vị này, khuyến khích làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết-bàn. Và hai vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

14. Đám đông xuất gia (Mahājanakāyapabbajjā)

Này các tỳ-kheo, một đám đông gồm tám mươi tư ngàn người ở kinh đô Bandhumatī nghe tin: ‘Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã đến kinh đô Bandhumatī và đang ở tại khu rừng nai Khema. Thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác’. Nghe xong, họ suy nghĩ: ‘Chắc chắn Quy luật và kỷ luật này không phải là tầm thường, sự xuất gia này không phải là tầm thường, nơi mà thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà. Ngay cả thái tử Khaṇḍa và con trai vị tư tế Tissa còn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, rời bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà, huống hồ là chúng ta’. Này các tỳ-kheo, rồi đám đông tám mươi tư ngàn người đó đi ra khỏi kinh đô Bandhumatī, hướng về khu rừng nai Khema, đi đến chỗ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và ngồi xuống một bên.

Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã giảng cho họ một bài giảng tuần tự. Đó là—bài giảng về bố thí, bài giảng về đạo đức, bài giảng về cõi trời, chỉ rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự ô uế của sợi dây trói buộc của bản năng, và lợi ích của việc từ bỏ. Khi Thế Tôn biết tâm họ đã sẵn sàng, mềm mỏng, không còn bị che lấp, phấn chấn, trong sáng, ngài liền giảng bài giảng đặc thù của chư Phật—đau khổ, sự hình thành, sự chấm dứt, con đường. Giống như một tấm vải sạch, không có vết đen, sẽ dễ dàng thấm hút thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi đó, mắt Quy luật không bụi, không vết bẩn đã khởi lên cho tám mươi tư ngàn người đó: ‘Bất cứ Quy luật nào có tính chất hình thành, tất cả Quy luật đó đều có tính chất chấm dứt’.

Họ đã thấy Quy luật, đạt được Quy luật, biết được Quy luật, thâm nhập Quy luật, vượt qua nghi ngờ, loại bỏ sự do dự, đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, họ thưa với Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Giống như người lật ngửa một vật bị úp… (như trên)… Chúng con xin quy y Thế Tôn, Quy luật và Tăng đoàn. Xin cho chúng con được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, xin cho chúng con được thọ giới tỳ-kheo’.

Này các tỳ-kheo, tám mươi tư ngàn người đó đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã được thọ giới tỳ-kheo. Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã dùng bài giảng để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho họ phấn chấn và hoan hỷ; ngài chỉ rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự ô uế của các hoạt động, và lợi ích của Niết-bàn. Khi họ được Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, dùng bài giảng chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, không lâu sau, tâm họ được giải thoát khỏi các nguồn ác, không còn sự bám giữ.

14. Này các Tỷ-kheo, trong khi kinh thành Bandhumatì có đại chúng khoảng tám vạn bốn ngàn vị được nghe: “Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì và ở tại Lộc Uyển Khema. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn, Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”. Khi nghe vậy, các vị này tự nghĩ: “Chắc chắn, pháp luật này không thể tầm thường, sự xuất gia này không thể tầm thường, vì vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tại sao chúng ta lại không làm vậy?”

Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng ấy gồm khoảng tám vạn bốn ngàn vị đi ra khỏi kinh thành Bandhumatì đến Lộc Uyển Khema, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở, Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

15. Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bồn ngàn vị này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt”.

16. Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhâ_p vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, Như người dựng đứng lại, những gì bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!”.

17. Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị này được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy những vị này, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết Bàn. Và những vị này, nhờ Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan kỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp chủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

15. Sự thấu hiểu Quy luật của những người xuất gia trước (Purimapabbajitānaṁ dhammābhisamaya)

Này các tỳ-kheo, tám mươi tư ngàn người xuất gia trước đó nghe tin: ‘Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã đến kinh đô Bandhumatī và đang ở tại khu rừng nai Khema, và ngài đang giảng dạy Quy luật’. Này các tỳ-kheo, rồi tám mươi tư ngàn người xuất gia đó đi về phía kinh đô Bandhumatī, hướng về khu rừng nai Khema, đi đến chỗ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và ngồi xuống một bên.

Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã giảng cho họ một bài giảng tuần tự. Đó là—bài giảng về bố thí, bài giảng về đạo đức, bài giảng về cõi trời, chỉ rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự ô uế của sợi dây trói buộc của bản năng, và lợi ích của việc từ bỏ. Khi Thế Tôn biết tâm họ đã sẵn sàng, mềm mỏng, không còn bị che lấp, phấn chấn, trong sáng, ngài liền giảng bài giảng đặc thù của chư Phật—đau khổ, sự hình thành, sự chấm dứt, con đường. Giống như một tấm vải sạch, không có vết đen, sẽ dễ dàng thấm hút thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi đó, mắt Quy luật không bụi, không vết bẩn đã khởi lên cho tám mươi tư ngàn người xuất gia đó: ‘Bất cứ Quy luật nào có tính chất hình thành, tất cả Quy luật đó đều có tính chất chấm dứt’.

Họ đã thấy Quy luật, đạt được Quy luật, biết được Quy luật, thâm nhập Quy luật, vượt qua nghi ngờ, loại bỏ sự do dự, đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, họ thưa với Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Giống như người lật ngửa một vật bị úp… (như trên)… Chúng con xin quy y Thế Tôn, Quy luật và Tăng đoàn. Xin cho chúng con được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, xin cho chúng con được thọ giới tỳ-kheo’.

Này các tỳ-kheo, tám mươi tư ngàn người xuất gia đó đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã được thọ giới tỳ-kheo. Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã dùng bài giảng để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho họ phấn chấn và hoan hỷ; ngài chỉ rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự ô uế của các hoạt động, và lợi ích của Niết-bàn. Khi họ được Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, dùng bài giảng chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, không lâu sau, tâm họ được giải thoát khỏi các nguồn ác, không còn sự bám giữ.

18. Này các Tỷ-kheo, nay tám vạn bốn ngàn các vị xuất gia từ trước, được nghe: “Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì, ở tại Lộc Uyển Khema và thuyết pháp”. Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này, đi đến Lộc Uyển Khema, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở. Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

19. Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh ra rồi cũng phải diệt”.

20. Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, Bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!”

21. Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy những vị này, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết Bàn. Và những vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp chủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

16. Cho phép đi du hành (Cārikāanujānana)

Này các tỳ-kheo, vào thời đó, một đại Tăng đoàn gồm sáu triệu tám trăm ngàn tỳ-kheo đang cư trú tại kinh đô Bandhumatī. Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khi đang ở một mình, tĩnh cư, một suy nghĩ như vầy khởi lên trong tâm: 'Hiện nay có một đại Tăng đoàn gồm sáu triệu tám trăm ngàn tỳ-kheo đang cư trú tại kinh đô Bandhumatī, hay là ta nên cho phép các tỳ-kheo:

“Này các tỳ-kheo, hãy đi du hành vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương xót đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người; đừng đi hai người cùng một hướng; này các tỳ-kheo, hãy giảng dạy Quy luật tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự, hãy công bố lối sống thanh tịnh hoàn toàn viên mãn và trong sạch. Có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt, nếu không được nghe Quy luật, họ sẽ sa đọa, sẽ có những người hiểu được Quy luật. Tuy nhiên, cứ sau mỗi sáu năm, các vị phải trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn (pātimokkha)”'.

Này các tỳ-kheo, rồi một vị Đại Phạm thiên, khi biết được suy nghĩ trong tâm của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ-kheo, rồi vị Đại Phạm thiên đó đắp áo tràng qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và thưa với Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Đúng vậy, bạch Thế Tôn, đúng vậy, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, hiện nay có một đại Tăng đoàn gồm sáu triệu tám trăm ngàn tỳ-kheo đang cư trú tại kinh đô Bandhumatī, xin Thế Tôn hãy cho phép các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, hãy đi du hành vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương xót đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người; đừng đi hai người cùng một hướng; này các tỳ-kheo, hãy giảng dạy Quy luật tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự, hãy công bố lối sống thanh tịnh hoàn toàn viên mãn và trong sạch. Có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt, nếu không được nghe Quy luật, họ sẽ sa đọa, sẽ có những người hiểu được Quy luật”. Và bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm sao để các tỳ-kheo cứ sau mỗi sáu năm sẽ trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn’.

Này các tỳ-kheo, vị Đại Phạm thiên đó đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi vòng quanh ngài theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.

22. Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh đô Bandhumatì, Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, trong khi yên lặng tịnh cư đã suy nghĩ như sau: “Nay đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhumatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các vị Tỷ-kheo ấy: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

23. Này các Tỷ-kheo, một vị Ðại Phạm thiên khác, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ kheo, lúc bấy giờ vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch Ngài: “Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumati: “Này các Tỷ-kheo hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp”. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các vị Tỷ-kheo. Sau sáu năm, các vị này đến kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

Này các Tỷ-kheo, Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, lưng bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.

Này các tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, vào buổi chiều, sau khi xuất định, đã gọi các tỳ-kheo: 'Này các tỳ-kheo, ở đây, khi ta đang ở một mình, tĩnh cư, một suy nghĩ như vầy khởi lên trong tâm: “Hiện nay có một đại Tăng đoàn gồm sáu triệu tám trăm ngàn tỳ-kheo đang cư trú tại kinh đô Bandhumatī. Hay là ta nên cho phép các tỳ-kheo—hãy đi du hành vì lợi ích của số đông… (như trên)… Tuy nhiên, cứ sau mỗi sáu năm, các vị phải trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn”.

Này các tỳ-kheo, rồi một vị Đại Phạm thiên, khi biết được suy nghĩ trong tâm của ta, nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt ta. Này các tỳ-kheo, rồi vị Đại Phạm thiên đó đắp áo tràng qua một bên vai, chắp tay hướng về phía ta và thưa với ta: “Đúng vậy, bạch Thế Tôn, đúng vậy, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, hiện nay có một đại Tăng đoàn gồm sáu triệu tám trăm ngàn tỳ-kheo đang cư trú tại kinh đô Bandhumatī. Xin Thế Tôn hãy cho phép các tỳ-kheo—hãy đi du hành vì lợi ích của số đông… (như trên)… Và bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm sao để các tỳ-kheo cứ sau mỗi sáu năm sẽ trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn”.

Này các tỳ-kheo, vị Đại Phạm thiên đó đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, vị ấy đảnh lễ ta, đi vòng quanh ta theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.

Ta cho phép, này các tỳ-kheo, hãy đi du hành vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương xót đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người; đừng đi hai người cùng một hướng; này các tỳ-kheo, hãy giảng dạy Quy luật tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự, hãy công bố lối sống thanh tịnh hoàn toàn viên mãn và trong sạch. Có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt, nếu không được nghe Quy luật, họ sẽ sa đọa, sẽ có những người hiểu được Quy luật. Tuy nhiên, này các tỳ-kheo, cứ sau mỗi sáu năm, các vị phải trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn’.

Này các tỳ-kheo, rồi phần lớn các tỳ-kheo ngay trong ngày hôm đó đã lên đường đi du hành qua các vùng quê.

24. Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào buổi chiều xuất định đứng dậy và nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, trong khi Ta yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, ý nghĩ sau đây khởi lên: “Nay đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhamatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các Tỷ-kheo ấy: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

25. Này các Tỷ-kheo, một Ðại Phạm thiên khác với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Ta. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mắt Ta. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chấp tay hướng đến Ta và bạch với ta: “Như vậy là phải, Bạch Thế Tôn! Như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumatì: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp, sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các Tỷ-kheo. Sau sáu năm các vị này sẽ đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn”. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Ta, lưng bên hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ.

26. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến dạy các ngươi: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe giảng chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn”.

Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy, một phần lớn trong ngày ấy đã lên đường đi khắp quốc độ.

Này các tỳ-kheo, vào thời đó ở cõi Diêm-phù-đề (Jambudīpa) có tám mươi tư ngàn tu viện. Khi một năm trôi qua, chư thiên đã thông báo: ‘Thưa các ngài, một năm đã trôi qua; nay còn lại năm năm; sau năm năm nữa, các ngài phải trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn’.

Khi hai năm trôi qua … khi ba năm trôi qua … khi bốn năm trôi qua … khi năm năm trôi qua, chư thiên đã thông báo: ‘Thưa các ngài, năm năm đã trôi qua; nay còn lại một năm; sau một năm nữa, các ngài phải trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn’.

Khi sáu năm trôi qua, chư thiên đã thông báo: ‘Thưa các ngài, sáu năm đã trôi qua, nay đã đến lúc trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn’. Này các tỳ-kheo, rồi các tỳ-kheo đó, một số dùng thần thông của chính mình, một số nhờ thần thông của chư thiên, chỉ trong một ngày đã trở về kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn.

Này các tỳ-kheo, tại đó, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã tụng đọc giới bổn trong Tăng đoàn như sau:

'Sự nhẫn nhục, chịu đựng là sự rèn luyện cao nhất,
Chư Phật nói Niết-bàn là cao nhất;
Người xuất gia không làm hại người khác,
Người làm phiền người khác không phải là sa-môn.

Không làm mọi điều ác, thành tựu những điều thiện;
Thanh lọc tâm trí của mình, đó là lời dạy của chư Phật.

Không phỉ báng, không làm hại,
Được bảo vệ bởi giới bổn;
Biết chừng mực trong ăn uống,
Sống ở nơi thanh vắng;
Nỗ lực rèn luyện tâm cao thượng,
Đó là lời dạy của chư Phật’.

27. Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ tại Jambudìpa (Diêm phù đề) có tám vạn bốn ngàn túc xá. Khi một năm vừa mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, một năm vừa mãn, nay còn lại năm năm. Sau năm năm, hãy đến tại kinh đô Bandhamatì để tụng đọc giới bổn!”

Hai năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, hai năm vừa mãn, nay còn lại bốn năm. Sau bốn năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”.

Ba năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, ba năm đã mãn, nay còn lại ba năm. Sau ba năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”.

Bốn năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, bốn năm đã mãn, nay còn hai năm. Sau hai năm, hãy đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”

Năm năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, năm năm đã mãn, nay còn lại một năm. Sau một năm, hãy đến tại đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn!”

Sáu năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, sáu năm đã mãn. Nay đã đến ngày đi đến kinh đo Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy, một số vị với thần lực của mình, một số với thần lực của chư Thiên trong ngày ấy đã đi đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn.

28. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giữa chúng Tỷ-kheo, tụng đọc giới bổn này:

“Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất.
“Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất.
“Người xuất gia hại người xuất gia khác.
“Hại người khác như vậy không xứng gọi là Sa-môn.\

“Mọi điều ác không làm, hướng tâm các thiện nghiệp.
“Giữ tâm trí thanh tịnh, chính lời chư Phật dạy.\

“Không chỉ trích, không đánh đập, giữ mình trong giới bổn.
“Ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ riêng một mình.
“Hướng tâm đến cao khiết, chính lời chư Phật dạy”.

17. Chư thiên báo tin (Devatārocana)

Này các tỳ-kheo, có một thời ta đang ở Ukkaṭṭhā, trong khu rừng Subhaga, dưới gốc cây vương giả Sāla. Này các tỳ-kheo, khi ta đang ở một mình, tĩnh cư, một suy nghĩ như vầy khởi lên trong tâm: ‘Không có cõi chúng sinh nào dễ tìm mà ta chưa từng sống qua trong thời gian dài dằng dặc này, ngoại trừ cõi của chư thiên Tịnh Cư (Suddhāvāsa). Hay là ta nên đi đến chỗ chư thiên Tịnh Cư’.

Này các tỳ-kheo, rồi ta, nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—biến mất khỏi gốc cây vương giả Sāla trong khu rừng Subhaga ở Ukkaṭṭhā và xuất hiện giữa chư thiên cõi Vô Phiền (Aviha).

Này các tỳ-kheo, trong cõi chư thiên đó, hàng ngàn chư thiên, hàng trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ ta; sau khi đến, họ đảnh lễ ta và đứng sang một bên. Này các tỳ-kheo, đứng sang một bên, các chư thiên đó thưa với ta: ‘Thưa ngài, cách đây chín mươi mốt kiếp, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Thưa ngài, Thế Tôn Vipassī… sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ… thuộc dòng họ Koṇḍañña… tuổi thọ là tám mươi ngàn năm… giác ngộ dưới gốc cây Pāṭalī… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Khaṇḍa và Tissa… có ba lần đại hội đệ tử… tất cả đều là người đã sạch nguồn ác… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Asoka… có cha là vua Bandhumā, mẹ là hoàng hậu Bandhumatī, kinh đô là thành phố Bandhumatī. Thưa ngài, Thế Tôn Vipassī… có sự rời bỏ gia đình như vậy, có sự xuất gia như vậy, có sự nỗ lực như vậy, có sự giác ngộ như vậy, có sự chuyển bánh xe Quy luật như vậy. Thưa ngài, chúng con đã sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Vipassī, đã cạn hết đắm nhiễm đối với muốn thỏa mãn bản năng trong các sợi dây trói buộc của bản năng, và đã tái sinh vào đây’ …

pe…

Này các tỳ-kheo, cũng trong cõi chư thiên đó, hàng ngàn chư thiên, hàng trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ ta; sau khi đến, họ đảnh lễ ta và đứng sang một bên. Này các tỳ-kheo, đứng sang một bên, các chư thiên đó thưa với ta: ‘Thưa ngài, ngay trong hiền kiếp này, Thế Tôn hiện nay là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Thưa ngài, Thế Tôn sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ, xuất hiện trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Thưa ngài, Thế Tôn thuộc dòng họ Gotama. Thưa ngài, tuổi thọ của Thế Tôn rất ngắn ngủi, ít ỏi, mau lẹ; ai sống lâu thì được một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn một chút. Thưa ngài, Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây Assattha. Thưa ngài, Thế Tôn có cặp đệ tử hàng đầu, cặp đệ tử xuất chúng tên là Sāriputta và Moggallāna. Thưa ngài, Thế Tôn có một lần đại hội đệ tử gồm một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo. Thưa ngài, lần đại hội đệ tử này của Thế Tôn tất cả đều là người đã sạch nguồn ác. Thưa ngài, Thế Tôn có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Ānanda. Thưa ngài, Thế Tôn có cha là vua Suddhodana. Mẹ sinh thành là hoàng hậu Māyā. Kinh đô là thành phố Kapilavatthu. Thưa ngài, Thế Tôn có sự rời bỏ gia đình như vậy, có sự xuất gia như vậy, có sự nỗ lực như vậy, có sự giác ngộ như vậy, có sự chuyển bánh xe Quy luật như vậy. Thưa ngài, chúng con đã sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, đã cạn hết đắm nhiễm đối với muốn thỏa mãn bản năng trong các sợi dây trói buộc của bản năng, và đã tái sinh vào đây’.

29. Này các Tỷ-kheo, một thời ta ở tại Ukkhattha (Úc-Già La), trong rừng Subhaga, dưới gốc cây ta-la vương. Này các Tỷ-kheo, trong khi Ta an lặng tịnh cư, tư tưởng sau đây khởi lên: “Có một trú xứ, một loại chúng sanh rất dễ đến mà Ta từ trước không đến ở trong một thời gian khá lâu! Ðó là chư Thiên Suddhàvàsa (Tịnh Cư thiên). Vậy nay Ta hãy đến chư Thiên ở Tịnh Cư thiên!”

Này các Tỷ-kheo, như một lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại, hay có lại cánh tay đã duỗi ra, Ta biến mất ở Ukkattha, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây Ta-La vương và hiện ra trước chư Thiên ở Tịnh Cư thiên. Trong đại chúng chư Thiên ấy một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau:

“Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh, thuộc chủng tánh Sát Ðế Ly. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna (Câu-Ly-Nhã). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Pàtali (Ba-ba-la). Này Hiền giả, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội, một Tăng hội sáu trăm tám mươi vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỷ-kheo tên Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Bandhuma, mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhuma tên là Bandhumatì. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng con là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này”.

30. Này các Tỷ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (… … ) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta: “Này Hiền giả, trong tiền kiếp này, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn, thuộc chủng tánh Sát-đế -lỵ, thuộc gia tộc Sát-đế-lỵ. Này Hiền giả, Thế Tôn thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm). Này Hiền giả, Thế Tôn tuổi thọ không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút. Này Hiền giả, Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa- la). Này Hiền giả, Thế Tôn có hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử tên là Sàriputta và Moggallàna (Xá-lợi-phất và Mục kiền-liên). Này Hiền giả, Thế Tôn có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi vị. Này Hiền giả, Tăng hội này của Thế Tôn gồm toàn những vị đã diệt trừ lậu hoặc. Này Hiền giả, Thế Tôn có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Ananda (A-nan), vị này là thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương của Thế Tôn tên là Suddhodana (Tịnh Phạn), Hoàng hậu là Màyà (Ma-gia) kinh đô là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Này Hiền giả, Thế Tôn xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng tôi là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn, đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này”.

Này các tỳ-kheo, rồi ta cùng với chư thiên cõi Vô Phiền đi đến chỗ chư thiên cõi Vô Nhiệt (Atappa) …pe… Này các tỳ-kheo, rồi ta cùng với chư thiên cõi Vô Phiền và chư thiên cõi Vô Nhiệt đi đến chỗ chư thiên cõi Thiện Hiện (Sudassa). Này các tỳ-kheo, rồi ta cùng với chư thiên cõi Vô Phiền, chư thiên cõi Vô Nhiệt và chư thiên cõi Thiện Hiện đi đến chỗ chư thiên cõi Thiện Kiến (Sudassī). Này các tỳ-kheo, rồi ta cùng với chư thiên cõi Vô Phiền, chư thiên cõi Vô Nhiệt, chư thiên cõi Thiện Hiện và chư thiên cõi Thiện Kiến đi đến chỗ chư thiên cõi Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭha). Này các tỳ-kheo, trong cõi chư thiên đó, hàng ngàn chư thiên, hàng trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ ta, sau khi đến, họ đảnh lễ ta và đứng sang một bên. Này các tỳ-kheo, đứng sang một bên, các chư thiên đó thưa với ta:

‘Thưa ngài, cách đây chín mươi mốt kiếp, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Thưa ngài, Thế Tôn Vipassī… sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ… thuộc dòng họ Koṇḍañña… tuổi thọ là tám mươi ngàn năm… giác ngộ dưới gốc cây Pāṭalī… có cặp đệ tử hàng đầu tên là Khaṇḍa và Tissa… có ba lần đại hội đệ tử… tất cả đều là người đã sạch nguồn ác… có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Asoka… có cha là vua Bandhumā, mẹ là hoàng hậu Bandhumatī, kinh đô là thành phố Bandhumatī. Thưa ngài, Thế Tôn Vipassī… có sự rời bỏ gia đình như vậy, có sự xuất gia như vậy, có sự nỗ lực như vậy, có sự giác ngộ như vậy, có sự chuyển bánh xe Quy luật như vậy. Thưa ngài, chúng con đã sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Vipassī, đã cạn hết đắm nhiễm đối với muốn thỏa mãn bản năng trong các sợi dây trói buộc của bản năng, và đã tái sinh vào đây’. Này các tỳ-kheo, cũng trong cõi chư thiên đó, hàng ngàn chư thiên, hàng trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ ta; sau khi đến, họ đảnh lễ ta và đứng sang một bên. Này các tỳ-kheo, đứng sang một bên, các chư thiên đó thưa với ta: ‘Thưa ngài, cách đây ba mươi mốt kiếp, Thế Tôn Sikhī… …pe… Thưa ngài, chúng con dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Sikhī… Thưa ngài, cũng trong kiếp thứ ba mươi mốt ấy, Thế Tôn Vessabhū… …pe… Thưa ngài, chúng con dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Vessabhū… …pe… Thưa ngài, ngay trong hiền kiếp này, Thế Tôn Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa… …pe… Thưa ngài, chúng con đã sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa, đã cạn hết đắm nhiễm đối với muốn thỏa mãn bản năng trong các sợi dây trói buộc của bản năng, và đã tái sinh vào đây’.

Này các tỳ-kheo, cũng trong cõi chư thiên đó, hàng ngàn chư thiên, hàng trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ ta; sau khi đến, họ đảnh lễ ta và đứng sang một bên. Này các tỳ-kheo, đứng sang một bên, các chư thiên đó thưa với ta: ‘Thưa ngài, ngay trong hiền kiếp này, Thế Tôn hiện nay là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện ở đời. Thưa ngài, Thế Tôn sinh ra trong giai cấp Sát-đế-lỵ, xuất hiện trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Thưa ngài, Thế Tôn thuộc dòng họ Gotama. Thưa ngài, tuổi thọ của Thế Tôn rất ngắn ngủi, ít ỏi, mau lẹ; ai sống lâu thì được một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn một chút. Thưa ngài, Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây Assattha. Thưa ngài, Thế Tôn có cặp đệ tử hàng đầu, cặp đệ tử xuất chúng tên là Sāriputta và Moggallāna. Thưa ngài, Thế Tôn có một lần đại hội đệ tử gồm một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo. Thưa ngài, lần đại hội đệ tử này của Thế Tôn tất cả đều là người đã sạch nguồn ác. Thưa ngài, Thế Tôn có vị tỳ-kheo thị giả hàng đầu tên là Ānanda. Thưa ngài, Thế Tôn có cha là vua Suddhodana. Mẹ sinh thành là hoàng hậu Māyā. Kinh đô là thành phố Kapilavatthu. Thưa ngài, Thế Tôn có sự rời bỏ gia đình như vậy, có sự xuất gia như vậy, có sự nỗ lực như vậy, có sự giác ngộ như vậy, có sự chuyển bánh xe Quy luật như vậy. Thưa ngài, chúng con đã sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, đã cạn hết đắm nhiễm đối với muốn thỏa mãn bản năng trong các sợi dây trói buộc của bản năng, và đã tái sinh vào đây’.

“Như vậy, này các tỳ-kheo, chính Như Lai đã thấu suốt bản chất của các quy luật (pháp giới / dhammadhātu) này, nhờ thấu suốt bản chất của các quy luật này mà Như Lai nhớ lại các vị Phật trong quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã cắt đứt sự nhân rộng của tâm trí (hý luận / papañca), đã cắt đứt vòng luân hồi (luân chuyển / vaṭuma), đã làm cạn kiệt vòng lặp, đã vượt qua mọi đau khổ; Ngài nhớ lại từ sự Tái sinh, nhớ lại từ tên gọi, nhớ lại từ dòng họ, nhớ lại từ tuổi thọ, nhớ lại từ cặp đệ tử, nhớ lại từ đại hội đệ tử: ‘Các Thế Tôn ấy có sự Tái sinh như thế này’. ‘Có tên như thế này, có dòng họ như thế này, có giới hạnh như thế này, có Quy luật như thế này, có trí tuệ như thế này, có đời sống như thế này, có sự giải thoát như thế này’. Và các chư thiên cũng đã báo cho Như Lai biết ý nghĩa này, nhờ đó Như Lai nhớ lại các vị Phật trong quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã cắt đứt sự nhân rộng của tâm trí, đã cắt đứt vòng luân hồi, đã làm cạn kiệt vòng lặp, đã vượt qua mọi đau khổ; Ngài nhớ lại từ sự Tái sinh, nhớ lại từ tên gọi, nhớ lại từ dòng họ, nhớ lại từ tuổi thọ, nhớ lại từ cặp đệ tử, nhớ lại từ đại hội đệ tử: ‘Các Thế Tôn ấy có sự Tái sinh như thế này’. ‘Có tên như thế này, có dòng họ như thế này, có giới hạnh như thế này, có Quy luật như thế này, có trí tuệ như thế này, có đời sống như thế này, có sự giải thoát như thế này’.”

Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ-kheo ấy hài lòng, vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinandunti) lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Đại Bổn, bài kinh thứ nhất.

31. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà (Vô Nhiệt thiên) đến chư Thiên Atappà (Vô Phiền thiên). Này các Tỷ-kheo, rồi cùng với chư Thiên Avihà và chư Thiên Atappà đến chư Thiên Sudassà (Thiện Kiến thiên). Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà và chư Thiên Sudassa đến chư Thiên Sudassi (Thiện Hiện thiên).

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà, chư Thiên Sudassà và chư Thiên Sudassì đến chư Thiên Akanitthà (Sắc Cứu Kính thiên). Này các Tỷ-kheo, lại trong Ðại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: “Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời… (như đoạn kinh số 29)“. 32. Này các Tỷ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (như trước) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: “Này Hiền giả, trong tiền kiếp này đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời… (như đoạn kinh số 30)“.

33. Này các Tỷ-kheo, như vậy Như Lai khéo chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn này, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”.

Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-