Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 17. KINH ĐẠI THIỆN KIẾN VƯƠNG

(Mahāsudassanasutta)

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Kusinārā, tại khu rừng Sāla của dòng họ Malla, giữa hai cây Sāla song sinh, vào lúc sắp chấm dứt hoàn toàn (viên tịch / parinibbāna).

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đừng chấm dứt hoàn toàn ở thị trấn nhỏ bé này, thị trấn hoang vu này, thị trấn phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị lớn khác. Đó là Campā, Rājagaha, Sāvatthi, Sāketa, Kosambī, Bārāṇasī; xin Thế Tôn hãy chấm dứt hoàn toàn ở đó. Ở đó có nhiều vị đại gia trưởng Sát-đế-lỵ, đại gia trưởng Bà-la-môn, đại gia trưởng Cư sĩ có niềm tin sâu sắc vào Như Lai, họ sẽ thực hiện việc cúng dường xá-lợi của Như Lai.”

"Này Ānanda, đừng nói vậy; này Ānanda, đừng nói vậy: ‘thị trấn nhỏ bé, thị trấn hoang vu, thị trấn phụ thuộc’.

17. KINH ÐẠI THIỆN KIẾN VƯƠNG

(Mahàsudassana Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ngụ tại Upavattana (Hồ-bạt-đan) ở Kusinàrà (Câu-thi-la) trong rừng Sà la của giòng họ Mallà, giữa hai cây Sàla song thọ, khi ngài sắp nhập Niết bàn.

2. Lúc ấy, tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngày ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Ràjagahà (Vương Xá) Sàvatthi (Xá-vệ), Sàketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiêu-thưởng-di), Bàrànasi (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy. Tại những chỗ ấy có đại chúng Sát đế lỵ, có đại chúng Bà la môn, có đại chúng Gia chủ tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.

1. Kinh đô Kusāvatī

Thuở xưa, này Ānanda, có vị vua tên là Mahāsudassana (Đại Thiện Kiến), một vị Sát-đế-lỵ đã được làm lễ quán đảnh, là một vị vua cai trị toàn cõi (chuyển luân vương / cakkavattī) chiến thắng bốn phương, mang lại sự ổn định cho quốc gia. Này Ānanda, Kusinārā này chính là kinh đô của vua Mahāsudassana, tên là Kusāvatī. Chiều dài từ Đông sang Tây là mười hai do-tuần, chiều rộng từ Bắc xuống Nam là bảy do-tuần. Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī vô cùng thịnh vượng, trù phú, đông đúc dân cư, người người tấp nập và thức ăn dồi dào. Này Ānanda, giống như kinh đô Āḷakamandā của chư thiên vô cùng thịnh vượng, trù phú, đông đúc chư thiên, dạ-xoa tấp nập và thức ăn dồi dào; cũng vậy, này Ānanda, kinh đô Kusāvatī vô cùng thịnh vượng, trù phú, đông đúc dân cư, người người tấp nập và thức ăn dồi dào.

Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī ngày đêm không bao giờ dứt mười loại âm thanh, đó là: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe ngựa, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng đàn tỳ-bà, tiếng hát, tiếng ốc tù và, tiếng chũm chọe, và tiếng thứ mười là tiếng gọi ‘hãy ăn, hãy uống, hãy nếm’.

Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī được bao quanh bởi bảy lớp tường thành. Một lớp bằng vàng, một lớp bằng bạc, một lớp bằng lưu ly, một lớp bằng pha lê, một lớp bằng hồng ngọc, một lớp bằng mã não, một lớp bằng tất cả các loại ngọc.

Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có các cổng thành mang bốn màu sắc. Một cổng bằng vàng, một cổng bằng bạc, một cổng bằng lưu ly, một cổng bằng pha lê. Tại mỗi cổng có bảy cột trụ được chôn sâu xuống đất, sâu ba lần chiều cao con người, cao mười hai lần chiều cao con người. Một cột bằng vàng, một cột bằng bạc, một cột bằng lưu ly, một cột bằng pha lê, một cột bằng hồng ngọc, một cột bằng mã não, một cột bằng tất cả các loại ngọc.

Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī được bao quanh bởi bảy hàng cây cọ. Một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc, một hàng bằng lưu ly, một hàng bằng pha lê, một hàng bằng hồng ngọc, một hàng bằng mã não, một hàng bằng tất cả các loại ngọc. Cây cọ bằng vàng thì thân bằng vàng, lá và quả bằng bạc. Cây cọ bằng bạc thì thân bằng bạc, lá và quả bằng vàng. Cây cọ bằng lưu ly thì thân bằng lưu ly, lá và quả bằng pha lê. Cây cọ bằng pha lê thì thân bằng pha lê, lá và quả bằng lưu ly. Cây cọ bằng hồng ngọc thì thân bằng hồng ngọc, lá và quả bằng mã não. Cây cọ bằng mã não thì thân bằng mã não, lá và quả bằng hồng ngọc. Cây cọ bằng tất cả các loại ngọc thì thân bằng tất cả các loại ngọc, lá và quả bằng tất cả các loại ngọc. Này Ānanda, khi những hàng cây cọ ấy bị gió thổi qua, âm thanh phát ra thật du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm. Này Ānanda, giống như âm thanh của dàn nhạc năm nhạc cụ được tinh chỉnh khéo léo, được tấu lên nhịp nhàng bởi những nhạc công điêu luyện, phát ra âm thanh du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm; cũng vậy, này Ānanda, khi những hàng cây cọ ấy bị gió thổi qua, âm thanh phát ra thật du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm. Này Ānanda, vào thời đó ở kinh đô Kusāvatī, những kẻ say sưa, nghiện ngập, khát khao đã lấy âm thanh của những hàng cây cọ bị gió thổi ấy làm thú vui tiêu khiển.

3. Này Ananda, chớ có nói như vậy. Này Ananda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc. Này Ananda, thuở xưa có vị vua tên là Mahà-Sudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển Luân vương trị vì như pháp, là vị Pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ananda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Ðại Thiện Kiến, tên là Kusàvati (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến mười bảy do tuần. Này Ananda, kinh đô Susàvati này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực thẩm phong phú. Này Ananda, cũng như kinh đô Alakamanda của chư Thiên rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Cũng vậy này Ananda, kinh đô Kusàvati này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn. Này Ananda, kinh đô Kusàvati này ngày đêm vang dậy mười loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiềng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi!”.

4. Này Ananda, kinh đô Kusàvati có bảy bức thành bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh, một loại bằng san hô, một loại bằng xa cừ, một loại bằng mọi thứ báu.

5. Này Ananda, kinh đô Kusàvati có bốn loại cửa: một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tại mỗi cửa, có dựng bảy cột trụ, bề cao khoảng ba hay bốn lần thân người. Một cột trụ bằng vàng, một cột trụ bằng bạc, một cột trụ bằng lưu ly, một cột trụ bằng thủy tinh, một cột trụ bằng san hô, một cột trụ bằng xa cừ, một cột trụ bằng mọi thứ báu.

6. Này Ananda, kinh đô Kasàvati có bảy hàng cây tàla bao học, một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc, một hàng bằng lưu ly, một hàng bằng xa cừ, một hàng bằng san hô, một hàng bằng xa cừ, một hàng bằng mọi thứ báu. Cây tàla bằng vàng, có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tàla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tàla bằng lưu ly, có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái cây bằng thủy tinh. Cây tàla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tàla bằng san hô, có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tàla bằng xa cừ, có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tàla bằng mọi loại báu, có thân cây bằng mọi loại báu, có là và trái cây bằng mọi loại báu. Này Ananda, khi những cây tàla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê lý khởi lên, cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái đáp ý mê ly. Cũng vậy, Ananda, khi những hàng cây tàla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ananda, lúc bấy giờ, nếu ở tại kinh đô Kusàvati có những kẻ cờ bạc, rượu chè, họ sẽ nhảy múa theo những âm điệu của những hàng cây tàla này khi được gió thổi.

2. Đầy đủ Bảy Báu Vật

2.1. Báu vật Bánh Xe (Cakkaratana)

Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị đầy đủ bảy báu vật và bốn thần lực. Bảy báu vật đó là gì?

Này Ānanda, vào ngày rằm Uposatha, khi vua Mahāsudassana đã gội đầu, thọ trì trai giới và lên tầng cao nhất của cung điện, thì một báu vật Bánh Xe thiêng liêng xuất hiện, có một ngàn nan hoa, có vành, có trục, hoàn hảo về mọi mặt. Thấy vậy, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Ta đã từng nghe điều này: “Đối với vị vua Sát-đế-lỵ đã được quán đảnh, vào ngày rằm Uposatha, đã gội đầu, thọ trì trai giới và lên tầng cao nhất của cung điện, nếu báu vật Bánh Xe thiêng liêng xuất hiện với một ngàn nan hoa, có vành, có trục, hoàn hảo về mọi mặt, thì vị ấy là một vị vua cai trị toàn cõi.” Phải chăng ta nay là một vị vua cai trị toàn cõi?’

Rồi này Ānanda, vua Mahāsudassana đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp y một bên vai, tay trái cầm bình nước bằng vàng, tay phải rưới nước lên báu vật Bánh Xe và nói: ‘Hãy lăn đi, hỡi báu vật Bánh Xe tôn kính; hãy chinh phục, hỡi báu vật Bánh Xe tôn kính.’

Rồi này Ānanda, báu vật Bánh Xe ấy lăn về phương Đông, và vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đi theo sau. Này Ānanda, tại nơi nào báu vật Bánh Xe dừng lại, tại nơi đó vua Mahāsudassana thiết lập chỗ ở cùng với bốn binh chủng.

Này Ānanda, các vị vua đối nghịch ở phương Đông đã đi đến gặp vua Mahāsudassana và nói: ‘Hãy đến đây, tâu Đại vương, chào mừng Đại vương, tất cả là của Đại vương, tâu Đại vương, xin hãy chỉ dạy chúng thần, tâu Đại vương.’

Vua Mahāsudassana nói như sau: ‘Không được giết hại sinh mệnh, không được lấy của không cho, không được tà dâm trong sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), không được nói dối, không được uống rượu, và hãy thọ dụng thức ăn như đã từng thọ dụng.’ Này Ānanda, các vị vua đối nghịch ở phương Đông đã trở thành những người tuân phục vua Mahāsudassana.

Rồi này Ānanda, báu vật Bánh Xe ấy lặn xuống biển phương Đông, trồi lên và lăn về phương Nam…

lặn xuống biển phương Nam, trồi lên và lăn về phương Tây…

lặn xuống biển phương Tây, trồi lên và lăn về phương Bắc, và vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đi theo sau. Này Ānanda, tại nơi nào báu vật Bánh Xe dừng lại, tại nơi đó vua Mahāsudassana thiết lập chỗ ở cùng với bốn binh chủng.

Này Ānanda, các vị vua đối nghịch ở phương Bắc đã đi đến gặp vua Mahāsudassana và nói: ‘Hãy đến đây, tâu Đại vương, chào mừng Đại vương, tất cả là của Đại vương, tâu Đại vương, xin hãy chỉ dạy chúng thần, tâu Đại vương.’

Vua Mahāsudassana nói như sau: ‘Không được giết hại sinh mệnh, không được lấy của không cho, không được tà dâm trong sự dễ chịu giác quan, không được nói dối, không được uống rượu, và hãy thọ dụng thức ăn như đã từng thọ dụng.’ Này Ānanda, các vị vua đối nghịch ở phương Bắc đã trở thành những người tuân phục vua Mahāsudassana.

Rồi này Ānanda, báu vật Bánh Xe ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến tận bờ biển, đã quay trở lại kinh đô Kusāvatī và dừng lại ở cửa nội cung của vua Mahāsudassana, ngay trước tòa án, đứng yên như một trục bánh xe, làm rực rỡ thêm nội cung của vua Mahāsudassana. Này Ānanda, báu vật Bánh Xe có hình tướng như vậy đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana.

2.2. Báu vật Voi (Hatthiratana)

Lại nữa, này Ānanda, báu vật Voi đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana, toàn thân trắng muốt, bảy điểm chạm đất, có thần thông, bay được trên không, tên là voi chúa Uposatha. Thấy vậy, tâm vua Mahāsudassana vô cùng hoan hỷ: ‘Thật là một phương tiện cưỡi tuyệt vời, nếu nó chịu sự thuần hóa.’ Rồi này Ānanda, báu vật Voi ấy—giống như một con voi chúa dòng dõi quý tộc đã được huấn luyện kỹ lưỡng từ lâu—đã chấp nhận sự thuần hóa.

Thuở xưa, này Ānanda, vua Mahāsudassana để thử nghiệm báu vật Voi ấy, vào buổi sáng đã cưỡi lên nó, bay vòng quanh trái đất cho đến tận bờ biển, rồi quay trở lại kinh đô Kusāvatī để dùng bữa sáng. Này Ānanda, báu vật Voi có hình tướng như vậy đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana.

2.3. Báu vật Ngựa (Assaratana)

Lại nữa, này Ānanda, báu vật Ngựa đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana, toàn thân trắng muốt, đầu đen, bờm như cỏ muñja, có thần thông, bay được trên không, tên là ngựa chúa Valāhaka. Thấy vậy, tâm vua Mahāsudassana vô cùng hoan hỷ: ‘Thật là một phương tiện cưỡi tuyệt vời, nếu nó chịu sự thuần hóa.’ Rồi này Ānanda, báu vật Ngựa ấy—giống như một con ngựa chúa dòng dõi quý tộc đã được huấn luyện kỹ lưỡng từ lâu—đã chấp nhận sự thuần hóa.

Thuở xưa, này Ānanda, vua Mahāsudassana để thử nghiệm báu vật Ngựa ấy, vào buổi sáng đã cưỡi lên nó, bay vòng quanh trái đất cho đến tận bờ biển, rồi quay trở lại kinh đô Kusāvatī để dùng bữa sáng. Này Ānanda, báu vật Ngựa có hình tướng như vậy đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana.

2.4. Báu vật Ngọc (Maṇiratana)

Lại nữa, này Ānanda, báu vật Ngọc đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana. Đó là viên ngọc lưu ly, tuyệt đẹp, nguồn gốc tự nhiên, có tám mặt, được chế tác hoàn hảo, trong suốt, sáng ngời, không tì vết, hoàn hảo về mọi mặt. Này Ānanda, ánh sáng của báu vật Ngọc ấy tỏa ra xung quanh xa đến một do-tuần.

Thuở xưa, này Ānanda, vua Mahāsudassana để thử nghiệm báu vật Ngọc ấy, đã tập hợp bốn binh chủng, treo viên ngọc lên đỉnh cờ và hành quân vào đêm tối mịt mù. Này Ānanda, các ngôi làng xung quanh nhờ ánh sáng ấy mà bắt đầu công việc của họ vì tưởng rằng trời đã sáng. Này Ānanda, báu vật Ngọc có hình tướng như vậy đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana.

2.5. Báu vật Nữ (Itthiratana)

Lại nữa, này Ānanda, báu vật Nữ đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana, xinh đẹp, đáng nhìn, duyên dáng, có nước da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá lùn, không quá gầy, không quá béo, không quá đen, không quá trắng, vượt qua vẻ đẹp của loài người nhưng chưa đến vẻ đẹp của chư thiên. Này Ānanda, sự xúc chạm thân thể của báu vật Nữ ấy giống như chạm vào bông gòn hay bông vải. Này Ānanda, thân thể của báu vật Nữ ấy ấm áp khi trời lạnh, và mát mẻ khi trời nóng. Này Ānanda, từ thân thể của báu vật Nữ ấy tỏa ra mùi hương trầm, từ miệng tỏa ra mùi hoa sen xanh. Này Ānanda, báu vật Nữ ấy đối với vua Mahāsudassana luôn thức dậy trước, đi ngủ sau, sẵn sàng vâng lệnh, cư xử làm hài lòng, nói lời dễ thương. Này Ānanda, báu vật Nữ ấy ngay cả trong tâm trí cũng không bao giờ phản bội vua Mahāsudassana, huống hồ là bằng thân thể. Này Ānanda, báu vật Nữ có hình tướng như vậy đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana.

2.6. Báu vật Cư sĩ (Gahapatiratana)

Lại nữa, này Ānanda, báu vật Cư sĩ đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana. Nhờ quả báo của nghiệp, vị ấy có thiên nhãn, có thể nhìn thấy kho báu dù có chủ hay không có chủ.

Vị ấy đi đến gặp vua Mahāsudassana và nói: ‘Xin Đại vương đừng bận tâm, thần sẽ lo liệu những việc cần làm bằng tài sản cho Đại vương.’

Thuở xưa, này Ānanda, vua Mahāsudassana để thử nghiệm báu vật Cư sĩ ấy, đã lên một chiếc thuyền, đi ra giữa dòng sông Hằng và nói với báu vật Cư sĩ: ‘Này Cư sĩ, ta cần tiền vàng.’

‘Vậy thì, tâu Đại vương, xin hãy cho thuyền cập vào một bờ.’

‘Ngay tại đây, này Cư sĩ, ta cần tiền vàng.’

Rồi này Ānanda, báu vật Cư sĩ ấy dùng cả hai tay nhúng xuống nước, vớt lên một hũ đầy tiền vàng và nói với vua Mahāsudassana: ‘Như thế này đã đủ chưa, tâu Đại vương? Như thế này đã làm xong chưa, tâu Đại vương? Như thế này đã cúng dường đủ chưa, tâu Đại vương?’

Vua Mahāsudassana nói: ‘Như thế này là đủ rồi, này Cư sĩ. Như thế này là làm xong rồi, này Cư sĩ. Như thế này là cúng dường đủ rồi, này Cư sĩ.’

Này Ānanda, báu vật Cư sĩ có hình tướng như vậy đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana.

2.7. Báu vật Tướng quân (Pariṇāyakaratana)

Lại nữa, này Ānanda, báu vật Tướng quân đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana, là người thông thái, sáng suốt, trí tuệ, có khả năng khuyên vua Mahāsudassana tiến lên khi cần tiến lên, lùi lại khi cần lùi lại, dừng lại khi cần dừng lại.

Vị ấy đi đến gặp vua Mahāsudassana và nói: ‘Xin Đại vương đừng bận tâm, thần sẽ chỉ huy.’

Này Ānanda, báu vật Tướng quân có hình tướng như vậy đã xuất hiện cho vua Mahāsudassana.

Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị đầy đủ bảy báu vật này.

7. Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến, có đủ bảy món báu và bốn Như ý đức. Thế nào là bảy?

Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến, vào ngày Bố-tát trăng rằm sau khi tắm rửa, lên cao điện để trai giới, thời Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe, trục xe, đủ mọi bộ phận. Thấy vậy, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Ta nghe như vầy: Khi một vị vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh vào ngày Bố-tát trăng rằm, sau khi tắm rửa, lên cao điện trai giới, nếu có Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe và trục xe, đầy đủ mọi bộ phận, thời vị vua ấy là Chuyển Luân vương. Như vậy ta có thể là Chuyển Luân vương”.

8. Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y trên một vai, tay trái cầm bình nước và với tay phải rưới nước trên xe báu và nói: Này xe báu hãy lăn khắp, này xe báu hãy chinh phục!”. Và này Ananda, xe báu lăn về hướng Ðông và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Và này Ananda, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.

9. Này Ananda, các địch vương ở phương Ðông đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.

Vua Ðại Thiện Kiến nói rằng: “Không được sát sanh. Không được lấy của không cho. Không được tà dâm. Không được nói láo. Không được uống rượu. Hãy ăn uống cho thích nghi”.

Này Ananda, tất cả địch vương ở phương Ðông đều trở thành chư hầu vua Ðại Thiện Kiến.

10. Này Ananda, rồi xe báu lăn xuống biển lớn ở phương Ðông rồi nổi lên rồi lăn về phương Nam…, lặn xuống biển lớn ở phương Nam, rồi nổi lên và lặn về phương Tây…, lặn xuống biển lớn ở phương Tây, rồi nổi lên và lặn về phương Bắc và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Này Ananda, chỗ nào xe báu dừng lại chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.

Này Ananda, các địch vương ở phương Bắc đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương tất cả thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.

Này Ananda, tất cả địch vương ở phương Bắc đều trở thành chư hầu của vua Ðại Thiện Kiến.

Này Ananda, xe báu ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô Kusàvati, và đứng trước pháp đình, trên cửa nội cung như một trang bảo cho nội cung của vua Ðại Thiện Kiến”.

Này Ananda, như vậy là sự xuất hiện xe báu của vua Ðại Thiện Kiến.

12. Lại nữa này Ananda, voi báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, bảy xứ kiên cường, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Uposatha (Bố-tát). Thấy voi báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Lành thay được cỡi con voi này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này Ananda, như một con hiền tượng quí phái chịu sự điều ngự lâu ngày, con voi báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ananda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử voi báu này, sáng sớm cỡi voi đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusàvati kịp giờ ăn sáng. Này Ananda, như vậy là sự xuất hiện voi báu của vua Ðại Thiện Kiến.

13. Lại nữa này Ananda, ngựa báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, đầu đen như quạ, bờm ngựa màu đen, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Valahaka. Thấy ngựa báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoa hỷ và nghĩ: “Tốt đẹp thay được cỡi con ngựa này nếu nó chịu sự điều ngự”. và này Ananda, như một con hiền mã quý phái, chịu sự điều ngự lâu ngày, con ngựa báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ananda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử ngựa báu này, sáng sớm cỡi ngựa, đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusàvati kịp giờ ăn sáng. Này Ananda, như vậy là sự xuất hiện ngựa báu của vua Ðại Thiện Kiến.

14. Lại nữa, này Ananda, châu báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến. Châu báu ấy là lưu ly châu, sáng suốt, thuần chất, có tám mặt, khó dũa, khó mài, thanh tịnh, trong suốt, hoàn hảo mọi phương diện. Này Ananda, hào quang châu báu này chiếu sáng cùng khắp một do tuần. Này Ananda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử châu báu này đã cho dàn bày bốn binh chủng, đặt bảo châu cao trên quân kỳ và có thể tiến quân trong đêm tối âm u. Này Ananda, mọi người trong làng ở xung quanh đều bắt đầu làm việc, tưởng rằng trời đã sáng rồi. Này Ananda như vậy là sự xuất hiện châu báu của vua Ðại Thiện Kiến.

15. Này Ananda, nữ báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt trên dung sắc loài Người, sánh đến dung sắc chư Thiên. Này Ananda, thân xúc nữ báu này êm mịn như bông, như nhung. Này Ananda, khi trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thành ấm áp, khi trời nóng, trở thành lạnh mát. Này Ananda, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi thơm hoa sen. Này Ananda, nữ báu này dậy trước và di ngủ sau vua Ðại Thiện Kiến, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành khả ái. Này Ananda, nữ báu này không có một tư tưởng nào bất tín đối với vua Ðại Thiện Kiến huống nữa là về thân thể. Này Ananda, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Ðại Thiện Kiến.

16. Lại nữa, này Ananda, gia chủ báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, chứng được thiên nhãn, do nghiệp dị thục sanh và nhờ thiên nhãn này có thể thấy châu báu chôn cất có chủ hay không có chủ. Gia chủ báu này đến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ xử lý thích nghi tài sản Ðại vương”.

Này Ananda, thuở xưa vua Ðại Thiện Kiến muốn thử gia chủ báu này, liền cỡi thuyền, chèo gia giữa sông Hằng và bảo gia chủ báu:

− Này Gia chủ, ta cần vàng.

− Tâu Ðại vương, Ðại vương hãy cho chèo thuyền gần bờ nào cũng được.

− Này Gia chủ, Ta cần vàng ngay tại đây.

Này Ananda, khi ấy gia chủ báu thọc hai tay xuống nước nhắc lên một ghè đầy cả vàng ròng rồi tâu với vua Ðại Thiện Kiến:

− Tâu Ðại vương, như vậy đã đủ chưa. Tâu Ðại vương, làm như vậy đã được chưa?

Vua Ðại Thiện Kiến trả lời:

− Này Gia chủ, như vậy là đủ. Này Gia chủ, làm như vậy là được rồi. Này Gia chủ, cúng dường như vậy là được rồi.

Này Ananda, như vậy là sự xuất hiện gia chủ báu của vua Ðại Thiện Kiến.

17. Lại nữa, này Ananda, tướng quân báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, có học thức, thông minh, sáng suốt, có khả năng khuyến cáo. Vua Ðại Thiện Kiến khi đáng tiến thì tiến, khi đáng lui thì lui, khi đáng dừng thì dừng lại.

Vị này đến tâu vua Ðại Thiện Kiến:

− Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có âu lo, Thần sẽ cố vấn Ðại vương.

Này Ananda, như vậy là sự xuất hiện tướng quân báu của vua Ðại Thiện Kiến.

Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến có đầy đủ bảy báu như vậy.

3. Đầy đủ Bốn Thần Lực

Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị đầy đủ bốn thần lực. Bốn thần lực đó là gì?

Ở đây, này Ānanda, vua Mahāsudassana xinh đẹp, đáng nhìn, duyên dáng, có nước da tuyệt mỹ, vượt trội hơn hẳn những người khác. Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị thần lực thứ nhất này.

Lại nữa, này Ānanda, vua Mahāsudassana sống lâu, tồn tại lâu dài, vượt trội hơn hẳn những người khác. Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị thần lực thứ hai này.

Lại nữa, này Ānanda, vua Mahāsudassana ít bệnh tật, ít ốm đau, có hệ tiêu hóa hoạt động tốt, không quá lạnh cũng không quá nóng, vượt trội hơn hẳn những người khác. Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị thần lực thứ ba này.

Lại nữa, này Ānanda, vua Mahāsudassana được các Bà-la-môn và Cư sĩ yêu mến, quý trọng. Này Ānanda, giống như một người cha được các con yêu mến, quý trọng; cũng vậy, này Ānanda, vua Mahāsudassana được các Bà-la-môn và Cư sĩ yêu mến, quý trọng. Và này Ānanda, đối với vua Mahāsudassana, các Bà-la-môn và Cư sĩ cũng rất đáng yêu, đáng quý. Này Ānanda, giống như đối với người cha, các con rất đáng yêu, đáng quý; cũng vậy, này Ānanda, đối với vua Mahāsudassana, các Bà-la-môn và Cư sĩ cũng rất đáng yêu, đáng quý.

Thuở xưa, này Ānanda, vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đi ra khu vườn. Khi ấy, này Ānanda, các Bà-la-môn và Cư sĩ đi đến gặp vua Mahāsudassana và nói: ‘Xin Đại vương hãy đi chậm lại, để chúng thần có thể nhìn ngắm Đại vương lâu hơn.’ Và này Ānanda, vua Mahāsudassana cũng bảo người đánh xe: ‘Này người đánh xe, hãy lái xe chậm lại, để ta có thể nhìn ngắm các Bà-la-môn và Cư sĩ lâu hơn.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị thần lực thứ tư này.

Này Ānanda, vua Mahāsudassana được trang bị đầy đủ bốn thần lực này.

18. Lại nữa, này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến, có đầy đủ bốn Như ý đức. Thế nào là bốn? Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến đẹp trai, khả ái, cử chỉ thanh lịch, sắc diện tuyện luân, thấy xa hơn mọi người. Này Ananda, đó là Như ý đức thứ nhất của vua Ðại Thiện Kiến.

19. Này Ananda, lại nữa, vua Ðại Thiện Kiến sống lâu, tuổi thọ thắng xa các người khác. Này Ananda, đó là Như ý đức thứ hai của vua Ðại Thiện Kiến.

20. Lại nữa này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến ít bệnh tật, ít tai ương, thể nhiệt không quá lạnh, không quá nóng, được quân phân để điều hòa sự tiêu hóa, thắng xa các người khác. Nãy Ananda, đó là Như ý đức thứ ba của vua Ðại Thiện Kiến.

21. Lại nữa, này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ananda, như người cha được các người con ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ananda, như những người con được người cha ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ananda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ được vua Ðại Thiện Kiến ái kính và yêu mến. Thuở xưa, này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến đi đến hoa viên cùng với bốn loại binh chủng. Này Ananda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu rằng: “Tâu Ðại vương, hãy cho đi chậm chậm để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng lâu dài hơn…” Này Ananda, nhưng vua Ðại Thiện Kiến lại ra lệnh cho người đánh xe: “Này anh đánh xe, hãy đánh xe chậm chậm để ta có thể thấy các vị Bà-la-môn và Gia chủ lâu dài hơn”. Này Ananda, như vậy là Như ý đức thứ tư của vua Ðại Thiện Kiến.

4. Cung điện Dhamma và Hồ nước

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Hay là ta hãy tạo ra những hồ nước giữa các hàng cây cọ này, cách nhau mỗi trăm cung tên.’

Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã tạo ra những hồ nước giữa các hàng cây cọ, cách nhau mỗi trăm cung tên. Này Ānanda, những hồ nước ấy được xây bằng gạch có bốn màu—một loại gạch bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng pha lê.

Này Ānanda, ở những hồ nước ấy có bốn bậc thang mang bốn màu, một bậc thang bằng vàng, một bậc thang bằng bạc, một bậc thang bằng lưu ly, một bậc thang bằng pha lê. Bậc thang bằng vàng thì có cột bằng vàng, thanh ngang và tay vịn bằng bạc. Bậc thang bằng bạc thì có cột bằng bạc, thanh ngang và tay vịn bằng vàng. Bậc thang bằng lưu ly thì có cột bằng lưu ly, thanh ngang và tay vịn bằng pha lê. Bậc thang bằng pha lê thì có cột bằng pha lê, thanh ngang và tay vịn bằng lưu ly. Này Ānanda, những hồ nước ấy được bao quanh bởi hai lớp lan can, một lớp bằng vàng, một lớp bằng bạc. Lan can bằng vàng thì có cột bằng vàng, thanh ngang và tay vịn bằng bạc. Lan can bằng bạc thì có cột bằng bạc, thanh ngang và tay vịn bằng vàng.

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Hay là ta hãy trồng các loại hoa trong những hồ nước này: hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen trắng, hoa sen trắng lớn, nở quanh năm, không ngăn cấm bất kỳ ai.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã trồng các loại hoa trong những hồ nước ấy: hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen trắng, hoa sen trắng lớn, nở quanh năm, không ngăn cấm bất kỳ ai.

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Hay là ta hãy bố trí những người phục vụ tắm rửa trên bờ những hồ nước này, để họ tắm rửa cho những người qua lại.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã bố trí những người phục vụ tắm rửa trên bờ những hồ nước ấy, để họ tắm rửa cho những người qua lại.

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Hay là ta hãy thiết lập việc bố thí trên bờ những hồ nước này—thức ăn cho người cần thức ăn, đồ uống cho người cần đồ uống, y phục cho người cần y phục, xe cộ cho người cần xe cộ, giường nằm cho người cần giường nằm, phụ nữ cho người cần phụ nữ, tiền bạc cho người cần tiền bạc, vàng cho người cần vàng.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã thiết lập việc bố thí trên bờ những hồ nước ấy—thức ăn cho người cần thức ăn, đồ uống cho người cần đồ uống, y phục cho người cần y phục, xe cộ cho người cần xe cộ, giường nằm cho người cần giường nằm, phụ nữ cho người cần phụ nữ, tiền bạc cho người cần tiền bạc, vàng cho người cần vàng.

Khi ấy, này Ānanda, các Bà-la-môn và Cư sĩ mang theo rất nhiều tài sản đi đến gặp vua Mahāsudassana và nói: ‘Tâu Đại vương, đây là rất nhiều tài sản được mang đến chỉ để dành cho Đại vương, xin Đại vương hãy nhận lấy.’

‘Thôi đủ rồi, các bạn, ta cũng có rất nhiều tài sản được thu thập từ các khoản thuế hợp pháp, tài sản này hãy thuộc về các bạn, và hãy mang thêm từ đây về.’

Bị nhà vua từ chối, họ lùi ra một bên và suy nghĩ: ‘Thật không phải lẽ nếu chúng ta mang những tài sản này trở về nhà mình. Hay là chúng ta hãy xây dựng một cung điện cho vua Mahāsudassana.’

Họ đi đến gặp vua Mahāsudassana và nói: ‘Tâu Đại vương, chúng thần sẽ xây dựng một cung điện cho ngài.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana im lặng nhận lời.

Khi ấy, này Ānanda, Sakka (Đế Thích), chúa tể chư thiên, biết được suy nghĩ trong tâm của vua Mahāsudassana, liền gọi thiên tử Vissakamma: ‘Này bạn Vissakamma, hãy đến xây dựng một cung điện tên là Dhamma (Pháp) cho vua Mahāsudassana.’

‘Vâng, thưa tôn giả’, này Ānanda, thiên tử Vissakamma vâng lời Sakka, chúa tể chư thiên, và giống như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—vị ấy biến mất khỏi cõi trời Đao-lợi và xuất hiện trước mặt vua Mahāsudassana.

Khi ấy, này Ānanda, thiên tử Vissakamma nói với vua Mahāsudassana: ‘Tâu Đại vương, thần sẽ xây dựng cho ngài một cung điện tên là Dhamma.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana im lặng nhận lời.

Này Ānanda, thiên tử Vissakamma đã xây dựng cung điện tên là Dhamma cho vua Mahāsudassana.

Này Ānanda, cung điện Dhamma có chiều dài từ Đông sang Tây là một do-tuần. Chiều rộng từ Bắc xuống Nam là nửa do-tuần. Này Ānanda, nền móng của cung điện Dhamma được xây cao gấp ba lần chiều cao con người bằng gạch có bốn màu—một loại gạch bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng pha lê.

Này Ānanda, cung điện Dhamma có tám mươi tư ngàn cột trụ mang bốn màu—một cột bằng vàng, một cột bằng bạc, một cột bằng lưu ly, một cột bằng pha lê. Này Ānanda, cung điện Dhamma được lát bằng các tấm ván mang bốn màu—một tấm bằng vàng, một tấm bằng bạc, một tấm bằng lưu ly, một tấm bằng pha lê.

Này Ānanda, cung điện Dhamma có hai mươi tư bậc thang mang bốn màu—một bậc thang bằng vàng, một bậc thang bằng bạc, một bậc thang bằng lưu ly, một bậc thang bằng pha lê. Bậc thang bằng vàng thì có cột bằng vàng, thanh ngang và tay vịn bằng bạc. Bậc thang bằng bạc thì có cột bằng bạc, thanh ngang và tay vịn bằng vàng. Bậc thang bằng lưu ly thì có cột bằng lưu ly, thanh ngang và tay vịn bằng pha lê. Bậc thang bằng pha lê thì có cột bằng pha lê, thanh ngang và tay vịn bằng lưu ly.

Này Ānanda, trong cung điện Dhamma có tám mươi tư ngàn căn phòng trên gác mang bốn màu—một phòng bằng vàng, một phòng bằng bạc, một phòng bằng lưu ly, một phòng bằng pha lê. Trong phòng bằng vàng có đặt một chiếc giường bằng bạc, trong phòng bằng bạc có đặt một chiếc giường bằng vàng, trong phòng bằng lưu ly có đặt một chiếc giường bằng ngà voi, trong phòng bằng pha lê có đặt một chiếc giường bằng gỗ lõi. Ở cửa phòng bằng vàng có một cây cọ bằng bạc, thân bằng bạc, lá và quả bằng vàng. Ở cửa phòng bằng bạc có một cây cọ bằng vàng, thân bằng vàng, lá và quả bằng bạc. Ở cửa phòng bằng lưu ly có một cây cọ bằng pha lê, thân bằng pha lê, lá và quả bằng lưu ly. Ở cửa phòng bằng pha lê có một cây cọ bằng lưu ly, thân bằng lưu ly, lá và quả bằng pha lê.

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Hay là ta hãy tạo ra một rừng cọ hoàn toàn bằng vàng ở cửa căn phòng lớn (Mahāviyūha), nơi ta sẽ ngồi nghỉ ngơi vào ban ngày.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã tạo ra một rừng cọ hoàn toàn bằng vàng ở cửa căn phòng lớn, nơi ngài ngồi nghỉ ngơi vào ban ngày.

Này Ānanda, cung điện Dhamma được bao quanh bởi hai lớp lan can, một lớp bằng vàng, một lớp bằng bạc. Lan can bằng vàng thì có cột bằng vàng, thanh ngang và tay vịn bằng bạc. Lan can bằng bạc thì có cột bằng bạc, thanh ngang và tay vịn bằng vàng.

Này Ānanda, cung điện Dhamma được bao quanh bởi hai mạng lưới chuông nhỏ—một lưới bằng vàng, một lưới bằng bạc. Lưới bằng vàng thì có chuông bằng bạc, lưới bằng bạc thì có chuông bằng vàng. Này Ānanda, khi những mạng lưới chuông ấy bị gió thổi qua, âm thanh phát ra thật du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm. Này Ānanda, giống như âm thanh của dàn nhạc năm nhạc cụ được tinh chỉnh khéo léo, được tấu lên nhịp nhàng bởi những nhạc công điêu luyện, phát ra âm thanh du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm; cũng vậy, này Ānanda, khi những mạng lưới chuông ấy bị gió thổi qua, âm thanh phát ra thật du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm. Này Ānanda, vào thời đó ở kinh đô Kusāvatī, những kẻ say sưa, nghiện ngập, khát khao đã lấy âm thanh của những mạng lưới chuông bị gió thổi ấy làm thú vui tiêu khiển. Này Ānanda, khi cung điện Dhamma hoàn thành, nó chói lọi đến mức khó nhìn, làm lóa mắt. Này Ānanda, giống như vào tháng cuối của mùa mưa, trong tiết thu, khi bầu trời quang đãng không một gợn mây, mặt trời mọc lên giữa không trung chói lọi đến mức khó nhìn, làm lóa mắt; cũng vậy, này Ānanda, cung điện Dhamma chói lọi đến mức khó nhìn, làm lóa mắt.

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Hay là ta hãy tạo ra một hồ nước tên là Dhamma ở phía trước cung điện Dhamma.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã tạo ra một hồ nước tên là Dhamma ở phía trước cung điện Dhamma. Này Ānanda, hồ nước Dhamma có chiều dài từ Đông sang Tây là một do-tuần, chiều rộng từ Bắc xuống Nam là nửa do-tuần. Này Ānanda, hồ nước Dhamma được xây bằng gạch có bốn màu—một loại gạch bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng pha lê.

Này Ānanda, hồ nước Dhamma có hai mươi tư bậc thang mang bốn màu—một bậc thang bằng vàng, một bậc thang bằng bạc, một bậc thang bằng lưu ly, một bậc thang bằng pha lê. Bậc thang bằng vàng thì có cột bằng vàng, thanh ngang và tay vịn bằng bạc. Bậc thang bằng bạc thì có cột bằng bạc, thanh ngang và tay vịn bằng vàng. Bậc thang bằng lưu ly thì có cột bằng lưu ly, thanh ngang và tay vịn bằng pha lê. Bậc thang bằng pha lê thì có cột bằng pha lê, thanh ngang và tay vịn bằng lưu ly.

Này Ānanda, hồ nước Dhamma được bao quanh bởi hai lớp lan can—một lớp bằng vàng, một lớp bằng bạc. Lan can bằng vàng thì có cột bằng vàng, thanh ngang và tay vịn bằng bạc. Lan can bằng bạc thì có cột bằng bạc, thanh ngang và tay vịn bằng vàng.

Này Ānanda, hồ nước Dhamma được bao quanh bởi bảy hàng cây cọ—một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc, một hàng bằng lưu ly, một hàng bằng pha lê, một hàng bằng hồng ngọc, một hàng bằng mã não, một hàng bằng tất cả các loại ngọc. Cây cọ bằng vàng thì thân bằng vàng, lá và quả bằng bạc. Cây cọ bằng bạc thì thân bằng bạc, lá và quả bằng vàng. Cây cọ bằng lưu ly thì thân bằng lưu ly, lá và quả bằng pha lê. Cây cọ bằng pha lê thì thân bằng pha lê, lá và quả bằng lưu ly. Cây cọ bằng hồng ngọc thì thân bằng hồng ngọc, lá và quả bằng mã não. Cây cọ bằng mã não thì thân bằng mã não, lá và quả bằng hồng ngọc. Cây cọ bằng tất cả các loại ngọc thì thân bằng tất cả các loại ngọc, lá và quả bằng tất cả các loại ngọc. Này Ānanda, khi những hàng cây cọ ấy bị gió thổi qua, âm thanh phát ra thật du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm. Này Ānanda, giống như âm thanh của dàn nhạc năm nhạc cụ được tinh chỉnh khéo léo, được tấu lên nhịp nhàng bởi những nhạc công điêu luyện, phát ra âm thanh du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm; cũng vậy, này Ānanda, khi những hàng cây cọ ấy bị gió thổi qua, âm thanh phát ra thật du dương, quyến rũ, êm ái và say đắm. Này Ānanda, vào thời đó ở kinh đô Kusāvatī, những kẻ say sưa, nghiện ngập, khát khao đã lấy âm thanh của những hàng cây cọ bị gió thổi ấy làm thú vui tiêu khiển.

Này Ānanda, khi cung điện Dhamma và hồ nước Dhamma đã hoàn thành, vua Mahāsudassana đã làm thỏa mãn mọi mong muốn của những vị được coi là Sa-môn trong số các Sa-môn, hoặc những vị được coi là Bà-la-môn trong số các Bà-la-môn, rồi ngài bước lên cung điện Dhamma.

(Hết phần tụng thứ nhất).

22. Và này Anada, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay ta hãy cho xây những hồ sen giữa các hàng cây tàla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm!”.

Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây các hồ sen giữa các hàng cây tàla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm. Này Ananda, những hồ sen ấy được lát bằng bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Này Ananda, trong bốn loại hồ sen ấy có bốn loại tầm cấp, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly. Này Ananda, những hồ sen ấy được hai hàng bằng bạc. Hàng lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Hàng lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.

23. Và này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trong những hồ sen này ta sẽ cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để những ai muốn làm tràng hoa có thể lấy dùng”. Và này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để làm những tràng hoa bằng các thứ bông ấy.

Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những người hầu tắm cho những người qua kẻ lại”. Và này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến cho đặt những người hầu tắm trên bờ những hồ sen này để tắm cho những người qua kẻ lại.

Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc và vàng cho những ai cần vang”. Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến, trên bờ những hồ sen ấy, cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc, và vàng cho những ai cần vàng.

24. Này Ananda, các Gia chủ, Bà-la-môn đem theo nhiều tiền bạc đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu vua:

− Tâu Ðại vương, chúng tôi có đem nhiều tiền của này để Ðại vương dùng. Mong đại vương hãy thâu nhận lấy.

− Này các Khanh, ta có đầy đủ nhiều tiền bạc do đánh thuế đúng pháp đem lại. Hãy giữ tiền bạc của Khanh lại, và đem theo nhiều nữa cho các Khanh!

Các vị này khi bị vua từ chối, liền đứng qua một bên và suy nghĩ: “Nếu nay chúng ta đem tiền của này về nhà chúng ta thời thật không phải. Chúng ta hãy xây dựng nhà cửa cho vua Ðại Thiện Kiến”.

Các vị ấy liền đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu:

− Ðại vương, chúng tôi định xây dựng nhà cửa cho Ðại vương.

Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời.

25. Này Ananda, Thiên chủ Sakka biết được tư tưởng của vua Ðại Thiện Kiến với tư tưởng của mình, liền gọi Thiên tử Vissakamma (Tỳ-thủ-yết-ma) và nói:

− Này Vissakamma, hãy đến đây và xây dựng một lâu đài cho vua Ðại Thiện Kiến, đặt tên là Dhamma (Pháp).

− Xin vâng, Tôn giả.

Này Ananda, Thiên tử Vissakamma vâng lời Thiên chủ Sakka, như người lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co, hay co lại cánh tay duổi ra, Thiên tử Vissakamma biến mất từ chư Thiên ở Tavatimsa và hiện ra trước mặt vua Ðại Thiện Kiến. Rồi này Ananda, Thiên tử Vissakamma tâu với vua Ðại Thiện Kiến:

− Ðại vương, tôi sẽ xây dựng một lâu đài tên là Dhamma cho Ðại vương! Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời. Và này Ananda, Thiên tử Vissakamma xây dựng lâu đài tên là Dhamma cho vua Ðại Thiện Kiến.

26. Này Ananda, lâu đài Dhamma này, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam, bề rộng đến nửa do-tuần.

Này Ananda, nền nhà của lâu đài Dhamma cao cho đến ba thân người và làm bằng ba loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.

Này Ananda, lâu đài Dhamma có đến tám vạn bốn ngàn cột trụ bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.

Này Ananda, lâu đài Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly.

Này Ananda, lâu đài Dhamma có tám vạn bốn ngàn phòng ốc bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Trong phòng ốc bằng vàng có chỗ nằm bằng bạc được trải ra. Trong phòng ốc bằng bạc, có chỗ nằm bằng vàng được trải ra. Trong phòng ốc bằng lưu ly có chỗ nằm bằng ngà được trải ra. Trong phòng ốc bằng thủy tinh, có chỗ nằm bằng san hô được trải ra. Tại cửa phòng ốc bằng vàng, có dựng lên một cây tàla bằng bạc, với thân cây bằng bạc, với lá và trái cây bằng vàng. Tại cửa phòng ốc bằng bạc, có dựng lên một cây tàla bằng vàng, với thân cây bằng vàng, với lá và trái bằng bạc. Tại cửa phòng ốc bằng lưu ly, có dựng lên một cây tàla bằng thủy tinh, với lá và trái cây bằng thủy tinh, có dựng lên một cây tàla bằng lưu ly, với thân cây bằng lưu ly, với lá và trái cây bằng thủy tinh.

27. Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, ta hãy cho dựng lên một rừng cây tàla toàn bằng vàng, và tại đây ta sẽ an tọa ban ngày.

Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, cho dựng lên một rừng cây tàla toàn bằng vàng và tại đây, vua ngồi an tọa ban ngày.

28. Này Ananda, lâu đầu Dhamma được hai dãy lan can bao bọc, một dãy bằng vàng, một dãy bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.

29. Này Ananda, lâu đầi Dhamma có hai màn lưới thông linh, một màn bằng vàng, một màn bằng bạc. Màn lưới bằng vàng có chuông linh bằng bạc, màn lưới bằng bạc có chuông linh bằng vàng. Này Ananda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ananda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ananda, lúc bấy giờ nếu tại kinh đô Kusàvati có những kẻ cờ bạc, rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những màn lưới chuông linh này khi được gió thổi.

30. Này Ananda, lâu đầi Dhamma khi xây xong, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa (vì quá nguy nga tráng lệ). Này Ananda, như trong tháng cuối mùa mưa, khi bầu trời quang đảng, không bị mây che lấp, mặt trời mọc lên giữa hư không, khó mà nhìn xem vì hai mắt bị chói lòa. Cũng vậy, này Ananda, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa khi lâu đài Dhamma xây xong.

31. Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước mặt lâu đài Dhamma, ta hãy cho xây hồ sen tên gọi là Dhamma!”.

Và này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây một hồ sen tên là Dhamma trước mặt lâu đài Dhamma.

Này Ananda, hồ sen Dhamma, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam bề rộng đến nửa do tuần.

Này Ananda, hồ sen Dhamma có bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.

Này Ananda, hồ sen Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ và đậu trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly!

Này Ananda, hồ sen Dhamma có hai loại lan can bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.

32. Này Ananda, hồ sen Dhamma có bảy hàng cây tàla bao bọc, một hàng cây bằng vàng, một hàng cây bằng bạc, một hàng cây bằng lưu ly, một hàng cây bằng thủy tinh, một hàng cây bằng san hô, một hàng cây bằng xa cừ, một hàng cây bằng mọi thứ báu. Cây tàla bằng vàng có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tàla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tàla bằng lưu ly có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái câ bằng thủy tinh. Cây tàla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tàla bằng san hô có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tàla bằng xa cừ có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tà la bằng mọi thứ báu có thân cây bằng mọi thứ báu, có lá và trái cây bằng mọi thứ báu. Này Ananda, khi những hàng cây tàla này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ananda, khi những hàng cây tàla này được gió rung chuyển thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ananda, lúc bấy giờ nếu ở kinh đô Kusàvati có những kẻ cờ bạc rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những hàng cây này khi được gió thổi.

33. Này Ananda, khi lâu đài Dhamma và hồ sen Dhamma được xây xong, lúc bấy giờ vua Ðại Thiện Kiến cúng dường cho các vị Sa-môn được tôn kính và các vị Bà-la-môn được tôn kính mọi sự dục lạc cần thiết rồi vua lên lâu đài Dhamma.

5. Thành tựu Thiền-na (Jhānasampatti)

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Đây là quả của nghiệp nào của ta, là kết quả của nghiệp nào, mà nay ta lại có thần lực lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy?’

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Đây là quả của ba nghiệp của ta, là kết quả của ba nghiệp, mà nay ta lại có thần lực lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, đó là: bố thí, tự điều phục, và tự kiềm chế.’

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana đi đến căn phòng lớn (Mahāviyūha); sau khi đến, đứng ở cửa căn phòng lớn, ngài thốt lên lời cảm hứng: ‘Dừng lại, suy nghĩ về sự dễ chịu giác quan (dục / kāma); dừng lại, suy nghĩ về ác ý; dừng lại, suy nghĩ về hãm hại. Chỉ đến đây thôi, suy nghĩ về sự dễ chịu giác quan; chỉ đến đây thôi, suy nghĩ về ác ý; chỉ đến đây thôi, suy nghĩ về hãm hại.’

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana bước vào căn phòng lớn, ngồi trên chiếc giường bằng vàng, hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicca) sự dễ chịu giác quan, rời bỏ những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā), đạt và an trú Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, có chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka), có nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra), do rời bỏ (viễn ly / viveka) sinh ra hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha). Do lắng dịu (diệt / vūpasama) chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, ngài đạt sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, đạt và an trú Thiền-na thứ hai, do định sinh ra hân hoanhạnh phúc. Do phai nhạt hân hoan, ngài an trú trong Tâm bình thản (xả / upekkhā), có sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, đạt và an trú Thiền-na thứ ba mà các bậc thánh gọi là: ‘Người có Tâm bình thản, có sự Tự Quan Sát, sống hạnh phúc’. Do hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúcđau khổ (khổ / dukkha), và do sự tan biến (diệt / atthaṅgama) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, ngài đạt và an trú Thiền-na thứ tư, không đau khổ không hạnh phúc, có sự Tự Quan Sát hoàn toàn thanh tịnh nhờ Tâm bình thản.

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana bước ra khỏi căn phòng lớn, đi vào căn phòng bằng vàng, ngồi trên chiếc giường bằng bạc, an trú với tâm tràn ngập Tâm yêu thương (từ / mettā) lan tỏa khắp một phương. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, ngài an trú với tâm tràn ngập Tâm yêu thương, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý, lan tỏa khắp mọi nơi, bao trùm toàn bộ thế giới, cả trên, dưới và xung quanh. Với tâm tràn ngập Tâm thông cảm (bi / karuṇā)… Với tâm tràn ngập Tâm cùng vui (hỷ / muditā)… Với tâm tràn ngập Tâm bình thản (xả / upekkhā) lan tỏa khắp một phương. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, ngài an trú với tâm tràn ngập Tâm bình thản, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý, lan tỏa khắp mọi nơi, bao trùm toàn bộ thế giới, cả trên, dưới và xung quanh.

Tụng Phẩm II

1. Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này của ta do nghiệp gì, báo này của ta là do nghiệp gì mà hiện tại ta có thần lực như vậy, có oai lực như vậy?”.

Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này là do ba loại nghiệp, báo này là do ba loại nghiệp mà hiện tại ta có thần lực như vậy. Ðó là Bố thí, Tự điều, Tự chế”.

2. Này Ananda tồi vua Ðại Thiện Kiến đi đến cao đường Ðại Trang Nghiêm, đứng trước cửa và nói lớn tiếng cao hứng ngữ sau đây:

Hãy dừng lại, tư tưởng dục vọng!
Hãy dừng lại, tư tưởng sân hận!
Hãy dừng lại, tư tưởng não hại!
Ðến đây thôi, tư tưởng dục vọng!
Ðến đây thôi, tư tưởng sân hận!
Ðến đây thôi, tư tưởng não hại!

3. Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến bước vào cao đường Ðại Trang Nghiêm, ngồi trên sàng tọa bằng vàng, ly dục, ly ác pháp chứng và an trú trong thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tâm với tứ. Rồi diệt tầm và tứ, chứng và an trú trong thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú vào thiền thứ ba. Rồi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú vào thiền thứ tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

4. Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm, bước vào cao đường bằng vàng, ngồi trên sàng tọa bằng bạc, an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân… với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên không hận không sân.

6. Tám mươi tư ngàn thành phố, v.v.

Này Ānanda, vua Mahāsudassana có tám mươi tư ngàn thành phố, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī; có tám mươi tư ngàn cung điện, đứng đầu là cung điện Dhamma; có tám mươi tư ngàn căn phòng trên gác, đứng đầu là căn phòng lớn (Mahāviyūha); có tám mươi tư ngàn chiếc giường bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà voi, bằng gỗ lõi, được trải thảm lông cừu dài, thảm len trắng, thảm thêu hoa, thảm da linh dương thượng hạng, có mái che phía trên, có gối tựa màu đỏ ở hai đầu; có tám mươi tư ngàn con voi được trang sức bằng vàng, cắm cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là voi chúa Uposatha; có tám mươi tư ngàn con ngựa được trang sức bằng vàng, cắm cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là ngựa chúa Valāhaka; có tám mươi tư ngàn cỗ xe được bọc da sư tử, da hổ, da báo, chăn len màu vàng, được trang sức bằng vàng, cắm cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là cỗ xe Vejayanta; có tám mươi tư ngàn viên ngọc, đứng đầu là báu vật Ngọc; có tám mươi tư ngàn phụ nữ, đứng đầu là hoàng hậu Subhaddā; có tám mươi tư ngàn Cư sĩ, đứng đầu là báu vật Cư sĩ; có tám mươi tư ngàn Sát-đế-lỵ tùy tùng, đứng đầu là báu vật Tướng quân; có tám mươi tư ngàn con bò sữa vắt ra sữa chảy tràn, dùng thùng vắt bằng đồng; có tám mươi tư ngàn vạn tấm vải lanh mịn, vải bông mịn, lụa mịn, len mịn; này Ānanda, vua Mahāsudassana có tám mươi tư ngàn mâm thức ăn được dâng lên mỗi sáng và tối.

Này Ānanda, vào thời đó, tám mươi tư ngàn con voi của vua Mahāsudassana đến chầu mỗi sáng và tối. Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghĩ rằng: ‘Tám mươi tư ngàn con voi này của ta đến chầu mỗi sáng và tối, hay là cứ sau mỗi một trăm năm, hãy để bốn mươi hai ngàn con voi luân phiên đến chầu một lần.’ Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana gọi báu vật Tướng quân: ‘Này Tướng quân, tám mươi tư ngàn con voi này của ta đến chầu mỗi sáng và tối, vậy thì này Tướng quân, cứ sau mỗi một trăm năm, hãy để bốn mươi hai ngàn con voi luân phiên đến chầu một lần.’ ‘Vâng, tâu Đại vương’, này Ānanda, báu vật Tướng quân vâng lệnh vua Mahāsudassana. Rồi này Ānanda, về sau, cứ sau mỗi một trăm năm, bốn mươi hai ngàn con voi của vua Mahāsudassana luân phiên đến chầu một lần.

5. Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến có tám vạn bốn ngàn kinh thành, và kinh thành Kusàvati (Câu-xábà-đề) là đệ nhất.

Tám vạn bốn ngàn lâu đài, và lâu đài Dhamma là đệ nhất. Tám vạn bốn ngàn cao đường, và cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất.

Tám vạn bốn ngàn sàng tọa, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thú trắng của con sơn dương được che bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ.

Tám vạn bốn ngàn con voi, với những trang sức bằng vàng, được che chở bằng lưới vàng, và tượng vương Uposatha (Bố-tát-đà) là đệ nhất.

Tám vạn bốn ngàn con ngựa, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới vàng, và mã vương Valàhaka (Vân Mã vương) là đệ nhất.

Tám vạn bốn ngàn cổ xe, với những tấm tham bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vai vàng, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cổ xe tên Vejayanta (Nhạc thanh xa hay Chiến thắng kỳ) là đệ nhất.

Tám vạn bốn ngàn châu ngọc và bảo châu là đệ nhất.

Tám vạn bốn ngàn phụ nữ và hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi) là đệ nhất.

Tám vạn bốn ngàn gia chủ và gia chủ báu là đệ nhất. Tám vạn bốn ngàn người giòng Sát-đế-lỵ và tướng quân báu là đệ nhất.

Tám vạn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay (Dukùla), với sừng đầu nhọn bịt đồng.

Tám vạn bốn ngàn vải Koti (Cu-chi) với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung.

Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa (Thàlipàka), buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm.

6. Lúc bấy giờ, này Ananda, có tám vạn bốn ngàn voi sáng chiều đến phục vụ cho vua Ðại Thiện Kiến. Rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tám vạn bốn ngàn con voi này sáng chiều đến phục vụ cho ta. Nay ta hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm thời bốn vạn hai ngàn con đến”.

Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến bảo Tướng quân báu:

− Này Hiền giả, nay tám vạn bốn ngàn con voi này, sáng chiều đến phục vụ ta. Nay hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm, mỗi lần cho bốn vạn hai ngàn con đến.

− Tâu Ðại vương, vâng!

Này Ananda, vị tướng quân báu vâng lời vua Ðại Thiện Kiến. Này Ananda, từ đó về sau, cứ mỗi một trăm năm, bốn vạn hai ngàn con voi lần lượt đến với vua Ðại Thiện Kiến.

7. Hoàng hậu Subhaddā đến thăm

Khi ấy, này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, hoàng hậu Subhaddā nghĩ rằng: ‘Đã lâu rồi ta không được gặp vua Mahāsudassana. Hay là ta hãy đi đến để diện kiến vua Mahāsudassana.’

Khi ấy, này Ānanda, hoàng hậu Subhaddā gọi các cung nữ: ‘Các ngươi hãy đến đây, gội đầu và mặc y phục màu vàng. Đã lâu rồi chúng ta không được gặp vua Mahāsudassana, chúng ta sẽ đi đến để diện kiến vua Mahāsudassana.’

‘Vâng, thưa lệnh bà’, này Ānanda, các cung nữ vâng lời hoàng hậu Subhaddā, gội đầu, mặc y phục màu vàng và đi đến chỗ hoàng hậu Subhaddā.

Khi ấy, này Ānanda, hoàng hậu Subhaddā gọi báu vật Tướng quân: ‘Này Tướng quân, hãy chuẩn bị bốn binh chủng, đã lâu rồi chúng ta không được gặp vua Mahāsudassana, chúng ta sẽ đi đến để diện kiến vua Mahāsudassana.’

‘Vâng, thưa hoàng hậu’, này Ānanda, báu vật Tướng quân vâng lời hoàng hậu Subhaddā, cho chuẩn bị bốn binh chủng rồi báo cáo với hoàng hậu Subhaddā: ‘Thưa hoàng hậu, bốn binh chủng đã được chuẩn bị xong, nay hoàng hậu hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc.’

Khi ấy, này Ānanda, hoàng hậu Subhaddā cùng với bốn binh chủng và các cung nữ đi đến cung điện Dhamma; sau khi đến, bước lên cung điện Dhamma và đi đến căn phòng lớn (Mahāviyūha). Sau khi đến, bà đứng tựa vào khung cửa của căn phòng lớn.

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nghe thấy âm thanh và nghĩ: ‘Âm thanh gì mà giống như của một đám đông lớn vậy?’ Ngài bước ra khỏi căn phòng lớn và nhìn thấy hoàng hậu Subhaddā đang đứng tựa vào khung cửa. Thấy hoàng hậu Subhaddā, ngài nói: ‘Hãy đứng ngay đó, này hoàng hậu, đừng bước vào.’

Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana gọi một người phục vụ: ‘Này người kia, hãy đến đây, mang chiếc giường bằng vàng từ căn phòng lớn ra và đặt trong rừng cọ hoàn toàn bằng vàng.’

‘Vâng, tâu Đại vương’, này Ānanda, người phục vụ vâng lệnh vua Mahāsudassana, mang chiếc giường bằng vàng từ căn phòng lớn ra và đặt trong rừng cọ hoàn toàn bằng vàng. Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nằm nghiêng bên phải theo dáng nằm của sư tử, đặt chân này lên chân kia, có sự Tự Quan Sátnhận biết rõ ràng.

Khi ấy, này Ānanda, hoàng hậu Subhaddā nghĩ rằng: ‘Các giác quan của vua Mahāsudassana thật trong sáng, nước da thật thanh tịnh và rạng rỡ, mong sao vua Mahāsudassana đừng qua đời.’ Bà liền nói với vua Mahāsudassana: 'Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn thành phố này, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī. Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống.

Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn cung điện này, đứng đầu là cung điện Dhamma. Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn căn phòng trên gác này, đứng đầu là căn phòng lớn. Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn chiếc giường bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà voi, bằng gỗ lõi… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con voi… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con ngựa… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn cỗ xe… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn viên ngọc… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn phụ nữ… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn Cư sĩ… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn Sát-đế-lỵ tùy tùng… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con bò sữa… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn vạn tấm vải… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn mâm thức ăn… Tâu Đại vương, xin ngài hãy khởi lên mong muốn đối với những thứ này, hãy giữ lấy sự khao khát sống.’

Khi được nói như vậy, này Ānanda, vua Mahāsudassana nói với hoàng hậu Subhaddā: ‘Này hoàng hậu, trong một thời gian dài, nàng đã đối xử với ta bằng những lời đáng ao ước, đáng yêu, dễ chịu, làm hài lòng; nhưng nay trong giờ phút cuối cùng, nàng lại đối xử với ta bằng những lời không đáng ao ước, không đáng yêu, không dễ chịu, không làm hài lòng.’

‘Vậy thần thiếp phải đối xử với ngài như thế nào, tâu Đại vương?’

‘Này hoàng hậu, nàng hãy đối xử với ta như thế này: “Tâu Đại vương, mọi thứ đáng yêu và làm hài lòng đều phải chịu sự chia lìa, xa cách, biến đổi. Tâu Đại vương, xin ngài đừng qua đời với sự bám víu, sự qua đời với bám víu là đau khổ, sự qua đời với bám víu là đáng chê trách. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn thành phố này, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī. Tâu Đại vương, xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn cung điện này… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn căn phòng trên gác này… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn chiếc giường… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con voi… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con ngựa… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn cỗ xe… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn viên ngọc… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn phụ nữ… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn Cư sĩ… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn Sát-đế-lỵ tùy tùng… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con bò sữa… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn vạn tấm vải… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn mâm thức ăn… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống.”’

Khi được nói như vậy, này Ānanda, hoàng hậu Subhaddā bật khóc và rơi lệ. Rồi này Ānanda, hoàng hậu Subhaddā lau nước mắt và nói với vua Mahāsudassana: ‘Tâu Đại vương, mọi thứ đáng yêu và làm hài lòng đều phải chịu sự chia lìa, xa cách, biến đổi. Tâu Đại vương, xin ngài đừng qua đời với sự bám víu, sự qua đời với bám víu là đau khổ, sự qua đời với bám víu là đáng chê trách. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn thành phố này… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn cung điện này… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn căn phòng trên gác này… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn chiếc giường… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con voi… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con ngựa… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn cỗ xe… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn viên ngọc… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn phụ nữ… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn Cư sĩ… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn Sát-đế-lỵ tùy tùng… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn con bò sữa… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn vạn tấm vải… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống. Tâu Đại vương, ngài có tám mươi tư ngàn mâm thức ăn… Xin ngài hãy từ bỏ mong muốn đối với những thứ này, đừng giữ lấy sự khao khát sống.’

7. Này Ananda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Cách đây đã lâu, ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay ta hãy đi để thăm vua Ðại Thiện Kiến”.

Này Ananda, rồi hoàng hậu Subhaddà nói với các cung nữ:

− Các Ngươi hãy gọi đầu, mặc áo vàng. Cách đây đã lâu, chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.

− Tâu Hoàng hậu, vâng!

− Này Ananda, các cung nữ vâng lời hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi), gội đầu, mặc áo vàng và đi đến hoàng hậu Subhaddà.

Này Ananda, rồi hoàng hậu Subhaddà cho gọi Tướng quân báu:

− Này Khanh, hãy cho sắp đặt bốn loại binh chủng. Cách đây đã lâu chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.

− Tâu Hoàng hậu, vâng!

Này Ananda, tướng quân báu vâng lời hoàng hậu Subhaddà, cho sắp đặt bốn loại binh chủng và tâu Hoàng hậu:

− Tâu Hoàng hậu, bốn loại binh chủng đã sắp đặt xong. Hãy làm gì Hoàng hậu nghĩ là phải thời.

8. Này Ananda, hoàng hậu Subhaddà cùng với bốn loại binh chủng và các cung nữ đi đến lâu đài Dhamma, leo lên lâu đài ấy, đến tại cao đường Ðại Trang Nghiêm và đứng dựa vào cánh cửa của cao đường này. Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tiếng gì ồn ào như vậy, như cả một quần chúng đông đảo?” Vua bèn bước ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và thấy hoàng hậu Subhaddà đang đứng dựa vào cửa. Thấy vậy, vua liền nói với hoàng hậu Subhaddà:

− Hoàng hậu hãy đứng ở đây, chớ có vào!

9. Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến liền bảo một người hầu cận:

− Ngươi hãy nhắc giường bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sàla bằng vàng.

− Tâu Ðại vương, vâng!

Này Ananda, người ấy vâng lời dạy của vua Ðại Thiện Kiến, nhắc sàng tọa bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sàla bằng vàng.

Này Ananda, rồi vua Ðại Thiện Kiến nằm xuống, trong dáng điệu con sư tử, về phía bên hữu, một chân đặt dài trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác.

10. Này Ananda, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Các căn của vua Ðại Thiện Kiến thật là sáng suốt, màu da thật là thanh tịnh, trong sáng. Mong rằng vua Ðại Thiện Kiến chớ có mệnh chung!”.

Rồi hoàng hậu tâu với vua Ðại Thiện Kiến:

− Tâu Ðại vương, tám ván bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusàvati là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và mã vương Valàhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vải vàng với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này và tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Kơti với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!

11. Này Ananda, vua Ðại Thiện Kiến nghe hoàng hậu Subhaddà nói vậy liền trả lời:

− Ðã từ lâu Hoàng hậu nói với ta với những lời dễ chịu, hòa ái và dịu dàng. Thế mà nay, trong lần cuối cùng này, Hoàng hậu lại nói với ta bằng những lời không dễ chịu, không hòa ái, không dịu dàng!

− Tâu Ðại vương, thiếp phải đối với Ðại vương thế nào?

− Này Hoàng hậu, Hoàng hậu phải nói với ta như thế này:

“Tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, chịu sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến của chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến. Ðáng trách thay, sự mệnh chung còn ái luyến.

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusàvati là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tạo này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này với những trang sức bằng vàng, được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valàhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này là phụ nữ báu àl là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người thuộc giòng họ Sát-đế-lỵ này là tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ ái dục đối với họ. Ðại vương chớ chó ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koti với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buối sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

12. Này Ananda, khi nghe nói vậy, hoàng hậu Subhaddà buồn khóc, rơi nước mắt và tâu với vua Ðại Thiện Kiến:

− Tâu Ðại vương, tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, thực sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Ðáng trách thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vang và mã vương Valàhaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy tử bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này và phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koti với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa, vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!

8. Tái sinh vào cõi Phạm thiên

Khi ấy, này Ānanda, không lâu sau vua Mahāsudassana qua đời. Này Ānanda, giống như một Cư sĩ hay con trai của Cư sĩ cảm thấy buồn ngủ sau khi ăn một bữa ăn ngon lành; cũng vậy, này Ānanda, cảm giác lúc lâm chung của vua Mahāsudassana diễn ra nhẹ nhàng như thế.

Và sau khi qua đời, này Ānanda, vua Mahāsudassana tái sinh vào cõi lành, cõi Phạm thiên. Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã chơi đùa như một hoàng tử trong tám mươi tư ngàn năm. Ngài làm phó vương trong tám mươi tư ngàn năm. Ngài cai trị đất nước trong tám mươi tư ngàn năm. Ngài sống đời sống phạm hạnh của một cư sĩ tại cung điện Dhamma trong tám mươi tư ngàn năm. Sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, ngài tái sinh vào cõi Phạm thiên.

Này Ānanda, có thể ông nghĩ rằng: ‘Chắc hẳn vua Mahāsudassana thời đó là một người nào khác’, nhưng này Ānanda, không nên nhìn nhận như vậy. Chính ta là vua Mahāsudassana vào thời đó.

Của ta là tám mươi tư ngàn thành phố ấy, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī; của ta là tám mươi tư ngàn cung điện ấy, đứng đầu là cung điện Dhamma; của ta là tám mươi tư ngàn căn phòng trên gác ấy, đứng đầu là căn phòng lớn; của ta là tám mươi tư ngàn chiếc giường ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn con voi ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn con ngựa ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn cỗ xe ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn viên ngọc ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn phụ nữ ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn Cư sĩ ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn Sát-đế-lỵ tùy tùng ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn con bò sữa ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn vạn tấm vải ấy…; của ta là tám mươi tư ngàn mâm thức ăn ấy…

Nhưng này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn thành phố ấy, ta chỉ sống ở một thành phố duy nhất vào thời điểm đó, đó là kinh đô Kusāvatī. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn cung điện ấy, ta chỉ sống ở một cung điện duy nhất vào thời điểm đó, đó là cung điện Dhamma. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn căn phòng trên gác ấy, ta chỉ sống ở một căn phòng duy nhất vào thời điểm đó, đó là căn phòng lớn. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn chiếc giường ấy, ta chỉ sử dụng một chiếc giường duy nhất vào thời điểm đó, đó là chiếc giường bằng vàng, hoặc bằng bạc, hoặc bằng ngà voi, hoặc bằng gỗ lõi. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn con voi ấy, ta chỉ cưỡi một con voi duy nhất vào thời điểm đó, đó là voi chúa Uposatha. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn con ngựa ấy, ta chỉ cưỡi một con ngựa duy nhất vào thời điểm đó, đó là ngựa chúa Valāhaka. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn cỗ xe ấy, ta chỉ cưỡi một cỗ xe duy nhất vào thời điểm đó, đó là cỗ xe Vejayanta. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn phụ nữ ấy, chỉ có một người phụ nữ duy nhất phục vụ ta vào thời điểm đó, đó là một phụ nữ Sát-đế-lỵ hoặc một phụ nữ Vệ-xá. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn vạn tấm vải ấy, ta chỉ mặc một bộ y phục duy nhất vào thời điểm đó, đó là vải lanh mịn, hoặc vải bông mịn, hoặc lụa mịn, hoặc len mịn. Này Ānanda, trong số tám mươi tư ngàn mâm thức ăn ấy, ta chỉ ăn một mâm thức ăn duy nhất vào thời điểm đó, tối đa là một bát cơm cùng với thức ăn kèm tương ứng.

Hãy xem, này Ānanda, tất cả những thứ do hợp mà thành (hành / saṅkhārā) ấy đều đã qua đi, đã chấm dứt (diệt / niruddhā), đã biến đổi. Như vậy là vô thường, này Ānanda, là các thứ do hợp mà thành là không bền vững như vậy , này Ānanda, là các thứ do hợp mà thành; như vậy là không đáng tin cậy, này Ānanda, là các thứ do hợp mà thành. Cho đến mức này, này Ānanda, đã đủ để chán ngán (yếm ly / nibbindituṁ) đối với tất cả các thứ do hợp mà thành, đủ để cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virajjituṁ), đủ để thoát khỏi (giải thoát / vimuccituṁ).

Này Ānanda, ta hiểu hết toàn bộ (thắng tri / abhijānāmi) rằng ta đã bỏ lại thân xác ở nơi này sáu lần, khi ta là một vị vua cai trị toàn cõi, một vị vua công chính, cai trị theo pháp, chiến thắng bốn phương, mang lại sự ổn định cho quốc gia, được trang bị đầy đủ bảy báu vật, và đây là lần bỏ lại thân xác thứ bảy. Này Ānanda, ta không thấy bất kỳ nơi nào trong thế giới này với chư thiên, ma vương, phạm thiên, với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư thiên và loài người, nơi mà Như Lai sẽ bỏ lại thân xác lần thứ tám."

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

“Thật vô thường thay các *hoạt động Mang bản tính sinh ra và sự suy tàn;
Sinh ra rồi chấm dứt,
Sự lắng dịu của chúng là hạnh phúc.”

Kết thúc Kinh Đại Thiện Kiến Vương, bài kinh thứ tư.

13. Này Ananda, không bao lâu, vua Ðại Thiện Kiến mệnh chung. Này Ananda, giống như một người gia chủ hay con một người gia chủ, sau một bữa cơm thịnh soạn trở nên buồn ngủ, cũng tương tự như vậy cảm giác của vua Ðại Thiện Kiến khi mệnh chung. Này Ananda, sau khi mệnh chung, vua Ðại Thiện Kiến sanh lên thiên phú cõi Phạm thiên. Này Ananda, trải tám vạn bốn ngàn năm, vua Ðại Thiện Kiến sống sung sướng đời sống của một hoàng tử, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một phó vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một vị quốc vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm gia chủ, sống phạm hạnh trong lâu đài Dhamma. Ngài tu tập bốn Thần túc như vậy, sau khi thân hoại mạng chung. Ngài được sanh lên cõi Phạm thiên.

14. Này Ananda, các ngươi có thể nghĩ: “Thời ấy, vua Ðại Thiện Kiến là một vị khác”. Này Ananda, chớ có quan niệm như vậy. Thời ấy chính Ta là vua Ðại Thiện Kiến.

Tám vạn bốn ngàn kinh thành với kinh thành Kusàvati là đệ nhất ấy thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn lâu đài với lâu đài Dhamma là đệ nhất ấy thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn cao đường với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất ấy thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa ấy đều thuộc của ta.

Tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi ấy đều thuộc của ta.

Tám vạn bốn ngàn con ngựa với những trang sức bằng vàng, cờ vàng được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valahaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của ta.

Tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vijayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất đều thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn phụ nữ này với phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của ta.

Tám vạn bốn ngàn gia chủ này với gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng đều thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn vải Koti với sắc chất tinh diệu như vài gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ta.

Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ta.

15. Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn kinh thành ấy, chỉ có một kinh thành mà Ta ở vào thời ấy, đó là kinh thành Kusàvati.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn lâu đài ấy, chỉ có một lâu đài mà Ta ở thời ấy, đó là lâu đài Dhamma.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn cao đường ấy, chỉ có một cao đường mà Ta ở thời ấy, đó là cao đường Ðại Trang Nghiêm.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy, chỉ có một sàng tọa mà Ta dùng thời ấy, đó là sàng tọa bằng vàng, hay bằng bạc, hay bằng ngà, hay bằng gỗ kiên cố.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn con voi ấy, chỉ có một con voi mà Ta cỡi thời ấy, đó là tượng vương Uposatha.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn con ngựa ấy, chỉ có một con ngựa mà Ta cỡi thời ấy, đó là con mã vương Valàhaka.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn cỗ xe ấy, chỉ có một cỗ xe mà Ta cỡi thời ấy, đó là cỗ xe Vejayanta.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn phụ nữ ấy, chỉ có một phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy, đó là phụ nữ của giòng Sát-đế-lỵ hay giòng Velàmikàni.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn loại vải Koti ấy, chỉ có một loại vải sắc chất tế nhị mà Ta mặc thời ấy, đó là vải gai, vải bông, vải lụa hay vai nhung.

Này Ananda, trong tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa ấy, chỉ có một loại cháo sữa mà Ta dùng thời ấy, đó là cơm và đồ ăn.

16. Này Ananda, tất cả các pháp hữu vi ấy nay đã vào quá khứ, hoại diệt và biến hóa. Này Ananda, các pháp hữu vi, vô thường là như vậy, không kiên cố là như vậy, không đáng tin tưởng là như vậy; vì rằng, này Ananda, tất cả các pháp hữu vi cần phải nhàm chán, cần phải thoát ly, cần phải giải thoát.

17. Này Ananda, nay Ta nhớ lại, như thế nào tại chỗ này thân Ta đã được chôn tất cả là sáu lần; và khi Ta sống làm một vị Chuyển Luân vương, dùng chánh pháp trị nước, một vị pháp vương, trị vì bốn thiên hạ, vị chinh phục, che chở cho quần chúng, đầy đủ bảy món báu, đó là lần thứ bảy. Này Ananda, Ta không thấy một địa phương nào, trong thế giới loài Người và chư Thiên, trong thế giới Ma vương hay thế giới Phạm thiên, trong giòng họ Sa-môn hay Bà-la-môn mà trong địa phương ấy, Như Lai sẽ bỏ thân này lần thứ tám.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi thuyết xong, Thiện Thệ, bậc Ðạo Sư nói lại bài kệ như sau:

Tất cả pháp hữu vi, Thật sự là vô thường, Khởi lên rồi diệt mất, Thường tánh là như vậy. Chúng được sanh khởi lên, Rồi chúng lại hoại diệt. Hạnh phúc thay khi chúng Ðược tịnh chỉ an lạc.

-ooOoo-