Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 13. KINH TEVIJJA (Kinh Ba Minh)

(Tevijjasutta)
Bản tóm tắt→

Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với một đại chúng tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, ngài đi đến một ngôi làng Bà-la-môn của người Kosala tên là Manasākaṭa. Tại đó, Thế Tôn trú ở Manasākaṭa, trong khu rừng xoài ở bờ phía bắc con sông Aciravatī.

Lúc bấy giờ, có nhiều vị Bà-la-môn đại phú hào rất nổi tiếng đang cư trú tại Manasākaṭa, đó là: Bà-la-môn Caṅkī, Bà-la-môn Tārukkha, Bà-la-môn Pokkharasāti, Bà-la-môn Jāṇusoṇi, Bà-la-môn Todeyya, và nhiều vị Bà-la-môn đại phú hào nổi tiếng khác.

Khi ấy, giữa hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi dạo và tản bộ, một cuộc tranh luận nảy sinh về các con đường khác nhau.

Thanh niên Vāseṭṭha nói như sau: “Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát (xuất ly / niyyānika), dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên (cộng trú Phạm thiên / brahmasahabyatā), chính là con đường được giảng dạy bởi Bà-la-môn Pokkharasāti.”

Còn thanh niên Bhāradvāja lại nói như sau: “Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên, chính là con đường được giảng dạy bởi Bà-la-môn Tārukkha.”

Thanh niên Vāseṭṭha không thể thuyết phục được thanh niên Bhāradvāja, và thanh niên Bhāradvāja cũng không thể thuyết phục được thanh niên Vāseṭṭha. Khi ấy, thanh niên Vāseṭṭha gọi thanh niên Bhāradvāja: “Này Bhāradvāja, có sa-môn Gotama, con trai dòng Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, hiện đang trú tại Manasākaṭa, trong khu rừng xoài ở bờ phía bắc con sông Aciravatī. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây đã vang lên về tôn giả Gotama: ‘Ngài là Thế Tôn, bậc Xứng Đáng (A-la-hán / arahaṁ), bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn (Chánh đẳng giác / sammāsambuddho), đầy đủ minh và hạnh, đấng Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc Vô thượng Điều ngự trượng phu, bậc Thầy của chư thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn.’ Này Bhāradvāja, chúng ta hãy cùng đi đến chỗ sa-môn Gotama; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi sa-môn Gotama về vấn đề này. Sa-môn Gotama trả lời chúng ta thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.”

“Vâng, thưa bạn,” thanh niên Bhāradvāja đáp lời thanh niên Vāseṭṭha.

13. KINH TEVIJJA (TAM MINH)

(Tevijja Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành ở Kosala (Câu-tát-la) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đi đến một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Manasàkata. Tại đây, ở Manasakata, Thế Tôn trú tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravati (A-trí-la-phạt-để), phía Bắc làng Manasàkata.

2. Lúc bấy giờ, nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào ở tại Manasàkata như Bà-la-môn Canki (Thườnggià), Bà-la-môn Tàrukkha (Ða-lê-xa) Bà-la-môn Pokkharasàti (Phí-già-la-bà-la), Bà-la-môn Jànussoni (Sanh Lậu), Bà-la-môn Todeyya (Ðạo-đề-da) và nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào khác.

3. Lúc bấy giờ, một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa Vàsettha (Bà-tất-sá) và Bhàradvàja (Bạt-la-đà-phạn-xà) trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng, vừa đi vừa suy nghĩ tư duy.

4. Thanh niên Bà-la-môn Vàsettha nói:

− Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasàti giảng dạy;

5. Thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja nói:

− Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tàrukkha giảng dạy.

6. Thanh niên Bà-la-môn Vàsettha không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja và thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja, cũng không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Vàsettha.

7. Khi ấy thanh niên Bà-la-môn Vàsettha nói với thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja:

− Này Bhàradvàja, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay trú ở Manasàkata, tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravati, phía Bắc làng Manasàkata. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này Bhàradvàja, hãy đến Sa-môn Gotama và hỏi Sa-môn Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

− Tôn giả, xin vâng!

Thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja trả lời với thanh niên Bà-la-môn Vàsettha.

1. Cuộc Tranh Luận Về Các Con Đường (Maggāmaggakathā)

Sau đó, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ chào hỏi Thế Tôn. Sau những lời chào hỏi thân hữu và thăm hỏi xã giao, họ ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, thanh niên Vāseṭṭha thưa với Thế Tôn: “Thưa tôn giả Gotama, ở đây, khi chúng tôi đang đi dạo và tản bộ, một cuộc tranh luận nảy sinh về các con đường khác nhau. Tôi nói như sau: ‘Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên, chính là con đường được giảng dạy bởi Bà-la-môn Pokkharasāti.’ Còn thanh niên Bhāradvāja lại nói: ‘Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên, chính là con đường được giảng dạy bởi Bà-la-môn Tārukkha.’ Thưa tôn giả Gotama, đây là điểm bất đồng, đây là điểm tranh cãi, đây là điểm khác biệt.”

“Này Vāseṭṭha, có phải ngươi nói như sau: ‘Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên, chính là con đường được giảng dạy bởi Bà-la-môn Pokkharasāti.’ Còn thanh niên Bhāradvāja lại nói: ‘Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên, chính là con đường được giảng dạy bởi Bà-la-môn Tārukkha.’ Vậy thì, này Vāseṭṭha, các ngươi bất đồng về điều gì, tranh cãi về điều gì, khác biệt về điều gì?”

"Về các con đường khác nhau, thưa tôn giả Gotama. Thưa tôn giả Gotama, mặc dù các Bà-la-môn chỉ dạy nhiều con đường khác nhau—các Bà-la-môn Addhariyā, các Bà-la-môn Tittiriyā, các Bà-la-môn Chandokā, các Bà-la-môn Bavhārijjhā—nhưng liệu tất cả những con đường đó có dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên hay không?

Thưa tôn giả Gotama, giống như gần một ngôi làng hay thị trấn có nhiều con đường khác nhau, nhưng tất cả đều hội tụ về ngôi làng đó; cũng vậy, thưa tôn giả Gotama, mặc dù các Bà-la-môn chỉ dạy nhiều con đường khác nhau—các Bà-la-môn Addhariyā, các Bà-la-môn Tittiriyā, các Bà-la-môn Chandokā, các Bà-la-môn Bavhārijjhā—nhưng liệu tất cả những con đường đó có dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên hay không?"

8. Lúc bấy giờ hai thanh niên Bà-la-môn Vàsettha và Bhàradvàja đến Thế Tôn, khi đã đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, khi ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vàsettha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa hai chúng tôi trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng vừa đi vừa suy nghĩ, tư duy. Tôi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasàti giảng dạy”. Thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tàrukkha giảng dạy”. Tôn giả Gotama, đó là sự tranh luận, sự luận chấp, đó là sự bất đồng ý kiến.

9. Này Vàsettha, Ngươi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasàti giảng dạy”. Còn thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tàrukkha giảng dạy”. Này Vàsettha, ở nơi đây tranh biện về vấn đề gì, luận chấp về vấn đề gì và bất đồng ý kiến về vấn đề gì?

10. - Tôn giả Gotama, về vấn đề chánh đạo và tà đạo. Tôn giả Gotama, nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác như các vị Bà-la-môn Addhàriyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, và các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandavà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà - tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Tôn giả Gotama, như gần làng hay gần trị trấn có nhiều con đường sai khác, nhưng tất cả con đường này đều dẫn đến làng. Cũng vậy, Tôn giả Gotama, nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác - như các Bà-la-môn Addhariyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandàvà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà. Tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo.

2. Chất Vấn Thanh Niên Vāseṭṭha (Vāseṭṭhamāṇavānuyoga)

“Ngươi nói rằng chúng dẫn đến đó sao, Vāseṭṭha?” “Tôi nói rằng chúng dẫn đến đó, thưa tôn giả Gotama.” “Ngươi nói rằng chúng dẫn đến đó sao, Vāseṭṭha?” “Tôi nói rằng chúng dẫn đến đó, thưa tôn giả Gotama.” “Ngươi nói rằng chúng dẫn đến đó sao, Vāseṭṭha?” “Tôi nói rằng chúng dẫn đến đó, thưa tôn giả Gotama.”

“Nhưng này Vāseṭṭha, trong số các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda (Tam minh Bà-la-môn / tevijjā brāhmaṇā), có một vị Bà-la-môn nào đã từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên chưa?” “Thưa không, tôn giả Gotama.”

“Nhưng này Vāseṭṭha, trong số các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, có một vị thầy nào đã từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên chưa?” “Thưa không, tôn giả Gotama.”

“Nhưng này Vāseṭṭha, trong số các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, có một vị thầy của thầy nào đã từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên chưa?” “Thưa không, tôn giả Gotama.”

“Nhưng này Vāseṭṭha, trong số các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, ngược dòng lên đến bảy thế hệ các vị thầy, có ai đã từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên chưa?” “Thưa không, tôn giả Gotama.”

“Nhưng này Vāseṭṭha, những vị đạo sĩ thời xưa của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, những người đã sáng tác các câu thần chú, những người đã truyền tụng các câu thần chú, mà ngày nay các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda vẫn hát theo, đọc theo, lặp lại những gì đã được lặp lại, tụng lại những gì đã được tụng—đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu. Liệu họ có từng nói: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên ngự nơi nào’ không?” “Thưa không, tôn giả Gotama.”

"Như vậy, này Vāseṭṭha, không có một vị Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda nào từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Không có một vị thầy nào của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Không có một vị thầy của thầy nào của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Ngược dòng lên đến bảy thế hệ các vị thầy của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, không có ai từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Ngay cả những vị đạo sĩ thời xưa của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, những người đã sáng tác và truyền tụng các câu thần chú… họ cũng không hề nói: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên ngự nơi nào.’ Thế mà các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda lại nói: ‘Chúng tôi giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà chúng tôi không biết, không thấy. Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên.’

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, sự việc đã như vậy, thì lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda chẳng phải là thiếu cơ sở thực tế (vô căn cứ / appāṭihīrakata) sao?" “Chắc chắn là vậy, thưa tôn giả Gotama, sự việc đã như vậy, thì lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Vedathiếu cơ sở thực tế.”

− Này Vàsettha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến?”

− Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Này Vàsettha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Này Vàsettha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn dến”.

12. - Thế nào Vàsettha? Có Bà-la-môn nào trong những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà tận mặt đã thấy Phạm thiên?

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

− Thế nào Vàsettha? Có tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên?

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

− Thế nào Vàsettha? Có Bà-la-môn nào cho đến bảy đời tôn sư và đại tôn sư của những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt nhìn thấy Phạm thiên?

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

13. - Thế nào, này Vàsettha. Những vị tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và ngâm giảng như các vị Atthaka (A-sá-ca) Vàmaka (Bà-ma), Vàmadeva (Bà-ma-đề-bà), Angirasa (Ương kỳ-sá), Bhàradvàja (Bạt-la-đà-phan-xà), Vàsettha (Bà-tất-sá), Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cữu), những vị này có nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy chỗ ở Phạm thiên, chỗ đến Phạm thiên, chỗ đi Phạm thiên?”

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

14. - Này Vàsettha, như vậy Ngươi nói không có một Bà-la-môn nào trong những vị tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên - không có một tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên, không có một đại tôn sư nào của ác Bà-la-môn tinh thông ba tập và đã tận mặt thấy Phạm thiên - không có một Bà-la-môn nào cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mắt thấy Phạm thiên, trong những tu sĩ thời cổ, trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vi trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy như các vị Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmita, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các bà Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”.

Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?

− Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà họ không biết, không thấy, và nói rằng: ‘Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên’, điều đó là không thể xảy ra.

Này Vāseṭṭha, giống như một chuỗi người mù bám vào nhau, người đi trước không thấy, người đi giữa không thấy, người đi sau cũng không thấy; cũng vậy, này Vāseṭṭha, ta thấy lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda giống như chuỗi người mù: người đi trước không thấy, người đi giữa không thấy, người đi sau cũng không thấy. Lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda này hóa ra chỉ là trò cười, chỉ là lời nói suông, trống rỗng và vô nghĩa.

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có nhìn thấy mặt trăng và mặt trời, giống như nhiều người khác, thấy chúng mọc lên từ đâu, lặn xuống nơi nào, rồi họ cầu xin, ca ngợi, chắp tay đảnh lễ và đi nhiễu quanh chúng không?" “Thưa có, tôn giả Gotama, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có nhìn thấy mặt trăng và mặt trời… cầu xin, ca ngợi, chắp tay đảnh lễ và đi nhiễu quanh chúng.”

“Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, vì các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda nhìn thấy mặt trăng và mặt trời… cầu xin, ca ngợi, chắp tay đảnh lễ và đi nhiễu quanh chúng, vậy họ có khả năng giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với mặt trăng và mặt trời, nói rằng: ‘Đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng mặt trăng và mặt trời’ không?” “Thưa không, tôn giả Gotama.”

"Như vậy, này Vāseṭṭha, mặc dù các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda nhìn thấy mặt trăng và mặt trời… nhưng họ vẫn không có khả năng giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với mặt trăng và mặt trời.

Hơn nữa, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda chưa từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Các vị thầy của họ chưa từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Các vị thầy của thầy họ chưa từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Ngược dòng lên đến bảy thế hệ các vị thầy, chưa ai từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên. Ngay cả những vị đạo sĩ thời xưa… cũng không hề nói: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên ngự nơi nào.’ Thế mà các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda lại nói: ‘Chúng tôi giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà chúng tôi không biết, không thấy—đây mới là con đường thẳng, đây là con đường trực tiếp, dẫn đến giải thoát, dẫn người thực hành đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên.’

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, sự việc đã như vậy, thì lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda chẳng phải là thiếu cơ sở thực tế sao?" “Chắc chắn là vậy, thưa tôn giả Gotama, sự việc đã như vậy, thì lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Vedathiếu cơ sở thực tế.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà họ không biết, không thấy… điều đó là không thể xảy ra.

15. - Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không thể có sự kiện ấy. Này Vàsettha, ví như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Như vậy, này Vàsettha lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, người đầu không thấy, giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy, giống như lời nói mù quáng. Lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như vậy là lời nói đáng chê cười, là lời nói suông, là lời nói không tưởng, là lời nói trống rỗng.

16. - Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác - có thể thấy mặt trăng, mặt trời không, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn?

− Thưa vâng, Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác có thể thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn.

17. - Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà - như phần đông nhiều người khác thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng mặt trời mọc và lặn, những vị này có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời không? Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo?

− Tôn giả Gotama, không thể được!

18. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác, thấy mặt trăng, mặt trời trong khi các vị này cầu khẩn tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn, những vị này không có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cọng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo”. Ngươi cũng nói các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói trong những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy - như các vị Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Anigirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?”

− Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy, thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

− Lành thay, này Vàsettha! Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.

2.1. Ví Dụ Về Người Đẹp Nhất Xứ (Janapadakalyāṇīupamā)

Này Vāseṭṭha, giả sử có một người đàn ông nói như sau: ‘Tôi khao khát, tôi yêu say đắm người con gái đẹp nhất trong xứ này.’

Người ta mới hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, người con gái đẹp nhất xứ mà anh khao khát và yêu say đắm đó, anh có biết cô ấy thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá hay Thủ-đà-la không?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’

Người ta lại hỏi: ‘Này anh bạn, người con gái đẹp nhất xứ mà anh khao khát và yêu say đắm đó, anh có biết cô ấy tên gì, thuộc dòng họ nào; cô ấy cao, lùn hay trung bình; da cô ấy đen, ngăm ngăm hay trắng trẻo; cô ấy ở làng nào, thị trấn nào hay thành phố nào không?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’

Người ta mới nói với anh ta: ‘Này anh bạn, người mà anh không biết, không thấy, anh lại khao khát và yêu say đắm sao?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời: ‘Đúng vậy.’

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, sự việc đã như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó chẳng phải là thiếu cơ sở thực tế sao?" “Chắc chắn là vậy, thưa tôn giả Gotama, sự việc đã như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó là thiếu cơ sở thực tế.”

“Cũng vậy, này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda chưa từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên… Thế mà họ lại nói: ‘Chúng tôi giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà chúng tôi không biết, không thấy…’ Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, sự việc đã như vậy, thì lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda chẳng phải là thiếu cơ sở thực tế sao?” “Chắc chắn là vậy, thưa tôn giả Gotama…”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà họ không biết, không thấy… điều đó là không thể xảy ra.

19. Này Vàsettha, như có người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp mà Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bàla-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, họ gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẩm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, ấp nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và đã ái luyến một người Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?

Vâng phải, Tôn giả Gotama. Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh xác, hợp lý.

20. - Cũng vậy, này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia các thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, cũng trì tụng và giảng dạy như các vị Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý? − Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

− Lành thay, Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không có sự kiện ấy.

2.2. Ví Dụ Về Cầu Thang (Nisseṇīupamā)

Này Vāseṭṭha, giả sử có một người đàn ông xây một chiếc cầu thang tại ngã tư đường để leo lên một tòa lâu đài.

Người ta mới hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, tòa lâu đài mà anh đang xây cầu thang để leo lên đó, anh có biết nó nằm ở hướng đông, hướng nam, hướng tây hay hướng bắc; nó cao, thấp hay trung bình không?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’

Người ta mới nói với anh ta: ‘Này anh bạn, tòa lâu đài mà anh không biết, không thấy, anh lại xây cầu thang để leo lên nó sao?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời: ‘Đúng vậy.’

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, sự việc đã như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó chẳng phải là thiếu cơ sở thực tế sao?" “Chắc chắn là vậy, thưa tôn giả Gotama…”

“Cũng vậy, này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda chưa từng tận mắt nhìn thấy Phạm thiên… Thế mà họ lại nói: ‘Chúng tôi giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà chúng tôi không biết, không thấy…’ Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, sự việc đã như vậy, thì lời nói của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda chẳng phải là thiếu cơ sở thực tế sao?” “Chắc chắn là vậy, thưa tôn giả Gotama…”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập với đấng mà họ không biết, không thấy… điều đó là không thể xảy ra.

21. Này Vàsettha, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?”. Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?”. Hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vàsettha, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói người kia không chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn. Sự kiện là như vậy thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

22. - Cũng vậy, này Vàsettha. Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Người cũng nói trong những ẩn sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được bình tán và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy - như các vị Atthaka, Vamaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu?” Như vậy các Bàla-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vàsettha, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?

− Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chính xác hợp lý.

23. - Lành thay, Vàsettha. Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.

2.3. Ví Dụ Về Sông Aciravatī (Aciravatīnadīupamā)

Này Vāseṭṭha, giả sử con sông Aciravatī này nước đầy tràn bờ đến mức con quạ có thể uống được. Rồi có một người đàn ông đi đến, muốn sang bờ bên kia, tìm kiếm bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia, muốn vượt qua bờ bên kia. Anh ta đứng ở bờ bên này và gọi bờ bên kia: ‘Hãy qua đây, bờ bên kia! Hãy qua đây, bờ bên kia!’

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, liệu do sự kêu gọi, do sự cầu xin, do sự mong ước, hay do sự vui thích của người đàn ông đó mà bờ bên kia của sông Aciravatī sẽ chạy sang bờ bên này không?" “Thưa không, tôn giả Gotama.”

"Cũng vậy, này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda từ bỏ những phẩm chất làm nên một Bà-la-môn, lại thực hành những phẩm chất không làm nên một Bà-la-môn, và họ nói: ‘Chúng tôi kêu gọi Indra, chúng tôi kêu gọi Soma, chúng tôi kêu gọi Varuṇa, chúng tôi kêu gọi Īsāna, chúng tôi kêu gọi Pajāpati, chúng tôi kêu gọi Brahmā, chúng tôi kêu gọi Mahiddhi, chúng tôi kêu gọi Yama.’

Này Vāseṭṭha, việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda từ bỏ những phẩm chất làm nên một Bà-la-môn, thực hành những phẩm chất không làm nên một Bà-la-môn, mà chỉ nhờ vào sự kêu gọi, cầu xin, mong ước hay vui thích mà sau khi thân hoại mạng chung, họ sẽ được sinh ra và hòa nhập cùng Phạm thiên—điều đó là không thể xảy ra.

Này Vāseṭṭha, giả sử con sông Aciravatī này nước đầy tràn bờ đến mức con quạ có thể uống được. Rồi có một người đàn ông đi đến, muốn sang bờ bên kia… Nhưng anh ta lại bị trói chặt hai tay ra sau lưng bằng một sợi xích chắc chắn ở bờ bên này.

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, liệu người đàn ông đó có thể từ bờ bên này của sông Aciravatī sang được bờ bên kia không?" “Thưa không, tôn giả Gotama.”

24. Này Vàsettha, như sông Aciravati này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người đứng bờ bên này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia, hãy lại đây! Bờ bên kia, hãy lại đây”. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravati đến bờ bên này không?

− Tôn giả Gotama, không thể vậy.

25. - Cũng vậy, này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, những vị này đã nói: “Chúng tôi cầu khẩn Indra (Nhân-đà-la), chúng tôi cầu khẩn Soma (Tô-ma), chúng tôi cầu khẩn Vanena (Bà-lưu-va), chúng tôi cầu khẩn Isàna (Y-sa-na), chúng tôi cầu khẩn Pajàpati (Sanh chủ), chúng tôi cầu khẩn Brahmà (Phạm thiên), chúng tôi cầu khẩn Mahiddhi (Ma-hi-đề), chúng tôi cầu khẩn Yama (Dạ-ma). Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà ấy, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn vì kêu gọi, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, những vị ấy sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không có sự kiện ấy.

26. - Này Vàsettha, như sông Aciravati này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tiến đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia, và muốn lội qua bờ bên kia. Người này đứng bên bờ này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia hãy lại đây! Bờ bên kia hãy lại đây!” Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravati đến bờ bên này không?

− Tôn giả Gotama, không thể vậy.

"Cũng vậy, này Vāseṭṭha, năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāma-guṇa) này trong luật của bậc thánh được gọi là gông cùm, được gọi là xiềng xích. Thế nào là năm? Hình ảnh nhận biết bởi mắt, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, hấp dẫn, kích thích ham muốn, đầy quyến rũ. Âm thanh nhận biết bởi tai… Mùi nhận biết bởi mũi… Vị nhận biết bởi lưỡi… Xúc chạm nhận biết bởi thân, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, hấp dẫn, kích thích ham muốn, đầy quyến rũ.

Này Vāseṭṭha, năm sợi dây trói buộc của bản năng này trong luật của bậc thánh được gọi là gông cùm, được gọi là xiềng xích. Các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda bị trói buộc, say mê, đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, không nhìn thấy sự nguy hiểm, không có trí tuệ thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) mà cứ thọ dụng chúng. Này Vāseṭṭha, việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda từ bỏ những phẩm chất làm nên một Bà-la-môn, thực hành những phẩm chất không làm nên một Bà-la-môn, bị trói buộc, say mê, đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng, không nhìn thấy sự nguy hiểm, không có trí tuệ thoát khỏi mà cứ thọ dụng chúng, bị trói buộc bởi gông cùm của ham muốn, mà sau khi thân hoại mạng chung, họ sẽ được sinh ra và hòa nhập cùng Phạm thiên—điều đó là không thể xảy ra.

Này Vāseṭṭha, giả sử con sông Aciravatī này nước đầy tràn bờ đến mức con quạ có thể uống được. Rồi có một người đàn ông đi đến, muốn sang bờ bên kia… Nhưng anh ta lại nằm xuống ở bờ bên này, trùm kín chăn qua đầu.

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, liệu người đàn ông đó có thể từ bờ bên này của sông Aciravatī sang được bờ bên kia không?" “Thưa không, tôn giả Gotama.”

27. - Cũng vậy, này Vàsettha, có năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh. Năm pháp này được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Những sắc pháp do mắt cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục, ái lạc; những tiếng do tại cảm nhận… những hương do mũi cảm nhận… những vị do lưỡi cảm nhận… những xúc do thân cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục lạc. Này Vàsettha, năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Này Vàsettha, năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, đã tận hưởng năm pháp ấy.

28. - Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn , tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, tận hưởng chúng, bị trói buộc bởi sự trói buộc của dục lạc, sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên, thật không có sự kiện ấy.

29. - Này Vàsettha, như sông Acivarati này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người này ở bên bờ này trùm đầu và nằm ngủ. Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Người ấy có thể từ bên này của sông Aciravati đến bờ bên kia không?

− Tôn giả Gotama, không có thể được.

"Cũng vậy, này Vāseṭṭha, năm sự làm Mờ Yếu (triền cái / nīvaraṇā) này trong luật của bậc thánh được gọi là chướng ngại, được gọi là sự che lấp, được gọi là sự bao phủ, được gọi là sự trùm kín. Thế nào là năm? muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchandanīvaraṇa), Ác ý hãm hại (sân hận / byāpādanīvaraṇa), Uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddhanīvaraṇa), Bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkuccanīvaraṇa), Nghi ngờ (nghi / vicikicchānīvaraṇa). Này Vāseṭṭha, năm sự làm Mờ Yếu này trong luật của bậc thánh được gọi là chướng ngại, được gọi là sự che lấp, được gọi là sự bao phủ, được gọi là sự trùm kín.

Các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda bị bao vây, bị che lấp, bị bao phủ, bị trùm kín bởi năm sự làm Mờ Yếu này. Này Vāseṭṭha, việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda từ bỏ những phẩm chất làm nên một Bà-la-môn, thực hành những phẩm chất không làm nên một Bà-la-môn, bị bao vây, bị che lấp, bị bao phủ, bị trùm kín bởi năm sự làm Mờ Yếu này, mà sau khi thân hoại mạng chung, họ sẽ được sinh ra và hòa nhập cùng Phạm thiên—điều đó là không thể xảy ra.

30. - Cũng vậy, này Vàsettha, có năm triền cái được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Dục cái, sân cái, hôn trầm thụy miên cái, trạo hối cái, nghi cái. Này Vàsettha, năm triền cái này được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược. Này Vàsettha, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái này, Này Vàsettha, thật vậy, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

3. So Sánh Các Phẩm Chất (Saṁsandanakathā)

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, ngươi đã nghe các vị Bà-la-môn trưởng lão, lớn tuổi, các vị thầy và thầy của thầy nói thế nào: Phạm thiên có bám giữ sở hữu (hữu sở hữu / sapariggaho) hay không bám giữ sở hữu (vô sở hữu / apariggaho)?" “Là không bám giữ sở hữu, thưa tôn giả Gotama.”

“Phạm thiên có tâm oán thù (hữu oán tâm / saveracitto) hay không có tâm oán thù (vô oán tâm / averacitto)?” “Là không có tâm oán thù, thưa tôn giả Gotama.”

“Phạm thiên có tâm ác ý (hữu sân tâm / sabyāpajjacitto) hay không có tâm ác ý (vô sân tâm / abyāpajjacitto)?” “Là không có tâm ác ý, thưa tôn giả Gotama.”

“Phạm thiên có tâm nhiễm bẩn (ô nhiễm tâm / saṅkiliṭṭhacitto) hay không có tâm nhiễm bẩn (vô ô nhiễm tâm / asaṅkiliṭṭhacitto)?” “Là không có tâm nhiễm bẩn, thưa tôn giả Gotama.”

“Phạm thiên có khả năng tự chủ (tự tại / vasavattī) hay không có khả năng tự chủ (không tự tại / avasavattī)?” “Là có khả năng tự chủ, thưa tôn giả Gotama.”

“Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có bám giữ sở hữu hay không bám giữ sở hữu?” “Họ có bám giữ sở hữu, thưa tôn giả Gotama.”

“Họ có tâm oán thù hay không có tâm oán thù?” “Họ có tâm oán thù, thưa tôn giả Gotama.”

“Họ có tâm ác ý hay không có tâm ác ý?” “Họ có tâm ác ý, thưa tôn giả Gotama.”

“Họ có tâm nhiễm bẩn hay không có tâm nhiễm bẩn?” “Họ có tâm nhiễm bẩn, thưa tôn giả Gotama.”

“Họ có khả năng tự chủ hay không có khả năng tự chủ?” “Họ không có khả năng tự chủ, thưa tôn giả Gotama.”

“Như vậy, này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có bám giữ sở hữu, còn Phạm thiên thì không bám giữ sở hữu. Liệu những Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có bám giữ sở hữu có thể tương đồng và phù hợp với Phạm thiên không bám giữ sở hữu không?” “Thưa không, tôn giả Gotama.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có bám giữ sở hữu này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sinh ra và hòa nhập cùng Phạm thiên không bám giữ sở hữu—điều đó là không thể xảy ra.

Như vậy, này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có tâm oán thù, còn Phạm thiên thì không có tâm oán thù […] các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có tâm ác ý, còn Phạm thiên thì không có tâm ác ý… các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda có tâm nhiễm bẩn, còn Phạm thiên thì không có tâm nhiễm bẩn… các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda không có khả năng tự chủ, còn Phạm thiên thì có khả năng tự chủ. Liệu những Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda không có khả năng tự chủ có thể tương đồng và phù hợp với Phạm thiên có khả năng tự chủ không?" “Thưa không, tôn giả Gotama.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda không có khả năng tự chủ này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sinh ra và hòa nhập cùng Phạm thiên có khả năng tự chủ—điều đó là không thể xảy ra.

Ở đây, này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda đang ngồi xuống rồi chìm nghỉm, chìm nghỉm rồi rơi vào tuyệt vọng, họ tưởng rằng mình đang vượt qua một nơi khô ráo. Do đó, điều này được gọi là bãi hoang vu của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, được gọi là rừng rậm của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda, được gọi là sự thảm họa của các Bà-la-môn thông thạo ba kinh Veda."

Khi được nói như vậy, thanh niên Vāseṭṭha thưa với Thế Tôn: “Thưa tôn giả Gotama, tôi đã nghe như vầy: ‘Sa-môn Gotama biết rõ con đường dẫn đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên.’”

“Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha. Manasākaṭa có gần đây không, Manasākaṭa có cách xa đây không?” “Thưa tôn giả Gotama, Manasākaṭa ở gần đây, Manasākaṭa không cách xa đây.”

“Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, giả sử có một người đàn ông sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa. Ngay khi anh ta vừa rời khỏi Manasākaṭa, người ta hỏi anh ta đường đi đến Manasākaṭa. Liệu người đàn ông sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa đó, khi được hỏi đường đến Manasākaṭa, có chậm chạp hay ngập ngừng không?” “Thưa không, tôn giả Gotama.” “Vì sao vậy?” “Vì thưa tôn giả Gotama, người đàn ông đó sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa, anh ta biết rất rõ mọi con đường dẫn đến Manasākaṭa.”

“Này Vāseṭṭha, người đàn ông sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa đó khi được hỏi đường đến Manasākaṭa có thể còn chậm chạp hay ngập ngừng, nhưng Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) khi được hỏi về cõi Phạm thiên hay con đường dẫn đến cõi Phạm thiên thì không bao giờ chậm chạp hay ngập ngừng. Này Vāseṭṭha, Ta biết rõ Phạm thiên, biết rõ cõi Phạm thiên, biết rõ con đường dẫn đến cõi Phạm thiên, và Ta biết rõ người thực hành như thế nào thì sẽ được sinh vào cõi Phạm thiên.”

Khi được nói như vậy, thanh niên Vāseṭṭha thưa với Thế Tôn: “Thưa tôn giả Gotama, tôi đã nghe như vầy: ‘Sa-môn Gotama giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên.’ Lành thay, mong tôn giả Gotama hãy giảng dạy con đường dẫn đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên, mong tôn giả Gotama hãy cứu vớt thế hệ Bà-la-môn này.”

“Vậy thì, Vāseṭṭha, hãy lắng nghe; hãy suy nghĩ kỹ; Ta sẽ giảng.” “Vâng, thưa ngài,” thanh niên Vāseṭṭha đáp lời Thế Tôn.

31. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe những Bà-la-môn niên cao lạp trưởng, tôn sư và đại tôn sư cùng nhau nói chuyện không? Phạm thiên có dục ái hay không dục ái?

− Tôn giả Gotama, không có dục ái. − Có hận tâm hay không hận tâm?

− Tôn giả Gotama, không có hận tâm.

− Có sân tâm hay không sân tâm?

− Tôn giả Gotama, không có sân tâm.

− Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?

− Tôn giả Gotama, không có nhiễm tâm.

− Có tự tại hay không có tự tại?

− Tôn giả Gotama, có tự tại.

32. - Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái hay không dục ái?

− Tôn giả Gotama, có dục ái.

− Có hận tâm hay không hận tâm?

− Tôn giả Gotama, có hận tâm.

− Có sân tâm hay không có sân tâm?

− Tôn giả Gotama, có sân tâm.

− Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?

− Tôn giả Gotama, có nhiễm tâm.

− Có tự tại hay không có tự tại?

− Tôn giả Gotama, không có tự tại.

33. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái, Phạm thiên không có tham ái. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái với Phạm thiên không có tham ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, không thể có được.

34. - Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

35. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm… các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có sân tâm, Phạm thiên không có sân tâm… các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm… các Bà-la


môn tinh thông ba tập Vedà không có tự tại, Phạm thiên có tự tại.

Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không có tự tại với Phạm thiên có tự tại có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, không thể có được.

36. - Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

Này Vàsettha, ở đời các Bà-la-môn dầu có tinh thông ba tập Vedà, khi các vị này ngồi (với sự tự tín), thật sự đang chìm (trong bùn lầy), và khi đang chìm (trong bùn lầy) phải sống trong thất vọng, lầm tưởng rằng đã đến cảnh giới an lạc hơn. Do vậy đối với những Bà-la-môn tinh thông Vedà sự tinh thông ấy được gọi là bãi sa mạc không có nước, sự tinh thông ấy cũng được gọi là rừng rậm không có đường lối, sự tinh thông ấy cũng được gọi là sự bất hạnh.

37. Khi nghe vậy, thanh niên Bà-la-môn Vàsettha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, tôi có nghe nói Sa-môn Gotama biết con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

− Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Ở đây có người sinh trưởng ở Manasàkata, nhưng chưa bao giờ rời khỏi chỗ này. Có người hỏi con đường đưa đến Manasàkata. Này Vàsettha, đối với người ấy đã sinh trưởng ở Manasàkata, chắc không có gì nghi ngờ hay khó khăn thì phải?

− Tôn giả Gotama, thật không có gì nghi ngờ hay khó khăn. Vì cớ sao? Tôn giả Gotama, người ấy sinh trưởng ở Manasàkata đều biết rõ tất cả con đường đưa đến Manasàkata.

38. - Này Vàsettha, đối với người ấy đã sinh trưởng Manasàkata, còn có thể nghi ngờ và có khó khăn hỏi đến con đường đưa đến Manasàkata nhưng đối với Như Lai thì không có nghi ngờ hay khó khăn gì khi hỏi đến Phạm thiên giới hay con đường đưa đến Phạm thiên giới! Này Vàsettha, Ta biết đến Phạm thiên, Phạm thiên giới và con đường đưa đến Phạm thiên giới.

39. Khi nghe nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Vàsettha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, tôi đã nghe: “Sa-môn Gotama, giảng dạy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên”. Lành thay, nếu Sa-môn Gotama thuyết dạy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên! Mong Tôn giả Gotama tế độ chúng Bà-la-môn!

− Này Vàsettha, vậy hãy lóng nghe và khéo tác ý kỹ? Ta sẽ nói:

4. Giảng Dạy Con Đường Đến Cõi Phạm Thiên (Brahmalokamaggadesanā)

Thế Tôn nói như sau:

"Ở đây, này Vāseṭṭha, một Người Đến Như Vậy xuất hiện ở đời, là bậc Xứng Đáng, bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn […] Như vậy, này Vāseṭṭha, vị tỳ-kheo thành tựu lối sống đạo đức (giới đức / sīlasampanno) […] Khi vị ấy thấy năm sự làm Mờ Yếu này đã được từ bỏ trong chính mình, sự vui sướng sinh khởi; từ sự vui sướng, hân hoan (hỷ / pīti) sinh khởi; khi tâm hân hoan, cơ thể trở nên lắng dịu (khinh an / passambhati); với cơ thể lắng dịu, vị ấy cảm nhận hạnh phúc (lạc / sukha); với tâm hạnh phúc, tâm trở nên định (định / samādhiyati).

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với Tâm yêu thương (từ / mettā). Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp phía trên, phía dưới, bề ngang, ở mọi nơi, đến mọi loài như đến chính mình, vị ấy an trú, biến mãn toàn bộ thế giới với tâm câu hữu với Tâm yêu thương, rộng lớn, to lớn, không giới hạn (vô lượng / appamāṇa), không oán thù, không ác ý.

Này Vāseṭṭha, giống như một người thổi tù và mạnh mẽ có thể dễ dàng làm cho âm thanh vang xa khắp bốn phương; cũng vậy, này Vāseṭṭha, với sự giải thoát tâm bằng Tâm yêu thương được tu tập như vậy, bất kỳ nghiệp nào được làm có giới hạn sẽ không thể đọng lại ở đó, không thể tồn tại ở đó. Đây cũng là con đường dẫn đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên.

Lại nữa, này Vāseṭṭha, vị tỳ-kheo với tâm câu hữu với Tâm thông cảm (bi / karuṇā) […]

với tâm câu hữu với Tâm cùng vui (hỷ / muditā) […]

vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với Tâm bình thản (xả / upekkhā). Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp phía trên, phía dưới, bề ngang, ở mọi nơi, đến mọi loài như đến chính mình, vị ấy an trú, biến mãn toàn bộ thế giới với tâm câu hữu với Tâm bình thản, rộng lớn, to lớn, không giới hạn, không oán thù, không ác ý.

Này Vāseṭṭha, giống như một người thổi tù và mạnh mẽ có thể dễ dàng làm cho âm thanh vang xa khắp bốn phương; cũng vậy, này Vāseṭṭha, với sự giải thoát tâm bằng Tâm bình thản được tu tập như vậy, bất kỳ nghiệp nào được làm có giới hạn sẽ không thể đọng lại ở đó, không thể tồn tại ở đó. Đây cũng là con đường dẫn đến sự hòa nhập cùng Phạm thiên.

Ngươi nghĩ sao, Vāseṭṭha, một vị tỳ-kheo sống như vậy thì có bám giữ sở hữu hay không bám giữ sở hữu?" “Là không bám giữ sở hữu, thưa tôn giả Gotama.”

“Vị ấy có tâm oán thù hay không có tâm oán thù?” “Là không có tâm oán thù, thưa tôn giả Gotama.”

“Vị ấy có tâm ác ý hay không có tâm ác ý?” “Là không có tâm ác ý, thưa tôn giả Gotama.”

“Vị ấy có tâm nhiễm bẩn hay không có tâm nhiễm bẩn?” “Là không có tâm nhiễm bẩn, thưa tôn giả Gotama.”

“Vị ấy có khả năng tự chủ hay không có khả năng tự chủ?” “Là có khả năng tự chủ, thưa tôn giả Gotama.”

“Như vậy, này Vāseṭṭha, vị tỳ-kheo không bám giữ sở hữu, và Phạm thiên cũng không bám giữ sở hữu. Liệu vị tỳ-kheo không bám giữ sở hữu có thể tương đồng và phù hợp với Phạm thiên không bám giữ sở hữu không?” “Thưa có, tôn giả Gotama.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc vị tỳ-kheo không bám giữ sở hữu đó, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sinh ra và hòa nhập cùng Phạm thiên không bám giữ sở hữu—điều đó hoàn toàn có thể xảy ra.

Như vậy, này Vāseṭṭha, vị tỳ-kheo không có tâm oán thù, và Phạm thiên cũng không có tâm oán thù […] vị tỳ-kheo không có tâm ác ý, và Phạm thiên cũng không có tâm ác ý… vị tỳ-kheo không có tâm nhiễm bẩn, và Phạm thiên cũng không có tâm nhiễm bẩn… vị tỳ-kheo có khả năng tự chủ, và Phạm thiên cũng có khả năng tự chủ. Liệu vị tỳ-kheo có khả năng tự chủ có thể tương đồng và phù hợp với Phạm thiên có khả năng tự chủ không?" “Thưa có, tôn giả Gotama.”

“Tốt lắm, Vāseṭṭha. Việc vị tỳ-kheo có khả năng tự chủ đó, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sinh ra và hòa nhập cùng Phạm thiên có khả năng tự chủ—điều đó hoàn toàn có thể xảy ra.”

Khi được nói như vậy, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja thưa với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, thưa tôn giả Gotama! Thật tuyệt vời, thưa tôn giả Gotama! Giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày ra những gì bị che khuất, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng đi vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy hình dáng; cũng vậy, tôn giả Gotama đã dùng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ giáo pháp. Chúng tôi xin quy y tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Xin tôn giả Gotama hãy nhận chúng tôi làm cư sĩ, những người đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.”

Kinh Tevijja thứ mười ba kết thúc.

Phẩm Sīlakkhandha (Nền tảng Giới) kết thúc.

Tóm tắt phẩm:

Brahmā, Sāmañña, Ambaṭṭha, Soṇadaṇḍa, Kūṭadanta, Mahāli, Jāliya; Sīhanāda, Poṭṭhapāda, Subha, Kevaṭṭa, Lohicca, và Tevijja là mười ba kinh.

Phần Pāḷi của Phẩm Sīlakkhandha kết thúc.

40. Này Vàsettha, nay ở đời đức Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Người lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

41. Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sinh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tin ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

42. Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp, thân nghiệp, ngữ nghiệp, thanh tịnh. Mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm, tỉnh giác và biết tri túc.

43. Này Vàsettha, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc?

Ở đây, này Vàsettha, Tỷ-kheo từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh… do lạc thọ, tâm được định tĩnh… chứng và trú thiền thứ nhất, … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-75).

76. Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

77. Này Vàsettha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vàsettha, đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, câu hữu với từ. Này Vàsettha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

78. Lại nữa, này Vàsettha, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

79. Này Vàsettha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vàsettha, đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, cùng khởi với xả. Này Vàsettha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

80. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Tỷ-kheo an trú như vậy là có dục ái hay không dục ái?

− Tôn giả Gotama, không có dục ái.

− Có hận tâm hay không có hận tâm?

− Tôn giả Gotama, không có hận tâm.

− Có sân tâm hay không có sân tâm?

− Tôn giả Gotama, không có sân tâm.

− Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm? − Tôn giả Gotama, không có nhiễm tâm.

− Có tự tại hay không có tự tại?

− Tôn giả Gomata, có tự tại.

81. Này Vàsettha, Ngươi nói Tỷ-kheo không có dục ái, Phạm thiên không có dục ái. Giữa Tỷ-kheo không có dục ái với Phạm thiên không có dục ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, có thể có được.

− Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, Tỷ-kheo sau khi tâm thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Thật có thể có sự kiện ấy.

Này Vàsettha, Ngươi nói Tỷ-kheo không có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm… Tỷ-kheo không có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm. Tỷ-kheo có tự tại, Phạm Thiên có tự tại. Giữa Tỷ-kheo có tự tại với Phạm thiên có tự tại, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, có thể có được.

− Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, Tỷ-kheo sau khi thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Sự kiện ấy thật có thể có.

82. Khi nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vàsettha và Bharadvàja bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày.

Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-