Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 16. KINH DÀI VỀ BÁT-NIẾT-BÀN

(Mahāparinibbānasutta)

parinibbāna (tắt hẳn hoàn toàn) phiên âm là bát-niết-bàn

Tôi đã nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto muốn tiến đánh dân Vajjī. Vua nói như sau: “Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, dù họ có uy quyền như vậy, có thế lực như vậy; ta sẽ tàn phá dân Vajjī, ta sẽ mang đến tai họa và sự diệt vong cho dân Vajjī.”

Rồi vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto gọi vị đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra đến: “Này bà-la-môn, hãy đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và trú ẩn thoải mái không: ‘Bạch Thế Tôn, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và trú ẩn thoải mái không’. Và hãy nói như sau: ‘Bạch Thế Tôn, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto muốn tiến đánh dân Vajjī. Vua nói như sau: “Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, dù họ có uy quyền như vậy, có thế lực như vậy; ta sẽ tàn phá dân Vajjī, ta sẽ mang đến tai họa và sự diệt vong cho dân Vajjī”’. Đức Thế Tôn trả lời cho ông như thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và báo lại cho ta. Vì những Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata) không bao giờ nói lời sai thật.”

16. KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN

(Mahàparinibbàna Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajàtasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.

2. Rồi Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha:

− Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an. Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.

1. Bà-la-môn Vassakāra (Vassakārabrāhmaṇa)

“Vâng, thưa ngài”, đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra vâng lời vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto, cho thắng những cỗ xe tốt đẹp nhất, bước lên một cỗ xe tốt đẹp nhất, và cùng với những cỗ xe tốt đẹp nhất rời khỏi Rājagaha, đi về phía núi Gijjhakūṭa. Đi xe cho đến nơi đất còn đi xe được, ông xuống xe và đi bộ đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, ông trao đổi những lời chào hỏi thân hữu với Đức Thế Tôn.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra nói với Đức Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và trú ẩn thoải mái không. Thưa Tôn giả Gotama, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto muốn tiến đánh dân Vajjī. Vua nói như sau: ‘Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, dù họ có uy quyền như vậy, có thế lực như vậy; ta sẽ tàn phá dân Vajjī, ta sẽ mang đến tai họa và sự diệt vong cho dân Vajjī’.”

− Ðại vương, xin vâng!

3. Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Ràjagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha, bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vọng”.

2. Những Điều Không Dẫn Đến Suy Giảm Của Quốc Gia (Rājaaparihāniyadhamma)

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang đứng phía sau Đức Thế Tôn để quạt cho Ngài. Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, ông có nghe rằng ‘dân Vajjī thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đảo’ không?”

“Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: ‘dân Vajjī thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đảo’.”

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn thường xuyên tụ họp và tụ họp đông đảo, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng ‘dân Vajjī tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của dân Vajjī trong sự đoàn kết’ không?"

“Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: ‘dân Vajjī tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của dân Vajjī trong sự đoàn kết’.”

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của dân Vajjī trong sự đoàn kết, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng ‘dân Vajjī không tuyên bố (chế định / paññapenti) thêm những gì chưa được tuyên bố, không hủy bỏ những gì đã được tuyên bố, và sống tuân theo những Điều dạy (pháp / dhamma) của dân Vajjī thời xưa đã được tuyên bố’ không?"

“Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này…”

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī không tuyên bố những gì chưa được tuyên bố, không hủy bỏ những gì đã được tuyên bố, và sống tuân theo những Điều dạy của dân Vajjī thời xưa đã được tuyên bố, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng ‘dân Vajjī tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường những người lớn tuổi của dân Vajjī, và nghĩ rằng lời của họ đáng được lắng nghe’ không?"

“Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này…”

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường những người lớn tuổi của dân Vajjī, và nghĩ rằng lời của họ đáng được lắng nghe, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng ‘dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ của các gia đình’ không?"

“Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này…”

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ của các gia đình, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng ‘dân Vajjī tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường các đền thờ của dân Vajjī ở bên trong và bên ngoài, và không để cho các lễ vật đúng Điều dạy đã được dâng cúng từ trước bị suy giảm’ không?"

“Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này…”

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường các đền thờ của dân Vajjī ở bên trong và bên ngoài, và không để cho các lễ vật đúng Điều dạy đã được dâng cúng từ trước bị suy giảm, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng ‘dân Vajjī cung cấp sự bảo vệ, che chở và canh gác đúng Điều dạy cho các bậc A-la-hán (A-la-hán / arahant), với mong muốn rằng các bậc A-la-hán chưa đến sẽ đến vương quốc, và các bậc A-la-hán đã đến sẽ sống thoải mái trong vương quốc’ không?"

“Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này…”

“Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn cung cấp sự bảo vệ, che chở và canh gác đúng Điều dạy cho các bậc A-la-hán, với mong muốn rằng các bậc A-la-hán chưa đến sẽ đến vương quốc, và các bậc A-la-hán đã đến sẽ sống thoải mái trong vương quốc. Thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.”

Rồi Đức Thế Tôn gọi đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra: “Này bà-la-môn, một thời ta trú ở Vesālī, tại đền Sārandada. Tại đó, ta đã dạy cho dân Vajjī bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này. Này bà-la-môn, chừng nào bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này còn tồn tại trong dân Vajjī, và dân Vajjī còn được thấy thực hành bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này, thì này bà-la-môn, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.”

Được nói như vậy, đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra nói với Đức Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, dù dân Vajjī chỉ có một Điều dạy không dẫn đến suy giảm, họ cũng chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm. Huống hồ là có đủ bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm. Thưa Tôn giả Gotama, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto không thể đánh bại dân Vajjī bằng chiến tranh, ngoại trừ bằng ngoại giao hoặc bằng cách chia rẽ nội bộ. Thưa Tôn giả Gotama, bây giờ chúng tôi xin phép ra về, chúng tôi có nhiều việc, nhiều bổn phận phải làm.”

“Này bà-la-môn, hãy làm những gì ông cho là đúng lúc.” Rồi đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và rời đi.

4. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết.

− Này Ananda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ananda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?

− Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa.

− Này Ananda khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt khóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.

− Này Ananda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?

− Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?

− Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.

− Này Ananda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

5. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha:

− Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesàli tại tự miếu Sàrandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.

− Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.

Bà-la-môn Vassakara, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.

3. Những Điều Không Dẫn Đến Suy Giảm Của Tỳ Kheo (Bhikkhuaparihāniyadhamma)

Rồi Đức Thế Tôn, không lâu sau khi đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra rời đi, đã gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy đi và tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Rājagaha lại tại giảng đường.”

“Vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn, tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Rājagaha lại tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Tôn giả Ānanda nói với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tăng chúng tỳ kheo đã tập hợp, bây giờ xin Đức Thế Tôn làm những gì Ngài cho là đúng lúc.”

Rồi Đức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xuống, Đức Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ (tác ý / manasikāra) kỹ, ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn”, các tỳ kheo vâng lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau:

"Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn thường xuyên tụ họp và tụ họp đông đảo, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của Tăng chúng trong sự đoàn kết, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo không tuyên bố những gì chưa được tuyên bố, không hủy bỏ những gì đã được tuyên bố, và rèn luyện theo các điều học đã được tuyên bố, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường các tỳ kheo trưởng lão, những người có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, là những người cha của Tăng chúng, những người lãnh đạo Tăng chúng, và nghĩ rằng lời của họ đáng được lắng nghe, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo không rơi vào quyền lực của sự thèm khát (tham ái / taṇhā) đã sinh khởi, thứ đưa đến tái sinh (hữu lậu / ponobbhavika), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn có mong muốn sống ở các chỗ trú ẩn trong rừng, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo tự mình thiết lập sự tự quan sát (chánh niệm / sati): ‘Mong rằng các đồng tu tốt đẹp chưa đến sẽ đến, và các đồng tu tốt đẹp đã đến sẽ sống thoải mái’, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này còn tồn tại trong các tỳ kheo, và các tỳ kheo còn được thấy thực hành bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói." “Vâng, bạch Thế Tôn”, các tỳ kheo vâng lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau:

"Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo không thích thú trong công việc, không vui thích trong công việc, không đắm chìm trong sự thích thú công việc… không thích thú trong trò chuyện… không thích thú trong ngủ nghỉ… không thích thú trong tụ tập… không có ác dục, không rơi vào quyền lực của những mong muốn xấu xa… không có bạn ác, không có đồng bọn ác, không giao du với kẻ ác… không dừng lại nửa chừng khi mới đạt được những thành tựu thấp kém, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này còn tồn tại trong các tỳ kheo… các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

6. Khi Bà-la-môn Vassakara đi chưa bao lâu, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đi và tập họp tại giảng đường tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Ràjagaha (Vương Xá).

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.

Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

7. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bày pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác… Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo có đức tin… có tàm (xấu hổ với tội lỗi)… có quý (sợ hãi tội lỗi)… nghe nhiều… nỗ lực… có sự tự quan sát… có trí tuệ (tuệ / paññā), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

8. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn! Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác… Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn phát triển Dấu hiệu sự tự quan sát (Niệm giác chi / satisambojjhaṅga) … phát triển Dấu hiệu Phân Tích (Trạch pháp giác chi / dhammavicayasambojjhaṅga) … phát triển Dấu hiệu Nỗ Lực (Tinh tấn giác chi / vīriyasambojjhaṅga) … phát triển Dấu hiệu sự Hân Hoan (Hỷ giác chi / pītisambojjhaṅga) … phát triển Dấu hiệu Cơ thể được Lắng dịu (Khinh an giác chi / passaddhisambojjhaṅga) … phát triển Dấu hiệu Định (Định giác chi / samādhisambojjhaṅga) … phát triển Dấu hiệu Tâm cân bằng (Xả giác chi / upekkhāsambojjhaṅga), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

9. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ tập niệm giác chi, tụ tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác… Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn phát triển nhận thức về sự vô thường (vô thường tưởng / aniccasaññā) … phát triển nhận thức về sự không có ngã (vô ngã tưởng / anattasaññā) … phát triển nhận thức về sự không trong sạch (bất tịnh tưởng / asubhasaññā) … phát triển nhận thức về sự nguy hiểm (nguy hiểm tưởng / ādīnavasaññā) … phát triển nhận thức về sự từ bỏ (đoạn tận tưởng / pahānasaññā) … phát triển nhận thức về sự cạn hết đắm nhiễm (ly tham tưởng / virāgasaññā) … phát triển nhận thức về sự chấm dứt (diệt tưởng / nirodhasaññā), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

10. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

− Xin vâng bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

− Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông sáu Điều dạy không dẫn đến suy giảm… Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo thiết lập Tâm yêu thương (từ / mettā) trong hành động cơ thể đối với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng… thiết lập Tâm yêu thương trong lời nói… thiết lập Tâm yêu thương trong tâm (tâm / citta) đối với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng… chia sẻ không phân biệt những vật dụng nhận được đúng Điều dạy, nhận được hợp Điều dạy, thậm chí chỉ là những gì nằm trong bình bát, dùng chung với các đồng tu có đạo đức (giới / sīla)… giữ gìn những đạo đức không bị phá vỡ, không bị sứt mẻ, không bị tì vết, không bị vấy bẩn, mang lại tự do, được người trí khen ngợi, không bị bám víu, dẫn đến định (samādhi), sống hòa hợp về đạo đức với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng… giữ gìn quan điểm thánh thiện, dẫn đến sự giải thoát, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt đau khổ (khổ / dukkha) hoàn toàn, sống hòa hợp về quan điểm với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm."

(…)

11. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

− Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn giữ khẩu nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ ý nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu, mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Tại đó, khi trú ở Rājagaha trên núi Gijjhakūṭa, Đức Thế Tôn thường xuyên giảng dạy Điều dạy này cho các tỳ kheo:

“Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ. Định được tu tập cùng với đạo đức mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với định mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ hoàn toàn thoát khỏi (giải thoát / vimuccati) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), đó là: nguồn ác của ham muốn giác quan (dục lậu / kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava).”

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi trú ở Rājagaha bao lâu tùy thích, đã gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Ambalaṭṭhikā.” “Vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn. Rồi Đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Ambalaṭṭhikā. Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Ambalaṭṭhikā, trong nhà nghỉ của vua. Tại đó, Đức Thế Tôn cũng thường xuyên giảng dạy Điều dạy này cho các tỳ kheo: “Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ… Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ hoàn toàn thoát khỏi các nguồn ác…”

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi trú ở Ambalaṭṭhikā bao lâu tùy thích, đã gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nāḷandā.” “Vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn. Rồi Đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Nāḷandā. Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Nāḷandā, trong rừng xoài Pāvārika.

12. Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu”.

13. Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.

14. Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

15. Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở Pavarikambavana (Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).

4. Tiếng Rống Của Sư Tử Sāriputta (Sāriputtasīhanāda)

Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Đức Thế Tôn như thế này: Trong quá khứ không có, trong tương lai sẽ không có, và trong hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có sự hiểu biết vượt trội hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ.”

“Này Sāriputta, lời nói này của ông to lớn, dũng mãnh, như một tiếng rống của sư tử đã được rống lên một cách chắc chắn… Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn (Chánh đẳng giác / sammāsambuddha) trong quá khứ, và biết rằng: ‘Các Đức Thế Tôn ấy có đạo đức như thế này, có Điều dạy như thế này, có trí tuệ như thế này, có cách sống như thế này, có sự giải thoát như thế này’ không?” “Dạ không, bạch Thế Tôn.”

“Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong tương lai…?” “Dạ không, bạch Thế Tôn.”

“Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của ta, một bậc A-la-hán, một Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong hiện tại…?” “Dạ không, bạch Thế Tôn.”

“Này Sāriputta, nếu ông không có khả năng thấu hiểu tâm của các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ, tương lai và hiện tại, thì tại sao ông lại thốt ra lời nói to lớn, dũng mãnh, như một tiếng rống của sư tử chắc chắn như vậy…?”

"Bạch Thế Tôn, con không có khả năng thấu hiểu tâm của các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ, tương lai và hiện tại, nhưng con đã hiểu được dòng chảy của Chân lý. Bạch Thế Tôn, giống như một thành phố biên giới của nhà vua, có nền móng vững chắc, có tường thành và tháp canh kiên cố, chỉ có một cổng duy nhất. Tại đó có một người gác cổng thông minh, tài giỏi, sáng suốt, ngăn chặn người lạ và chỉ cho người quen vào. Khi đi tuần tra dọc theo con đường vòng quanh thành phố, người ấy không thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường thành, thậm chí không đủ cho một con mèo chui qua. Người ấy nghĩ: ‘Bất kỳ sinh vật lớn nào đi vào hay đi ra khỏi thành phố này, tất cả đều phải đi qua cổng này’.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con đã hiểu được dòng chảy của Chân lý: ‘Tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ, tất cả các Đức Thế Tôn ấy đều đã từ bỏ (đoạn trừ / pahānā) năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇāni) làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ, có tâm được thiết lập vững chắc trong bốn nơi Tự Quan Sát (tứ niệm xứ / satipaṭṭhānā), đã phát triển đúng như thật bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ (giác chi / bojjhaṅgā), và đã giác ngộ vô thượng Chánh đẳng giác. Tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong tương lai… cũng sẽ như vậy. Và Đức Thế Tôn hiện tại, một bậc A-la-hán, một Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn, cũng đã từ bỏ năm điều làm mờ yếu làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ, có tâm được thiết lập vững chắc trong bốn nơi Tự Quan Sát, đã phát triển đúng như thật bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ, và đã giác ngộ vô thượng Chánh đẳng giác’."

Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Nāḷandā, trong rừng xoài Pāvārika, cũng thường xuyên giảng dạy Chân lý này cho các tỳ kheo: “Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ… Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ hoàn toàn thoát khỏi các nguồn ác…”

16. Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.

− Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: “Con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”. Này Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm của Ngươi. “Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Như vậy, này Sàriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”?

17. - Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây có một người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo có thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

18. Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng Pavarikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

5. Sự Nguy Hiểm Của Việc Thiếu Đạo Đức (Dussīlaādīnava)

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi trú ở Nāḷandā bao lâu tùy thích, đã gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pāṭaligāma.” “Vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn. Rồi Đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Pāṭaligāma.

Các nam cư sĩ ở Pāṭaligāma nghe tin: “Đức Thế Tôn đã đến Pāṭaligāma.” Họ đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ thưa: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài nhận lời đến nhà nghỉ của chúng con.” Đức Thế Tôn nhận lời bằng sự im lặng.

(…)

Rồi Đức Thế Tôn gọi các nam cư sĩ ở Pāṭaligāma:

"Này các gia chủ, có năm sự nguy hiểm này đối với người thiếu đạo đức, người thất bại về đạo đức. Năm sự nguy hiểm đó là gì?

Ở đây, này các gia chủ, người thiếu đạo đức, thất bại về đạo đức, do u mê mà bị tổn thất tài sản lớn. Đây là sự nguy hiểm thứ nhất.

Lại nữa, người thiếu đạo đức… tiếng xấu đồn xa. Đây là sự nguy hiểm thứ hai.

Lại nữa, người thiếu đạo đức… khi đi đến bất kỳ hội chúng nào—dù là hội chúng sát-đế-lỵ, bà-la-môn, gia chủ hay sa-môn—đều đi đến với sự thiếu tự tin và bối rối. Đây là sự nguy hiểm thứ ba.

Lại nữa, người thiếu đạo đức… chết trong sự mê muội. Đây là sự nguy hiểm thứ tư.

Lại nữa, người thiếu đạo đức… sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là sự nguy hiểm thứ năm.

Này các gia chủ, đây là năm sự nguy hiểm đối với người thiếu đạo đức, người thất bại về đạo đức.

19. Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pàtaligàma.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàtaligàma.

20. Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pàtaligàma được nghe Thế Tôn đã đến làng Pàtaligàma. Các cư sĩ ở Pàtaligàma đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con”. Thế Tôn im lặng nhận lời.

21. Các cư sĩ ở Pàtaligàma được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước, chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được rãi cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.

22. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa và bức tường ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt phía Tây, đối diện Thế Tôn.

23. Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pataligama:

− Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.

6. Lợi Ích Của Người Có Đạo Đức (Sīlavantaānisaṁsa)

Này các gia chủ, có năm lợi ích này đối với người có đạo đức, người thành tựu đạo đức. Năm lợi ích đó là gì?

Ở đây, này các gia chủ, người có đạo đức, thành tựu đạo đức, do không u mê mà thu được khối tài sản lớn. Đây là lợi ích thứ nhất.

Lại nữa, người có đạo đức… tiếng tốt đồn xa. Đây là lợi ích thứ hai.

Lại nữa, người có đạo đức… khi đi đến bất kỳ hội chúng nào… đều đi đến với sự tự tin và không bối rối. Đây là lợi ích thứ ba.

Lại nữa, người có đạo đức… chết không mê muội. Đây là lợi ích thứ tư.

Lại nữa, người có đạo đức… sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Đây là lợi ích thứ năm.

Này các gia chủ, đây là năm lợi ích đối với người có đạo đức, người thành tựu đạo đức."

24. Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.

25. Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở Pàtaligàma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy:

− Này các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các người cư sĩ của Pàtaligàma vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pàtaligàma đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.

7. Xây Dựng Thành Phố Pāṭaliputta (Pāṭaliputtanagaramāpana)

Lúc bấy giờ, các đại thần nước Magadha là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố tại Pāṭaligāma để ngăn chặn dân Vajjī. Lúc bấy giờ, có hàng ngàn chư thiên đang chiếm giữ các khu đất tại Pāṭaligāma. Ở khu vực nào chư thiên có uy lực lớn chiếm giữ, thì họ hướng tâm của các vị vua và đại thần có quyền lực lớn đến xây dựng dinh thự ở đó. Ở khu vực nào chư thiên bậc trung chiếm giữ… Ở khu vực nào chư thiên bậc thấp chiếm giữ…

Đức Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, vượt qua tầm nhìn của con người, đã thấy hàng ngàn chư thiên đang chiếm giữ các khu đất tại Pāṭaligāma. Ngài thức dậy vào lúc rạng sáng và gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, ai đang xây dựng thành phố tại Pāṭaligāma?” “Bạch Thế Tôn, các đại thần nước Magadha là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng thành phố tại Pāṭaligāma để ngăn chặn dân Vajjī.”

“Này Ānanda, giống như họ đã bàn bạc với chư thiên cõi Đao Lợi; cũng vậy, Sunidha và Vassakāra đang xây dựng thành phố… Này Ānanda, chừng nào còn có khu vực của bậc Thánh, chừng nào còn có tuyến đường thương mại, thì đây sẽ là thành phố hàng đầu, Pāṭaliputta, nơi mở các kiện hàng. Này Ānanda, Pāṭaliputta sẽ có ba mối nguy hiểm: từ lửa, từ nước, hoặc từ sự chia rẽ nội bộ.”

(…)

Lúc bấy giờ, sông Hằng đang đầy nước tràn bờ, quạ có thể uống được. Một số người tìm thuyền, một số tìm bè, một số kết bè để muốn qua bờ bên kia. Rồi Đức Thế Tôn—giống như một người đàn ông khỏe mạnh duỗi cánh tay đang gập lại, hoặc gập cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—Ngài biến mất ở bờ bên này của sông Hằng và xuất hiện ở bờ bên kia cùng với đại chúng tỳ kheo.

Đức Thế Tôn thấy những người kia đang tìm thuyền, tìm bè, kết bè để qua bờ bên kia. Hiểu được ý nghĩa của điều này, vào lúc đó, Đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:

“Những ai vượt qua biển cả, hồ nước,
Bằng cách làm cầu, bỏ lại những vùng đầm lầy;
Trong khi người đời đang kết bè,
Những người có trí tuệ đã vượt qua.”

(Kết thúc Tụng phẩm thứ nhất).

26. Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pàtaligàma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.

27. Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pàtaligàma, Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, ai đang xây dựng thành trì ở Pataligama? − Sunidha và Vassakara, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì.

28. Này Ananda, thật giống như đã hỏi ý kiến các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha và Vassakara đang xây thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì. Này Ananda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân Ta thấy hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pataligama. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này Ananda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi là Pàtaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ananda, Pàtaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.

29. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần nước Magadha, đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara bạch Thế Tôn: “Mong Thế Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.

30. Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cử người đến tin Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.

Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi hai vị thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara tự tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát, Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.

31. Sau khi Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần thứ Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:

Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ.
Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.

Và san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy.
Ðược tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.
Ðược trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.

Chúng sẽ mến thương người ấy như người mẹ thương mến con.
Và những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy may mắn.

Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.

32. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đi sau lưng Thế Tôn và nói:

− “Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được đặt tên là cửa Gotama”.

33. Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.

34. Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:

“Những ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm
phu đang cột bè.
Những người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát”

8. Câu chuyện về các Thánh Đế (Ariyasaccakathā)

Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Koṭigāma.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Koṭigāma. Tại đó, Thế Tôn trú ở Koṭigāma.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

“Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt bốn Thánh đế (Ariyasacca) mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Bốn Thánh đế nào? Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về đau khổ (Khổ / Dukkha) mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về sự hình thành (Tập / Samudaya) của đau khổ mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về sự chấm dứt (Diệt / Nirodha) đau khổ mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về con đường (Đạo / Paṭipadā) đưa đến sự chấm dứt đau khổ mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, khi Thánh đế về đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Thánh đế về sự hình thành của đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Thánh đế về sự chấm dứt đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Thánh đế về con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt, thì sự thèm khát (tham ái / taṇhā) cõi tồn tại (hữu / bhava) bị nhổ rễ, dây trói buộc vào cõi tồn tại (hữu kiết sử / bhavanetti) bị cạn kiệt, nay không còn tái sinh nữa.”

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

“Không thấy thật Thánh đế,
Nhiều kiếp phải trôi lăn.
Thấy, dây trói buộc tồn tại ;
Rễ khổ đứt, không tái sinh.”

Tại đó, khi trú ở Koṭigāma, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

“Đây là đạo đức (giới / sīla), đây là định (samādhi), đây là trí tuệ (paññā). Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (dục lậu / kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava).”

Tụng Phẩm II

1. Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ananda: “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kotigàma”

− “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigàma.

2. Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,

Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.

3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:

− Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.

4. Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigama, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: − Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

9. Hướng đến Giác ngộ không còn thối chuyển (Anāvattidhammasambodhiparāyaṇa)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Koṭigāma cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nādikā.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Nādikā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Nādikā, trong Ngôi nhà Gạch.

Rồi tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, tỳ kheo tên là Sāḷha đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, tỳ kheo ni tên là Nandā đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ tên là Sudatta đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ tên là Sujātā đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ tên là Kukkuṭa… Kāḷimba… Nikaṭa… Kaṭissaha… Tuṭṭha… Santuṭṭha… Bhadda… Subhadda đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao?”

"Này Ānanda, tỳ kheo Sāḷha, do sự cạn kiệt các nguồn ác (āsava), đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn nguồn ác.

Này Ānanda, tỳ kheo ni Nandā, do sự cạn kiệt năm xiềng xích bề dưới (ngũ hạ phần kiết sử / orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ), đã hóa sinh (opapātika), tại đó đến hoàn toàn chấm dứt (bát niết bàn / parinibbāyī), không còn chịu quy luật quay trở lại (bất thối chuyển / anāvattidhamma) từ thế giới ấy.

Này Ānanda, nam cư sĩ Sudatta, do sự cạn kiệt ba xiềng xích và làm nhẹ bớt lòng tham, sân, si, là bậc Nhất lai (sakadāgāmī), chỉ quay lại cõi đời này một lần nữa rồi sẽ làm sự chấm dứt đau khổ (dukkha).

Này Ānanda, nữ cư sĩ Sujātā, do sự cạn kiệt ba xiềng xích, là bậc Nhập lưu (sotāpannā), không còn rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ (sambodhiparāyaṇā).

Này Ānanda, nam cư sĩ Kukkuṭa… Kāḷimba… Nikaṭa… Kaṭissaha… Tuṭṭha… Santuṭṭha… Bhadda… Subhadda, do sự cạn kiệt năm xiềng xích bề dưới, đã hóa sinh, tại đó đến hoàn toàn chấm dứt, không còn chịu quy luật quay trở lại từ thế giới ấy.

Này Ānanda, hơn năm mươi nam cư sĩ qua đời ở Nādikā, do sự cạn kiệt năm xiềng xích bề dưới, đã hóa sinh, tại đó đến hoàn toàn chấm dứt, không còn chịu quy luật quay trở lại từ thế giới ấy.

Này Ānanda, hơn chín mươi nam cư sĩ qua đời ở Nādikā, do sự cạn kiệt ba xiềng xích và làm nhẹ bớt lòng tham, sân, si, là bậc Nhất lai, chỉ quay lại cõi đời này một lần nữa rồi sẽ làm sự chấm dứt đau khổ.

Này Ānanda, hơn năm trăm nam cư sĩ qua đời ở Nādikā, do sự cạn kiệt ba xiềng xích, là bậc Nhập lưu, không còn rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ.

5. Thế Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nadika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).

6. Rồi Tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Salada mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Tỷ-kheo ni Nandà mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung tại Nàdika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Nikata… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Katissabha… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuttha… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Santuttha…, Bạch Thế Tôn cư sĩ Bhadda… Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?

7. Này Ananda, Tỷ-kheo Sàtha diệt tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ananda, Tỷ-kheo ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda nữ cư sĩ Sujata diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này Ananda cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Kalinga… Này Ananda cư sĩ Nikata… Này Ananda, cư sĩ Katissabha… Này Ananda, cư sĩ Tuttha… Này Ananda, cư sĩ Santuttha… Này Ananda, cư sĩ Bhadada… Này Ananda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nàdita, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ mệnh chung tại Nàdika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nadika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác.

10. Bài pháp Gương Pháp (Dhammādāsadhammapariyāya)

Này Ānanda, không có gì đáng ngạc nhiên khi một người mang thân người phải qua đời. Nhưng nếu mỗi khi có người qua đời, các vị lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này, thì đó là sự phiền nhiễu cho Như Lai.

Do đó, này Ānanda, Ta sẽ giảng bài pháp gọi là Gương Pháp (dhammādāsa), để vị thánh đệ tử nào được trang bị pháp này, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình: ‘Ta đã cạn kiệt địa ngục, cạn kiệt cõi súc sinh, cạn kiệt cõi ngạ quỷ, cạn kiệt các cõi ác, đọa xứ; ta là bậc Nhập lưu (sotāpanna), không còn rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ (sambodhiparāyaṇā).’

Và này Ānanda, bài pháp Gương Pháp đó là gì…?

Ở đây, này Ānanda, vị thánh đệ tử có niềm tin không lay chuyển đối với Đức Phật: ‘Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

Vị ấy có niềm tin không lay chuyển đối với Pháp: ‘Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng nghiệm.’

Vị ấy có niềm tin không lay chuyển đối với Tăng: ‘Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn thực hành tốt đẹp, thực hành chân chính, thực hành đúng phương pháp, thực hành thích đáng, tức là bốn đôi tám vị; Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng ở đời.’

Vị ấy được trang bị những đạo đức (sīla) được các bậc thánh yêu thích, không bị phá vỡ, không bị sứt mẻ, không bị tì vết, không bị vẩn đục, mang lại tự do, được người trí khen ngợi, không bị bám chấp, dẫn đến Định (samādhi).

Này Ānanda, đây chính là bài pháp Gương Pháp

Tại đó, khi trú ở Nādikā trong Ngôi nhà Gạch, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

“Đây là đạo đức, đây là Định, đây là trí tuệ (paññā). Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (avijjāsava).”

(…)

8. Này Ananda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ananda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.

9. Này Ananda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”. Này Ananda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: “Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu”. Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến thiền định”.

Này Ananda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh giác”.

10. Khi Thế Tôn ở Nàdika, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Nādikā cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Vesālī.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Vesālī. Tại đó, Thế Tôn trú ở Vesālī, trong vườn xoài của Ambapālī.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, tỳ kheo hãy sống với sự tự quan sát (chánh niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), đây là lời dạy của Ta dành cho các vị.

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo có sự tự quan sát? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát Cơ thể qua Cơ thể của mình (quán thân trên thân / kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, có sự tự quan sát, loại bỏ lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền (ưu / domanassa) ở đời. Vị ấy quan sát Cảm Giác qua Cảm Giác của mình (quán thọ trên thọ / vedanāsu vedanānupassī)… quan sát Tâm qua Tâm của mình (quán tâm trên tâm / citte cittānupassī)… quan sát quy-luật qua các-quy-luật (quán pháp trên pháp / dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, có sự tự quan sát, loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo có sự tự quan sát.

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo nhận biết rõ ràng? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo khi bước tới bước lui đều nhận biết rõ ràng; khi nhìn thẳng nhìn quanh đều nhận biết rõ ràng; khi co tay duỗi tay đều nhận biết rõ ràng; khi mang y Tăng-già-lê, bình bát và y áo đều nhận biết rõ ràng; khi ăn, uống, nhai, nếm đều nhận biết rõ ràng; khi đại tiện tiểu tiện đều nhận biết rõ ràng; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng đều nhận biết rõ ràng. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo nhận biết rõ ràng. Này các tỳ kheo, tỳ kheo hãy sống có sự tự quan sátnhận biết rõ ràng, đây là lời dạy của Ta dành cho các vị."

11. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nàdika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Vesàli.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn trú tại vườn Ambapàli.

12. Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời, đối với các cảm thọ… đối với tâm… đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.

13. Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác khi mang áo sanghati (tănggià-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải sống an trú chánh niệm tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.

11. Kỹ nữ Ambapālī (Ambapālīgaṇikā)

Kỹ nữ Ambapālī nghe tin: “Thế Tôn đã đến Vesālī và đang trú tại vườn xoài của ta.” Rồi kỹ nữ Ambapālī cho chuẩn bị những cỗ xe tuyệt hảo, lên một cỗ xe tuyệt hảo, cùng với những cỗ xe tuyệt hảo khác rời khỏi Vesālī. Cô đi đến khu vườn của mình. Đi xe cho đến nơi xe có thể đi được, cô xuống xe và đi bộ đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi kỹ nữ Ambapālī ngồi một bên, Thế Tôn đã dùng bài pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ.

Rồi kỹ nữ Ambapālī, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đã bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa ngày mai của con cùng với đại chúng tỳ kheo.” Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi kỹ nữ Ambapālī, biết Thế Tôn đã nhận lời, liền đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Những người Licchavī ở Vesālī nghe tin: “Thế Tôn đã đến Vesālī và đang trú tại vườn xoài của Ambapālī.” Rồi những người Licchavī cho chuẩn bị những cỗ xe tuyệt hảo, lên một cỗ xe tuyệt hảo, cùng với những cỗ xe tuyệt hảo khác rời khỏi Vesālī. Trong đó, một số người Licchavī màu xanh, mặc áo xanh, trang sức xanh; một số màu vàng, mặc áo vàng, trang sức vàng; một số màu đỏ, mặc áo đỏ, trang sức đỏ; một số màu trắng, mặc áo trắng, trang sức trắng.

Rồi kỹ nữ Ambapālī lái xe đụng trục xe vào trục xe, bánh xe vào bánh xe, ách xe vào ách xe của những thanh niên Licchavī trẻ tuổi. Rồi những người Licchavī nói với kỹ nữ Ambapālī: “Này Ambapālī, sao cô lại lái xe đụng trục xe vào trục xe, bánh xe vào bánh xe, ách xe vào ách xe của những thanh niên Licchavī trẻ tuổi như vậy?”

“Thưa các vương tử, vì tôi đã mời Thế Tôn cùng đại chúng tỳ kheo dùng bữa ngày mai.”

“Này Ambapālī, hãy nhường bữa ăn đó cho chúng tôi với giá một trăm ngàn.”

“Thưa các vương tử, dù các vị có cho tôi cả Vesālī cùng với các vùng phụ cận, tôi cũng không nhường bữa ăn đó.”

Rồi những người Licchavī búng tay: “Chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại!” Rồi những người Licchavī đi đến vườn xoài của Ambapālī.

Thế Tôn thấy những người Licchavī đang đến từ xa. Thấy vậy, Ngài gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, những tỳ kheo nào chưa từng thấy chư thiên cõi Đao Lợi, hãy nhìn hội chúng Licchavī này; hãy ngắm hội chúng Licchavī này; hãy so sánh hội chúng Licchavī này—họ giống như chư thiên cõi Đao Lợi.”

Rồi những người Licchavī đi xe cho đến nơi xe có thể đi được, xuống xe và đi bộ đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi những người Licchavī ngồi một bên, Thế Tôn đã dùng bài pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ.

Rồi những người Licchavī, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đã bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa ngày mai của chúng con cùng với đại chúng tỳ kheo.”

Rồi Thế Tôn nói với những người Licchavī: “Này các Licchavī, Ta đã nhận lời mời dùng bữa ngày mai của kỹ nữ Ambapālī rồi.”

Rồi những người Licchavī búng tay: “Chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại!”

Rồi những người Licchavī hoan hỷ, tán thán lời Thế Tôn, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Rồi kỹ nữ Ambapālī, khi đêm đã qua, cho chuẩn bị thức ăn thượng vị loại cứng và loại mềm tại khu vườn của mình, rồi báo giờ cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.”

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát, cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến nhà của kỹ nữ Ambapālī; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Rồi kỹ nữ Ambapālī tự tay phục vụ, làm cho Tăng chúng do Đức Phật dẫn đầu thỏa mãn với thức ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

Rồi kỹ nữ Ambapālī, khi Thế Tôn đã ăn xong và rút tay khỏi bát, lấy một chiếc ghế thấp ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, kỹ nữ Ambapālī bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con xin dâng khu vườn này cho Tăng chúng do Đức Phật dẫn đầu.”

Thế Tôn nhận lấy khu vườn.

Rồi Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ kỹ nữ Ambapālī, rồi đứng dậy rời đi.

Tại đó, khi trú ở Vesālī trong vườn xoài của Ambapālī, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

“Đây là đạo đức (sīla), đây là Định (samādhi), đây là trí tuệ (paññā). Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (avijjāsava).”

14. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli được nghe: “Thế Tôn đã đến Vesàli và ở tại vườn xoài của ta”. Dâm nữ Ambapàli liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng với các cổ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesàli và đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

Dâm nữ Ambapàli sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapali được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.

15. Các người Licchavi ở Vesàli được nghe: “Thế Tôn đến Vesàli hiện ở vườn Ambapàli”, liền cho thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesàli với những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Có những vị Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang sức màu trắng.

16. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm nữ Ambapàli:

− Này Ambapàli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe?

− Này quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.

− Này Ambapàli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một trăm ngàn.

− Dầu quý Công tử có cho tôi cả thành Vesàli cùng với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.

Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói:

− Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phổng tay trên. Và các vị Licchavi này cùng đi đến vườn Ambapàli.

17. Thế Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống như chúng Tam thập tam thiên”.

18. Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

Các vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch Thế Tôn: − Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.

− Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapàli rồi.

Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: “Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phổng tay trên… “

Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức Phật và từ biệt.

19. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali, đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”. Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapàli, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapàli tự tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vi thượng thủ, dùng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

Khi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ Ambapàli lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapàli bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ”.

Thế Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy ra về.

20. Trong thời gian Thế Tôn ở Vesàli, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

12. Vào mùa an cư ở làng Veḷuva (Veḷuvagāmavassūpagamana)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở vườn xoài của Ambapālī cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Veḷuva.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến làng Veḷuva. Tại đó, Thế Tôn trú ở làng Veḷuva.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các vị hãy đi an cư mùa mưa xung quanh Vesālī, tùy theo chỗ có bạn bè, người quen, người thân thiết. Còn Ta sẽ an cư mùa mưa ngay tại làng Veḷuva này.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo đáp lời Thế Tôn và đi an cư mùa mưa xung quanh Vesālī, tùy theo chỗ có bạn bè, người quen, người thân thiết. Còn Thế Tôn an cư mùa mưa ngay tại làng Veḷuva.

Khi Thế Tôn đang an cư mùa mưa, một căn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkha-vedanā) dữ dội, gần như chết, xuất hiện. Thế Tôn với sự tự quan sát (sato) và nhận biết rõ ràng (sampajāno), chịu đựng chúng mà không phiền não. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Thật không thích hợp nếu Ta đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbāyeyyaṁ) mà không báo cho những người thị giả, không từ biệt đại chúng tỳ kheo. Hay là Ta hãy dùng nỗ lực để kìm hãm căn bệnh này, duy trì hoạt động duy trì sự sống (mạng hành / āyusaṅkhāra) và tiếp tục sống.”

Rồi Thế Tôn dùng nỗ lực kìm hãm căn bệnh đó, duy trì hoạt động duy trì sự sống và tiếp tục sống. Rồi căn bệnh của Thế Tôn lắng dịu.

Rồi Thế Tôn, sau khi khỏi bệnh không lâu, bước ra khỏi chỗ ở và ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn dưới bóng râm phía sau chỗ ở. Rồi tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con đã thấy Thế Tôn được thoải mái; con đã thấy Thế Tôn chịu đựng được. Nhưng bạch Thế Tôn, cơ thể con như rã rời, các phương hướng mờ mịt, các pháp không còn rõ ràng với con vì căn bệnh của Thế Tôn. Tuy nhiên, con vẫn có một chút an ủi: ‘Thế Tôn sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi Ngài để lại một lời dặn dò nào đó cho đại chúng tỳ kheo.’”

"Này Ānanda, đại chúng tỳ kheo còn mong đợi gì ở Ta nữa? Này Ānanda, Ta đã giảng Pháp không phân biệt trong ngoài. Này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không có ‘nắm tay của vị đạo sư’ (giấu giếm). Này Ānanda, ai nghĩ rằng: ‘Ta sẽ lãnh đạo đại chúng tỳ kheo’ hoặc ‘Đại chúng tỳ kheo phụ thuộc vào ta’, thì người đó mới cần để lại lời dặn dò cho đại chúng tỳ kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ rằng: ‘Ta sẽ lãnh đạo đại chúng tỳ kheo’ hoặc ‘Đại chúng tỳ kheo phụ thuộc vào ta’. Vậy tại sao Như Lai lại phải để lại lời dặn dò cho đại chúng tỳ kheo?

Này Ānanda, nay Ta đã già, đã lớn tuổi, đã đi qua nhiều năm tháng, đã đến tuổi xế chiều. Tuổi của Ta đã tám mươi. Này Ānanda, giống như một cỗ xe cũ kỹ phải nhờ những dây chằng buộc mới chạy được; cũng vậy, này Ānanda, cơ thể của Như Lai dường như phải nhờ những dây chằng buộc mới duy trì được. Này Ānanda, chỉ khi nào Như Lai không chú ý đến mọi hình tướng, chấm dứt (nirodha) một số cảm giác, đạt đến và an trú trong Định trong trạng thái tâm không chạy theo hình dáng (vô tướng tâm định), thì khi đó cơ thể của Như Lai mới được thoải mái.

Do đó, này Ānanda, hãy tự làm hòn đảo cho chính mình (tự làm ngọn đèn / attadīpā), tự làm nơi nương tựa cho chính mình (tự quy y / attasaraṇā), không nương tựa vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo (dhammadīpā), lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác. Và này Ānanda, thế nào là tỳ kheo tự làm hòn đảo cho chính mình, tự làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác? Ở đây, này Ānanda, tỳ kheo quan sát Cơ thể qua Cơ thể của mình (kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng (sampajāno), có sự tự quan sát (satimā), loại bỏ lòng tham (abhijjhā) và ưu phiền (domanassa) ở đời. Quan sát Cảm Giác qua Cảm Giác của mình (vedanāsu vedanānupassī)… quan sát Tâm qua Tâm của mình (citte cittānupassī)… quan sát quy-luật qua các-quy-luật (dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, có sự tự quan sát, loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời. Như vậy, này Ānanda, là tỳ kheo tự làm hòn đảo cho chính mình, tự làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Chân lý(Pháp) làm hòn đảo, lấy Chân lý làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác.

Này Ānanda, hiện tại hay sau khi Ta qua đời, những ai tự làm hòn đảo cho chính mình, tự làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Chân lý làm hòn đảo, lấy Chân lý làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác, những tỳ kheo đó sẽ là những người đứng đầu trong số những người mong muốn học tập."

Tụng phẩm thứ hai.

21. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesàli cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú tại làng này.

22. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở đây, tại làng Baluvà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.

23. Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.

24. Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.

25. Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.

26. Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ… đối với tâm… đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

13. Câu chuyện về gợi ý và ánh sáng (Nimittobhāsakathā)

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát đi vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về, Ngài gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ, chúng ta sẽ đi đến đền Cāpāla để nghỉ trưa.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sát phía sau Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn đi đến đền Cāpāla; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Tôn giả Ānanda cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Khi tôn giả Ānanda ngồi một bên, Thế Tôn nói: "Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu, đền Udena thật đáng yêu, đền Gotamaka thật đáng yêu, đền Sattamba thật đáng yêu, đền Bahuputta thật đáng yêu, đền Sārandada thật đáng yêu, đền Cāpāla thật đáng yêu.

Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, làm cho viên mãn, biến thành cỗ xe, biến thành nền tảng, củng cố, tích lũy và khéo léo khởi xướng được bốn cổng thần thông (như ý túc / iddhipādā), nếu muốn, người đó có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, làm cho viên mãn, biến thành cỗ xe, biến thành nền tảng, củng cố, tích lũy và khéo léo khởi xướng được bốn cổng thần thông, nếu muốn, này Ānanda, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp."

Mặc dù Thế Tôn đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, tôn giả Ānanda vẫn không thể thấu hiểu; không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp, xin Bậc Thiện Thệ hãy sống trọn một kiếp vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người,” vì tâm trí vị ấy đã bị Ma vương che mờ.

Lần thứ hai Thế Tôn… Lần thứ ba Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu… Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập… được bốn cổng thần thông… Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.”

Mặc dù Thế Tôn đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, tôn giả Ānanda vẫn không thể thấu hiểu; không thỉnh cầu Thế Tôn… vì tâm trí vị ấy đã bị Ma vương che mờ.

Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy đi đi, nếu ông thấy đã đến lúc.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi ngồi dưới một gốc cây cách đó không xa.

Tụng Phẩm III

1. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến điện thờ Càpàla, để nghỉ trưa. − Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.

2. Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

− Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sàttambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay điện thờ Càpàla.

3. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.

4. Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.

5. Lần thứ hai Thế Tôn… lần thứ ba Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay điện thờ Capala!” Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.

Nhưng tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.

6. Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda hãy đi và làm những gì Ngươi nghĩ là phải thời.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.

14. Câu chuyện Ma vương thỉnh cầu (Mārayācanakathā)

Rồi Ma vương Ác ma, không lâu sau khi tôn giả Ānanda rời đi, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đứng một bên. Đứng một bên, Ma vương Ác ma bạch Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbātu), xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã từng nói lời này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo đệ tử của Ta trở nên tài giỏi, được rèn luyện, tự tin, học rộng, thấu hiểu Pháp, thực hành đúng Pháp và tùy Pháp, thực hành thích đáng, sống theo Pháp, sau khi học hỏi từ đạo sư của mình có thể truyền đạt, giảng dạy, tuyên bố, thiết lập, mở bày, phân tích, làm cho rõ ràng, và có thể dùng Pháp để bẻ gãy những quan điểm đối lập một cách hợp lý, giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu.’

Và nay, bạch Thế Tôn, các tỳ kheo đệ tử của Thế Tôn đã trở nên tài giỏi… giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt, xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã từng nói lời này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo ni đệ tử của Ta… các nam cư sĩ đệ tử của Ta… các nữ cư sĩ đệ tử của Ta trở nên tài giỏi… giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu.’

Và nay, bạch Thế Tôn, các nữ cư sĩ đệ tử của Thế Tôn đã trở nên tài giỏi… giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã từng nói lời này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi đời sống phạm hạnh này trở nên thành công, thịnh vượng, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, cho đến khi được công bố rộng rãi cho chư thiên và loài người.’

Và nay, bạch Thế Tôn, đời sống phạm hạnh của Thế Tôn đã trở nên thành công, thịnh vượng, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, cho đến khi được công bố rộng rãi cho chư thiên và loài người. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt, xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt."

Khi được nói như vậy, Thế Tôn nói với Ma vương Ác ma: “Này Ác ma, hãy yên tâm, không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt.”

7. Tôn giả Ananda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn. − Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.

8. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn, đã trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật… khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, và có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp một cách thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

9. Khi được nói vậy Thế Tôn nói với Ác ma: “Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.

15. Từ bỏ hoạt động duy trì sự sống (Āyusaṅkhāraossajjana)

Rồi Thế Tôn, tại đền Cāpāla, có sự tự quan sát (sato), nhận biết rõ ràng (sampajāno), đã từ bỏ hoạt động duy trì sự sống (mạng hành / āyusaṅkhāra). Khi Thế Tôn từ bỏ hoạt động duy trì sự sống, một trận động đất lớn (đại địa chấn / mahābhūmicālo) xảy ra, đáng sợ, dựng tóc gáy, và sấm sét nổ vang. Rồi Thế Tôn, hiểu rõ ý nghĩa này, ngay lúc đó đã thốt lên lời cảm hứng này:

“Giữa hữu hạn vô hạn,
Hiền triết bỏ mạng hành;
Vui trong, tâm tĩnh lặng,
Vỡ vỏ sống như phá áo giáp.”

10. Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:

Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như tháo áo giáp đang mang mặc.

16. Nguyên nhân của động đất lớn (Mahābhūmicālahetu)

Rồi tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, trận động đất lớn này thật dữ dội; trận động đất lớn này thật vô cùng dữ dội, đáng sợ, dựng tóc gáy; và sấm sét nổ vang. Đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện hình thành (duyên / paccaya) cho sự xuất hiện của trận động đất lớn này?”

Rồi tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn. Trận động đất lớn này thật dữ dội… Đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện hình thành cho sự xuất hiện của trận động đất lớn này?”

"Này Ānanda, có tám nguyên nhân, tám điều kiện hình thành cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn. Tám điều đó là gì?

Này Ānanda, trái đất lớn này dựa trên nước, nước dựa trên gió, gió dựa trên không gian. Này Ānanda, có những lúc những cơn gió lớn thổi. Những cơn gió lớn thổi làm nước rung chuyển. Nước rung chuyển làm trái đất rung chuyển. Đây là nguyên nhân thứ nhất, điều kiện hình thành thứ nhất cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn.

Lại nữa, này Ānanda, khi một sa-môn hay bà-la-môn có thần thông, đã đạt được sự kiểm soát tâm trí, hoặc một vị chư thiên có thần thông lớn, uy lực lớn, vị ấy đã tu tập nhận thức về đất ở mức độ nhỏ, nhận thức về nước ở mức độ vô hạn. Vị ấy làm cho trái đất này rung chuyển, chấn động, rung lắc dữ dội. Đây là nguyên nhân thứ hai, điều kiện hình thành thứ hai…

Lại nữa, này Ānanda, khi Bồ-tát từ cõi trời Đâu-suất mạng chung, có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, nhập vào thai mẹ, khi đó trái đất này rung chuyển, chấn động, rung lắc dữ dội. Đây là nguyên nhân thứ ba, điều kiện hình thành thứ ba…

Lại nữa, này Ānanda, khi Bồ-tát có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, thoát ra khỏi thai mẹ, khi đó trái đất này rung chuyển… Đây là nguyên nhân thứ tư, điều kiện hình thành thứ tư…

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Giác, khi đó trái đất này rung chuyển… Đây là nguyên nhân thứ năm, điều kiện hình thành thứ năm…

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng, khi đó trái đất này rung chuyển… Đây là nguyên nhân thứ sáu, điều kiện hình thành thứ sáu…

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, từ bỏ hoạt động duy trì sự sống, khi đó trái đất này rung chuyển… Đây là nguyên nhân thứ bảy, điều kiện hình thành thứ bảy…

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai đến hoàn toàn chấm dứt trong giới Niết-bàn không còn dư tàn, khi đó trái đất này rung chuyển, chấn động, rung lắc dữ dội. Đây là nguyên nhân thứ tám, điều kiện hình thành thứ tám cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn.

Này Ānanda, đây là tám nguyên nhân, tám điều kiện hình thành cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn.

11. Lúc bấy giờ, tôn giả Ananda suy nghĩ: “Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?”.

12. Rồi tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?

13. - Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này Ananda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.

14. Lại nữa này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.

15. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita (Ðâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.

16. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến đại địa chấn động.

17. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến đại địa chấn động.

18. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn động.

19. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.

20. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động. Này Ananda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa chấn động. 21. Này Ananda, có tám chúng. Thế nào là tám. Chúng Sát-đế-Lỵ, chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Bốn Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên.

17. Tám hội chúng (Aṭṭhaparisā)

Này Ānanda, có tám hội chúng này. Tám hội chúng nào? Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng Gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội chúng chư thiên Tứ Thiên Vương, hội chúng chư thiên Đao Lợi, hội chúng Ma vương, hội chúng Phạm thiên.

Này Ānanda, Ta nhớ lại đã từng đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đó, Ta đã từng ngồi cùng họ, nói chuyện cùng họ, và thảo luận cùng họ. Màu da của họ thế nào, màu da của Ta cũng thế ấy. Giọng nói của họ thế nào, giọng nói của Ta cũng thế ấy. Ta dùng bài Pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ. Khi Ta đang nói, họ không biết: ‘Người đang nói này là ai, là chư thiên hay loài người?’ Sau khi dùng bài Pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, họ không biết: ‘Người vừa biến mất này là ai, là chư thiên hay loài người?’

Này Ānanda, Ta nhớ lại đã từng đi đến hàng trăm hội chúng Bà-la-môn… hội chúng Gia chủ… hội chúng Sa-môn… hội chúng chư thiên Tứ Thiên Vương… hội chúng chư thiên Đao Lợi… hội chúng Ma vương… hội chúng Phạm thiên. Tại đó, Ta đã từng ngồi cùng họ… Khi Ta biến mất, họ không biết: ‘Người vừa biến mất này là ai, là chư thiên hay loài người?’

Này Ānanda, đây là tám hội chúng.

22. Này Ananda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát -đế-lỵ hơn một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của chúng Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như vậy; giọng nói chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Ngươi chăng?”.

23. Này Ananda. Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Bà-la-môn hơn một trăm lần… chúng Cư sĩ… chúng Samôn… chúng Bốn Thiên vương… chúng Tam thập tam thiên… chúng Ma… chúng Phạm thiên hơn trăm lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào, dung sắc của Ta cũng vậy; giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất đó là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Này Ananda, như vậy là tám chúng.

18. Tám mốc làm chủ (Aṭṭhaabhibhāyatana)

Này Ānanda, có tám mốc làm chủ (thắng xứ / abhibhāyatana) này. Tám cõi nào?

Một người có nhận thức về hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài nhỏ bé, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ nhất.

Một người có nhận thức về hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài vô hạn, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ hai.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài nhỏ bé, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ ba.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài vô hạn, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ tư.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu xanh, sắc xanh, biểu hiện xanh, ánh sáng xanh. Giống như bông hoa Umā màu xanh… hay tấm vải Bārāṇasī nhẵn nhụi cả hai mặt màu xanh… Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ năm.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu vàng… Giống như bông hoa Kaṇikāra màu vàng… hay tấm vải Bārāṇasī… Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ sáu.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu đỏ… Giống như bông hoa Bandhujīvaka màu đỏ… hay tấm vải Bārāṇasī… Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ bảy.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu trắng… Giống như sao Mai màu trắng… hay tấm vải Bārāṇasī… Vị ấy biết rằng: ‘Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.’ Đây là mốc làm chủ thứ tám.

Này Ānanda, đây là tám mốc làm chủ.

24. Này Ananda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?

25. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.

26. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.

27. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.

28. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.

29. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh - như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.

30. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông Kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, tướng sắc vàng hình sắc vàng - như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.

31. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.

32. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng - như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Này Ananda như vậy là tám thắng xứ.

19. Tám sự giải thoát (Aṭṭhavimokkha)

Này Ānanda, có tám sự giải thoát (vimokkha) này. Tám sự nào?

Người có hình sắc nhìn thấy các hình sắc, đây là sự giải thoát thứ nhất.

Người có nhận thức về không hình sắc bên trong nhìn thấy các hình sắc bên ngoài, đây là sự giải thoát thứ hai.

Người chú tâm hoàn toàn vào cái đẹp, đây là sự giải thoát thứ ba.

Vượt qua hoàn toàn các nhận thức về hình sắc, do sự tan biến (diệt / atthaṅgama) của các nhận thức về va chạm, do không chú ý đến các nhận thức về sự khác biệt, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana) với suy nghĩ ‘Không gian là vô tận’, đây là sự giải thoát thứ tư.

Vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana) với suy nghĩ ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, đây là sự giải thoát thứ năm.

Vượt qua hoàn toàn cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana) với suy nghĩ ‘Không có vật gì’, đây là sự giải thoát thứ sáu.

Vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, vị ấy đạt đến và an trú trong xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana), đây là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, vị ấy đạt đến và an trú trong định làm ngưng Cảm giác và Nhận thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha), đây là sự giải thoát thứ tám.

Này Ānanda, đây là tám sự giải thoát.

(…)

Này Ānanda, có một thời Ta trú ở Uruvelā, trên bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây đa Ajapāla, khi vừa mới giác ngộ. Khi đó, này Ānanda, Ma vương Ác ma đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đứng một bên. Đứng một bên, này Ānanda, Ma vương Ác ma nói với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbātu); xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt.’ Khi được nói như vậy, này Ānanda, Ta đã nói với Ma vương Ác ma:

'Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo đệ tử của Ta trở nên tài giỏi… giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu. Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo ni đệ tử của Ta… các nam cư sĩ đệ tử của Ta… các nữ cư sĩ đệ tử của Ta trở nên tài giỏi… giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi đời sống phạm hạnh này trở nên thành công, thịnh vượng, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, cho đến khi được công bố rộng rãi cho chư thiên và loài người.’

Và ngay hôm nay, này Ānanda, tại đền Cāpāla, Ma vương Ác ma đã đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đứng một bên. Đứng một bên, này Ānanda, Ma vương Ác ma nói với Ta: ‘Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt… Và nay, bạch Thế Tôn, đời sống phạm hạnh của Thế Tôn đã trở nên thành công… Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt…’

Khi được nói như vậy, này Ānanda, Ta đã nói với Ma vương Ác ma: ‘Này Ác ma, hãy yên tâm, không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt.’ Và ngay hôm nay, này Ānanda, tại đền Cāpāla, Như Lai có sự tự quan sát (sato), nhận biết rõ ràng (sampajāno), đã từ bỏ hoạt động duy trì sự sống (āyusaṅkhāra)."

33. Này Ananda, tám giải thoát. Thế nào là tám?

Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.

Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải thoát thứ ba.

Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ; đó là sự giải thoát thứ tư.

Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.

Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu.

Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.

Này Ananda, như vậy là tám giải thoát.

34. Này Ananda, một thời Ta ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Ajapàlanigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ananda, lúc bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền đứng một bên. Này Ananda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.

35. Này Ananda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:

− “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có truyền bá Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp thần diệu.

Này Ác ma, Ta không diệt độ khi nào phạm hạnh mà Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.

36. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ác ma đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ananda, Ác ma đứng một bên nói với Ta như sau:

“Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hành phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.

Bạch Thế Tôn đây là lời Thế Thôn đã nói: “Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta… ; khi nào những cư sĩ của Ta… ; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.

37. Khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:

“Này Ác ma, hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ diệt độ”.

Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa).

20. Câu chuyện Ānanda thỉnh cầu (Ānandayācanakathā)

Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp, xin Bậc Thiện Thệ hãy sống trọn một kiếp vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.”

“Thôi đủ rồi, Ānanda. Đừng thỉnh cầu Như Lai nữa, nay không còn là lúc để thỉnh cầu Như Lai.”

Lần thứ hai tôn giả Ānanda… Lần thứ ba tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp…”

“Này Ānanda, ông có tin vào sự giác ngộ của Như Lai không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Vậy tại sao, này Ānanda, ông lại ép buộc Như Lai đến lần thứ ba?”

“Bạch Thế Tôn, con đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp: ‘Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập… được bốn cổng thần thông (iddhipādā)… Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.’”

“Ông có tin không, Ānanda?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông, vì khi Như Lai đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, ông đã không thể thấu hiểu, không thỉnh cầu Như Lai: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp…’ Nếu ông thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể từ chối hai lần, nhưng đến lần thứ ba sẽ nhận lời. Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, có một thời Ta trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Tại đó, Ta cũng đã gọi ông: ‘Này Ānanda, Rājagaha thật đáng yêu, núi Gijjhakūṭa thật đáng yêu. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập… được bốn cổng thần thông… Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.’ Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy… ông đã không thỉnh cầu Như Lai… Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, có một thời Ta trú ngay tại Rājagaha, ở Gotamanigrodha… ở Corapapāta… ở hang Sattapaṇṇi bên sườn núi Vebhāra… ở Kāḷasilā bên sườn núi Isigili… ở hang Sappasoṇḍika trong rừng Sīta… ở Tapodārāma… ở Kalandakanivāpa trong rừng Veḷuva… ở vườn xoài Jīvaka… ở vườn nai Maddakucchi.

Tại đó, Ta cũng đã gọi ông: ‘Này Ānanda, Rājagaha thật đáng yêu… Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập… được bốn cổng thần thông… Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.’ Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy… ông đã không thỉnh cầu Như Lai… Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, có một thời Ta trú ngay tại Vesālī này, ở đền Udena. Tại đó, Ta cũng đã gọi ông: ‘Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu, đền Udena thật đáng yêu… Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.’ Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy… ông đã không thỉnh cầu Như Lai… Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông. Này Ānanda, có một thời Ta trú ngay tại Vesālī này, ở đền Gotamaka… đền Sattamba… đền Bahuputta… đền Sārandada… và ngay hôm nay, này Ānanda, tại đền Cāpāla, Ta đã gọi ông: ‘Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu… đền Cāpāla thật đáng yêu… Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.’ Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, ông đã không thể thấu hiểu, không thỉnh cầu Như Lai…

Nếu ông thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể từ chối hai lần, nhưng đến lần thứ ba sẽ nhận lời. Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, chẳng phải Ta đã nói trước điều này sao: ‘Mọi thứ yêu thương, vừa ý đều phải chịu sự chia lìa, xa cách, biến đổi. Làm sao có thể có chuyện: Những gì được sinh ra, được hình thành, do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), chịu sự suy tàn (diệt pháp / vayadhamma), lại không bị tan rã? Điều đó không thể xảy ra.’ Những gì Như Lai đã từ bỏ, nôn mửa, giải thoát, loại bỏ, buông xả, tức là hoạt động duy trì sự sống đã được từ bỏ, và lời nói dứt khoát đã được thốt ra: ‘Không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt.’ Việc Như Lai rút lại điều đó vì lý do mạng sống là điều không thể xảy ra.

Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Hội trường Mái nhọn trong Rừng Lớn."

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cùng với tôn giả Ānanda đi đến Hội trường Mái nhọn trong Rừng Lớn; sau khi đến, Ngài gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy đi tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Vesālī vào hội trường.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Vesālī vào hội trường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tăng chúng tỳ kheo đã tập hợp, nay xin Thế Tôn làm những gì Ngài cho là đúng lúc.”

(…)

Rồi Thế Tôn đi đến hội trường; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Do đó, này các tỳ kheo, những Pháp mà Ta đã giảng dạy bằng sự hiểu biết trực tiếp, các vị phải khéo léo học tập, thực hành, tu tập và làm cho viên mãn, để đời sống phạm hạnh này được kéo dài và tồn tại lâu dài, vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Và này các tỳ kheo, những Pháp mà Ta đã giảng dạy bằng sự hiểu biết trực tiếp… đó là gì? Đó là—bốn nơi Tự Quan Sát (tứ niệm xứ / satipaṭṭhānā), bốn nỗ lực đúng đắn (tứ chánh cần / sammappadhānā), được bốn cổng thần thông (iddhipādā), năm năng lực kiểm soát (ngũ căn / indriyāni), năm sức mạnh (ngũ lực / balāni), bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ (thất giác chi / bojjhaṅgā), Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo).

Này các tỳ kheo, đây là những Pháp mà Ta đã giảng dạy bằng sự hiểu biết trực tiếp, các vị phải khéo léo học tập, thực hành, tu tập và làm cho viên mãn, để đời sống phạm hạnh này được kéo dài và tồn tại lâu dài, vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người."

Rồi Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

“Này các tỳ kheo, nay Ta khuyên các vị: Các hoạt động (hành / saṅkhāra) đều chịu sự suy tàn (diệt pháp / vayadhamma), hãy nỗ lực không buông lung. Không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt.”

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

"Tuổi đã chín, mạng còn ngắn ngủi;
Ta bỏ các vị mà đi,
Tự nương tựa chính mình.\

Tỳ kheo, không buông lung, tự quan sát, giữ đạo đức ;
Định tĩnh tâm, bảo vệ tâm của mình.

Ai không buông lung Pháp và Luật này;
Sẽ bỏ vòng luân hồ, chấm dứt đau khổ."

Tụng phẩm thứ ba.

38. Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.

− Thôi đi, này Ananda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ananda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.

39. Lần thứ hai, tôn giả Ananda… Lần thứ ba, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.

− Này Ananda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?

− Bạch Thế Tôn, con có tin!

− Vậy, này Ananda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.

40. - Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: “Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc… Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.

− Này Ananda, Ngươi có tin tưởng không?

− Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!

− Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.

41. Này Ananda, một thời Ta ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu (Gijjha Kuta). Tại đấy Ta nói với ngươi: “Này Ananda, khả ái thay thành Vương Xá! Khả ái thay núi Linh Thứu! Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.

42. Này Ananda, một thời Ta ở thành Vương Xá, tại Nigrodhàràma… Ta cũng ở thành Vương Xá tại Corapapàta… Ta cũng ở thành Vương Xá, hang Sattapanni trên núi Vebhàra… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại hang đá Kàla, trên núi Isigili… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại khu rừng Sita trong hang đá Sappasondika… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại Tapodàràma… Ta cũng ở thành Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka… Ta cũng ở thành Vương Xá, tại rừng Jìvakambavana… Ta cũng ở thành Vương Xá tại Maddakucchi ở Lộc Uyển.

43. Này Ananda, tại đấy Ta nói: “Này Ananda, khả ái thay thành Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả ái thay Nigrodhàràma, khả ái thay Corapapàta, khả ái thay hang Sattapanni trên núi Vebhara, khả ái thay hang đá Kàla trên núi Isigili, khả ái thay hang đá Sappasondika trong rừng Sìta, khả ái thay suối nước nóng Tapodàràma, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả ái thay rừng Jìvakambavana, khả ái thay vườn Nai ở tại Maddakucchi”!

44. “Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.

45. Này Ananda, một thời Ta ở Vesàli tại điện thờ Udena. Tại đấy, này Ananda, Ta cũng nói. “Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Như Lai: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho lời Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.

46. Này Ananda, một thời Ta ở thành Vesàli tại điện thờ Gotamaka… ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Sattambaka… Ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Bahuputta… Ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Sàrandada…

47. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ta nói với ngươi: “Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattamba, khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay đền Càpàla. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.

48. Này Ananda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ananda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy. Này Ananda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: “Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy.

Này Ananda, chúng ta hãy đi đến giảng đường Kùtagàra tại rừng Ðại Lâm.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

49. Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ananda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường này.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.

50. Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.

51. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ. Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:

Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.

21. Cái nhìn của voi chúa (Nāgāpalokita)

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát đi vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về, Ngài quay lại nhìn Vesālī với cái nhìn của voi chúa và gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, đây là lần cuối cùng Như Lai nhìn thấy Vesālī. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Bhaṇḍagāma.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Bhaṇḍagāma. Tại đó, Thế Tôn trú ở Bhaṇḍagāma. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

“Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt bốn Pháp mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Bốn Pháp nào? Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt đạo đức (sīla) của bậc thánh mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Định (samādhi) của bậc thánh… trí tuệ (paññā) của bậc thánh… sự giải thoát (vimokkha) của bậc thánh mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, khi đạo đức của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Định của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; trí tuệ của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; sự giải thoát của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt, thì sự thèm khát (taṇhā) cõi tồn tại (bhava) bị nhổ rễ, dây trói buộc vào cõi tồn tại (bhavanetti) bị cạn kiệt, nay không còn tái sinh nữa.”

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

"Đạo đức, Định, và trí tuệ,
cùng sự giải thoát vô thượng;
Pháp chứng xưng danh Gotama.

Phật người biết trực tiếp,
đã giảng Pháp cho các tỳ kheo;
Bậc Đạo Sư làm sự chấm dứt đau khổ,
Bậc Có Mắt đã đến nơi hoàn toàn chấm dứt."

Tại đó, khi trú ở Bhaṇḍagāma, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

“Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ. Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (avijjāsava).”

Tụng Phẩm IV

1. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesàli. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Bhandagàma.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhandagàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Bhandagàma.

2. Rồi Thế Tôn nói với Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.

3. Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:

Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng đã chứng ngộ.
Ðấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỷ-kheo.
Ðạo Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.

4. Trong thời gian Thế Tôn ở tại Bhandagàma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

22. Câu chuyện về Bốn Tiêu chuẩn tham chiếu lớn (Catumahāpadesakathā)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Bhaṇḍagāma cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Hatthigāma,

đến Ambagāma,

đến Jambugāma,

đến Bhoganagara."

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Bhoganagara. Tại đó, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại đền Ānanda.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, Ta sẽ giảng bốn tiêu chuẩn lớn để tham chiếu (đại giáo pháp / mahāpadesa), hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói:

"Ở đây, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: ‘Thưa các hiền giả, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi, cũng không nên vội bác bỏ. Không khen ngợi, không bác bỏ, các vị phải học kỹ từng câu từng chữ và đối chiếu với Kinh, so sánh với Luật. Nếu khi đối chiếu với Kinh, so sánh với Luật, chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; tỳ kheo này đã ghi nhận sai.’ Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu khi đối chiếu với Kinh, so sánh với Luật, chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; tỳ kheo này đã ghi nhận đúng.’ Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ nhất này.

Lại nữa, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: ‘Tại trú xứ tên là X, có một Tăng chúng đang sống cùng với các vị trưởng lão, các vị lãnh đạo. Tôi đã nghe trực tiếp từ Tăng chúng đó, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi, cũng không nên vội bác bỏ… Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; Tăng chúng đó đã ghi nhận sai.’ Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; Tăng chúng đó đã ghi nhận đúng.’ Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ hai này.

Lại nữa, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: ‘Tại trú xứ tên là X, có nhiều tỳ kheo trưởng lão đang sống, học rộng, thông thạo truyền thống, gìn giữ Pháp, gìn giữ Luật, gìn giữ các bản tóm tắt. Tôi đã nghe trực tiếp từ các vị trưởng lão đó, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi… Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; các vị trưởng lão đó đã ghi nhận sai.’ Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; các vị trưởng lão đó đã ghi nhận đúng.’ Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ ba này.

Lại nữa, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: ‘Tại trú xứ tên là X, có một tỳ kheo trưởng lão đang sống, học rộng, thông thạo truyền thống, gìn giữ Pháp, gìn giữ Luật, gìn giữ các bản tóm tắt. Tôi đã nghe trực tiếp từ vị trưởng lão đó, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi, cũng không nên vội bác bỏ… Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; vị trưởng lão đó đã ghi nhận sai.’ Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: ‘Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; vị trưởng lão đó đã ghi nhận đúng.’ Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ tư này.

Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ bốn tiêu chuẩn lớn để tham chiếu này."

Tại đó, khi trú ở Bhoganagara tại đền Ānanda, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

“Đây là đạo đức, đây là Định, đây là trí tuệ. Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác, đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan, nguồn ác của mong muốn hiện hữu, nguồn ác của Không Hiểu Biết.”

5. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhandagàma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam… Ambagama… Jambugama…, hãy đi đến Bhoganagara.

6. - Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.

7. Tại đây, Thế Tôn ở Bhoganagara tại đền Ananda, Ngài nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau:

8. - Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Này Hiển giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sanh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm. Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các Ngươi hãy thọ trì.

9. Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.

10. Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì. 11. Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, bốn Ðại giáo pháp này, các Ngươi hãy thọ trì.

23. Câu chuyện về Cunda, con trai người thợ rèn (Kammāraputtacundavatthu)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Bhoganagara cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pāvā.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Pāvā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Pāvā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.

Cunda, con trai người thợ rèn, nghe tin: “Thế Tôn đã đến Pāvā và đang trú tại vườn xoài của ta.” Rồi Cunda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Cunda ngồi một bên, Thế Tôn đã dùng bài pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ. Rồi Cunda, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đã bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa ngày mai của con cùng với đại chúng tỳ kheo.” Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi Cunda, biết Thế Tôn đã nhận lời, liền đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Rồi Cunda, khi đêm đã qua, cho chuẩn bị thức ăn thượng vị loại cứng và loại mềm tại nhà mình, cùng với nhiều món sūkaramaddava (sūkaramaddava), rồi báo giờ cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.”

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát, cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến nhà của Cunda; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi Cunda: “Này Cunda, món sūkaramaddava mà ông đã chuẩn bị, hãy dọn cho Ta. Còn những thức ăn loại cứng và loại mềm khác đã chuẩn bị, hãy dọn cho đại chúng tỳ kheo.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Cunda đáp lời Thế Tôn và dọn món sūkaramaddava đã chuẩn bị cho Thế Tôn. Còn những thức ăn loại cứng và loại mềm khác đã chuẩn bị, ông dọn cho đại chúng tỳ kheo.

Rồi Thế Tôn gọi Cunda: “Này Cunda, món sūkaramaddava còn lại, hãy chôn xuống một cái hố. Này Cunda, Ta không thấy ai trong thế giới chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong quần chúng sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người, ăn món này mà có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Cunda đáp lời Thế Tôn, chôn món sūkaramaddava còn lại xuống một cái hố, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Cunda ngồi một bên, Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, rồi đứng dậy rời đi.

(…)

Rồi Thế Tôn, sau khi dùng bữa ăn của Cunda, một căn bệnh trầm trọng khởi lên, bệnh kiết lỵ ra máu, những cảm giác khó chịu (dukkha-vedanā) dữ dội, gần như chết, xuất hiện. Thế Tôn có sự tự quan sát (sato), nhận biết rõ ràng (sampajāno), chịu đựng chúng mà không bị phiền não. Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kusinārā.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Nghe nói, sau khi dùng bữa ăn của Cunda, con trai người thợ rèn; Bậc Trí Giả đã mắc phải căn bệnh dữ dội, gần như chết.

Sau khi ăn món sūkaramaddava, Căn bệnh dữ dội đã khởi lên nơi Bậc Đạo Sư; Đang bị tiêu chảy, Thế Tôn nói: “Ta sẽ đi đến thành Kusinārā.”

12. Trong khi Thế Tôn ở tại Bhoganagara, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

− Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

13. Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt.

14. Thợ sắt Cunda nghe: “Nay Thế Tôn đã đến Pàvà và hiện đang ở trong vườn xoài của ta”. Rồi thợ sắt Cunda đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.

15. Và thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoa hỷ, liền bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.

16. Thợ sắt Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt.

17. Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và nhiều thứ Sùkara-maddave (một loại mộc nhĩ), và báo tin cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.

18. Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:

− Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỷ-kheo. − Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.

19. Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:

− Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Thợ sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

20. Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tĩnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.

Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
“Ta đi đến thành Kusinàra”.

24. Mang nước uống (Pānīyāharaṇa)

Rồi Thế Tôn bước ra khỏi đường, đi đến một gốc cây; sau khi đến, Ngài gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy gấp y Tăng-già-lê làm bốn và trải ra cho Ta, Ta đang mệt, này Ānanda, Ta muốn ngồi.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn và trải y Tăng-già-lê gấp làm bốn. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn.

Ngồi xuống, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy mang nước uống cho Ta, Ta đang khát, này Ānanda, Ta muốn uống.”

Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe đi qua, dòng nước bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy. Bạch Thế Tôn, dòng sông Kakudhā cách đây không xa, nước trong, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bến lội tốt, thật đáng yêu. Tại đó Thế Tôn có thể uống nước và làm mát cơ thể.”

Lần thứ hai Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy mang nước uống cho Ta, Ta đang khát, này Ānanda, Ta muốn uống.” Lần thứ hai tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe đi qua… Tại đó Thế Tôn có thể uống nước và làm mát cơ thể.”

Lần thứ ba Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy mang nước uống cho Ta, Ta đang khát, này Ānanda, Ta muốn uống.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, cầm bình bát đi đến dòng sông nhỏ đó. Và dòng sông nhỏ đó, dù bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy, nhưng khi tôn giả Ānanda đến gần, nó lại chảy trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục.

Rồi tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, thần thông lớn và uy lực lớn của Như Lai. Dòng sông nhỏ này bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy, nhưng khi ta đến gần, nó lại chảy trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục.” Lấy nước vào bát, vị ấy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn, thần thông lớn và uy lực lớn của Như Lai. Vừa rồi dòng sông nhỏ đó bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy, nhưng khi con đến gần, nó lại chảy trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục. Xin Thế Tôn hãy uống nước, xin Bậc Thiện Thệ hãy uống nước.” Rồi Thế Tôn uống nước.

21. Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.

22. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

23. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Lần thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

24. Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.

25. Tôn giả Ananda tự nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục”. Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!

Và Thế Tôn uống nước.

25. Câu chuyện về Pukkusa dòng dõi Malla (Pukkusamallaputtavatthu)

Lúc bấy giờ, Pukkusa dòng dõi Malla, một đệ tử của Āḷāra Kālāma, đang đi trên đường từ Kusinārā đến Pāvā. Pukkusa thấy Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Thấy vậy, ông đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Pukkusa bạch Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn, những người xuất gia sống trong trạng thái an tịnh thật sự.

Bạch Thế Tôn, thuở xưa Āḷāra Kālāma đang đi trên đường, bước ra khỏi đường và ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây cách đó không xa. Khi đó, bạch Thế Tôn, có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên Āḷāra Kālāma. Rồi một người đi theo sau đoàn xe đó đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, hỏi Āḷāra Kālāma: ‘Thưa ngài, ngài có thấy khoảng năm trăm cỗ xe đi qua không?’

‘Này bạn, tôi không thấy.’

‘Nhưng thưa ngài, ngài có nghe tiếng ồn không?’

‘Này bạn, tôi không nghe tiếng ồn.’

‘Nhưng thưa ngài, ngài có đang ngủ không?’

‘Này bạn, tôi không ngủ.’

‘Nhưng thưa ngài, ngài có nhận thức không?’

‘Có, này bạn.’

‘Vậy thưa ngài, ngài có nhận thức, đang thức, mà khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên ngài lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn; thậm chí y Tăng-già-lê của ngài còn bị bụi phủ đầy sao?’

‘Đúng vậy, này bạn.’

Khi đó, bạch Thế Tôn, người đó suy nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, những người xuất gia sống trong trạng thái an tịnh thật sự. Đến mức có nhận thức, đang thức, mà khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn.’ Người đó bày tỏ niềm tin to lớn đối với Āḷāra Kālāma rồi rời đi."

“Này Pukkusa, ông nghĩ sao, điều nào khó làm hơn, khó thực hiện hơn—một người có nhận thức, đang thức, mà khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn; hay một người có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn?”

“Bạch Thế Tôn, năm trăm cỗ xe, sáu trăm, bảy trăm, tám trăm, chín trăm, một ngàn, hay một trăm ngàn cỗ xe thì có nghĩa lý gì. Điều này mới khó làm hơn, khó thực hiện hơn: một người có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn.”

"Này Pukkusa, có một thời Ta trú ở Ātumā, trong một ngôi nhà chứa trấu. Lúc bấy giờ, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh, cách ngôi nhà chứa trấu không xa, có hai anh em nông dân và bốn con bò bị sét đánh chết. Rồi này Pukkusa, một đám đông lớn ở Ātumā kéo đến chỗ hai anh em nông dân và bốn con bò bị sét đánh chết.

Lúc bấy giờ, này Pukkusa, Ta bước ra khỏi ngôi nhà chứa trấu và đang đi kinh hành ngoài trời trước cửa nhà. Rồi này Pukkusa, một người từ đám đông đó đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, này Pukkusa, Ta hỏi người đó: ‘Này bạn, đám đông lớn này tụ tập làm gì vậy?’

‘Bạch Thế Tôn, vừa rồi khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh, có hai anh em nông dân và bốn con bò bị sét đánh chết. Đám đông lớn này tụ tập ở đó. Nhưng bạch Thế Tôn, ngài đã ở đâu?’

‘Này bạn, Ta ở ngay đây.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có thấy không?’

‘Này bạn, Ta không thấy.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có nghe tiếng ồn không?’

‘Này bạn, Ta không nghe tiếng ồn.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có đang ngủ không?’

‘Này bạn, Ta không ngủ.’

‘Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có nhận thức không?’

‘Có, này bạn.’

‘Vậy bạch Thế Tôn, ngài có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn sao?’

‘Đúng vậy, này bạn.’

Khi đó, này Pukkusa, người đó suy nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, những người xuất gia sống trong trạng thái an tịnh thật sự. Đến mức có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn.’ Người đó bày tỏ niềm tin to lớn đối với Ta, đảnh lễ Ta, đi nhiễu quanh Ta rồi rời đi."

Khi được nói như vậy, Pukkusa bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, niềm tin của con đối với Āḷāra Kālāma, con xin tung nó vào cơn gió lớn hoặc thả trôi theo dòng sông chảy xiết. Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Giống như người lật ngửa những gì bị úp sấp, mở bày những gì bị che khuất, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình sắc; cũng vậy, Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ Pháp. Con xin nương tựa Thế Tôn, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng chúng. Xin Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến trọn đời con xin nương tựa.”

Rồi Pukkusa gọi một người: “Này bạn, hãy mang đến cho tôi cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc.”

“Thưa vâng, thưa ngài,” người đó đáp lời Pukkusa và mang đến cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc. Rồi Pukkusa dâng cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc đó lên Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đây là cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc, xin Thế Tôn vì lòng thương tưởng mà nhận lấy cho con.”

“Vậy thì, này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một cái, và đắp cho Ānanda một cái.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Pukkusa đáp lời Thế Tôn, đắp cho Thế Tôn một cái, và đắp cho tôn giả Ānanda một cái.

Rồi Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ Pukkusa. Rồi Pukkusa, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Rồi tôn giả Ānanda, không lâu sau khi Pukkusa rời đi, đã mang chiếc y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc đó đắp lên cơ thể Thế Tôn. Khi được đắp lên cơ thể Thế Tôn, nó dường như mất đi vẻ sáng chói. Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn, màu da của Như Lai thật vô cùng thanh tịnh và sáng ngời. Bạch Thế Tôn, chiếc y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc này khi được đắp lên cơ thể Thế Tôn, dường như mất đi vẻ sáng chói.”

"Đúng vậy, Ānanda, đúng vậy, Ānanda. Có hai thời điểm màu da của Như Lai trở nên vô cùng thanh tịnh và sáng ngời. Hai thời điểm nào? Đêm mà Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Giác, và đêm mà Như Lai đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbāyati) trong giới Niết-bàn không còn dư tàn. Này Ānanda, đây là hai thời điểm màu da của Như Lai trở nên vô cùng thanh tịnh và sáng ngời.

Và hôm nay, này Ānanda, vào canh cuối của đêm, tại Kusinārā, trong rừng sāla của người Malla ở Upavattana, giữa hai cây sāla song sinh, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbāna). Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến dòng sông Kakudhā."

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, Pukkusa đã dâng lên; Bậc Đạo Sư được đắp y đó, tỏa sáng như màu vàng ròng.

(…)

Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến dòng sông Kakudhā; sau khi đến, lội xuống sông Kakudhā, tắm, uống nước, rồi đi lên và đi đến vườn xoài. Sau khi đến, Ngài gọi tôn giả Cundaka: “Này Cundaka, hãy gấp y Tăng-già-lê làm bốn và trải ra cho Ta, Ta đang mệt, này Cundaka, Ta muốn nằm.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Cundaka đáp lời Thế Tôn và trải y Tăng-già-lê gấp làm bốn. Rồi Thế Tôn nằm nghiêng bên phải theo dáng sư tử, đặt chân này lên chân kia, có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, giữ trong tâm ý niệm thức dậy. Còn tôn giả Cundaka ngồi ngay phía trước Thế Tôn.

Đức Phật đi đến dòng sông Kakudhā, Nước trong, nước ngọt, sáng sủa; Bậc Đạo Sư lội xuống, dáng vẻ không mệt mỏi, Như Lai, bậc không ai sánh bằng ở đời.

Tắm và uống xong, Bậc Đạo Sư đi lên, Đi giữa đại chúng tỳ kheo; Bậc thuyết giảng Pháp ở đời, Bậc Đại Tiên đi đến vườn xoài.

Ngài gọi tỳ kheo tên là Cundaka, “Hãy trải y gấp làm bốn cho Ta nằm”; Được yêu cầu, Cunda với tâm tu tập, Nhanh chóng trải y gấp làm bốn; Bậc Đạo Sư nằm xuống, dáng vẻ không mệt mỏi, Cunda cũng ngồi ngay phía trước.

Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda:

"Này Ānanda, có thể ai đó sẽ làm cho Cunda, con trai người thợ rèn, sinh lòng hối hận: ‘Này bạn Cunda, thật là tổn thất cho bạn, thật là xui xẻo cho bạn, khi Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng của bạn rồi đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbuto).’ Này Ānanda, sự hối hận của Cunda cần phải được xua tan như sau: 'Này bạn Cunda, thật là lợi ích cho bạn, thật là may mắn cho bạn, khi Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng của bạn rồi đến hoàn toàn chấm dứt. Này bạn Cunda, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp:

Có hai bữa ăn có quả báo bằng nhau, kết quả bằng nhau, mang lại quả lớn hơn và lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa ăn khác. Hai bữa ăn nào? Bữa ăn mà sau khi dùng, Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Giác, và bữa ăn mà sau khi dùng, Như Lai đến hoàn toàn chấm dứt trong giới Niết-bàn không còn dư tàn. Hai bữa ăn này có quả báo bằng nhau, kết quả bằng nhau, mang lại quả lớn hơn và lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa ăn khác.

Tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến tuổi thọ, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến sắc đẹp, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến hạnh phúc (lạc / sukha), tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến danh tiếng, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến cõi trời, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến quyền lực.’ Này Ānanda, sự hối hận của Cunda cần phải được xua tan như vậy."

Rồi Thế Tôn, hiểu rõ ý nghĩa này, ngay lúc đó đã thốt lên lời cảm hứng này:

“Người cho đi, phước báu tăng trưởng, Người tự kiềm chế, hận thù không tích tụ; Người thiện từ bỏ điều ác, Do cạn kiệt tham, sân, si, đạt được sự tĩnh lặng.”

Tụng phẩm thứ tư.

26. Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alàra Kàlàma đang đi trên con đường từ Kusinàra đến Pàvà.

Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!

27. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, ngài Alàra Kàlàma đang đi trên đường. Rồi ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây, không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua gần ngài Alàra Kàlàma. Bạch Thế Tôn, có một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy, đễn chỗ ngài Alàra Kàlàma và nói với ngài: “Tôn giả có thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua không?” - “Này Hiền giả, ta không thấy”. - “Tôn giả có nghe tiếng không?” - “Này Hiền giả, ta không nghe tiếng”. - “Có phải Tôn giả đang ngủ không?” - “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. - “Vậy có phải Tôn giả đang thức tỉnh?” - “Này Hiển giả, ta đang thức tỉnh”. - “Tôn giả đang thức tỉnh nhưng không thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe thấy tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả cũng bị lấm bụi”. - “Này Hiền giả, phải, áo ta bị lấm bụi”. Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh, còn thức nhưng không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng”. Sau khi tỏ sự thâm tín đối với ngài Alàra Kàlàma, vị ấy từ biệt.

28. - Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh, còn thức mà không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng?

29. - Bạch Thế Tôn, nói gì đến năm trăm cỗ xe này, cho đến hoặc sáu trăm, hoặc bảy trăm, hoặc tám trăm, hoặc chín trăm, hoặc một ngàn, cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng không thể so sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy cũng không nghe tiếng.

30. - Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà đập lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ Atumà đi ra đến tại chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết…

31. Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa, Này Pukkusa, có một người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chờ Ta, đảnh lễ và đứng một bên. Và Ta nói với người ấy đang đứng một bên:

32: - “Này Hiền giả, vì sao có số đông người tụ họp như vậy?” - Bạch Thế Tôn vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy mà có số đông người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?” - “Này Hiền giả, lúc ấy Ta ở tại đây”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả sao?” - “Này Hiền giả, Ta không thấy gì”. - “Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?” - “Này Hiền giả, Ta không nghe tiếng gì?” - “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ, phải không?” - “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. - “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?” - “Này Hiền giả, phải”. - “Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết, nhưng Ngài không thấy, cũng không nghe gì”. - Này Hiền giả, phải như vậy”.

33. Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức tỉnh, dầu có mưa tầm tã ào ào, điện quang chói lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết mà không thấy gì, không nghe gì hết”. Sau khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt.

34. Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Mallà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với ngài Alàra, Kàlàma, nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

35. Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: “Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc”. - “Tôn giả, xin vâng”. Người ấy vâng lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.

Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói:

− Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.

− Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ananda một áo.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Pukkusa, dòng họ Mallà vân lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ananda.

36. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.

37. Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi.

− Thật vậy, này Ananda. Này Ananda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai? Này Ananda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa. Này Ananda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói.

38. Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sàla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sàla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn:

Cặp áo kim sắc này.
Pukkusa mang đến.
Ðắp áo kim sắc này,
Da Ðạo Sư sáng chói.

39. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka:

− Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ. − Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.

40. Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.

41.

Ðức Phật tự đi đến
Con sông Kakutthà.
Con sông chảy trong sáng.
Mát lạnh và thanh tịnh.
Vị Ðạo Sư mỏi mệt
Ði dần xuống mé sông.
Như Lai đấng Vô Thương
Ngự trị ở trên đời
Tắm xong, uống nước xong,
Lội qua bên kia sông.
Bậc Ðạo Sư đi trước,
Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,
Vừa đi vừa diễn giảng.
Chánh pháp thật vi diệu.
Rồi bậc Ðại Sĩ đến,
Tại khu vực rừng xoài.
Cho gọi vị Tỷ-kheo,
Tên họ Cundaka:
“Hãy gấp tư áo lại,
Trải áo cho ta nằm.
Nghe dạy, Cundaka
Lập tức vâng lời dạy,
Gấp tư và trải áo,
Một cách thật mau lẹ.
Bậc Ðạo Sư nằm xuống
Thân mình thật mệt mỏi.
Tại đây Cundaka,
Ngồi ngay phía trước mặt.

42. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: “Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt”. Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: “Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: “Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai? Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ đợưc hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền”.

Này Ananda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.

43. Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm khái như sau:

Công đức người bố thí,
Luôn luôn được tăng trưởng,
Trừ được tâm hận thù.
Không chất chứa, chế ngựa,
Kẻ chí thiện từ bỏ.
Mọi ác hạnh bất thiện,
Diệt trừ tham, sân, si.
Tâm giải thoát thanh tịnh.

26. Cặp cây Sāla (Yamakasālā)

Khi ấy, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến bờ bên kia sông Hiraññavatī, hướng về Kusinārā, đến rừng cây Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana.”

“Vâng, thưa ngài,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Sau đó, Thế Tôn cùng với một hội chúng tỳ-kheo lớn đi đến bờ bên kia sông Hiraññavatī, hướng về Kusinārā, đến rừng cây Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana. Khi đến nơi, ngài gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy dọn cho ta một chỗ nằm giữa cặp cây Sāla, đầu hướng về phía bắc. Ta đang mệt mỏi, này Ānanda, ta muốn nằm nghỉ.”

“Vâng, thưa ngài,” tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn và dọn một chỗ nằm giữa cặp cây Sāla, đầu hướng về phía bắc. Sau đó, Thế Tôn nằm nghiêng bên phải, theo dáng nằm của sư tử, đặt chân này lên chân kia, quan sát và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / sato sampajāno).

Vào lúc bấy giờ, cặp cây Sāla nở hoa rực rỡ dù trái mùa. Những bông hoa ấy rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) để cúng dường Người Đến Như Vậy. Những bông hoa Mandārava từ cõi trời cũng rơi xuống từ hư không, rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy để cúng dường. Bột trầm hương từ cõi trời cũng rơi xuống từ hư không, rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy để cúng dường. Âm nhạc cõi trời vang lên trong không trung để cúng dường Người Đến Như Vậy. Những bài ca cõi trời vang vọng trong không trung để cúng dường Người Đến Như Vậy.

Khi ấy, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, cặp cây Sāla đang nở hoa rực rỡ dù trái mùa. Chúng rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy để cúng dường. Hoa Mandārava, bột trầm hương cõi trời rơi xuống, âm nhạc và bài ca cõi trời vang lên để cúng dường Người Đến Như Vậy. Nhưng này Ānanda, không phải bằng những cách này mà Người Đến Như Vậy được tôn trọng, tôn kính, kính trọng, cúng dường hay suy tôn. Này Ānanda, bất kỳ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ hay nữ cư sĩ nào sống thực hành Điều dạy (Pháp / Dhamma) thuận theo Điều dạy, sống chân chính, hành xử theo Điều dạy, thì người đó đang tôn trọng, tôn kính, kính trọng, cúng dường và suy tôn Người Đến Như Vậy bằng sự cúng dường cao thượng nhất. Do đó, này Ānanda, các vị phải rèn luyện thế này: ‘Chúng ta sẽ sống thực hành Điều dạy thuận theo Điều dạy, sống chân chính, hành xử theo Điều dạy’.”

Tụng Phẩm V

1. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hirannavati, đến ở Kusinàrà - Upavatama - rừng Sàlà của dòng họ Màllà.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.

2. Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.

3. Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda: – Này Ananada, các cây sàlà song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.

Nhưng, này Ananda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy.

27. Trưởng lão Upavāṇa

Vào lúc bấy giờ, tôn giả Upavāṇa đang đứng trước mặt Thế Tôn để quạt cho ngài. Thế Tôn liền bảo tôn giả Upavāṇa lùi lại: “Hãy lùi ra, tỳ-kheo, đừng đứng trước mặt ta.”

Tôn giả Ānanda liền nghĩ: “Tôn giả Upavāṇa này đã là thị giả của Thế Tôn từ lâu, luôn ở gần, luôn kề cận. Vậy mà trong giờ phút cuối cùng, Thế Tôn lại bảo tôn giả Upavāṇa lùi lại: ‘Hãy lùi ra, tỳ-kheo, đừng đứng trước mặt ta.’ Nguyên nhân là gì, điều kiện (duyên / paccaya) là gì mà Thế Tôn lại bảo tôn giả Upavāṇa lùi lại?”

Rồi tôn giả Ānanda hỏi Thế Tôn: “Thưa ngài, tôn giả Upavāṇa này đã là thị giả từ lâu… Nguyên nhân là gì, điều kiện là gì mà ngài lại bảo tôn giả lùi lại?”

“Này Ānanda, chư thiên từ mười hệ thống thế giới phần lớn đã tụ tập lại để chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy. Xung quanh rừng cây Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana, Kusinārā, trong vòng mười hai do-tuần, không có một khoảng trống nào dù chỉ bằng đầu sợi lông mà không chật kín những vị chư thiên có uy lực lớn. Này Ānanda, chư thiên đang phàn nàn: ‘Chúng ta đã từ xa đến để chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy. Rất hiếm khi các vị Người Đến Như Vậy, những Bậc Xứng Đáng, những Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn xuất hiện trên đời. Và ngay đêm nay, vào canh cuối, sự chấm dứt hoàn toàn (viên tịch / parinibbāna) của Người Đến Như Vậy sẽ diễn ra. Thế mà vị tỳ-kheo có uy lực lớn này lại đứng che khuất trước mặt Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy trong giờ phút cuối cùng’.”

“Thưa ngài, Thế Tôn đang suy nghĩ (tác ý / manasikāra) đến những chư thiên có trạng thái tâm như thế nào?”

"Này Ānanda, có những chư thiên ở trên hư không nhưng lại có Nhận Thức (tưởng / saññā) bám víu vào đất, họ xõa tóc than khóc, giơ cao hai tay than khóc, ngã quỵ xuống, lăn lộn qua lại, than vãn: ‘Quá sớm, Thế Tôn sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Bậc Thiện Thệ sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Con Mắt của thế gian sẽ biến mất!’

Này Ānanda, có những chư thiên ở trên mặt đất có Nhận Thức bám víu vào đất, họ xõa tóc than khóc… ‘Quá sớm, Con Mắt của thế gian sẽ biến mất!’

Nhưng những chư thiên nào đã cạn hết đắm nhiễm (ly tham / vītarāgā), họ quan sát và nhận biết rõ ràng, chịu đựng với suy nghĩ: ‘Các hoạt động (hành / saṅkhārā) là không thường hằng (vô thường / anicca), làm sao có thể mong cầu điều khác được?’"

4. Lúc bấy giờ, tôn giả Upavàna đứng trước mặt Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.”

Tôn giả Ananda, liền tự suy nghĩ: “Ðại đức Upavàna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”. Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta”?.

5. Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Ðại đức Upavàna này là thị giả, sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.” Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”?

– Này Ananda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ananda, cho đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sàlà thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy những Thiên thần có uy lực tụ họp. Này Ananda, các vị Thiên Thần đang than phiền: “Chúng ta từ rất xa đến chiêm ngưỡng Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh cuối cùng, Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỷ-kheo có oai lực này lại đứng ngang trước Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Như Lai trong giờ phút cuối cùng”. Này Ananda, các chư Thiên than phiền như vậy.

6. – Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?

− Này Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, ới đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Này Ananda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế tục những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại:

“Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Có chư Thiên đã diệt trừ ái dục, những vị này bình thản, tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao sự kiện có thể khác được?”

28. Bốn nơi đáng để tôn kính

“Thưa ngài, trước đây, sau khi an cư mùa mưa ở các phương, các tỳ-kheo thường đến để chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy. Chúng con được gặp gỡ và hầu hạ những tỳ-kheo đáng kính trọng. Nhưng sau khi Thế Tôn qua đời, chúng con sẽ không còn được gặp gỡ và hầu hạ những tỳ-kheo đáng kính trọng nữa.”

"Này Ānanda, có bốn nơi này đáng để một người con gia đình có niềm tin đến chiêm ngưỡng và tôn kính. Bốn nơi nào? ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy đản sinh’ — này Ānanda, đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy giác ngộ sự Giác Ngộ Hoàn Toàn Vô Thượng’ — đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy vận chuyển bánh xe Quy luật vô thượng’ — đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy chấm dứt hoàn toàn trong giới hạn của Niết-bàn không còn tàn dư’ — đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ānanda, đây là bốn nơi đáng để một người con gia đình có niềm tin đến chiêm ngưỡng và tôn kính.

Này Ānanda, những tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ có niềm tin sẽ đến và nói: ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy đản sinh’, ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy giác ngộ…’, ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy vận chuyển bánh xe…’, ‘Đây là nơi Người Đến Như Vậy chấm dứt hoàn toàn…’. Này Ānanda, bất cứ ai đi hành hương đến các tháp tưởng niệm với tâm trong sạch mà qua đời, tất cả họ sau khi cơ thể tan vỡ, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi lành, thế giới thiên đường."

7. – Bạch Thế Tôn, thuở trước các Tỷ-kheo sau khi thọ an cư, từ các địa phương đến chiêm ngưỡng Như Lai, chúng con được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nhập diệt, chúng con sẽ không được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện.

8. - Này Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?

“Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”. Này Ananda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư si nữ sẽ đến với niềm suy tư: “Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”, “Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, Nhập Vô dư y Niết-bàn”.

Này Ananda, và những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.

9. – Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?

– Này Ananda, chớ có thấy chúng.

– Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?

– Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.

– Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?

– Này Ananda, phải an trú chánh niệm.

29. Những câu hỏi của Ānanda

“Thưa ngài, chúng con nên cư xử thế nào với phụ nữ?” “Không nhìn, này Ānanda.” “Nếu phải nhìn, thưa Thế Tôn, thì nên cư xử thế nào?” “Không nói chuyện, này Ānanda.” “Nếu phải nói chuyện, thưa ngài, thì nên cư xử thế nào?” “Phải thiết lập sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati), này Ānanda.”

“Thưa ngài, chúng con nên xử lý thân thể của Người Đến Như Vậy như thế nào?” “Này Ānanda, các vị đừng bận tâm đến việc cúng dường thân thể của Người Đến Như Vậy. Này Ānanda, các vị hãy nỗ lực cho mục đích cốt lõi của chính mình, hãy dấn thân vào mục đích cốt lõi, hãy sống sáng suốt (không phóng dật / appamāda), nhiệt tâm, kiên quyết hướng đến mục đích cốt lõi. Này Ānanda, có những người trí thức thuộc giai cấp chiến binh, trí thức Bà-la-môn, trí thức chủ nhà có niềm tin sâu sắc vào Người Đến Như Vậy, họ sẽ lo việc cúng dường thân thể của Người Đến Như Vậy.”

“Nhưng thưa ngài, thân thể của Người Đến Như Vậy nên được xử lý như thế nào?” “Này Ānanda, người ta xử lý thân thể của một Vua cai trị toàn cầu (Chuyển luân vương / cakkavattī) như thế nào, thì hãy xử lý thân thể của Người Đến Như Vậy như thế ấy.” “Thưa ngài, người ta xử lý thân thể của một Vua cai trị toàn cầu như thế nào?” "Này Ānanda, họ bọc thân thể của Vua cai trị toàn cầu bằng vải mới, sau đó bọc bằng bông tơi, rồi lại bọc bằng vải mới. Bằng cách này, họ bọc thân thể bằng năm trăm lớp vải kép, rồi đặt vào một vại sắt chứa dầu, đậy lại bằng một vại sắt khác, xây một giàn thiêu bằng mọi loại gỗ thơm và hỏa thiêu thân thể của Vua cai trị toàn cầu. Họ xây một tháp tưởng niệm (tháp / thūpa) cho Vua cai trị toàn cầu ở ngã tư đường. Này Ānanda, đó là cách họ xử lý thân thể của Vua cai trị toàn cầu. Cách xử lý thân thể của Vua cai trị toàn cầu ra sao, thì cách xử lý thân thể của Người Đến Như Vậy cũng như vậy. Một tháp tưởng niệm cho Người Đến Như Vậy nên được xây ở ngã tư đường. Tại đó, những ai dâng vòng hoa, hương liệu, bột thơm, hoặc đảnh lễ, hoặc làm cho tâm mình trong sạch, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.

10. – Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự thân xá-lợi Như Lai như thế nào?

– Này Ananda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề cung kính thân xá-lợi của Như Lai. Này Ananda, các Người hãy nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần mẫn, chuyên hướng về tự độ. Này Ananda, có những học giả Sát-đế-lỵ, những học giả Bà-la-môn, những học giả gia chủ thâm tín Như Lai, những vị này sẽ lo cho sự cung kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.

11. – Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai như thế nào?

– Này Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương như thế nào, hãy xử sự thân xá-lợi Như Lai như vậy. – Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân chuyển luân Thánh vương như thế nào?

– Này Ananda, thân của Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bệnh, lại vấn thêm với vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt vào trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân của vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này và tại ngã tư đường, tháp của vị Chuyển luân Thánh vương được xây dựng lên. Này Ananda, đó là pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương.

Này Ananda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp, hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.

30. Những người xứng đáng được xây tháp

Này Ānanda, có bốn hạng người xứng đáng được xây tháp tưởng niệm. Bốn hạng người nào? Người Đến Như Vậy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn xứng đáng được xây tháp; Bậc Tự Mình Giác Ngộ Độc Lập (Paccekabuddha) xứng đáng được xây tháp; Đệ tử của Người Đến Như Vậy xứng đáng được xây tháp; Vua cai trị toàn cầu xứng đáng được xây tháp.

Này Ānanda, dựa vào lý do gì mà Người Đến Như Vậy… xứng đáng được xây tháp? Này Ānanda, nhiều người sẽ làm cho tâm mình trong sạch khi nghĩ rằng: ‘Đây là tháp của Thế Tôn, Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn’. Sau khi làm tâm trong sạch tại đó, khi cơ thể tan vỡ, sau khi chết, họ sẽ tái sinh vào cõi lành, thế giới thiên đường. Đây là lý do…

Dựa vào lý do gì mà Bậc Tự Mình Giác Ngộ Độc Lập xứng đáng được xây tháp? … ‘Đây là tháp của Bậc Tự Mình Giác Ngộ Độc Lập’…

Dựa vào lý do gì mà Đệ tử của Người Đến Như Vậy xứng đáng được xây tháp? … ‘Đây là tháp của Đệ tử của Thế Tôn’…

Dựa vào lý do gì mà Vua cai trị toàn cầu xứng đáng được xây tháp? … ‘Đây là tháp của vị vua cai trị theo Quy luật chân chính’…

Này Ānanda, đây là bốn hạng người xứng đáng được xây tháp."

12. Này Ananda, bốn hạng người sau này đáng được xây tháp. Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xứng đáng xây tháp. Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Ðệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri. “ Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ sanh lên thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn Ðộc Giác Phật”. “ Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, vì lý do gì, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp đệ tử Thanh Văn của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp .

Này Ananda, vì lý do gì, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của vị Pháp vương trị vì đúng pháp.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.

Này Ananda, đó là bốn hạng người xứng đáng xây tháp.

31. Những phẩm chất kỳ diệu của Ānanda

Khi ấy, tôn giả Ānanda đi vào một tịnh xá, tựa vào khung cửa và đứng khóc: “Than ôi, ta vẫn còn là người đang học tập, vẫn còn việc phải làm, vậy mà Bậc Đạo Sư của ta, người luôn thương xót ta, sắp chấm dứt hoàn toàn!”

Thế Tôn liền hỏi các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, Ānanda đâu rồi?” “Thưa ngài, tôn giả Ānanda đã đi vào tịnh xá, tựa vào khung cửa và đứng khóc…” Thế Tôn bảo một tỳ-kheo: “Hãy đi, tỳ-kheo, nhân danh ta gọi Ānanda: ‘Này hiền giả Ānanda, Bậc Đạo Sư gọi thầy’.”

Tôn giả Ānanda đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda: “Thôi nào, Ānanda, đừng sầu não, đừng than khóc. Này Ānanda, chẳng phải ta đã từng nói trước rằng mọi thứ yêu thương và vừa ý đều phải chịu sự chia ly, xa cách, và biến đổi sao? Làm sao có thể mong cầu điều khác được? Những gì được sinh ra, được hình thành, do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), mang bản chất suy tàn, mà lại mong ‘Mong sao thân thể của Người Đến Như Vậy đừng tan vỡ’ — điều đó là không thể. Này Ānanda, từ lâu thầy đã hầu hạ Người Đến Như Vậy bằng những hành động của cơ thể, lời nói, và tâm trí chứa đựng Tâm yêu thương (từ / mettā), mang lại lợi ích và hạnh phúc, không chia cắt, không giới hạn (vô lượng / appamāṇa). Thầy đã tạo nhiều công đức, Ānanda. Hãy nỗ lực thực hành, thầy sẽ sớm trở thành người hết sạch nguồn ác (lậu tận / anāsavo).”

Sau đó, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo, những vị Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ cũng có những thị giả xuất sắc như Ānanda của ta. Những vị Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn trong tương lai cũng sẽ có những thị giả xuất sắc như Ānanda của ta. Này các tỳ-kheo, Ānanda là người khôn ngoan, có trí tuệ. Thầy ấy biết rõ: ‘Đây là thời gian thích hợp để các tỳ-kheo đến thăm Người Đến Như Vậy, đây là thời gian cho tỳ-kheo-ni, cho nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho vua chúa, quan lại, cho các tu sĩ ngoại đạo và đệ tử của họ.’

Này các tỳ-kheo, có bốn phẩm chất kỳ diệu và phi thường ở Ānanda. Bốn phẩm chất nào? Nếu hội chúng tỳ-kheo đến thăm Ānanda, họ cảm thấy hoan hỉ khi nhìn thấy thầy. Nếu Ānanda nói về Điều dạy, họ cảm thấy hoan hỉ với lời nói đó. Khi Ānanda im lặng, hội chúng tỳ-kheo vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn. Tương tự với hội chúng tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ…

Này các tỳ-kheo, có bốn phẩm chất kỳ diệu và phi thường ở một Vua cai trị toàn cầu. Nếu hội chúng giai cấp chiến binh, Bà-la-môn, chủ nhà, hay tu sĩ đến thăm vua, họ hoan hỉ khi nhìn thấy vua. Nếu vua nói, họ hoan hỉ với lời nói đó. Khi vua im lặng, họ vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn.

Cũng giống như vậy, này các tỳ-kheo, có bốn phẩm chất kỳ diệu và phi thường ở Ānanda…"

13. Rồi tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”

Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, Ananda ở tại đâu?

– Bạch Thế Tôn, tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!” Thế Tôn liền nói với một Tỷ-kheo:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với Ananda: “Này Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Vị Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tôn giả Ananda, sau khi đến, liền nói với tôn giả: “Này Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.” - “Thưa vâng, Hiền giả. “ Tôn giả Ananda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

14. Thế Tôn nói với tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

– Thôi vừa rồi, Ananda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than. Này Ananda, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này Ananda làm sao được có sự kiện này: “Các pháp sanh, trú, hữu vi, biến hoại đừng có bị tiêu diệt?” Không thể có sự kiện như vậy được. Này Ananda, đã lâu ngày, ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng. Này Ananda, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.

15. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những bậc Thế Tôn này đều có những thị giả tối thắng như Ananda của Ta. Này Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thời vị lai, những bậc Thế Tôn này cũng sẽ có những vị thị giả tối thắng như Ananda của Ta vậy.

Này các Tỷ-kheo, Ananda là người có trí và hiểu rõ: “Nay đúng thời để các Tỷ-kheo yết kiến Thế Tôn, nay đúng thời để các Tỷ-kheo ni, nay đúng thời để các nam cư sĩ, nay đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để các vua chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn!”

16. Này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ cựu, hy hữu. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Tỷ-kheo đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ananda, và nếu Ananda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ananda làm thinh thời, này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo ấy sẽ thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo ni…, chúng nam cư sĩ… chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ, vì được yết kiến Ananda, và nếu Ananda thuyết pháp, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp và nếu Ananda làm thinh thời này các Tỷ-kheo, chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, vị Chuyển luân Thánh vương có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu.

Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ… chúng Bà-la-môn… chúng gia chủ… chúng Sa-môn đến yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương, chúng sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương và nếu vị Chuyển luân Thánh vương nói chuyện, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài nói chuyện, và nếu vị Chuyển luân Thánh vương làm thinh thời chúng Sa-môn ấy sẽ thất vọng.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu. Nếu có chúng Tỷ-kheo… chúng Tỷ-kheo ni… chúng nam cư sĩ… chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ananda. và nếu Ananda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ananda làm thinh, thời này các Tỷ-kheo chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.

Này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu như vậy.

32. Lời dạy về kinh Mahāsudassana

Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda thưa với Thế Tôn: “Thưa ngài, xin Thế Tôn đừng chấm dứt hoàn toàn ở cái thị trấn nhỏ bé, hoang vu, hẻo lánh này. Thưa ngài, có những thành phố lớn khác như Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, Bārāṇasī; xin Thế Tôn hãy chấm dứt hoàn toàn ở đó. Ở đó có nhiều trí thức giai cấp chiến binh, Bà-la-môn, chủ nhà có niềm tin sâu sắc vào Người Đến Như Vậy, họ sẽ lo việc cúng dường thân thể của Người Đến Như Vậy.”

"Đừng nói vậy, Ānanda, đừng nói vậy: ‘thị trấn nhỏ bé, hoang vu, hẻo lánh’. Này Ānanda, thuở xưa có một vị vua tên là Mahāsudassana, một Vua cai trị toàn cầu, cai trị theo Quy luật chân chính, chinh phục bốn phương, thiết lập an ninh cho vương quốc, sở hữu bảy báu vật. Này Ānanda, Kusinārā này từng là kinh đô của vua Mahāsudassana, tên là Kusāvatī. Chiều dài từ đông sang tây là mười hai do-tuần, chiều rộng từ bắc xuống nam là bảy do-tuần. Kinh đô Kusāvatī rất thịnh vượng, trù phú, đông đúc dân cư và dồi dào thức ăn. Giống như kinh đô Āḷakamandā của chư thiên… Kinh đô Kusāvatī không bao giờ ngớt mười loại âm thanh ngày đêm: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng đàn tỳ-bà, tiếng hát, tiếng ốc tù và, tiếng chũm chọe, và âm thanh thứ mười là tiếng gọi ‘Hãy ăn, hãy uống, hãy nếm’.

Này Ānanda, hãy đi vào Kusinārā và thông báo cho những người dòng họ Malla ở Kusinārā: 'Này các Vāseṭṭha, hôm nay vào canh cuối của đêm, sự chấm dứt hoàn toàn của Người Đến Như Vậy sẽ diễn ra. Hãy đến, này các Vāseṭṭha, hãy đến! Đừng để sau này phải hối hận: ‘sự chấm dứt hoàn toàn của Người Đến Như Vậy đã diễn ra ngay trên lãnh thổ của chúng ta, vậy mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy trong giờ phút cuối cùng’."

“Vâng, thưa ngài,” tôn giả Ānanda đáp lời, mặc y, mang bát và cùng một người bạn đồng hành đi vào Kusinārā.

17. Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá-vệ), Sàketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiều-thương-di), Bàrànasi (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, có đại chúng Sát-đế-lỵ, có đại chúng Bà-la-môn, có đại chúng gia chủ rất tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.

– Này Ananda, chớ có nói như vậy, này Ananda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc.

18. Này Ananda, thuở xưa có vị vua tên là Mahasudassana (Ðại Thiên Kiến). Vị này là Chuyển luân vương, trị vì như pháp, là vị pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ananda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Mahasudassana, tên là Kusàvatì (Câu-xábà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến bảy do tuần.

Này Ananda, kinh đô Kusàvatì này rất phôịn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, dân chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Này Ananda, cũng như kinh đô Alakamanda của chư thiên rất phồn thịnh, phú cường dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú, cũng vậy này Ananda, kinh đô Kusàvatì này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, nhân chúng sung mãn.

Này Ananda, kinh đô Kusàvatì này, ngày đêm vang dậy chín loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi”.

19. Này Ananda, hãy đi vào Kusinàrà và nói với dân Mallà Kusinàrà: “Này các Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng, Như Lai sẽ diệt độ”.

− Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đắp y, đem theo y bát và cùng một vị khác làm bạn đồng hành đi vào Kusinàrà.

33. Dòng họ Malla đảnh lễ

Vào lúc bấy giờ, những người dòng họ Malla ở Kusinārā đang tụ tập tại hội trường vì một công việc nào đó. Tôn giả Ānanda đi đến hội trường và thông báo cho họ: “Này các Vāseṭṭha, hôm nay vào canh cuối của đêm, sự chấm dứt hoàn toàn của Người Đến Như Vậy sẽ diễn ra. Hãy đến… Đừng để sau này phải hối hận…”

Nghe lời của tôn giả Ānanda, những người đàn ông, thanh niên, con dâu, và phụ nữ dòng họ Malla đều đau buồn, sầu não, tâm trí ngập tràn đau khổ. Một số xõa tóc than khóc, giơ cao hai tay than khóc, ngã quỵ xuống, lăn lộn qua lại, than vãn: “Quá sớm, Thế Tôn sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Bậc Thiện Thệ sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Con Mắt của thế gian sẽ biến mất!”

Sau đó, tất cả họ với tâm trí ngập tràn đau khổ đi đến rừng cây Sāla ở Upavattana, nơi tôn giả Ānanda đang ở.

Tôn giả Ānanda nghĩ: “Nếu ta để từng người dòng họ Malla đảnh lễ Thế Tôn, thì đêm sẽ tàn trước khi tất cả kịp đảnh lễ. Tốt hơn ta nên xếp họ theo từng gia đình và cho đảnh lễ: ‘Thưa ngài, người dòng họ Malla tên này, cùng với con cái, vợ, tùy tùng và quan lại, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn’.” Và tôn giả Ānanda đã làm như vậy. Bằng cách này, tôn giả Ānanda đã giúp những người dòng họ Malla đảnh lễ Thế Tôn ngay trong canh đầu của đêm.

20. Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công sự. Tôn giả Ananda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà. Sau khi đến, tôn giả liền nói vói dân Mallà ở Kusinàrà:

− Này Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng Như Lai sẽ diệt độ, Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.

21. Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ananda nói như vậy, liền đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não. Kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Và dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não, đi đến Upavattana, khu rừng Sàlà của dòng họ Mallà và đến chỗ tôn giả Ananda.

22. Tôn giả Ananda tự nghĩ: “Nếu ta để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn từng người một, thời đêm sẽ tàn trước khi Thế Tôn được tất cả dân Mallà đảnh lễ. Vậy ta hãy để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ theo từng gia tộc”.

− Bạch Thế Tôn, gia tộc Mallà này với vợ con, đồ chúng, bạn bè đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Và tôn giả Ananda, theo phương tiện này trong canh một, khiến dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn.

34. Câu chuyện tu sĩ lang thang Subhadda

Vào lúc bấy giờ, có một tu sĩ lang thang tên là Subhadda đang sống ở Kusinārā. Subhadda nghe tin: “Đêm nay vào canh cuối, tu sĩ Gotama sẽ chấm dứt hoàn toàn.” Subhadda nghĩ: “Ta từng nghe các tu sĩ lang thang lớn tuổi, những bậc thầy truyền lại rằng: ‘Rất hiếm khi các vị Người Đến Như Vậy, những Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn xuất hiện trên đời.’ Đêm nay tu sĩ Gotama sẽ chấm dứt hoàn toàn. Ta đang có một mối nghi ngờ, và ta tin tưởng rằng tu sĩ Gotama có thể giảng dạy Điều dạy để ta loại bỏ mối nghi ngờ này.”

Subhadda đi đến rừng cây Sāla, gặp tôn giả Ānanda và bày tỏ mong muốn được gặp tu sĩ Gotama. Tôn giả Ānanda từ chối: “Thôi đi, này hiền giả Subhadda, đừng làm phiền Người Đến Như Vậy, Thế Tôn đang mệt.” Subhadda yêu cầu lần thứ hai, rồi lần thứ ba, nhưng tôn giả Ānanda vẫn từ chối.

Thế Tôn nghe được cuộc trò chuyện giữa tôn giả Ānanda và Subhadda, liền gọi Ānanda: “Thôi nào, Ānanda, đừng ngăn cản Subhadda. Hãy để Subhadda được gặp Người Đến Như Vậy. Bất cứ điều gì Subhadda hỏi ta, người ấy hỏi vì mong muốn hiểu biết, không phải để làm phiền. Và những gì ta giải đáp, người ấy sẽ nhanh chóng thấu hiểu.”

Tôn giả Ānanda liền bảo Subhadda: “Hãy vào đi, hiền giả Subhadda, Thế Tôn cho phép ông.”

Subhadda đi đến gặp Thế Tôn, chào hỏi thân thiện, ngồi xuống một bên và hỏi: “Thưa tu sĩ Gotama, có những tu sĩ và Bà-la-môn là những người đứng đầu hội chúng, có nhiều đệ tử, nổi tiếng, được nhiều người tôn kính, như Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañcaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta. Có phải tất cả họ đều đã giác ngộ như họ tự nhận, hay không ai giác ngộ, hay chỉ một số giác ngộ?”

“Thôi đi, Subhadda, hãy gác chuyện đó lại. Ta sẽ giảng Điều dạy cho ông; hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói.” “Vâng, thưa ngài,” Subhadda đáp lời. Thế Tôn nói:

"Này Subhadda, trong bất kỳ Điều dạy và kỷ luật nào mà Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo) không được tìm thấy, thì ở đó không có tu sĩ thứ nhất (Tu-đà-hoàn), không có tu sĩ thứ hai (Tư-đà-hàm), không có tu sĩ thứ ba (A-na-hàm), không có tu sĩ thứ tư (A-la-hán). Này Subhadda, trong bất kỳ Điều dạy và kỷ luật nào mà Tám Bước Thiện được tìm thấy, thì ở đó có tu sĩ thứ nhất, thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Này Subhadda, trong Điều dạy và kỷ luật này có Tám Bước Thiện, nên chỉ ở đây mới có tu sĩ thứ nhất, thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Các học thuyết khác đều trống rỗng những tu sĩ chân chính. Này Subhadda, nếu các tỳ-kheo này sống chân chính, thế gian sẽ không trống vắng các Bậc Xứng Đáng.

Năm hai mươi chín tuổi, này Subhadda,
Ta xuất gia tìm kiếm điều thiện tột cùng.
Đã hơn năm mươi năm trôi qua,
Kể từ khi ta xuất gia, này Subhadda.
Ta đi theo con đường của Quy luật chân chính,
Ngoài con đường này, không có tu sĩ nào cả.

Không có tu sĩ thứ hai. Không có tu sĩ thứ ba. Không có tu sĩ thứ tư. Các học thuyết khác đều trống rỗng những tu sĩ chân chính. Này Subhadda, nếu các tỳ-kheo này sống chân chính, thế gian sẽ không trống vắng các Bậc Xứng Đáng."

Nghe vậy, Subhadda thưa: “Tuyệt vời thay, thưa ngài! Tuyệt vời thay, thưa ngài! Giống như lật ngửa một vật bị úp, mở ra một vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để người có mắt có thể thấy hình dáng; cũng vậy, Điều dạy đã được Thế Tôn làm sáng tỏ qua nhiều cách. Con xin nương tựa vào Thế Tôn, vào Điều dạy và hội chúng tỳ-kheo. Xin cho con được xuất gia và thọ giới cụ túc dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn.”

“Này Subhadda, bất cứ ai trước đây thuộc giáo phái khác muốn xuất gia và thọ giới trong Điều dạy và kỷ luật này, người đó phải trải qua thời gian thử thách bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu các tỳ-kheo hài lòng, họ sẽ cho xuất gia và thọ giới tỳ-kheo. Tuy nhiên, ta cũng nhận thấy sự khác biệt giữa các cá nhân.”

“Thưa ngài, nếu những người ngoại đạo phải thử thách bốn tháng… con sẵn sàng thử thách bốn năm. Sau bốn năm, nếu các tỳ-kheo hài lòng, xin hãy cho con xuất gia và thọ giới.”

Thế Tôn liền bảo tôn giả Ānanda: “Vậy thì Ānanda, hãy cho Subhadda xuất gia.” “Vâng, thưa ngài,” tôn giả Ānanda đáp.

Subhadda nói với tôn giả Ānanda: “Thật là một lợi ích lớn cho thầy, hiền giả Ānanda; thầy thật may mắn khi được làm đệ tử trực tiếp trước mặt Bậc Đạo Sư.” Subhadda được xuất gia và thọ giới dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn. Không lâu sau khi thọ giới, sống một mình, rời bỏ (viễn ly / vūpakaṭṭho), sáng suốt, nhiệt tâm, kiên quyết, tôn giả Subhadda đã tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā), chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vào mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh — điều mà các người con gia đình chân chính đã rời bỏ gia đình để sống đời không nhà hướng tới.

Vị ấy hiểu rõ: “Sự Tái sinh đã cạn kiệt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại này nữa.” Tôn giả Subhadda đã trở thành một trong những Bậc Xứng Đáng. Vị ấy là đệ tử chứng quả cuối cùng trực tiếp của Thế Tôn.

(Kết thúc phần tụng thứ năm).

23. Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Subhadda ở tại Kusinàrà. Du sĩ ngoại đạo Subhadda được nghe: “Tối nay canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”.

Và du sĩ ngoại đạo Subhadda suy nghĩ: “Ta nghe các du sĩ ngoại đạo niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu. Và đêm nay, vào canh cuối cùng Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm ta. Ta tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp và giải được nghi vấn cho ta”.

24. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana, khu rừng Sàla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ananda và thưa với tôn giả:

− Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cạo lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.

Khi được nói vậy, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:

− Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.

Lần thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda … Lần thứ ba, du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:

− Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cạo lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.

Lần thứ ba, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:

− Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.

25. Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả Ananda với du sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ananda:

− Thôi Ananda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ananda, hãy để cho Subhadda được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi Ta là hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta. Và những gì ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý nghĩa một cách mau lẹ.

Tôn giả Ananda liền nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:

− Này Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã cho phép Hiền giả.

26. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ Thế Tôn, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các ngài Pàrana Kassapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesakambalì, Pakadha Kaccàyana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàthaputta, tất cả những vị này có phải là giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ?

− Thôi Subhadda, hãy để vấn đề này yên một bên: “Tất cả những vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ”. Này Subhadda, Ta sẽ thuyết pháp cho Ngươi. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Du sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

27. - Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có (đệ nhất) Samôn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo thời ở đây có (đệ nhứt) Sa-môn, cũng có đệ nhị Samôn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.

Này Subhadda, năm hai mươi chín,
Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.
Trải năm mươi năm với thêm một năm
Từ khi xuất gia, này Subhadda,
Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.

Ngoài lãnh vực này, không có Sa-môn (đệ nhứt) cũng không có Sa-môn đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng không có Sa-môn đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì đời này không vắng những vị A-la-hán.

28. Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:

− Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con xin thọ đại giới. − Này Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia muốn thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.

29. - Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt thú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các vị Tỷ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.

Và Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

− Này Ananada, hãy xuất gia cho Subhadda.

− Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

30. Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:

− Thật là lợi ích, thưa Tôn giả Ananda, thật là thiện lợi, thưa Tôn giả Ananda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ tử trước mặt bậc Ðạo Sư!

Và du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia được thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa.

Và đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại đức là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn thế độ.

35. Lời dạy cuối cùng của Người Đến Như Vậy

Khi ấy, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, có thể các vị sẽ nghĩ: ‘Lời dạy không còn Bậc Đạo Sư nữa, chúng ta không còn Bậc Đạo Sư.’ Này Ānanda, không nên nghĩ như vậy. Điều dạy (Pháp) và Kỷ luật (Luật) mà ta đã giảng dạy và quy định cho các vị, đó sẽ là Bậc Đạo Sư của các vị sau khi ta qua đời.

Này Ānanda, hiện nay các tỳ-kheo gọi nhau bằng từ ‘hiền giả’ (āvuso), nhưng sau khi ta qua đời, không nên gọi nhau như vậy nữa. Tỳ-kheo lớn tuổi hơn nên gọi tỳ-kheo nhỏ tuổi hơn bằng tên, họ, hoặc bằng từ ‘hiền giả’. Tỳ-kheo nhỏ tuổi hơn nên gọi tỳ-kheo lớn tuổi hơn là ‘thưa ngài’ (bhante) hoặc ‘tôn giả’ (āyasmā).

Này Ānanda, sau khi ta qua đời, nếu hội chúng muốn, có thể bãi bỏ những điều luật nhỏ nhặt và thứ yếu.

Này Ānanda, sau khi ta qua đời, hãy áp dụng hình phạt Phạm-thiên (brahmadaṇḍa) đối với tỳ-kheo Channa." “Thưa ngài, hình phạt Phạm-thiên là gì?” “Này Ānanda, tỳ-kheo Channa muốn nói gì thì cứ nói. Các tỳ-kheo không được nói chuyện với ông ấy, không được khuyên bảo, không được chỉ dạy ông ấy.”

Sau đó, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, nếu có bất kỳ tỳ-kheo nào có nghi ngờ hay thắc mắc về Phật, về Điều dạy, về Hội chúng, về Con đường, hay về Phương pháp thực hành, hãy hỏi đi, này các tỳ-kheo! Đừng để sau này phải hối hận: ‘Bậc Đạo Sư đã ở ngay trước mặt chúng ta, vậy mà chúng ta không trực tiếp hỏi ngài’.” Khi được nói như vậy, các tỳ-kheo đều im lặng.

Lần thứ hai… Lần thứ ba, Thế Tôn lặp lại câu hỏi. Lần thứ ba, các tỳ-kheo vẫn im lặng. Thế Tôn nói: “Này các tỳ-kheo, có thể vì tôn kính Bậc Đạo Sư mà các vị không hỏi. Vậy thì này các tỳ-kheo, hãy để bạn bè nói lại với bạn bè.” Khi được nói như vậy, các tỳ-kheo vẫn im lặng.

Tôn giả Ānanda thưa: “Thật kỳ diệu, thưa ngài! Thật phi thường, thưa ngài! Con có niềm tin sâu sắc vào hội chúng tỳ-kheo này, rằng không có một tỳ-kheo nào có nghi ngờ hay thắc mắc về Phật, Điều dạy, Hội chúng, Con đường, hay Phương pháp thực hành.” “Này Ānanda, thầy nói vì niềm tin, nhưng Người Đến Như Vậy biết rõ điều này. Trong hội chúng này, không có một tỳ-kheo nào có nghi ngờ… Này Ānanda, trong số năm trăm tỳ-kheo này, vị thấp nhất cũng đã là người bước vào dòng chảy (Tu-đà-hoàn), không còn khả năng rơi vào cõi thấp, chắc chắn hướng đến sự Giác Ngộ.”

Sau đó, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, ta khuyên các vị, Mọi thứ đều do hợp lại mà hình thành (hữu vi/ saṅkhārā), đều mang tính suy tàn (hoại diệt pháp / vayadhammā), hãy thành tựu [mục đích] bằng sự không u mê (không phóng dật / appamāda).”

Đây là lời nói cuối cùng của Người Đến Như Vậy.

Tụng Phẩm VI

1. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

− Này Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)”. Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.

2. Này Ananda, nay các vị Tỷ-kheo xưng hô với nhau là Hiền giả. Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ananda, vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay Ðại đức.

3. Này Ananda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.

4. Này Ananda, sau khi Ta diệt độ, hãy hành tội Phạm đàn (Brahmadanda) đối với Tỷ-kheo Channa. − Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm đàn?

− Này Ananda, Tỷ-kheo Channa muốn nói gì thì nói. Chúng Tỷ-kheo sẽ không nói, sẽ không giảng dạy, sẽ không giáo giới Tỷ-kheo Channa.

5. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo các Người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.

Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy im lặng. Một lần thứ hai, Thế Tôn… Một lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo có nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.

Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng tu, hãy hỏi nhau.

Khi được nói vậy, những vị Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.

6. Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp.

− Này Ananda, ngươi có tín nhiệm nên nói vậy. Nhưng ở đây, này Ananda, Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp. Này Ananda, trong năm trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác.

7. Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”.

Ðó là lời cuối cùng Như Lai.

36. Câu chuyện về sự chấm dứt hoàn toàn

Khi ấy, Thế Tôn nhập vào tầng Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ nhất, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ hai; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ hai, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ ba; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ ba, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ tư; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ tư, ngài nhập vào cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana); xuất khỏi cõi Không Gian là Vô Tận, ngài nhập vào cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana); xuất khỏi cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, ngài nhập vào cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana); xuất khỏi cõi Không Có Vật Gì, ngài nhập vào xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana); xuất khỏi xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, ngài nhập vào Định làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha).

Lúc đó, tôn giả Ānanda nói với tôn giả Anuruddha: “Thưa tôn giả Anuruddha, Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn rồi.” “Không, hiền giả Ānanda, Thế Tôn chưa chấm dứt hoàn toàn, ngài đang nhập vào Định làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức.”

Sau đó, Thế Tôn xuất khỏi Định làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức, nhập vào xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”; xuất khỏi đó, ngài nhập vào cõi Không Có Vật Gì; xuất khỏi đó, ngài nhập vào cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận; xuất khỏi đó, ngài nhập vào cõi Không Gian là Vô Tận; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ tư; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ ba; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ hai; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ nhất. Xuất khỏi tầng Thiền-na thứ nhất, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ hai; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ ba; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ tư. Ngay sau khi xuất khỏi tầng Thiền-na thứ tư, Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn.

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, một trận động đất lớn xảy ra, đáng sợ, dựng tóc gáy. Trống trời vang lên. Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, Phạm thiên Sahampati đọc bài kệ này:

“Mọi chúng sinh trên thế gian này,
Đều phải bỏ lại thân xác.
Ngay cả Bậc Đạo Sư vĩ đại,
Không ai sánh bằng trên thế gian,
Người Đến Như Vậy đạt sức mạnh tối thượng,
Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn nay đã chấm dứt hoàn toàn.”

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, Vua trời Sakka đọc bài kệ này:

“Mọi thứ họp mà thànhsuy tàn,
Mang bản chất sinh ra và tàn hoại.
Sinh ra rồi lại chấm dứt,
lắng dịu của chúng là hạnh phúc.”

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, tôn giả Anuruddha đọc những bài kệ này:

"Không còn hơi thở vào ra,
Tâm vững chãi, không lay động.
Bậc tĩnh lặng, vượt qua tham ái,
Bậc hiền triết đã qua đời.

Với tâm trí không nao núng,
Ngài chịu đựng mọi Cảm Giác.
Như ngọn đèn tắt lịm,
Tâm ngài đã hoàn toàn giải thoát."

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, tôn giả Ānanda đọc bài kệ này:

“Thật đáng sợ thay, đáng sợ thay,
Khi Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn,
Đầy đủ mọi phẩm chất tối thắng,
Đã chấm dứt hoàn toàn.”

Khi Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, những tỳ-kheo chưa cạn hết đắm nhiễm xõa tóc than khóc, giơ cao hai tay than khóc, ngã quỵ xuống, lăn lộn qua lại: “Quá sớm, Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Bậc Thiện Thệ đã chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Con Mắt của thế gian đã biến mất!” Nhưng những tỳ-kheo đã cạn hết đắm nhiễm, họ quan sát và nhận biết rõ ràng, chịu đựng với suy nghĩ: “Mọi thứ do hợp lại mà thành, mang tính suy tàn, làm sao có thể mong cầu điều khác được?”

Tôn giả Anuruddha nói với các tỳ-kheo: “Thôi nào, các hiền giả, đừng sầu não, đừng than khóc. Chẳng phải Thế Tôn đã từng nói trước rằng mọi thứ yêu thương và vừa ý đều phải chịu sự chia ly, xa cách, và biến đổi sao? Làm sao có thể mong cầu điều khác được? Những gì được sinh ra, được hình thành, do Hợp mà thành, mang bản chất suy tàn, mà lại mong ‘Mong sao nó đừng tan vỡ’ — điều đó là không thể. Các hiền giả, chư thiên đang phàn nàn đấy.”

“Thưa tôn giả Anuruddha, ngài đang suy nghĩ đến những chư thiên nào?” “Này hiền giả Ānanda, có những chư thiên ở trên hư không nhưng lại có Nhận Thức bám víu vào đất, họ xõa tóc than khóc… Có những chư thiên ở trên mặt đất… Nhưng những chư thiên nào đã cạn hết đắm nhiễm, họ quan sát và nhận biết rõ ràng, chịu đựng với suy nghĩ: ‘Mọi thứ do hợp lại mà thành, mang tính suy tàn, làm sao có thể mong cầu điều khác được?’”

Sau đó, tôn giả Anuruddha và tôn giả Ānanda dành phần còn lại của đêm để đàm luận về Điều dạy. Tôn giả Anuruddha bảo tôn giả Ānanda: “Hãy đi, hiền giả Ānanda, vào Kusinārā và thông báo cho những người dòng họ Malla: ‘Này các Vāseṭṭha, Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn, bây giờ là lúc các vị làm những gì cần thiết’.” “Vâng, thưa ngài,” tôn giả Ānanda đáp, và vào buổi sáng, mặc y, mang bát cùng một người bạn đồng hành đi vào Kusinārā.

Lúc đó, những người dòng họ Malla đang tụ tập tại hội trường vì chính việc này. Tôn giả Ānanda thông báo cho họ. Nghe tin, họ đau buồn, sầu não, than khóc như trước.

8. Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định. Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:

− Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.

− Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.

9. Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.

10. Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang động.

Khi Thế Tôn diệt độ, Phạm thiên Sahampati, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Chúng sanh ở trên đời,
Từ bỏ thân ngũ uẩn
Bậc đạo sư cũng vậy,
Ðấng Tuyệt luân trên đời.
Bậc Ðại hùng Giác ngộ
Như Lai đã diệt độ.

Khi Thế Tôn diệt độ, Thiên chủ Sakka, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt
Ðã sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp chúng là an lạc.

Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Anuruddha, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Không phải thở ra vào
Chính tâm trú chánh định
Không tham ái tịch tịnh
Tu sĩ hướng diệt độ
Chính tâm tịnh bất động
Nhẫn chịu mọi cảm thọ
Như đèn sáng bị tắt
Tâm giải thoát hoàn toàn.

Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Ananda, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:

Thật kinh khủng bàng hoàng,
Thật râu tóc dựng ngược,
Khi Bậc Toàn thiện năng,
Bậc Giác ngộ nhập diệt.

Khi Thế Tôn diệt độ, những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệt nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”

11. Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo:

− Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy:”Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy”. Này các Hiền giả, chính chư Thiên đang trách đó.

− Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?

− Hiền giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

Hiền giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những chư Thiên diệt trừ ái dục, những vị này chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao có thể khác được?”

12. Tôn giả Anuruddha và tôn giả Ananda luận bàn về Chánh pháp suốt cả đêm còn lại. Rồi tôn giả Anuruddha nói với tôn giả Ananda:

− Hiền giả Ananda, hãy vào thành Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.

− Tôn giả, xin vâng!

Tôn giả Ananda vâng lời tôn giả Anuruddha, buổi sáng đắp y, đem theo y bát cùng một thị giả, vào thành Kusinàrà.

Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công vụ. Tôn giả Ananda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đến liền nói với dân Mallà ở Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.

Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ananda nói như vậy liền đau đớn sầu muộn, tâm tư khổ não, kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.

37. Cúng dường thân thể Phật

Những người dòng họ Malla ra lệnh cho người hầu: “Hãy thu thập tất cả hương liệu, vòng hoa và nhạc cụ ở Kusinārā.” Họ mang theo hương liệu, vòng hoa, nhạc cụ và năm trăm lớp vải, đi đến rừng cây Sāla ở Upavattana. Họ cúng dường thân thể Thế Tôn bằng những điệu múa, bài ca, âm nhạc, vòng hoa và hương liệu, tôn trọng, kính trọng, dựng rạp vải và trang hoàng các sảnh đường, trải qua ngày thứ nhất.

Họ nghĩ: “Hôm nay đã quá muộn để hỏa thiêu, ngày mai chúng ta sẽ làm.” Nhưng họ tiếp tục cúng dường qua ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, và thứ sáu. Đến ngày thứ bảy, họ nghĩ: “Chúng ta sẽ mang thân thể Thế Tôn về phía nam, ra khỏi thành phố qua cổng nam và hỏa thiêu ở đó.” Tám vị thủ lĩnh dòng họ Malla, đã gội đầu và mặc áo mới, cố gắng nâng thân thể lên nhưng không thể nhúc nhích.

Họ hỏi tôn giả Anuruddha: “Thưa ngài, nguyên nhân là gì mà chúng tôi không thể nâng thân thể lên?” “Này các Vāseṭṭha, ý định của các vị khác với ý định của chư thiên.” “Ý định của chư thiên là gì, thưa ngài?” “Ý định của chư thiên là mang thân thể về phía bắc, vào thành phố qua cổng bắc, đi qua trung tâm thành phố, ra khỏi cổng đông, và hỏa thiêu tại tháp tưởng niệm Makuṭabandhana của dòng họ Malla ở phía đông thành phố.” “Thưa ngài, hãy làm theo ý định của chư thiên.”

Lúc đó, toàn bộ Kusinārā ngập tràn hoa Mandārava cao đến đầu gối. Chư thiên và người dòng họ Malla cùng nhau mang thân thể đi theo lộ trình chư thiên mong muốn và đặt tại tháp tưởng niệm Makuṭabandhana.

Họ hỏi tôn giả Ānanda: “Chúng tôi nên xử lý thân thể Người Đến Như Vậy như thế nào?” Tôn giả Ānanda lặp lại lời dạy của Đức Phật về cách xử lý thân thể của một Vua cai trị toàn cầu (bọc 500 lớp vải, đặt trong vại sắt, hỏa thiêu và xây tháp). Người dòng họ Malla làm y như vậy, đặt thân thể lên giàn thiêu bằng mọi loại gỗ thơm.

13. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những người làm: “Các người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí ở Kusinàrà”.

Rồi dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả nhạc khí và năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sàlà của dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn, rồi chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala.

Rồi dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Hôm nay, nếu thiêu thân xá lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ làm lễ thiêu thân xá lợi của Thế Tôn”. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà, cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala, ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư cũng như vậy, ngày thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy.

14. Ðến ngày thứ bảy, dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa hát, nhạc, tràng hoa, hương, nay chúng ta hãy chở thân xác xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.

Lúc bấy giờ tám vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai nhưng khiêng không nổi được. Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch Tôn giả Anuruddha:

− Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì tám vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai, nhưng không khiêng nổi được?

− Này Vàsetthà, vì ý định của các Ngươi khác, ý định của chư Thiên khác.

15. - Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên là gì?

− Này các Vàsetthà, ý định của các Ngươi như sau:

“Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương. Nay chúng ta hãy chở thân xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.

Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương hương của Chư thiên nay chúng ta hãy khiêng thân xá lợi Thế Tôn về hướng Bắc phía Bắc của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, hãy khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, hãy khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuta-bandhana và chúng ta sẽ thiêu thân Thế Tôn tại chỗ ấy”.

− Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên thế nào, ý định của chúng con cũng vậy.

16. Lúc ấy, khắp cả Kusinàrà cho đến đống bụi, đống rác, được rải la liệt lên đến đầu gối toàn hoa Mandaràva. Rồi chư Thiên và các dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của chư Thiên và loài Người, liền khiêng thân xá lợi Thế Tôn về phía Bắc của Thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, liền khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, liền khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuta-bandhana và đặt thân xá lợi của Thế Tôn tại chỗ ấy.

17. Rồi dân Mallà bạch tôn giả Ananda:

− Bạch Tôn giả Ananda, chúng con nay phải xử sự như thế nào đối với thân xá lợi Như Lai? − Này các Vàsetthà, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương như thế nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như vậy.

− Bạch Tôn giả Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương phải như thế nào?

− Này cá Vàsetthà, thân Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này, và tại ngã tư đường, tháp vị Chuyển luân Thánh vương này được xây dựng lên. Này các Vàsetthà, đó là pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương.

Này các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyểb luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân của Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem đến tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiềumàu, đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.

18. Và các người Mallà ở Kusinàrà sai những người làm công:

− Hãy đem lại tất cả vải gai bện của Mallà .

Rồi những người Mallà ở Kusinàrà vấn tròn thân Thế Tôn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi đặt thân Như Lai vào trong một hòm dầu bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác, dựng lên một giàn hỏa gồm mọi loại hương và đặt thân Thế Tôn trên giàn hỏa.

38. Câu chuyện về Trưởng lão Mahākassapa

Vào lúc bấy giờ, tôn giả Mahākassapa đang đi trên đường từ Pāvā đến Kusinārā cùng với một hội chúng lớn khoảng năm trăm tỳ-kheo. Tôn giả bước ra khỏi đường và ngồi nghỉ dưới gốc cây. Một tu sĩ ngoại đạo (Ājīvaka) đang đi từ Kusinārā đến Pāvā, mang theo một bông hoa Mandārava. Tôn giả Mahākassapa thấy người ấy từ xa liền hỏi: “Này hiền giả, ông có biết Bậc Đạo Sư của chúng tôi không?” “Có, tôi biết. Tu sĩ Gotama đã chấm dứt hoàn toàn được bảy ngày rồi. Tôi lấy bông hoa Mandārava này từ đó.”

Những tỳ-kheo chưa cạn hết đắm nhiễm than khóc, trong khi những vị đã cạn hết đắm nhiễm thì quan sát và nhận biết rõ ràng, chấp nhận sự không thường hằng. Lúc đó, một tỳ-kheo tên là Subhadda (người xuất gia khi đã lớn tuổi) nói: “Thôi nào, các hiền giả, đừng than khóc. Chúng ta đã thoát khỏi vị đại tu sĩ đó rồi. Chúng ta từng bị phiền nhiễu bởi những lời: ‘Điều này được phép, điều này không được phép’. Bây giờ chúng ta muốn làm gì thì làm, không muốn làm thì thôi.” Tôn giả Mahākassapa liền khuyên bảo các tỳ-kheo về sự không thường hằng của những thứ do hợp mà thành.

Tại giàn thiêu, bốn vị thủ lĩnh dòng họ Malla cố gắng châm lửa nhưng lửa không cháy. Họ hỏi tôn giả Anuruddha và được biết: “Ý định của chư thiên là giàn thiêu sẽ không bắt lửa cho đến khi tôn giả Mahākassapa đến đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.”

Tôn giả Mahākassapa đến nơi, đắp y một bên vai, chắp tay, đi vòng quanh giàn thiêu ba lần và cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn. Năm trăm tỳ-kheo cũng làm như vậy. Ngay sau khi họ đảnh lễ, giàn thiêu tự động bốc cháy.

Khi thân thể Thế Tôn bị thiêu rụi, da, lớp da trong, thịt, gân, và dịch khớp không để lại tro hay bồ hóng; chỉ còn lại xương (xá-lợi). Giống như bơ hay dầu cháy không để lại tro, thân thể ngài cũng vậy. Trong năm trăm lớp vải, chỉ có lớp trong cùng và lớp ngoài cùng không bị cháy. Khi thân thể đã cháy xong, những dòng nước từ hư không và từ những cây Sāla phun ra dập tắt giàn thiêu. Người dòng họ Malla cũng dùng nước thơm để dập lửa. Sau đó, họ đặt xá-lợi trong hội trường, lập hàng rào giáo mác và cung tên bảo vệ, cúng dường suốt bảy ngày.

19. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mallà Kassapa đang đi giữa đường từ Pàvà đến Kusinàrà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Rồi Tôn giả Mallà Kassapa bước xuống đường và đến ngồi tại một gốc cây.

Lúc bấy giờ có một tà mạng ngoại đạo lấy một hoa Mandàrava ở Kusinàrà và đang đi trên một con đường đến Pàvà.

Tôn giả Mallà Kassapa thấy tà mạng ngoại đạo đi từ đàng xa đến. Thấy vậy, tôn giả liền hỏi tà mạng ngoại đạo ấy:

− Này Hiền giả, Hiền giả có biết bậc Ðạo sư chúng tôi không?

− Này Hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã diệt độ cách hôm nay một tuần. Từ chỗ ấy, tôi được hoa Mandàrava này.

Lúc ấy những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị bnày an trú chánh niệm, tỉnh giác nhẫn nại suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”

20. Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi đang ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi nói với những Tỷ-kheo ấy:

− Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa môn ấy, chúng ta đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: “Làm như thế này không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp với các Ngươi”. Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm.

Tôn giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỷ-kheo:

− Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy.

21, Lúc bấy giờ bốn vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn nhưng châm lửa không cháy.

Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch tôn giả Anuruddha:

− Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, bốn vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn, nhưng châm lửa không cháy?

− Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên khác.

− Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên như thế nào?

− Này các vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Tôn giả Mahà Kassapa nay đang đi giữa đường giữa Pàvà và Kusinàrà cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Giàn hỏa Thế Tôn chỉ được đốt cháy khi tôn giả Mahà Kassapa cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn”.

− Bạch Tôn giả, ý định chư Thiên như thế nào, hãy làm y như vậy.

22. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đến tại đền Makuta Bandhana của những vị Mallà tại giàn hỏa Thế Tôn, khi đến xong liền choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần, cởi mở chân ra và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Năm trăm vị Tỷ-kheo ấy choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu qua phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Và khi tôn giả Mahà Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo đảnh lễ xong, thời giàn hỏa Thế Tôn tự bắt lửa cháy.

23. Khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa các khớp xương, thảy đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại.

Như sanh tô hay dầu bị cháy, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, cũng vậy khi thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại. Và năm trăm tầng lớp vải gai bện, cả hai lớp trong nhất và lớp ngoài nhất đều bị cháy thiêu.

Khi thân Thế Tôn bị thiêu cháy xong, một dòng nước từ hư không chảy xuống tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và một dòng nước từ kho nước (hay từ cây sàlà) phun lên tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và các người Mallà ở Kusinàrà dùng nước với mọi loại hương tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn. Rồi các người Mallà xứ Kusinàrà đặt xá lợi Thế Tôn trong giảng đường, dùng cây thương làm hàng rào, dùng cây cung làm bức thành xung quanh và trong bảy ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường với các điệu múa, hát, nhạc, vòng hoa, hương.

39. Phân chia xá-lợi

Vua Ajātasattu của Magadha nghe tin, liền cử sứ giả đến Kusinārā: “Thế Tôn là người giai cấp chiến binh, ta cũng là người giai cấp chiến binh. Ta xứng đáng có một phần xá-lợi để xây tháp và cúng dường.” Tương tự, những người Licchavi ở Vesālī, dòng họ Sakya ở Kapilavatthu, dòng họ Buli ở Allakappa, dòng họ Koliya ở Rāmagāma, một Bà-la-môn ở Veṭṭhadīpa, và dòng họ Malla ở Pāvā đều cử sứ giả đến đòi một phần xá-lợi.

Người dòng họ Malla ở Kusinārā từ chối: “Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn trên lãnh thổ của chúng tôi, chúng tôi sẽ không chia xá-lợi.” Lúc đó, Bà-la-môn Doṇa lên tiếng:

"Xin quý vị hãy nghe tôi một lời,
Đức Phật của chúng ta luôn dạy sự nhẫn nhục;
Thật không tốt nếu vì xá-lợi của Bậc Tối Thượng,
Mà lại xảy ra chiến tranh và xung đột.

Hãy cùng nhau hòa hợp và đoàn kết,
Chia xá-lợi thành tám phần bằng nhau;
Để các tháp tưởng niệm được dựng lên khắp nơi,
Cho nhiều người khởi niềm tin vào Bậc Có Mắt."

Họ đồng ý: “Vậy thưa Bà-la-môn, xin ông hãy chia xá-lợi thành tám phần bằng nhau.” Bà-la-môn Doṇa chia xá-lợi thành tám phần và xin giữ lại chiếc bình đong (tumba) để xây tháp. Họ đồng ý trao chiếc bình cho ông. Dòng họ Moriya ở Pippalivana đến muộn, nên chỉ nhận được tro từ giàn thiêu.

24. Vua nước Magadha tên là Ajàtasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà. Vua liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.

Những người Licchavì ở Vesàli nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.

Các người Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ với xá-lợi Thế Tôn”.

Những người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.

Những người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn.”

Bà-la-môn Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người Bà-la-môn. Tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.

Các người Mallà ở Pàvà nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gửi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.

25. Khi được nói vây các người Mallà ở Kusinàrà liền tuyên bố giữa đại chúng:

− Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần xá lợi nào của Thế Tôn.

Khi nghe vậy. Bà-la-môn Dona nói với chúng:

Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói!
Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn.
Thật không tốt nếu có tranh giành.
Khi chia xá lợi bậc Thượng nhân.
Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan hỷ chia xá lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,
Ðại chúng mười phương tin Pháp nhãn…

− Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia xá lợi ra tám phần đồng đều.

− Xin vâng, các Tôn giả.

Bà-la-môn Dona vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng:

− Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đông chia xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.

Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Dona cái bình.

26. Và người Moriyà ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”. - “Nay không còn phần xá-lợi Thế Tôn nào. Xá-lợi Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại”. Rồi các vị nầy lấy than tro còn lại.

40. Thờ cúng tháp xá-lợi

Vua Ajātasattu xây tháp và cúng dường xá-lợi tại Rājagaha. Những người Licchavi xây tháp tại Vesālī. Dòng họ Sakya xây tháp tại Kapilavatthu. Dòng họ Buli xây tháp tại Allakappa. Dòng họ Koliya xây tháp tại Rāmagāma. Bà-la-môn Veṭṭhadīpaka xây tháp tại Veṭṭhadīpa. Dòng họ Malla ở Pāvā xây tháp tại Pāvā. Dòng họ Malla ở Kusinārā xây tháp tại Kusinārā. Bà-la-môn Doṇa xây tháp cho chiếc bình đong. Dòng họ Moriya xây tháp cho tro. Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín là tháp bình đong, tháp thứ mười là tháp tro. Sự việc đã diễn ra như vậy.

Tám bình xá-lợi của Bậc Có Mắt,
Bảy bình được thờ cúng tại cõi Diêm-phù-đề (Jambudīpa);
Một bình của Bậc Tối Thượng giữa các loài người,
Được Long vương thờ cúng tại Rāmagāma.

Một xá-lợi răng (dāṭhā) được chư thiên thờ cúng,
Một chiếc được tôn kính tại thành phố Gandhāra;
Một chiếc trong vương quốc của vua Kāliṅga,
Và một chiếc được Long vương thờ cúng.

Nhờ uy lực của ngài, trái đất này,
Được trang hoàng bằng những lễ vật cúng dường tốt nhất;
Xá-lợi của Bậc Có Mắt đã được như vậy,
Được tôn kính bởi những người đáng tôn kính.

Được cúng dường bởi vua chư thiên, vua rồng, vua loài người,
Và được cúng dường bởi những bậc tối thượng trong loài người;
Hãy chắp tay đảnh lễ khi nhận được xá-lợi,
Vì một vị Phật thật khó gặp dù trải qua hàng trăm kiếp.

Bốn mươi chiếc răng đều đặn, cùng tóc và lông,
Chư thiên đã mang đi từng thứ một, truyền qua các hệ thống thế giới.

(Kết thúc kinh Đại Bát-niết-bàn, kinh thứ ba).

27. Và vua nước Magadha tên là Ajàtasattu, con bà Videhi xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Licchavi ở Vesàli cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vesàli và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Sakya ở Kapilavatthu cũng xây dựng trên xá-lợi Thế Tôn tại Kapilavatthu và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Buli ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên xá lợi Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Koli ở Ràmagama cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Ràmagama và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Vethadìpaka cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vethadìpa và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Mallà ở Pàvà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Pàvà và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Màllà ở Kusinàrà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Kusinàrà và tổ chức lễ cúng dường.

Bà-la-môn Dona cũng xây dựng tháp trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tổ chức lễ cúng dường.

Những người Moriyà ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.

Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tháp thứ mười trên tro (xá-lợi). Ðó là truyền thống thời xưa như vậy.

Ðấng Pháp Nhãn Vô Thượng
Xá-lợi phân tám phần.
Bảy phần được cúng dường.
Tại Jambudìpa.
Một phần Long vương cúng.
Tại Ràmagàma.
Một răng Phật được cúng,
Tại cõi Tam Thiên giới,
Một tại Gandhàra,
Một tại Kalinga.
Một răng, vua Long vương.
Tự mình riêng cúng dường.
Quả đất được chói sáng,
Với hào quang xá-lợi,
Với lễ vật cúng dường.
Hạng thượng phẩm, thượng đẳng.
Xá-lợi đấng Pháp Nhãn.
Như vậy được cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường.
Bởi Thiên, Long, Nhơn chủ,
Bởi bậc Tối thượng nhơn.
Các người hãy chắp tay,
Cung kính lễ cúng dường.
Khó thay sự chiêm ngưỡng.
Tôn nhan bậc Như Lai.
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một phần.

-ooOoo- TẬP II