Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 18. KINH JANAVASABHA

(Janavasabhasutta)
Bản tóm tắt→

1. Lời tuyên bố về những người ở Nādika và các nơi khác

Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Nādika, ở Ngôi nhà gạch.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn tuyên bố về cảnh giới tái sinh của các đệ tử ở các quốc gia xung quanh đã qua đời, đã mệnh chung, tại Kāsi, Kosala, Vajji, Malla, Ceti, Vaṁsa, Kuru, Pañcāla, Maccha, và Sūrasena:

"Người này sinh ra ở chỗ kia, người kia sinh ra ở chỗ nọ.

Hơn năm mươi đệ tử ở Nādika đã qua đời, đã mệnh chung, do cạn kiệt (đoạn tận / parikkhayā) năm xiềng xích trói buộc cõi dưới (hạ phần kiết sử / orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ), được sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātika), chấm dứt hoàn toàn (bát niết bàn / parinibbāyino) tại đó, mang tính chất không còn quay trở lại (bất hoàn / anāvattidhammā) từ thế giới ấy.

Hơn chín mươi đệ tử ở Nādika đã qua đời, đã mệnh chung, do cạn kiệt ba xiềng xích, và do làm mỏng nhẹ đắm nhiễm (tham / rāga), ám ảnh khó chịu (sân / dosa), và sự u mê (si / moha), là người chỉ quay lại một lần (nhất lai / sakadāgāmino), sau khi quay lại thế giới này một lần duy nhất sẽ làm chấm dứt (diệt / anta) đau khổ (khổ / dukkha).

Hơn năm trăm đệ tử ở Nādika đã qua đời, đã mệnh chung, do cạn kiệt ba xiềng xích, là người bước vào dòng chảy (tu-đà-hoàn / sotāpannā), không còn rơi vào cõi thấp (bất đọa pháp / avinipātadhammā), chắc chắn hướng đến sự thức tỉnh (quyết định hướng đến chánh giác / niyatā sambodhiparāyaṇā)."

Các đệ tử ở Nādika nghe rằng: “Thế Tôn tuyên bố về cảnh giới tái sinh của các đệ tử ở các quốc gia xung quanh đã qua đời… [như trên]… chắc chắn hướng đến sự thức tỉnh.” Nghe lời giải đáp của Thế Tôn, các đệ tử ở Nādika vô cùng hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan (hỷ / pīti) và thanh thản (hỷ / somanassa).

Tôn giả Ānanda cũng nghe rằng: “Thế Tôn tuyên bố về cảnh giới tái sinh của các đệ tử ở các quốc gia xung quanh đã qua đời… [như trên]… Nghe lời giải đáp của Thế Tôn, các đệ tử ở Nādika vô cùng hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoanthanh thản.”

18. KINH XA-NI-SA

(Janavasabha Sutta)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Nàdika (bộ lạc Na-đề-ca) tại Ginjakàvasatha (nhà làm bằng gạch). Lúc bấy giờ, Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã sống, đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh như bộ lạc Kàsi (Ca-thi), Kosala (Câu-tát-la), Vajjì (Bạt-kỳ), Malla (Mạtla), Ceti (Chi-đề), Vansa (Bạt-sa), Kuru (Câu-lâu), Pancàla (Ban-giá-la), Maccha (Bà-sá-la) Sùrasena (Mậu-ba-tây-na):

− Vị này sanh ra tại chỗ này! Vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdika đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà, đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ tận diệt khổ đau. Hơn năm trăm vị Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác.

2. Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe: “Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kàsi, Kosala, Vajjì, Malla, Ceti, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena: “Vị này sanh ra tại chỗ này. Vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (Thiên giới) từ đó nhập niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác”. Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy, lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc.

3. Tôn giả Ananda được nghe: “Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kàsi, Kosala, Vajjì, mallà, Ceti, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena: “Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn 50 vị tín đồ Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nãdikã đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác”. Các vị tín đồ ở Nãdikã được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc”.

2. Lời thưa thỉnh của Ānanda

Khi ấy, Tôn giả Ānanda suy nghĩ: "Cũng có rất nhiều đệ tử ở Magadha (Ma-kiệt-đà), những người có kinh nghiệm lâu năm, đã qua đời, đã mệnh chung. Dường như vùng Aṅga và Magadha đã trở nên trống vắng vì các đệ tử ở Aṅga và Magadha đã qua đời. Họ là những người có niềm tin vào Phật, niềm tin vào Pháp, niềm tin vào Tăng, và thực hành viên mãn các lối sống đạo đức (giới đức / sīla). Họ đã qua đời nhưng Thế Tôn không tuyên bố về họ. Thật tốt đẹp nếu Thế Tôn tuyên bố về họ, nhiều người sẽ sinh lòng tịnh tín, và nhờ đó sẽ đi đến cõi lành.

Lại nữa, có vua Magadha là Seniya Bimbisāra, một vị vua đạo đức, cai trị theo Quy luật (Pháp / Dhamma), mang lại lợi ích cho các Bà-la-môn, gia chủ, thương nhân và người dân. Mọi người vẫn thường ca ngợi: ‘Vị vua đạo đức của chúng ta đã mang lại hạnh phúc cho chúng ta rồi qua đời; chúng ta đã sống an vui trong vương quốc của vị vua đạo đức ấy’. Vị ấy cũng có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng và thực hành viên mãn các lối sống đạo đức. Mọi người nói rằng: ‘Cho đến tận lúc chết, vua Bimbisāra vẫn ca ngợi Thế Tôn’. Vị ấy đã qua đời nhưng Thế Tôn không tuyên bố về vị ấy. Thật tốt đẹp nếu Thế Tôn tuyên bố về vị ấy, nhiều người sẽ sinh lòng tịnh tín, và nhờ đó sẽ đi đến cõi lành.

Hơn nữa, Thế Tôn đã đạt được sự thức tỉnh tại Magadha. Khi Thế Tôn đạt được sự thức tỉnh tại Magadha, làm sao Thế Tôn lại không tuyên bố về cảnh giới tái sinh của các đệ tử Magadha đã qua đời? Nếu Thế Tôn không tuyên bố, các đệ tử Magadha sẽ cảm thấy tủi thân; và nếu họ tủi thân, làm sao Thế Tôn lại không tuyên bố về họ?"

Sau khi suy nghĩ một mình nơi thanh vắng về các đệ tử Magadha, vào lúc rạng sáng, Tôn giả Ānanda thức dậy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con có nghe rằng: ‘Thế Tôn tuyên bố về cảnh giới tái sinh của các đệ tử ở các quốc gia xung quanh… [như trên]… Nghe lời giải đáp của Thế Tôn, các đệ tử ở Nādika vô cùng hoan hỷ’. Bạch Thế Tôn, cũng có rất nhiều đệ tử ở Magadha… [như trên]… Nếu Thế Tôn không tuyên bố, các đệ tử Magadha sẽ cảm thấy tủi thân; và nếu họ tủi thân, làm sao Thế Tôn lại không tuyên bố về họ?” Sau khi thưa thỉnh trực tiếp Thế Tôn về các đệ tử Magadha, Tôn giả Ānanda đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

4. Rồi tôn giả Ananda suy nghĩ: “Nhưng ở tại Magadha (Ma-kiệt-đà), có nhiều tín đồ đã tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga (Ương-già) và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung. Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp và tin tưởng Tăng, và giới luật đầy đủ. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và sự mệnh chung của họ. Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiện giới. Lại có vua Seniya Bimbisàra (Tư-ni-du Tần-bà-sa) xứ Magadha sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn, Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôn quê. Vua này được dân chúng xưng tán như sau: “Vị vua sống như pháp, dùng chánh pháp trị nước, đã làm cho chúng ta sung sướng, vị này mệnh chung. Chúng ta đã sống thật hạnh phúc dưới thời vua sống như Pháp và dùng Chánh pháp trị nước này. Vị vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ”. Và dân chúng cũng nói: “Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn”. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay, nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin và từ đó được sanh lên thiên giới. Lại nữa Thế Tôn chứng quả Bồ-đề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồđề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng Bồ đề ở Magadha tại Magadha thì sao Ngài lại không nói đến về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha? Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha thời các vị này sẽ đau buồn và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không trả lời được?”.

5. Sau khi đã suy nghĩ một mình, yên lặng, vì các tín đồ ở Magadha, tôn giả Ananda sáng hôm sau thức dậy đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn con có nghe: Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kàsi, Kosala, Vajjì, Malla, Ceit, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena: “Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nadikà đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất Lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác”. Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc.

6. Bạch Thế Tôn, nhưng ở tại Magadha có nhiều tín đồ này tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung. Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của họ. Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, và như vậy nhiều người sẽ khơi lòng tin, và từ đó được sanh lên Thiên giới. Bạch Thế Tôn, lại có vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha, sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn , Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôm quê. Vua này được dân chúng xưng tán như sau: “Vị vua sống như Pháp, và dùng Chánh pháp cai trị nước này. Vị Vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ”. Và dân chúng cũng nói: “Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn”. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiên giới. Bạch Thế Tôn, lại nữa Thế Tôn đã chứng quả Bồ-đề ở Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồ đề ở Magadha, thời sao Ngài không nói về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha. Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha, thời các vị này sẽ đau buồn, và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không thể trả lời được!

Tôn giả Ananda, vì các tín đồ ở Magadha, sau khi đã trình lên trước Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ ra đi.

Sau khi Tôn giả Ānanda rời đi không lâu, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát đi vào Nādika để khất thực. Sau khi khất thực ở Nādika, ăn xong và trở về, Ngài rửa chân, đi vào Ngôi nhà gạch, chú tâm, suy nghĩ (tác ý / manasikatvā), và tập trung toàn bộ tâm trí hướng về các đệ tử Magadha, rồi ngồi trên chỗ đã dọn sẵn: “Ta sẽ biết cảnh giới của họ, nơi họ đi đến, nơi họ tái sinh.” Và Thế Tôn đã thấy các đệ tử Magadha: “Họ đi đến cảnh giới này, họ tái sinh ở nơi này.”

Vào buổi chiều, Thế Tôn xuất định, rời khỏi Ngôi nhà gạch, ngồi trên chỗ đã dọn sẵn dưới bóng râm phía sau tịnh xá.

Khi ấy, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, sắc mặt của Thế Tôn thật tĩnh lặng, các giác quan (căn / indriya) vô cùng trong sáng. Có phải hôm nay Thế Tôn đã an trú trong một trạng thái tĩnh lặng?”

"Này Ānanda, ngay sau khi ông thưa thỉnh trực tiếp Ta về các đệ tử Magadha rồi rời đi, Ta đã đi khất thực… [như trên]… Ta đã tập trung toàn bộ tâm trí hướng về các đệ tử Magadha: ‘Ta sẽ biết cảnh giới của họ…’. Và này Ānanda, Ta đã thấy các đệ tử Magadha đi đến cảnh giới nào, tái sinh ở nơi nào.

7. Sau khi tôn giả Ananda đi ra không bao lâu, Thế Tôn liền đắp y vào buổi sáng, tay cầm y bát, đi vào Nàdikà để khất thực. Khi khất thực ở Nàdikà xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ngài vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ, tư duy chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: “Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?” Thế Tôn thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, sau khi tịnh niệm, bước ra khỏi ngôi nhà bằng gạch, rồi ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, dưới bóng ngôi nhà.

8. Rồi Tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn ở, lúc đến xong, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngó thật là an tịnh; diện sắc của Thế Tôn như là sáng chói nhờ các căn thật sự thanh tịnh. Bạch Thế Tôn Thế Tôn hôm nay an trú có được hoan hỷ không?

9. - Này Ananda, sau khi Ngươi, vì các tín đồ ở Magadha đã nói trước mặt Ta như vậy và đứng dậy ra về, Ta đi khất thực ở Nãdikã xong, sau bữa ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ta vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: “Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các vị Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?” Rồi Ta thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này.

3. Tinh linh Janavasabha

Khi ấy, này Ānanda, một tinh linh (dạ xoa / yakkha) tàng hình phát ra tiếng nói: ‘Bạch Thế Tôn, con là Janavasabha; bạch Thiện Thệ, con là Janavasabha’. Này Ānanda, trước đây ông đã từng nghe cái tên Janavasabha này chưa?"

“Bạch Thế Tôn, trước đây con chưa từng nghe cái tên Janavasabha này. Nhưng bạch Thế Tôn, khi nghe cái tên ‘Janavasabha’, lông tóc con dựng đứng. Con nghĩ rằng: ‘Chắc hẳn đây không phải là một tinh linh tầm thường mới có cái tên vang dội là Janavasabha như vậy’.”

"Ngay sau khi tiếng nói phát ra, này Ānanda, một tinh linh với dung mạo tuyệt đẹp hiện ra trước mặt Ta. Lần thứ hai, vị ấy phát ra tiếng nói: 'Bạch Thế Tôn, con là Bimbisāra; bạch Thiện Thệ, con là Bimbisāra. Đây là lần thứ bảy con tái sinh vào hội chúng của Đại vương Vessavaṇa (Tỳ-sa-môn); sau khi mạng chung ở đó, con có khả năng trở thành một vị vua cõi người.

Bảy lần ở đây, bảy lần ở kia, mười bốn lần luân hồi;
Con hiểu biết trực tiếp nơi chốn con đã từng sống trước đây.

Bạch Thế Tôn, trong một thời gian dài, con nhận thức (tưởng tri / sañjānāmi) rằng mình không còn rơi vào cõi thấp, và con có hy vọng trở thành người chỉ quay lại một lần’."

“Thật kỳ diệu thay cho Tôn giả tinh linh Janavasabha, thật phi thường thay cho Tôn giả tinh linh Janavasabha. Ông nói: ‘Trong một thời gian dài, con nhận thức rằng mình không còn rơi vào cõi thấp’, và ông nói: ‘Con có hy vọng trở thành người chỉ quay lại một lần’. Do nguyên nhân nào mà Tôn giả tinh linh Janavasabha lại nhận thức được sự chứng đạt thù thắng như vậy?”

"'Không do điều gì khác ngoài giáo pháp của Ngài, bạch Thế Tôn; không do điều gì khác ngoài giáo pháp của Ngài, bạch Thiện Thệ. Kể từ khi con đặt niềm tin không lay chuyển (tịnh tín tuyệt đối / ekantikato abhippasanno) vào Thế Tôn, từ đó con nhận thức rằng mình không còn rơi vào cõi thấp, và con có hy vọng trở thành người chỉ quay lại một lần. Bạch Thế Tôn, hôm nay con được Đại vương Vessavaṇa phái đến chỗ Đại vương Virūḷhaka vì một công việc. Giữa đường, con thấy Thế Tôn đi vào Ngôi nhà gạch, chú tâm, suy nghĩ, và tập trung toàn bộ tâm trí hướng về các đệ tử Magadha… Thật không có gì đáng ngạc nhiên, bạch Thế Tôn, vì con đã nghe trực tiếp từ Đại vương Vessavaṇa khi ngài nói với hội chúng của mình về nơi tái sinh của họ. Con nghĩ rằng: “Ta sẽ đi gặp Thế Tôn và báo cáo điều này cho Ngài”. Bạch Thế Tôn, đó là hai lý do con đến yết kiến Thế Tôn.

Này Ananda, lúc bấy giờ một vị Dạ-xoa (Yakkha) ẩn mình lớn tiếng nói rằng: “Bạch Thế Tôn, con tên là Janavasabha. Bạch Thiện Thệ, con là Janavasabha”. Này Ananda, Ngươi từ trước đã từng được nghe ai tên là Janavasabha (Xà-ni-sa) chưa?

− Bạch Thế Tôn, còn trừ trước chưa từng được nghe ai tên Janavasabha. Bạch Thế Tôn, khi con nghe tên Janavasabha, con có cảm giác râu tóc bị dựng ngược, Bạch Thế Tôn, con tự nghĩ: “Vị Dạ-xoa này không phải là hạng tầm thường, vì đã mang tên Janavasabha”.

10. - Này Ananda, khi những lời ấy được nói xong, vị Dạ-xoa ấy hiện ra trước mặt Ta, nhan sắc thật phi thường và lần thứ hai, vị ấy nói:

“- Bạch Thế Tôn, con là Bimbisàra! Bạch Thế Tôn, con là Bimbisàra! Bạch Thế Tôn, nay là lần thứ bảy con được sanh vào giòng họ vua Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương). Con chết đi trong địa vị làm vua ở nhơn gian, nay được sanh trên thiên giới, làm bậc phi nhân.

Từ đây đến bảy lần
Từ kia đến bảy lần
Mười bốn lần tái sanh.
Như vậy con biết được,
Ðời quá khứ của con.

Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.

“- Thật hy hữu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha đã nói với ta: ‘Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.’ Do nguyên nhân gì, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha tự biết mình đã đạt được địa vị cao thượng, thù thắng như vậy?”

11- “Bạch Thế Tôn, không gì khác ngoài giáo lý của Ngài! Từ khi con nhất hướng quy y và tín ngưỡng Thế Tôn, từ khi ấy con không còn đọa lạc vào ác thú, vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai. Bạch Thế Tôn, con được vua Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương) nhờ con đi đến vua Virùlhaka (Tăng Trưởng Thiên vương) có chút công việc, giữa đường con thấy Thế Tôn vào ngôi nhà bằng gạch suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: “Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng thế nào? “Bạch Thế Tôn! Không thể kỳ diệu sao được khi con đối mặt tự thân nghe từ miệng vua Vessavana nói với hội chúng của mình, các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mệnh như thế nào? Bạch Thế Tôn! Ta sẽ đề cập vấn đề với Thế Tôn!” Bạch Thế Tôn, đó là hai nguyên nhân khiến con đến yết kiến Thế Tôn!

4. Hội chúng Chư Thiên

Bạch Thế Tôn, vào những ngày trước đây, rất lâu trước đây, vào ngày rằm Uposatha (Bố-tát) của kỳ an cư mùa mưa, toàn bộ chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Đao-lợi) đã tụ họp và ngồi lại trong giảng đường Sudhammā. Một hội chúng chư thiên đông đảo ngồi xung quanh, và Bốn vị Đại vương ngồi ở bốn hướng.

Ở hướng Đông, Đại vương Dhataraṭṭha ngồi quay mặt về hướng Tây, dẫn đầu chư thiên; ở hướng Nam, Đại vương Virūḷhaka ngồi quay mặt về hướng Bắc, dẫn đầu chư thiên; ở hướng Tây, Đại vương Virūpakkha ngồi quay mặt về hướng Đông, dẫn đầu chư thiên; ở hướng Bắc, Đại vương Vessavaṇa ngồi quay mặt về hướng Nam, dẫn đầu chư thiên. Bạch Thế Tôn, khi toàn bộ chư thiên cõi Tāvatiṁsa tụ họp, Bốn vị Đại vương ngồi ở bốn hướng. Đó là chỗ ngồi của họ; sau đó mới đến chỗ ngồi của chúng con.

Bạch Thế Tôn, những chư thiên nào đã thực hành lối sống thanh tịnh (phạm hạnh / brahmacariya) dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn và mới tái sinh vào cõi Tāvatiṁsa, họ vượt trội hơn các chư thiên khác về dung sắc và vinh quang. Vì điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa vô cùng hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoanthanh thản: “Thật tuyệt vời, hội chúng chư thiên đang tăng trưởng, hội chúng asura (a-tu-la) đang suy giảm.”

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Sakka (Đế Thích), chúa tể chư thiên, nhận thấy sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền tùy hỷ bằng những vần kệ sau:

"Thật vui thay chư thiên, cõi Tāvatiṁsa cùng Đế Thích;
Đảnh lễ Đấng Như Lai, và sự tốt đẹp của Quy luật (Pháp).

Nhìn thấy những chư thiên mới, đầy dung sắc và vinh quang;
Đã sống lối sống thanh tịnh dưới thời Thiện Thệ, nay đến nơi này.

Họ vượt trội hơn những người khác, về dung sắc, vinh quang và tuổi thọ;
Những đệ tử của Đấng Tuệ Giác Rộng Lớn, đã đạt được sự thù thắng ở đây.

Thấy vậy họ vui mừng, cõi Tāvatiṁsa cùng Đế Thích;
Đảnh lễ Đấng Như Lai, và sự tốt đẹp của Quy luật."

Vì điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa càng thêm hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoanthanh thản: “Thật tuyệt vời, hội chúng chư thiên đang tăng trưởng, hội chúng asura đang suy giảm.”

Sau đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa tụ họp tại giảng đường Sudhammā vì mục đích gì, họ suy nghĩ và bàn bạc về mục đích đó, và Bốn vị Đại vương cũng tham gia vào việc đó. Bốn vị Đại vương đứng tại chỗ ngồi của mình, không rời đi, để nhận những lời chỉ giáo.

Các vị vua ấy sau khi được dặn dò, tiếp nhận lời chỉ giáo;
Với tâm trí trong sáng, họ đứng tại chỗ ngồi của mình.

Khi ấy, bạch Thế Tôn, ở hướng Bắc, một ánh sáng rực rỡ sinh ra, một vầng hào quang xuất hiện, vượt qua cả uy lực của chư thiên. Lúc bấy giờ, Sakka, chúa tể chư thiên, nói với chư thiên cõi Tāvatiṁsa: “Thưa các ngài, theo như những dấu hiệu đang xuất hiện, ánh sáng rực rỡ sinh ra, hào quang xuất hiện, Phạm thiên sắp giáng lâm. Ánh sáng và hào quang này là điềm báo trước cho sự xuất hiện của Phạm thiên.”

Theo như những dấu hiệu xuất hiện, Phạm thiên sắp giáng lâm;
Đây là điềm báo của Phạm thiên, một hào quang rộng lớn.

12. “Bạch Thế Tôn, trong những ngày xưa, những ngày xa xưa, nhân đêm trăng rằm Bố-tát (Uposatha) trong tháng nhập an cư mùa mưa, toàn thể chư Thiên ở cõi Tàvatimsà (Tam thập tam thiên) ngồi họp hội tại Thiện Pháp đường (Sudhamma). Xung quanh có Ðại Thiên chúng ngồi khắp mọi phía, tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi. Ðại vương Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương) vua ở phương Ðông, ngồi xây mặt hướng Tây, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùlhaka (Tăng Trưởng Thiên vương), vua ở phương Nam ngồi xây mặt hướng Bắc, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùpakkha (Quảng Mục Thiên vương) vua ở phương Tây, ngồi xây mặt hướng Ðông, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương), vua ở phương bắc, ngồi xây mặt hướng Nam, trước mặt Thiên chúng. Bạch Thế Tôn, khi nào toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường xung quanh có Ðại thiên chúng ngồi khắp mọi phía, và tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi, như vậy là thứ tự chỗ ngồi của những vị này, rồi đến chỗ ngồi của chúng con. Bạch Thế TÔn, chư Thiên nào trước sống Phạm hạnh theo Thế Tôn và nay nếu sanh lên cõi Tam thập tam thiên, những vị này thắng xa chư Thiên khác về thân sắc và danh tiếng. Bạch Thế Tôn chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh: “Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt”.

13. “Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ Thiện chủ Ðế thích (Sakka Inda) thấy chư thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, liền tùy hỷ nói lên bài kệ như sau:

Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh,
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống Phạm hạnh,
Nay sanh tại cõi này.
Họ thắng về quang sắc,
Thọ mạng và danh xưng,
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi này.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.

“Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh hơn nữa và nói: “Thiện giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt”.

14. “Bạch Thế Tôn, rồi với mục đích gì chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, các vị này suy tư thảo luận về mục đích ấy. Và tùy thuộc về mục dích ấy, bốn vị đại vương được thuyết giảng. Theo mục đích ấy, bốn vị đại vương được khuyến giáo, bốn vị này đều đứng một bên chỗ ngồi của mình.

Các đại vương chấp nhận
Lời giảng dạy khuyến giáo.
Thanh thoát và an tịnh,
Ðứng bên chỗ mình ngồi.

15. “Bạch Thế Tôn, rồi từ phương Bắc, một ánh sáng vi diệu khởi lên, một hào quang hiện ra, thắng xa oai lực của chư Thiên. Bạch Thế Tôn rồi Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên: “Này các Thiện hữu, theo các hiện tượng được thấy, ánh sáng khởi lên, hào quang hiện ra như vậy báo hiệu Phạm thiên sẽ xuất hiện. Vì hiện tượng báo hiệu Phạm thiên xuất hiện là ánh sáng khởi lên và hào quang hiện ra”.

Theo hiện tượng được thấy,
Phạm thiên sẽ xuất hiện.
Hiện tượng đấng Phạm thiên,
Là hào quang vi diệu.

5. Lời của Phạm thiên Sanaṅkumāra

Khi ấy, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa ngồi lại chỗ của mình: “Chúng ta sẽ tìm hiểu xem hào quang này là gì, kết quả của nó sẽ ra sao, sau khi chứng kiến tận mắt, chúng ta mới đi.” Bốn vị Đại vương cũng ngồi lại chỗ của mình: “Chúng ta sẽ tìm hiểu xem hào quang này là gì… sau khi chứng kiến tận mắt, chúng ta mới đi.”

Nghe vậy, chư thiên cõi Tāvatiṁsa đồng tâm nhất trí: “Chúng ta sẽ tìm hiểu xem hào quang này là gì… sau khi chứng kiến tận mắt, chúng ta mới đi.”

Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, ngài hóa hiện một hình thể thô (oḷārikaṁ attabhāvaṁ). Bởi vì, bạch Thế Tôn, dung mạo tự nhiên của Phạm thiên thì tầm mắt của chư thiên cõi Tāvatiṁsa không thể tiếp nhận được. Khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện, ngài vượt trội hơn các chư thiên khác về dung sắc và vinh quang. Bạch Thế Tôn, giống như một bức tượng vàng vượt trội hơn cơ thể con người; cũng vậy, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện, ngài vượt trội hơn các chư thiên khác về dung sắc và vinh quang.

Khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện, trong hội chúng ấy không một chư thiên nào chào hỏi, đứng dậy hay mời ngồi. Tất cả đều im lặng, chắp tay, ngồi kiết già với ý nghĩ: “Bây giờ Phạm thiên Sanaṅkumāra muốn ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên nào, ngài sẽ ngồi trên chỗ ngồi của vị đó.” Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên nào, vị chư thiên đó nhận được sự hân hoan to lớn, nhận được sự thanh thản to lớn. Giống như một vị vua Sát-đế-lỵ vừa mới được làm lễ quán đảnh lên ngôi, nhận được sự hân hoan to lớn, nhận được sự thanh thản to lớn; cũng vậy, vị chư thiên nào được Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên chỗ ngồi của mình, vị đó nhận được sự hân hoan to lớn, nhận được sự thanh thản to lớn.

Sau đó, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra hóa hiện hình thể thô, mang hình dáng của một thanh niên (Pañcasikha) và xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Ngài bay lên không trung và ngồi kiết già giữa hư không. Bạch Thế Tôn, giống như một người lực lưỡng ngồi kiết già trên một chiếc giường được trải nệm êm ái hay trên một vùng đất bằng phẳng; cũng vậy, Phạm thiên Sanaṅkumāra bay lên không trung, ngồi kiết già giữa hư không, nhận thấy sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền tùy hỷ bằng những vần kệ sau:

"Thật vui thay chư thiên, cõi Tāvatiṁsa cùng Đế Thích;
Đảnh lễ Đấng Như Lai, và sự tốt đẹp của Quy luật.

Nhìn thấy những chư thiên mới, đầy dung sắc và vinh quang;
Đã sống lối sống thanh tịnh dưới thời Thiện Thệ, nay đến nơi này.

Họ vượt trội hơn những người khác, về dung sắc, vinh quang và tuổi thọ;
Những đệ tử của Đấng Tuệ Giác Rộng Lớn, đã đạt được sự thù thắng ở đây.

Thấy vậy họ vui mừng, cõi Tāvatiṁsa cùng Đế Thích;
Đảnh lễ Đấng Như Lai, và sự tốt đẹp của Quy luật."

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói ý nghĩa này; và khi Phạm thiên Sanaṅkumāra nói, giọng nói của ngài hội đủ tám đặc điểm: rõ ràng, dễ hiểu, êm ái, dễ nghe, tròn vành, không phân tán, sâu lắng, và vang vọng. Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra dùng giọng nói để truyền đạt cho hội chúng; âm thanh của ngài không lọt ra ngoài hội chúng. Bạch Thế Tôn, ai có giọng nói hội đủ tám đặc điểm như vậy, được gọi là có “giọng nói Phạm thiên” (brahmassaro).

Sau đó, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra hóa hiện thành ba mươi ba hình thể, ngồi kiết già trên từng chỗ ngồi của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, và nói với họ: “Thưa các ngài chư thiên cõi Tāvatiṁsa, các ngài nghĩ thế nào, Thế Tôn đã thực hành vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Thưa các ngài, những ai đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, và thực hành viên mãn các lối sống đạo đức, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, một số tái sinh vào hội chúng chư thiên cõi Paranimmitavasavatti (Tha Hóa Tự Tại), một số tái sinh vào cõi Nimmānaratī (Hóa Lạc), một số tái sinh vào cõi Tusita (Đâu-suất), một số tái sinh vào cõi Yāmā (Dạ-ma), một số tái sinh vào cõi Tāvatiṁsa (Đao-lợi), một số tái sinh vào cõi Cātumahārājika (Tứ Thiên Vương). Những ai lấp đầy cõi thấp nhất, họ lấp đầy cõi Gandhabbā (Càn-thát-bà).”

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói ý nghĩa này; và khi Phạm thiên Sanaṅkumāra nói, mỗi vị chư thiên đều nghĩ rằng: “Người đang ngồi trên chỗ ngồi của ta, chỉ một mình người ấy đang nói.”

Khi một người đang nói, tất cả các hóa thân đều nói;
Khi một người ngồi im lặng, tất cả đều im lặng.

Lúc đó chư thiên cõi Tāvatiṁsa cùng Đế Thích nghĩ rằng:
Người đang ngồi trên chỗ ngồi của ta, chỉ một mình người ấy đang nói.

Sau đó, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra thu nhiếp lại thành một hình thể duy nhất, ngồi kiết già trên chỗ ngồi của Sakka, chúa tể chư thiên, và nói với chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

16. “Bạch Thế Tôn, rồi chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi xuống trên ghế của mình và nói: “Chúng tôi sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy”.

“Cũng vậy, bốn vị đại vương ngồi xuống trên ghế ngồi của mình và nói: “Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy”. Sau khi nghe vậy, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đều đồng một lòng một ý: “Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng ta sẽ đi gặp vị ấy”.

17. “Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumãra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngài xuất hiện với một hóa tướng thô xấu. Bạch Thế Tôn, vì khi Phạm thiên tự nhiên hiện hóa, sắc tướng không đủ thù thắng để chư Thiên ở Tam thập tam thiên khâm phục. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tham thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra hiện ra trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, không một vị Thiên nào trong chúng này đảnh lễ, đứng dậy hoặc mời vị Phạm thiên ngồi. Tất cả đều yên lặng, chấp tay, không ngồi trên chỗ ngồi của mình và nghĩ: “Này, nếu Phạm thiên Sanamkumàra muốn gì với vị Thiên nào, thời hãy ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên ấy”. Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, như vị vua Sát-đế-lỵ vừa mới làm lễ quản đảnh và lên vương vị, vị ấy sẽ vô cùng sảng khoái, vô cùng hoan hỷ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoai, sẽ vô cùng hoan hỷ.

18. “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện với hình tượng thô xấu, hiện thành một đồng tử tên là Pancasikha (Ngũ Kế) trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Bay bổng lên trời, vị này ngồi kiết-già giữa hư không. Bạch Thế Tôn, như một vị lực sĩ ngồi kết-già trên một chỗ ngồi được trải bằng phẳng hay trên một mặt đất thăng bằng, cũng vậy bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra bay bổng trên trời, ngồi kiết-già trên hư không, thấy được sự an tịnh của chư Thiên ở Tam thập tam thiên liền nói lên sự hoan hỷ của mình bằng bài kệ sau đây:

Chư Tam thập tam thiên
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống Phạm hạnh
Hay sanh tại cõi này.
Chúng thắng về quang sắc
Thọ mạng và danh xưng,
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi này.
Chư Tam thập tam thiên
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai
Cùng Chánh pháp vi diệu.

19. “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung lời nói của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, tiếng nói của Phạm thiên Sanamkumàra có tám đặc điểm sau đây: lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi đại chúng. Bạch Thế Tôn, một tiếng nói có tám đặc điểm như vậy gọi là Phạm âm.

20. “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra, tự hiện hóa ba mươi hóa thân, mỗi thân ngồi kiết già trên mỗi chỗ ngồi của chư Thiên ở Tam thập tam thiên và nói với chư Thiên, này như sau:

“- Này Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Thế Tôn phục vụ cho hạnh phúc chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chư Thiện hữu, những ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và giữ trọn giới luật, những vị này khi thân hoại mệnh chung, một số được sanh lên Thiên chúng Parinimiitta - Vasavati (Tha Hóa Tự tại thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Nimmànaratì (Hóa Lạc thiên); một số được sanh lên Thiên chúng Tusità (Ðâu-suất thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Yàmà (Dạ-ma-thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Tà-vatimsà (Tam thập tam thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Catumàràjikà (Tứ Thiên vương thiên), những ai phải điền vào cho đủ số hạ phẩm nhất được sanh vào chúng Gandhabba (Càn-thát-bà).

21. “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, giọng nói của Phạm thiên Sanamkumàra về vấn

đề này được nói một cách khiến mỗi vị Thiên nghĩ rằng: “Vị ngồi trên chỗ ngồi của ta, chỉ vị ấ nói mà thôi”.

Chỉ một Phạm thiên nói,
Mọi hóa thân đều nói,
Chỉ một vị im lặng,
Tất cả đều im lặng.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích nghĩ rằng:
chỉ vị ngồi chỗ ta,
Chỉ vị ấy riêng nói.

22. “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra thâu nhiếp tất cả thân thành một thân, sau khi thâu nhiếp, liền ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka và nói với Thiên chúng ở Tam thập tam thiên:

6. Tu tập Nền tảng của sức mạnh tâm trí (Bhāvitaiddhipāda)

"Thưa các ngài chư thiên cõi Tāvatiṁsa, các ngài nghĩ thế nào, Thế Tôn, bậc Biết rõ, Thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã khéo léo tuyên bố bốn cổng thần thông (như ý túc / iddhipādā) để đạt được sức mạnh dồi dào, khả năng làm chủ sức mạnh, và khả năng biến hóa sức mạnh. Bốn nền tảng đó là gì? Ở đây, thưa các ngài, vị tỳ kheo tu tập cổng thần thông dựa trên Định thông qua mong muốn (dục / chanda) đi kèm với hoạt động (hành / saṅkhāra) nỗ lực. Vị ấy tu tập cổng thần thông dựa trên Định thông qua nỗ lực (vīriya) đi kèm với hoạt động nỗ lực. Vị ấy tu tập cổng thần thông dựa trên Định thông qua tâm trí (citta) đi kèm với hoạt động nỗ lực. Vị ấy tu tập cổng thần thông dựa trên Định thông qua sự thẩm tra (vīmaṁsā) đi kèm với hoạt động nỗ lực. Thưa các ngài, Thế Tôn, bậc Biết rõ, Thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã khéo léo tuyên bố bốn cổng thần thông này để đạt được sức mạnh dồi dào, khả năng làm chủ sức mạnh, và khả năng biến hóa sức mạnh.

Thưa các ngài, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã trải nghiệm nhiều loại sức mạnh tâm trí khác nhau, tất cả họ đều nhờ vào việc tu tập và làm cho sung mãn bốn cổng thần thông này. Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ trải nghiệm nhiều loại sức mạnh tâm trí khác nhau, tất cả họ đều nhờ vào việc tu tập và làm cho sung mãn bốn cổng thần thông này. Bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào trong hiện tại đang trải nghiệm nhiều loại sức mạnh tâm trí khác nhau, tất cả họ đều nhờ vào việc tu tập và làm cho sung mãn bốn cổng thần thông này. Thưa các ngài chư thiên cõi Tāvatiṁsa, các ngài có thấy uy lực và sức mạnh tâm trí của ta như thế này không?"

“Thưa có, Đại Phạm thiên.”

“Thưa các ngài, ta cũng nhờ vào việc tu tập và làm cho sung mãn bốn cổng thần thông này mà có được sức mạnh lớn lao như vậy, uy lực lớn lao như vậy.”

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói ý nghĩa này. Sau khi nói xong, ngài tiếp tục nói với chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Bốn pháp thần túc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết. Thế nào là bốn? Ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu dục, thiền định tinh cần hành… tinh tấn thiền định… tâm thiền định… tu tập thần túc, câu hữu với tư duy thiền định, tinh cần hành. Bốn pháp thần túc này đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và pháp triển thần túc này. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều sẽ tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này. Này chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị có thấy ở nơi tôi thần lực như vậy không?

“- Có như vậy, Phạm thiên!

“- Chư Thiện hữu, tôi nhờ tu tập và phát triển bốn thần túc này mà nay thành tựu đại thần lực như vậy, đại uy đức như vậy.

23. “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

7. Ba cơ hội đạt được sự dễ chịu (Tividhaokāsādhigama)

"Thưa các ngài chư thiên cõi Tāvatiṁsa, các ngài nghĩ thế nào, Thế Tôn, bậc Biết rõ, Thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã giác ngộ ba cơ hội đạt được sự dễ chịu (okāsādhigamā) để đạt được hạnh phúc. Ba cơ hội đó là gì?

Ở đây, thưa các ngài, có người sống vướng mắc, vướng mắc vào sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), vướng mắc vào những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi). Sau một thời gian, người ấy nghe được Quy luật của bậc thánh (Ariyadhamma), tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ (như lý tác ý / yoniso manasi karoti), và thực hành đúng theo Quy luật. Nhờ nghe Quy luật của bậc thánh, tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, và thực hành đúng theo Quy luật, người ấy sống không vướng mắc vào sự dễ chịu giác quan, không vướng mắc vào những điều không thiện. Đối với người sống không vướng mắc vào sự dễ chịu giác quan, không vướng mắc vào những điều không thiện, hạnh phúc sinh khởi, và từ hạnh phúc, sự thanh thản càng tăng trưởng. Thưa các ngài, giống như từ sự vui vẻ sinh ra niềm hân hoan; cũng vậy, đối với người sống không vướng mắc vào sự dễ chịu giác quan, không vướng mắc vào những điều không thiện, hạnh phúc sinh khởi, và từ hạnh phúc, sự thanh thản càng tăng trưởng. Thưa các ngài, đây là cơ hội đạt được sự dễ chịu thứ nhất mà Thế Tôn… đã giác ngộ để đạt được hạnh phúc.

Lại nữa, thưa các ngài, có người có các hoạt động (hành / saṅkhārā) thô của cơ thể chưa được lắng dịu, các hoạt động thô của lời nói chưa được lắng dịu, các hoạt động thô của tâm trí chưa được lắng dịu. Sau một thời gian, người ấy nghe được Quy luật của bậc thánh, tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, và thực hành đúng theo Quy luật. Nhờ nghe Quy luật của bậc thánh, tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, và thực hành đúng theo Quy luật, các hoạt động thô của cơ thể được lắng dịu, các hoạt động thô của lời nói được lắng dịu, các hoạt động thô của tâm trí được lắng dịu. Do sự lắng dịu của các hoạt động thô của cơ thể, lời nói và tâm trí, hạnh phúc sinh khởi, và từ hạnh phúc, sự thanh thản càng tăng trưởng. Thưa các ngài, giống như từ sự vui vẻ sinh ra niềm hân hoan; cũng vậy, do sự lắng dịu của các hoạt động thô của cơ thể, lời nói và tâm trí, hạnh phúc sinh khởi, và từ hạnh phúc, sự thanh thản càng tăng trưởng. Thưa các ngài, đây là cơ hội đạt được sự dễ chịu thứ hai mà Thế Tôn… đã giác ngộ để đạt được hạnh phúc.

Lại nữa, thưa các ngài, có người không biết rõ như thật ‘đây là những điều thiện (thiện / kusala)’, không biết rõ như thật ‘đây là những điều không thiện’. Không biết rõ như thật ‘đây là điều đáng chê trách, đây là điều không đáng chê trách; đây là điều nên theo, đây là điều không nên theo; đây là điều thấp kém, đây là điều cao thượng; đây là phần đen, phần trắng và sự pha trộn’. Sau một thời gian, người ấy nghe được Quy luật của bậc thánh, tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, và thực hành đúng theo Quy luật. Nhờ nghe Quy luật của bậc thánh, tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, và thực hành đúng theo Quy luật, người ấy biết rõ như thật ‘đây là những điều thiện’, biết rõ như thật ‘đây là những điều không thiện’. Biết rõ như thật ‘đây là điều đáng chê trách… đây là phần đen, phần trắng và sự pha trộn’. Đối với người biết như vậy, thấy như vậy, Không Hiểu Biết (vô minh / avijjā) bị loại bỏ, hiểu biết (minh / vijjā) sinh khởi. Do sự phai nhạt của Không Hiểu Biết và sự sinh khởi của hiểu biết, hạnh phúc sinh khởi, và từ hạnh phúc, sự thanh thản càng tăng trưởng. Thưa các ngài, giống như từ sự vui vẻ sinh ra niềm hân hoan; cũng vậy, do sự phai nhạt của Không Hiểu Biết và sự sinh khởi của hiểu biết, hạnh phúc sinh khởi, và từ hạnh phúc, sự thanh thản càng tăng trưởng. Thưa các ngài, đây là cơ hội đạt được sự dễ chịu thứ ba mà Thế Tôn… đã giác ngộ để đạt được hạnh phúc.

Thưa các ngài, đây là ba cơ hội đạt được sự dễ chịu mà Thế Tôn, bậc Biết rõ, Thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã giác ngộ để đạt được hạnh phúc."

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói ý nghĩa này. Sau khi nói xong, ngài tiếp tục nói với chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, quý vị nghĩ thế nào? Ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ. Thế nào là ba?

“Chư Thiện hữu, ở đây có người thân cận dục lạc, thân cận bất thiện pháp. Sau một thời gian, vị nào được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Và khi nghe được Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp vị này sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp. Nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, như từ thoải mái, hỷ duyệt sanh, cũng vậy, Chư thiện hữu nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ nhất hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.

24. “Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người thân hành thô lậu, chưa được an tịnh, khẩu hành thô lậu… ý hành thô lậu chưa được an tịnh, sau một thời gian vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Sau khi được nghe Thánh pháp, thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành thô lậu của vị này… ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành… ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, nhờ từ thoải mái, hỷ duyệt sanh, cũng vậy chư Thiện hữu, nhờ thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành… ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ hai hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác Chứng ngộ.

25. “Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện”, không như thật biết: “Ðây là có tội”, “Ðây là không tội”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đều”. Sau một thời gian, vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Sau khi được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp, vị này như thật biết: “Ðây là thiện”, như thật biết: “Ðây là bất thiện”, như thật biết: “Ðây là có tôi”, “đây là không tội”, “đây cần phải thuận theo”, “đây cần phải né tránh”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đều”. Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, vô minh của vị này được trừ diệt, minh được sanh khởi. Vị này nhờ vô minh được trừ diệt và minh sanh khởi, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ ba hướng đến an lạc, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ. “Chư Thiện hữu, đó là ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.

26. “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

8. Bốn nơi Tự Quan Sát (Catusatipaṭṭhāna)

"Thưa các ngài chư thiên cõi Tāvatiṁsa, các ngài nghĩ thế nào, Thế Tôn, bậc Biết rõ, Thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã khéo léo tuyên bố bốn nơi Tự Quan Sát (tứ niệm xứ / satipaṭṭhānā) để đạt được những điều thiện. Bốn nơi đó là gì?

Ở đây, thưa các ngài, vị tỳ kheo quan sát Cơ thể qua Cơ thể của mình (quán thân trên thân / kāye kāyānupassī) ở bên trong, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), có Tự Quan Sát (chánh niệm / satimā), loại bỏ lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền (ưu / domanassa) ở đời. Trong khi quan sát Cơ thể qua Cơ thể của mình ở bên trong, vị ấy đạt được Định (samādhi) đúng đắn, trở nên hoàn toàn trong sáng. Nhờ đạt được Định đúng đắn và hoàn toàn trong sáng ở đó, vị ấy làm phát sinh tri kiến về cơ thể của người khác ở bên ngoài.

Vị ấy quan sát Cảm Giác qua Cảm Giác của mình (quán thọ trên thọ / vedanāsu vedanānupassī) ở bên trong… làm phát sinh tri kiến về cảm giác của người khác ở bên ngoài.

Vị ấy quan sát Tâm qua Tâm của mình (quán tâm trên tâm / citte cittānupassī) ở bên trong… làm phát sinh tri kiến về tâm của người khác ở bên ngoài.

Vị ấy quan sát quy-luật qua các-quy-luật (quán pháp trên pháp / dhammesu dhammānupassī) ở bên trong, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, có Tự Quan Sát, loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời. Trong khi quan sát quy-luật qua các-quy-luật ở bên trong, vị ấy đạt được Định đúng đắn, trở nên hoàn toàn trong sáng. Nhờ đạt được Định đúng đắn và hoàn toàn trong sáng ở đó, vị ấy làm phát sinh tri kiến về các quy luật của người khác ở bên ngoài.

Thưa các ngài, Thế Tôn, bậc Biết rõ, Thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã khéo léo tuyên bố bốn nơi Tự Quan Sát này để đạt được những điều thiện."

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói ý nghĩa này. Sau khi nói xong, ngài tiếp tục nói với chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Bốn Niệm xứ hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ. Thế nào là bốn? Chư Thiện hữu, ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nhờ sống quán thân trên nội thân vị này được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khơi đối với các thân khác ngoài tự thân. Vị Tỷ-kheo sống quán các cảm thọ từ nội thân… quán tâm… quán pháp đối với các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nhờ sống quán pháp đối với các pháp, tâm được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khởi, đối với các pháp khác.

“Chư Thiện hữu, bốn Niệm xứ này hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ”.

27. “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

9. Bảy yếu tố hỗ trợ Định (Sattasamādhiparikkhāra)

"Thưa các ngài chư thiên cõi Tāvatiṁsa, các ngài nghĩ thế nào, Thế Tôn, bậc Biết rõ, Thấy rõ, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã khéo léo tuyên bố bảy yếu tố hỗ trợ Định (định tư cụ / samādhiparikkhārā) để tu tập Định thiện (Chánh định / sammāsamādhi), để làm viên mãn Định thiện. Bảy yếu tố đó là gì? Đó là Nhìn Thấy Thiện (Chánh kiến / Sammādiṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (Chánh tư duy / Sammāsaṅkappa), Lời Nói Thiện (Chánh ngữ / Sammāvācā), Hành Động Thiện (Chánh nghiệp / Sammākammanta), Đời Sống Thiện (Chánh mạng / Sammāājīva), Nỗ lực Thiện (Chánh tinh tấn / Sammāvāyāma), Tự Quan Sát Thiện (Chánh niệm / Sammāsati). Thưa các ngài, sự hợp nhất của tâm trí được trang bị bởi bảy yếu tố này, được gọi là Định thiện của bậc thánh, cùng với các điều kiện hỗ trợ, cùng với các yếu tố đi kèm.

Thưa các ngài, từ Nhìn Thấy Thiện sinh ra Suy Nghĩ Thiện; từ Suy Nghĩ Thiện sinh ra Lời Nói Thiện; từ Lời Nói Thiện sinh ra Hành Động Thiện. Từ Hành Động Thiện sinh ra Đời Sống Thiện; từ Đời Sống Thiện sinh ra Nỗ lực Thiện; từ Nỗ lực Thiện sinh ra Tự Quan Sát Thiện; từ Tự Quan Sát Thiện sinh ra Định thiện; từ Định thiện sinh ra Hiểu biết thiện (sammāñāṇa); từ Hiểu biết thiện sinh ra Giải thoát thiện (sammāvimutti).

Thưa các ngài, nếu có ai nói một cách đúng đắn rằng: ‘Quy luật được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không bị giới hạn bởi thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng nghiệm; cánh cửa bất tử đã mở rộng’, thì người ấy đang nói một cách đúng đắn. Thưa các ngài, quả thật Quy luật được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không bị giới hạn bởi thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng nghiệm; cánh cửa bất tử đã mở rộng.

Thưa các ngài, những ai có niềm tin không lay chuyển (tịnh tín tuyệt đối / aveccappasādena) vào Phật, có niềm tin không lay chuyển vào Pháp, có niềm tin không lay chuyển vào Tăng, được trang bị các lối sống đạo đức mà bậc thánh yêu thích; và những người sinh ra tự nhiên này, được rèn luyện trong Quy luật và Kỷ luật, hơn 2.400.000 đệ tử Magadha đã qua đời, đã mệnh chung, do cạn kiệt ba xiềng xích, là người bước vào dòng chảy, không còn rơi vào cõi thấp, chắc chắn hướng đến sự thức tỉnh. Ở đây cũng có những người chỉ quay lại một lần.

Tâm ta nghĩ rằng, những chúng sinh khác, cũng có phần phước báu;
Nhưng ta không thể đếm hết, vì sợ nói lời sai sự thật."

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói ý nghĩa này. Khi Phạm thiên Sanaṅkumāra nói, Đại vương Vessavaṇa khởi lên suy nghĩ trong tâm: “Thưa các ngài, thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, lại có một Bậc Đạo Sư vĩ đại như vậy, một sự thuyết giảng Quy luật vĩ đại như vậy, và những sự chứng đạt thù thắng vĩ đại như vậy được hiển lộ.”

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra biết được suy nghĩ trong tâm của Đại vương Vessavaṇa, liền nói với Đại vương Vessavaṇa: “Đại vương Vessavaṇa nghĩ thế nào, trong quá khứ cũng đã có một Bậc Đạo Sư vĩ đại như vậy, một sự thuyết giảng Quy luật vĩ đại như vậy, và những sự chứng đạt thù thắng vĩ đại như vậy đã được hiển lộ. Trong tương lai cũng sẽ có một Bậc Đạo Sư vĩ đại như vậy, một sự thuyết giảng Quy luật vĩ đại như vậy, và những sự chứng đạt thù thắng vĩ đại như vậy sẽ được hiển lộ.”

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói ý nghĩa này với chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Đại vương Vessavaṇa đã nghe trực tiếp từ Phạm thiên Sanaṅkumāra khi ngài nói với chư thiên cõi Tāvatiṁsa, và tự mình báo cáo lại cho hội chúng của mình."

Tinh linh Janavasabha đã báo cáo lại cho Thế Tôn ý nghĩa này, điều mà vị ấy đã nghe trực tiếp từ Đại vương Vessavaṇa khi ngài nói với hội chúng của mình. Thế Tôn sau khi nghe trực tiếp từ tinh linh Janavasabha, và tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññāya), đã kể lại cho Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda sau khi nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã kể lại cho các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Nhờ vậy, lối sống thanh tịnh này trở nên hưng thịnh, phong phú, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến khắp nơi, và được khéo léo tuyên bố cho đến chư thiên và loài người.

Kinh Janavasabha thứ năm kết thúc.

“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào về bảy pháp Ðịnh tư lương (Samàdhiparikkhàrà) để tu hành chánh định, để kiện toàn thiền định, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ? Thế nào là bảy? Như chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Chư Thiện hữu, nhứt cảnh tánh của tâm do bảy chi này sửa soạn, được gọi là thánh chánh định cùng với các y chỉ và dùng với các tư lương. Chư Thiện hữu, chánh tư duy vừa đủ để chánh tri kiến sanh khởi, chánh ngữ vừa đủ để chánh tư duy sanh khởi, chánh nghiệp vừa đủ để chánh ngữ sanh khởi, chánh mạng vừa đủ để chánh nghiệp sanh khởi, chánh tinh tấn vừa đủ để chánh mạng sanh khởi, chánh niệm vừa đủ để chánh tinh tấn sanh khởi, chánh định vừa đủ để chánh niệm sanh khởi, chánh trí vừa đủ để chánh định sanh khởi, chánh giải thoát vừa đủ để chánh trí sanh khởi.

“Chư Thiện hữu, nếu có người nói lời chánh ngữ sau đây: “Chánh pháp đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở”. Nói như vậy là chánh ngữ. Chư Thiện hữu, vì chánh pháp thật sự đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở.

“Chư Thiện hữu, những ai tin tưởng Phật không có thối chuyển, tin tưởng Pháp không có thối chuyển, tin tưởng Tăng không có thối chuyên, đầy đủ giới hạnh khiến bậc Thánh hoan hỷ, tất cả những vị được hóa sanh được Chánh pháp hướng dẫn, hơn hai trăm bốn mươi vạn vị cư sĩ ở Magadha đã từ trần mệnh chung, những vị này đều diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn đọa vào ác thú, chắc chắn đạt đến chánh giác. Lại có những vị Nhất lai:

Với hạng chúng sanh này
Ước lượng phần công đức.
Không thể ước lượng được
Sợ phạm tội vọng ngữ.

28. “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, được biết nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra, đại vương Vessavana khởi lên suy tư sau đây: “Chư Thiện hữu, thật là kỳ diệu! Chư Thiện hữu, thật là hy hữu, được có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, được một con đường đặc biệt như vậy”.

“Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra tự tâm mình biết được tâm trí của đại vương Vessavana như vậy, liền thưa với đại vương:

“- Ðại vương Vessavana nghĩ như thế nào? Trong thời quá khứ đã có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, đã được trình bày một con đường đặc biệt như vậy… Trong thời gian tương lai, sẽ có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, sẽ được trình bày một con đường đặc biệt như vậy”.

29. Ðó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Ðại vương Vessavana sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, liền nói với chúng của mình. Dạ-xoa Janavasabha sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của đại vương Vessavana nói với hội chúng, liền bạch lại với Thế Tôn. Thế Tôn sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Dạ-xoa Janavasabha, và sau khi tự mình chứng tri liền nói lại cho tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Thế Tôn liền nói lại cho chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Phạm hạnh này được hưng thịnh, được quảng bá, được truyền rộng cho đại chúng càng ngày càng đông, vì được khéo léo trình bày cho loài Người.

-ooOoo-