Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 19. KINH DÀI VỀ GOVINDA

(Mahāgovindasutta)

Như vầy tôi nghe — một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

Khi ấy, nhạc thần (Càn-thát-bà / gandhabba) Pañcasikha, khi đêm đã về khuya, với dung sắc thù thắng làm sáng rực toàn bộ núi Gijjhakūṭa, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, nhạc thần Pañcasikha bạch Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, những gì con đã nghe trực tiếp, đã nhận trực tiếp từ chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Đao-lợi), con xin thuật lại điều đó cho Thế Tôn.”

“Này Pañcasikha, hãy thuật lại cho ta,” Thế Tôn nói.

1. Hội chúng chư thiên (Devasabhā)

"Bạch Thế Tôn, vào những ngày trước đây, rất lâu trước đây, vào ngày rằm Uposatha (Bố-tát), đêm trăng tròn ngày Tự tứ, toàn bộ chư thiên cõi Tāvatiṁsa đã ngồi tụ họp tại giảng đường Sudhammā; một hội chúng chư thiên đông đảo ngồi vây quanh, và Bốn vị Đại vương ngồi ở bốn hướng;

Ở hướng Đông, Đại vương Dhataraṭṭha ngồi quay mặt về hướng Tây, có chư thiên ngồi phía trước; ở hướng Nam, Đại vương Virūḷhaka ngồi quay mặt về hướng Bắc, có chư thiên ngồi phía trước; ở hướng Tây, Đại vương Virūpakkha ngồi quay mặt về hướng Đông, có chư thiên ngồi phía trước; ở hướng Bắc, Đại vương Vessavaṇa ngồi quay mặt về hướng Nam, có chư thiên ngồi phía trước.

Bạch Thế Tôn, khi toàn bộ chư thiên cõi Tāvatiṁsa đã ngồi tụ họp tại giảng đường Sudhammā, một hội chúng chư thiên đông đảo ngồi vây quanh, và Bốn vị Đại vương ngồi ở bốn hướng, đây là chỗ ngồi của họ; và sau đó là chỗ ngồi của chúng con.

Bạch Thế Tôn, những vị chư thiên nào đã thực hành lối sống thanh tịnh (Phạm hạnh / brahmacariya) dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn và mới tái sinh vào cõi Tāvatiṁsa gần đây, những vị ấy chiếu sáng vượt trội hơn các chư thiên khác cả về dung sắc lẫn vinh quang. Do điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa trở nên hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản: ‘Thật tuyệt vời, các thiên chúng đang được làm cho sung mãn, các a-tu-la chúng đang bị suy giảm.’

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka (Đế Thích) biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền nói lên những vần kệ tùy hỷ này:

'Thật hoan hỷ thay chư thiên, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata), và tính chất tốt đẹp của Điều dạy (Pháp / dhamma).

Nhìn thấy những chư thiên mới, đầy dung sắc và vinh quang;
Đã thực hành lối sống thanh tịnh nơi bậc Thiện Thệ, rồi đi đến nơi đây.

Họ chiếu sáng vượt trội hơn những người khác, về dung sắc, vinh quang và tuổi thọ;
Những đệ tử của bậc có trí tuệ rộng lớn, đã đạt được sự thù thắng ở nơi đây.

Thấy điều này họ vui mừng, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy, và tính chất tốt đẹp của Điều dạy.’

Do điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa lại càng thêm hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản: ‘Thật tuyệt vời, các thiên chúng đang được làm cho sung mãn, các a-tu-la chúng đang bị suy giảm.’

19. KINH ÐẠI ÐIỂN TÔN

*(Mahàgovinda Sutta)*

1. Như vậy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu. Khi đêm đã gần mãn, Pancasikha (Ngũ Kế), thuộc giòng họ Càn-thát-bà (Gandhabba), với dung mạo đoan chánh, chói sáng toàn vùng núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Pancasikha, thuộc giòng họ Càn-thát-bà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, những điều con đã tự thân nghe và chấp nhận trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bạch Thế Tôn con muốn bạch lại Thế Tôn.

− Này Pancasikha, hãy nói cho ta nghe! - Thế Tôn nói như vậy.

2. - Bạch Thế Tôn, trong những ngày xưa, những ngày xa xưa, nhân đêm trăng rằm Bố-tát (Uposatha), trong tháng nhập cư mùa mưa, toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, xung quanh có Ðại thiên chúng ngồi khắp mọi phía; tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi. Ðại vương Dhatarattha (Trì Quốc Thiên vương), vua ở phương Ðông, ngồi xây mặt hướng Tây, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùlhaka (Tăng Trưởng thiên vương), vua ở phương Nam, ngồi xây mặt hướng Bắc, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùpakkha (Quảng Mục Thiên vương), vua ở phương Tây, ngồi xây mặt hướng Ðông, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương), vua ở phương Bắc, ngồi xây mặt hướng Nam, trước mạt Thiên chúng. Bạch Thế Tôn, khi nào toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, xung quanh có Ðại thiên chúng ngồi khắp mọi phía và tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi, như vậy là thứ tự các chỗ ngồi của các vị này, rồi đến chỗ ngồi của chúng con. Bạch Thế Tôn, chư Thiên nào trước sống phạm hạnh theo Thế Tôn và nay mới sanh lên cõi Tam thập tam thiên, những vị này thắng xa chư Thiên khác về thân sắc và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đẹp lòng, thoải mái, hoan hỷ sanh: Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt.

3. Bạch Thế Tôn, lại bây giờ Thiên chủ Ðế-thích (Sakka) thấy chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ bèn tùy hỷ nói lên bài kệ như sau:

Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh,
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống phạm hạnh,
Nay sanh tại cõi này.
Họ thắng về quang sắc,
Thọ mạng và danh xưng.
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi này.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Và Chánh pháp vi diệu.

Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng đẹp lòng thoải mái hoan hỷ hơn nữa và nói:

“- Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt”.

2. Tám lời ca ngợi đúng sự thật (Aṭṭhayathābhuccavaṇṇa)

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền gọi chư thiên Tāvatiṁsa: ‘Thưa các ngài, các ngài có muốn nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật (như thật tán thán / yathābhuccavaṇṇa) về Thế Tôn không?’

‘Thưa ngài, chúng tôi muốn nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn.’

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

'Chư thiên Tāvatiṁsa tôn kính nghĩ thế nào? Thế Tôn đã thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Một bậc Đạo sư thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Điều dạy đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thấy rõ ngay hiện tại, không phụ thuộc thời gian, đến để mà thấy, dẫn dắt vào trong, được người trí tự mình trải nghiệm trực tiếp (sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi). Một bậc Đạo sư thuyết giảng Điều dạy có khả năng dẫn dắt vào trong, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

“Đây là những điều thiện (thiện / kusala)” đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, “đây là những điều không thiện (bất thiện / akusala)” đã được khéo léo chỉ rõ. “Đây là điều có lỗi, đây là điều không có lỗi, đây là điều nên theo, đây là điều không nên theo, đây là điều thấp kém, đây là điều cao thượng, đây là điều có phần đen phần trắng” đã được khéo léo chỉ rõ. Một bậc Đạo sư chỉ rõ những điều thiện và không thiện, có lỗi và không có lỗi, nên theo và không nên theo, thấp kém và cao thượng, có phần đen phần trắng, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Con đường dẫn đến Niết-bàn (nibbāna) cho các đệ tử đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, Niết-bàn và con đường hòa quyện vào nhau. Giống như nước sông Hằng hòa quyện và hợp nhất với nước sông Yamunā; cũng vậy, con đường dẫn đến Niết-bàn cho các đệ tử đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, Niết-bàn và con đường hòa quyện vào nhau. Một bậc Đạo sư chỉ rõ con đường dẫn đến Niết-bàn, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Lợi lộc đã phát sinh cho Thế Tôn, danh tiếng đã phát sinh, đến mức các vị vua chúa (Sát-đế-lỵ) luôn giữ lòng kính mến ngài, nhưng Thế Tôn thọ dụng thức ăn mà không hề có sự say sưa kiêu ngạo. Một bậc Đạo sư thọ dụng thức ăn không có sự say sưa kiêu ngạo, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã có được những người bạn đồng hành là người đang học (hữu học / sekha) đang thực hành con đường, và người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava) đã sống trọn vẹn. Thế Tôn đẩy lùi đám đông và sống chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình. Một bậc Đạo sư chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn nói sao làm vậy, làm sao nói vậy; vì nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Một bậc Đạo sư thực hành Điều dạy thuận theo Điều dạy, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã vượt qua nghi ngờ, đã loại bỏ sự do dự, đã hoàn tất các ý định, có chí hướng vững chắc trong lối sống thanh tịnh nguyên thủy. Một bậc Đạo sư đã vượt qua nghi ngờ, đã loại bỏ sự do dự, đã hoàn tất các ý định, có chí hướng vững chắc trong lối sống thanh tịnh nguyên thủy, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.’

Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka đã tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho chư thiên cõi Tāvatiṁsa như vậy. Do điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa lại càng thêm hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản khi nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn.

Tại đó, bạch Thế Tôn, một số chư thiên nói như vầy: ‘Thưa các ngài, ôi thật tuyệt vời nếu có bốn vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và thuyết giảng Điều dạy giống như Thế Tôn. Điều đó sẽ mang lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.’

Một số chư thiên nói như vầy: ‘Thưa các ngài, hãy để qua một bên bốn vị Chánh Đẳng Giác, ôi thật tuyệt vời nếu có ba vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời…’. Một số chư thiên nói như vầy: ‘Thưa các ngài, hãy để qua một bên ba vị Chánh Đẳng Giác, ôi thật tuyệt vời nếu có hai vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và thuyết giảng Điều dạy giống như Thế Tôn. Điều đó sẽ mang lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.’

Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka bảo chư thiên cõi Tāvatiṁsa điều này: ‘Thưa các ngài, điều này là không thể, không có cơ hội, rằng trong cùng một thế giới lại có hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện cùng lúc không trước không sau, trường hợp này không tồn tại. Thưa các ngài, ôi thật tuyệt vời nếu Thế Tôn ít bệnh tật, ít ốm đau và trụ thế lâu dài trong một thời gian dài. Điều đó sẽ mang lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.’

Khi ấy, bạch Thế Tôn, vì mục đích gì mà chư thiên cõi Tāvatiṁsa ngồi tụ họp tại giảng đường Sudhammā, sau khi suy nghĩ về mục đích đó, thảo luận về mục đích đó, Bốn vị Đại vương đã nhận được lời chỉ giáo về mục đích đó. Sau khi nhận được lời chỉ giáo về mục đích đó, Bốn vị Đại vương đứng tại chỗ ngồi của mình, không rời đi.

Các vị vua sau khi được chỉ giáo, đã tiếp nhận lời khuyên;
Với tâm trí tĩnh lặng và trong sáng, họ đứng tại chỗ ngồi của mình.

Khi ấy, bạch Thế Tôn, ở hướng Bắc một ánh sáng rực rỡ sinh ra, một vầng hào quang xuất hiện vượt qua cả uy lực của chư thiên. Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka gọi chư thiên cõi Tāvatiṁsa: 'Thưa các ngài, theo như những dấu hiệu đang xuất hiện, ánh sáng rực rỡ sinh ra, vầng hào quang xuất hiện, Phạm thiên sắp xuất hiện; đây là dấu hiệu báo trước sự xuất hiện của Phạm thiên, tức là ánh sáng sinh ra và vầng hào quang xuất hiện này.

Theo như những dấu hiệu đang xuất hiện, Phạm thiên sắp xuất hiện;
Đây là dấu hiệu của Phạm thiên, vầng hào quang rộng lớn và vĩ đại.’

4. Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Ðế-thích biết được chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, liền nói với Chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

“- Các vị có muốn nghe tám pháp như thật của Thế Tôn không?

“- Chúng tôi muốn nghe tám pháp Như thật của Thế Tôn”.

Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Ðế-thích ở Tam thập tam thiên giải thích về tám pháp Như thật của Thế Tôn như sau:

5. “- Này chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên các vị nghĩ thế nào? Như Lai dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và lời Người. Một vị Ðại sư dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và loài Người như vậy, một vị Ðại sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

6. “Chánh pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, một Chánh pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người có trí tự mình giác hiểu. Một vị Giảng sư thuyết pháp hướng thượng như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

7. “Ðây là thiện”, “đây là bất thiện” đã được Thế Tôn khéo giải thích. “Ðây có tội”, “đây không tội”, “đây cần phải tuân theo”, “đây cần phải né tránh”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đẳng”, được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải thuận theo, cần phải né tránh, hạ liệt, cao thượng, đen trắng đồng đẳng, một vị Ðại sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

8. “Con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một, đã được Thế Tôn khéo giải thích như nước sông Hằng phối hợp và cùng chảy với nước sông Yamuna (Diệm-mâuna). Cũng vậy con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích con đường hướng đến Niết-bàn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

9. “Thế Tôn cũng đã đào tạo được chúng thiện hữu Hữu học đang đi trên nẻo đạo và các vị Lậu tận đã hoàn tất Thánh đạo. Ngài không di tản chúng nhưng sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú. Một vị sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú, một Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

10. - “Lợi dưỡng cúng dường cho Thế Tôn đã được an bài chắc chắn, danh tiếng cũng đã được an bài chắc chắn, và con nghĩ rằng các vị Sát-đế-lỵ (Khattiyà) sống với gương mặt rất quý mến Ngài. Nhưng Thế Tôn sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn. Một vị sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn. 11. “Thế Tôn nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy. Một vị nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy, làm gì thời nói vậy, thành tựu các pháp và túy pháp như vậy. Một vị đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

12. “Thế Tôn đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh. Một vị đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh, một bậc Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

13. “Bạch Thế Tôn, rồi một số chư Thiên nói như sau:

“- Chư Thiện hữu, nếu có được bốn vị Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, diễn giảng Chánh pháp như Thế Tôn. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và lời Trời”.

“Một số chư Thiên khác lại nói như sau:

“- Chư Thiện hữu, cần gì có bốn vị Chánh Ðẳng Giác. Chư Thiện hữu, nếu có được ba vị Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, diễn giảng Chánh pháp như Thế Tôn. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và loài Trời.

“Một số chư Thiên khác lại nói như sau:

“- Chư Thiện hữu, cần gì có ba vị Chánh Ðẳng Giác. Chư Thiện hữu, nếu có được hai vị Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, diễn giảng chánh pháp như Thế Tôn. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và loài Trời.

14. “Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Thiên chủ Ðế-thích nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

“- Chư Thiện hữu, không một chỗ nào, không một thời gian nào cùng chung một thế giới mà có hai vị Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác đồng thời ra đời, không ra trước, không ra sau, không bao giờ sự kiện như vậy có thể xảy ra. Chư Thiện hữu, một bậc Thế Tôn như vậy, không có tật bệnh, không có đau khổ, sống như vậy trong khoảng thời gian rất dài. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và loài Trời.

“Bạch Thế Tôn, rồi với mục đích gì chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, các vị này suy tư, thảo luận về mục đích ấy. Và tùy thuộc về mục đích ấy, bốn vị đại vương được thuyết giảng: Theo mục đích ấy, bốn vị đại vương được khuyến giáo, bốn vị này đều đứng một bên chỗ ngồi của mình.

Các đại vương chấp nhận,
Lời giảng dạy khuyết giáo,
Thanh thoát và an tịnh,
Ðứng bên chỗ mình ngồi.

15. “Bạch Thế Tôn, rồi từ phương Bắc, một ánh sáng vi diệu khởi lên, một hào quang hiện ra thắng xa oai lực của chư Thiên. Bạch Thế Tôn, rồi Thiên chủ Sakka, nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên: “- Này các Thiện hữu, theo các hiện tượng được thấy, ánh sáng khởi lên, hào quang hiện ra. Như vậy là báo hiệu Phạm thiên sẽ xuất hiện. Vì hiện tượng báo hiệu Phạm thiên xuất hiện là ánh sáng khởi lên và hào quang hiện ra.

Theo hiện tượng được thấy,
Phạm thiên sẽ xuất hiện,
Hiện tượng bậc Phạm thiên,
Là hào quang vi diệu.

3. Câu chuyện của Sanaṅkumāra (Sanaṅkumārakathā)

Khi ấy, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa ngồi xuống tại chỗ ngồi của mình: ‘Chúng ta sẽ tìm hiểu vầng hào quang này, xem kết quả của nó sẽ là gì, sau khi chứng kiến tận mắt chúng ta mới rời đi.’ Bốn vị Đại vương cũng ngồi xuống tại chỗ ngồi của mình: ‘Chúng ta sẽ tìm hiểu vầng hào quang này, xem kết quả của nó sẽ là gì, sau khi chứng kiến tận mắt chúng ta mới rời đi.’ Nghe vậy, chư thiên cõi Tāvatiṁsa tập trung tâm trí: ‘Chúng ta sẽ tìm hiểu vầng hào quang này, xem kết quả của nó sẽ là gì, sau khi chứng kiến tận mắt chúng ta mới rời đi.’

Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, ngài hóa hiện ra một thân hình thô trược rồi mới xuất hiện. Bởi vì, bạch Thế Tôn, dung sắc tự nhiên của Phạm thiên là không thể chịu đựng nổi đối với tầm nhìn của chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, ngài chiếu sáng vượt trội hơn các chư thiên khác cả về dung sắc lẫn vinh quang. Giống như, bạch Thế Tôn, một hình dáng bằng vàng chiếu sáng vượt trội hơn một hình dáng con người; cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, ngài chiếu sáng vượt trội hơn các chư thiên khác cả về dung sắc lẫn vinh quang. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, trong hội chúng đó không một vị chư thiên nào đảnh lễ, đứng dậy chào hay mời chỗ ngồi. Tất cả đều im lặng, chắp tay, ngồi kiết già với ý nghĩ: ‘Bây giờ Phạm thiên Sanaṅkumāra muốn chỗ ngồi của vị chư thiên nào, ngài sẽ ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên đó.’ Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên nào, vị chư thiên đó nhận được sự hân hoan to lớn, vị chư thiên đó nhận được sự thanh thản to lớn. Giống như, bạch Thế Tôn, một vị vua Sát-đế-lỵ được lễ rưới nước lên đầu (quán đảnh / muddhāvasitta) mới lên ngôi, vị ấy nhận được sự hân hoan to lớn, nhận được sự thanh thản to lớn; cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên nào, vị chư thiên đó nhận được sự hân hoan to lớn, vị chư thiên đó nhận được sự thanh thản to lớn.

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền tàng hình và nói lên những vần kệ tùy hỷ này:

'Thật hoan hỷ thay chư thiên, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy, và tính chất tốt đẹp của Điều dạy.

Nhìn thấy những chư thiên mới, đầy dung sắc và vinh quang;
Đã thực hành lối sống thanh tịnh nơi bậc Thiện Thệ, rồi đi đến nơi đây.

Họ chiếu sáng vượt trội hơn những người khác, về dung sắc, vinh quang và tuổi thọ;
Những đệ tử của bậc có trí tuệ rộng lớn, đã đạt được sự thù thắng ở nơi đây.

Thấy điều này họ vui mừng, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy, và tính chất tốt đẹp của Điều dạy.’

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra nói lên ý nghĩa này, giọng nói của ngài hội đủ tám đặc điểm: rõ ràng, dễ hiểu, êm ái, dễ nghe, tròn vành, không phân tán, sâu lắng, và vang vọng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra dùng giọng nói để truyền đạt cho hội chúng, âm thanh của ngài không lọt ra ngoài hội chúng. Bạch Thế Tôn, ai có giọng nói hội đủ tám đặc điểm như vậy, người đó được gọi là có ‘giọng nói Phạm thiên’.

Khi ấy, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa thưa với Phạm thiên Sanaṅkumāra điều này: ‘Lành thay, Đại Phạm thiên, chúng tôi hoan hỷ khi suy xét về điều này; và Thiên chủ Sakka cũng đã nói lên tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn; chúng tôi cũng hoan hỷ khi suy xét về những điều đó.’

“Bạch Thế Tôn, rồi chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngồi xuống trên ghế ngồi của mình và nói rằng:

“- Chúng tôi sẽ tìm hiểu kết quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy.

Cũng vậy bốn vị đại vương ngồi xuống trên ghế của mình và nói rằng:

“- Chúng tôi sẽ tìm hiểu kết quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy.

“Sau khi nghe vậy, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đều đồng một lòng một ý: “Chúng ta sẽ tìm hiểu kết quả của hào quang này là thế nào, sau khi đã được biết, chúng ta sẽ gặp vị ấy”.

16. “Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngài xuất hiện với một hóa tướng thô xấu. Bạch Thế Tôn, vì khi Phạm thiên tự nhiên hiện hóa, các tướng không đủ thù thắng để chư Thiên ở Tam thập tam thiên khâm phục. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên vị này thắng xa chư THiên khác về sắc tướng và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy bạch Thế Tôn khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, không một vị Thiên trong chúng này đảnh lễ hoặc đứng dậy mời Phạm thiên ngồi. Tất cả đều yên lặng, chắp tay, không ngồi trên chỗ ngồi của mình và nghĩ rằng: “Nếu nay Phạm thiên Sanamkumàra muốn gì với vị Thiên nào, thì hãy ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, như vị vua Sát-đế-lỵ vừa mới làm lễ quán đảnh và lên vương vị, vị ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ.

17. “Bạch Thế Tôn, rồi Phạm thiên Sanamkumàra biết được sự thoải mái hoan hỷ của chư Thiên ở Tam thập tam thiên liền ân hình tùy hỷ nói lên bài kệ sau đây:

Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Và Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh,
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống phạm hạnh,
Nay sanh tại cõi này,
Thắng xa về quang sắc,
Thọ mạng và danh xưng,
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi nầy.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế Thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Và Chánh pháp vi diệu.

18. “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung lời nói của Phạm Thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn tiếng nói của Phạm Thiên Sanamkumàra có tám đặc điểm sau đây: Lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi đại chúng. Bạch Thế Tôn một tiếng nói có tám đặc điểm như vậy được gọi là Phạm âm.

4. Tám lời ca ngợi đúng sự thật (Aṭṭhayathābhuccavaṇṇa)

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra thưa với Thiên chủ Sakka điều này: ‘Lành thay, Thiên chủ, chúng tôi cũng muốn nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn.’

‘Thưa vâng, Đại Phạm thiên,’ bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka liền tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho Phạm thiên Sanaṅkumāra nghe:

'Đại Phạm thiên tôn kính nghĩ thế nào? Thế Tôn đã thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Một bậc Đạo sư thực hành vì lợi ích cho số đông… ngoại trừ Thế Tôn.

Điều dạy đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thấy rõ ngay hiện tại, không phụ thuộc thời gian, đến để mà thấy, dẫn dắt vào trong, được người trí tự mình trải nghiệm trực tiếp. Một bậc Đạo sư thuyết giảng Điều dạy có khả năng dẫn dắt vào trong… ngoại trừ Thế Tôn.

“Đây là những điều thiện” đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, “đây là những điều không thiện” đã được khéo léo chỉ rõ… Một bậc Đạo sư chỉ rõ những điều thiện và không thiện… ngoại trừ Thế Tôn.

Con đường dẫn đến Niết-bàn cho các đệ tử đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, Niết-bàn và con đường hòa quyện vào nhau… Một bậc Đạo sư chỉ rõ con đường dẫn đến Niết-bàn… ngoại trừ Thế Tôn.

Lợi lộc đã phát sinh cho Thế Tôn, danh tiếng đã phát sinh… Thế Tôn thọ dụng thức ăn mà không hề có sự say sưa kiêu ngạo. Một bậc Đạo sư thọ dụng thức ăn không có sự say sưa kiêu ngạo… ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã có được những người bạn đồng hành là người đang học đang thực hành con đường, và người đã sạch nguồn ác đã sống trọn vẹn. Thế Tôn đẩy lùi đám đông và sống chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình. Một bậc Đạo sư chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình… ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn nói sao làm vậy, làm sao nói vậy… Một bậc Đạo sư thực hành Điều dạy thuận theo Điều dạy… ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã vượt qua nghi ngờ, đã loại bỏ sự do dự, đã hoàn tất các ý định, có chí hướng vững chắc trong lối sống thanh tịnh nguyên thủy. Một bậc Đạo sư đã vượt qua nghi ngờ… hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.’

19. “Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên nói với Phạm thiên Sanamkumàra như sau:

“- Này Phạm thiên, chúng tôi thật sự hoan hỷ với những điều chúng tôi đã được chú ý. Hơn nữa Thiên chủ Sakka đã nói đến tám pháp như thật của Thế Tôn; và chúng tôi hoan hỷ với tám pháp này.

“Bạch Thế Tôn, rồi Phạm thiên Sanamkumàra nói với Thiên chủ Ðế-thích:

“- Thật lành thay, Thiên chủ, nếu chúng tôi được nghe tám pháp như thật của Thế Tôn.

“- Vâng, Ðại Phạm thiên.

Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Ðế-thích, giải thích tám pháp như thật của Thế Tôn cho Phạm thiên Sanamkumàra:

20. “- Này Thiện hữu Ðại Phạm thiên, Ngài nghĩ thế nào? Như Lai dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời, loài Người. Một vị Ðạo sư dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời, loài Người như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy chúng ta khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

21. “- Chánh pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, một Chánh pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thiện, chỉ người có trí tự mình giác hiệu. Một vị Giảng sư thuyết pháp hướng thượng như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

22. “Ðây là thiện”, “đây là bất thiện”, đã được Thế Tôn khéo giải thích. “Ðây là có tội”, “đây là không tội”, “Ðây cần phải tuân theo”, “đây cần phải né tránh”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đẳng”, đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải thuận theo, cần phải né tránh, hạ liệt, cao thượng, đen trắng đồng đẳng, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

23. “Con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một, đã được Thế Tôn khéo léo giải thích. Như nước sông Hằng phối hợp và cùng chảy với nước sông Yamunà, cũng vậy con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích con đường hướng đến Niết-bàn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn. 24. “Thế Tôn cũng đã đào tạo được chúng thiện hữu Hữu học đang đi trên nẻo đạo và các vị Lậu tận đã hoàn tất Thánh đạo. Ngài không di tan chúng, nhưng sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú. Một vị sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú, một Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

25. “Lợi dưỡng cũng dường cho thế Tôn đã được an bài chắc chắn, danh tiếng cũng đã được an bài chắc chắn, và con nghĩ rằng các vị Sát-đế-lỵ sống với diện mạo rất quý mến Ngài. Nhưng Thế Tôn sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn. Một vị sống thọ hưởng các lợi đường với tâm không kiêu mạn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

26. “Thế Tôn nói gì thì làm vậy, làm gì thời nói vậy, một vị nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

27. “Thế Tôn đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư hoặc thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh. Một vị đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh, một bậc Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

“Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka giải thích tám pháp như thật của Thế Tôn cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng hoan hỷ, lại càng thích thú, hỷ duyệt sung mãn khi được nghe tám pháp như thật của Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka đã tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho Phạm thiên Sanaṅkumāra như vậy. Do điều đó, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra trở nên hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản khi nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn. Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra hóa hiện ra một thân hình thô trược, mang hình dáng của một đồng tử, xuất hiện dưới dạng nhạc thần Pañcasikha trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Ngài bay lên không trung và ngồi kiết già giữa hư không. Giống như, bạch Thế Tôn, một người đàn ông lực lưỡng ngồi kiết già trên một chiếc giường được trải nệm êm ái hoặc trên một mặt đất bằng phẳng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra bay lên không trung, ngồi kiết già giữa hư không và gọi chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

28. “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện với hình tướng thô xấu, hiện thành một đồng tử tên là Pancasikha (Ngũ Kế) trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bay bổng lên trời, vị này, ngồi kiết-già giữa hư không. Bạch Thế Tôn, như một vị lực sĩ ngồi kiết-già trên một chỗ ngồi được trải bằng phẳng trên một mặt đất thăng bằng, cũng vậy bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra bay bổng trên trời, ngồi kiết-già trên hư không và nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

5. Câu chuyện Bà-la-môn Govinda (Govindabrāhmaṇavatthu)

'Chư thiên Tāvatiṁsa tôn kính nghĩ thế nào, Thế Tôn đã là người có trí tuệ vĩ đại từ rất lâu đời.

Thuở xưa, thưa các ngài, có một vị vua tên là Disampati. Vua Disampati có một vị Bà-la-môn tên là Govinda làm quan tế tự (purohita). Vua Disampati có một người con trai tên là thái tử Reṇu. Bà-la-môn Govinda có một người con trai tên là thanh niên Jotipāla. Như vậy, thái tử Reṇu, thanh niên Jotipāla và sáu vị Sát-đế-lỵ khác, tổng cộng là tám người bạn thân thiết.

Rồi, thưa các ngài, sau một thời gian, Bà-la-môn Govinda qua đời. Khi Bà-la-môn Govinda qua đời, vua Disampati than khóc: “Ôi, vào lúc chúng ta giao phó mọi công việc cho Bà-la-môn Govinda để tận hưởng, đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa), thì chính lúc đó Bà-la-môn Govinda lại qua đời.”

Khi được nói như vậy, thưa các ngài, thái tử Reṇu thưa với vua Disampati điều này: “Tâu phụ vương, xin đừng than khóc quá mức về sự qua đời của Bà-la-môn Govinda. Tâu phụ vương, Bà-la-môn Govinda có một người con trai tên là thanh niên Jotipāla, còn thông thái hơn cả cha mình, còn nhìn xa trông rộng hơn cả cha mình; những việc gì cha cậu ấy từng khuyên bảo, thì nay hãy để thanh niên Jotipāla khuyên bảo.”

“Có thật vậy không, này thái tử?”

“Thật vậy, tâu phụ vương.”

29. “- Chư thiện hữu ở Tam thập tam thiên nghĩ thế nào? Thế Tôn đã được đại trí tuệ bao lâu rồi?

“Chư Thiện hữu, thuở xưa có vị vua tên là Disampati (Thành Chủ). Vua Disampati có vị quốc sư tên Govinda (Ðiển Tôn), và có vị hoàng tử tên là Renu (Lê-nô). Bà-la-môn Govinda có người con trai tên là Jotipàla (Hộ Minh đồng tử). Hoàng tử Renu, đồng tử Jotipàla cùng sáu người Sát-đế-lỵ nữa, tám người này là thân hữu. Sau một thời gian, Bà-la-môn Govinda mệnh chung. Khi nghe Bà-la-môn Govinda mệnh chung, vua Sisampati than khóc như sau:

“- Tiếc thay, khi chúng ta giao mọi công việc cho Bà-la-môn Govinda để chúng ta có thể được đầy đủ và thọ hưởng năm món dục tăng thịnh chính khi ấy Bà-la-môn lại mệnh chung.

“Nghe nói vậy, hoàng tử Renu tâu với vua Disampati:

“- Tâu Ðại vương, chớ có quá sầu khổ than khóc vì Bà-la-môn Govinda từ trần. Tâu Ðại vương, con của Bà-la-môn Govinda, thanh niên Jotipàla còn sáng suốt hơn phụ thân, còn biết kế hoạch sinh lợi hơn phụ thân. Những trách nhiệm gì Ðại vương giao cho phụ thân, nay hãy giao cho thanh niên Jotipàla.

“- Như vậy là phải, Hoàng tử.

“- Xin vâng, tâu Ðại vương.

6. Câu chuyện Mahāgovinda (Mahāgovindavatthu)

Khi ấy, thưa các ngài, vua Disampati gọi một người hầu: “Này người hầu, hãy đến chỗ thanh niên Jotipāla; sau khi đến, hãy nói với thanh niên Jotipāla như vầy: ‘Chúc ngài Jotipāla tốt lành, vua Disampati cho gọi ngài Jotipāla, vua Disampati muốn gặp ngài Jotipāla.’”

“Thưa vâng, tâu đại vương,” người hầu đó vâng lệnh vua Disampati, đi đến chỗ thanh niên Jotipāla; sau khi đến, nói với thanh niên Jotipāla điều này: “Chúc ngài Jotipāla tốt lành, vua Disampati cho gọi ngài Jotipāla, vua Disampati muốn gặp ngài Jotipāla.” “Thưa vâng, bạn,” thanh niên Jotipāla vâng lời người hầu đó, đi đến chỗ vua Disampati; sau khi đến, chào hỏi thân thiện với vua Disampati;

sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và lịch sự, cậu ngồi xuống một bên. Khi thanh niên Jotipāla đã ngồi một bên, thưa các ngài, vua Disampati nói điều này: “Xin ngài Jotipāla hãy khuyên bảo chúng tôi, xin ngài Jotipāla đừng từ chối việc khuyên bảo. Ta sẽ đặt ngài vào vị trí của cha ngài, ta sẽ phong ngài làm Govinda.”

“Thưa vâng, tâu đại vương,” thanh niên Jotipāla nhận lời vua Disampati.

Khi ấy, thưa các ngài, vua Disampati phong thanh niên Jotipāla làm Govinda, đặt cậu vào vị trí của cha mình. Sau khi được phong làm Govinda và đặt vào vị trí của cha, những việc gì cha cậu từng khuyên bảo, cậu cũng khuyên bảo; những việc gì cha cậu không khuyên bảo, cậu cũng khuyên bảo; những công việc gì cha cậu từng hoàn thành, cậu cũng hoàn thành; những công việc gì cha cậu không hoàn thành, cậu cũng hoàn thành. Mọi người nói về cậu như vầy: “Thật là một Govinda, thưa các ngài, thật là một Mahāgovinda (Đại Govinda), thưa các ngài.” Bằng cách này, thưa các ngài, danh xưng Mahāgovinda đã ra đời cho thanh niên Jotipāla.

30. “Rồi vua Disampati cho gọi một người và bảo:

“- Khanh hãy đi đến thanh niên Jotipàla, và nói như sau: “Mong rằng mọi tốt lành hãy đến với thanh niên Jotipàla! Vua Disampati có cho gọi thanh niên Jotipàla! Vua Disampati muốn được gặp thanh niên Jotipàla!”.

“- Tâu Ðại vương, xin vâng!

“Người ấy vâng lệnh vua Disampati, đến chỗ thanh niên Jotipàta ở, khi đến xong liền nói với thanh niên Jotipàla:

“- Mong rằng mọi tốt lành hãy đến với thanh niên Jotipàla! Vua Disampati cho gọi thanh niên Jotipàla! Vua Disampati muốn được gặp thanh nhiên Jotipàla!

“- Xin vâng, nãy Thiện hữu!

“Thanh nhiên Jotipàla vâng theo lời người ấy, đi đến chỗ vua Disampati ở, khi đến xong liền nói lên những lời viếng thăm, và những lời khen tặng xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Vua Disampati nói với thanh niên Jotipàla đang ngồi bên như sau:

“- Này thanh niên Jotipàla! Nay ta muốn khanh chấp chánh! Thanh niên Jotipàla, chớ có từ chối chấp chánh! Ta sẽ đặt Khanh trong đại vị của phụ thân. Ta sẽ phong cho Khanh chức chưởng của Govinda!

“- Tâu Ðại vương, xin vâng!

“Thanh niên Jotipàla vâng theo lời dạy của vua Disampati.

31. “Rồi vua Disampati phong cho thanh niên Jotipàla chức chưởng của Govinda và đặt vào địa vị của phụ thân. Thanh niên Jotipàla được phong chức chưởng của Govinda như vậy và được đặt vào địa vị của phụ thân như vậy, những phần việc gì phụ thân điều hành, những phần việc ấy thanh niên Jotipàla điều hành, những phần việc gì phụ thân không điều hành, những phần việc ấy thanh niên Jotipàla không điều hành. Những công tác gì phụ thân thực hiện, những công tác ấy thanh niên Jotipàla thực hiện; những công tác gì phụ thân không thực hiện, những công tác ấy thanh niên Jotipàla không thực hiện. Do vậy, dân chúng nói về Jotipàla:

“- Vị Bà-la-môn thật sự là Govinda! Vị Bà-la-môn thật sự là Mahà Govinda và được danh tiếng là Mahà Govinda!

6.1. Chia rẽ vương quốc (Rajjasaṁvibhajana)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, nói với sáu vị Sát-đế-lỵ điều này: “Thưa các ngài, vua Disampati đã già yếu, cao tuổi, lớn tuổi, đã đi qua phần lớn cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao? Có khả năng là khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần sẽ tôn thái tử Reṇu lên ngôi vua. Các ngài hãy đi đến chỗ thái tử Reṇu; sau khi đến, hãy nói với thái tử Reṇu như vầy: ‘Chúng tôi là những người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của ngài Reṇu; ngài vui thì chúng tôi vui, ngài buồn thì chúng tôi buồn. Thưa ngài, vua Disampati đã già yếu, cao tuổi, lớn tuổi, đã đi qua phần lớn cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao? Có khả năng là khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần sẽ tôn ngài Reṇu lên ngôi vua. Nếu ngài Reṇu được làm vua, xin hãy chia sẻ vương quốc với chúng tôi.’”

“Thưa vâng, bạn,” sáu vị Sát-đế-lỵ vâng lời Bà-la-môn Mahāgovinda, đi đến chỗ thái tử Reṇu; sau khi đến, nói với thái tử Reṇu điều này: “Chúng tôi là những người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của ngài Reṇu; ngài vui thì chúng tôi vui, ngài buồn thì chúng tôi buồn. Thưa ngài, vua Disampati đã già yếu… Có khả năng là khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần sẽ tôn ngài Reṇu lên ngôi vua. Nếu ngài Reṇu được làm vua, xin hãy chia sẻ vương quốc với chúng tôi.”

“Thưa các bạn, ai khác trong vương quốc của tôi sẽ được hạnh phúc, nếu không phải là các bạn? Thưa các bạn, nếu tôi được làm vua, tôi sẽ chia sẻ vương quốc với các bạn.”

Rồi, thưa các ngài, sau một thời gian, vua Disampati qua đời. Khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần tôn thái tử Reṇu lên ngôi vua. Sau khi lên ngôi vua, Reṇu tận hưởng, đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng.

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, nói với sáu vị Sát-đế-lỵ điều này: “Thưa các ngài, vua Disampati đã qua đời. Reṇu đã lên ngôi vua và đang tận hưởng, đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng. Ai mà biết được, các dục lạc thật là say đắm? Các ngài hãy đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, hãy nói với vua Reṇu như vầy: ‘Thưa ngài, vua Disampati đã qua đời, ngài Reṇu đã lên ngôi vua, ngài có nhớ lời hứa đó không?’”

“Thưa vâng, bạn,” sáu vị Sát-đế-lỵ vâng lời Bà-la-môn Mahāgovinda, đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, nói với vua Reṇu điều này: “Thưa ngài, vua Disampati đã qua đời, ngài Reṇu đã lên ngôi vua, ngài có nhớ lời hứa đó không?”

“Tôi nhớ lời hứa đó, thưa các bạn. Nhưng thưa các bạn, ai có khả năng chia mảnh đất lớn này, phía Bắc thì dài, phía Nam thì hình miệng xe bò, thành bảy phần bằng nhau và phân định rõ ràng?”

“Thưa ngài, ai khác có khả năng, ngoại trừ Bà-la-môn Mahāgovinda?”

Khi ấy, thưa các ngài, vua Reṇu gọi một người hầu: “Này người hầu, hãy đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda; sau khi đến, hãy nói với Bà-la-môn Mahāgovinda như vầy: ‘Thưa ngài, vua Reṇu cho gọi ngài.’”

“Thưa vâng, tâu đại vương,” người hầu đó vâng lệnh vua Reṇu, đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda; sau khi đến, nói với Bà-la-môn Mahāgovinda điều này: “Thưa ngài, vua Reṇu cho gọi ngài.” “Thưa vâng, bạn,” Bà-la-môn Mahāgovinda vâng lời người hầu đó, đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, chào hỏi thân thiện với vua Reṇu.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Khi Bà-la-môn Mahāgovinda đã ngồi một bên, thưa các ngài, vua Reṇu nói điều này: “Xin ngài Govinda hãy chia mảnh đất lớn này, phía Bắc thì dài, phía Nam thì hình miệng xe bò, thành bảy phần bằng nhau và phân định rõ ràng.”

“Thưa vâng, tâu đại vương,” Bà-la-môn Mahāgovinda vâng lời vua Reṇu, chia mảnh đất lớn này, phía Bắc thì dài, phía Nam thì hình miệng xe bò, thành bảy phần bằng nhau và phân định rõ ràng. Ông thiết lập tất cả các biên giới hình miệng xe bò. Ở chính giữa là vương quốc của vua Reṇu.

Dantapura của người Kaliṅga, và Potana của người Assaka;
Mahesaya của người Avanti, và Roruka của người Sovīra.

Mithilā của người Videha, Campā được xây dựng cho người Aṅga;
Và Bārāṇasī của người Kāsi, đó là những nơi do Govinda phân định.

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ vô cùng hoan hỷ với phần lãnh thổ của mình, ý nguyện đã được trọn vẹn: “Những gì chúng ta mong muốn, những gì chúng ta khao khát, những gì chúng ta dự định, những gì chúng ta ước ao, chúng ta đã đạt được.”

Vua Sattabhū và Brahmadatta, Vessabhū cùng với Bharata; Reṇu và hai vị Dhataraṭṭha, đó là bảy vị vua thời bấy giờ.

Kết thúc phần tụng thứ nhất.

32. “Rồi Mahà Govinda đến tại chỗ sáu vị Sát đế lỵ ở, khi đến xong, liền nói với sáu vị đế lỵ như sau:

“-Vua Disampati nay đã già, trọng tuổi, lớn tuổi, đã đến thời, đã đến hạn cuối cuộc đời. Này Thiện Hữu, ai có thể biết được thọ mạng của vua? Sự việc này có thể xảy ra, nếu vua Disampati mệnh chung, thời những vị có trách nhiệm phong vua, hãy phong hoàng tử Renu lên vương vị. Chư Thiện hữu, quí vị hãy đến chỗ hoàng tử Renu an trú, khi đến xong hãy thưa với hoàng tử Renu:

“- Chúng tôi là những bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hiệp với Thiện hữu Renu! Chúng tôi sung sướng khi thiện hữu sung sướng, chúng tôi đau khỗ khi Thiện hữu đau khỗ. Nay vua Disampati đã già, trọng tuổi, lớn tuổi, đã đến thời, đã đến hạn cuối cuộc đời. Này Thiện hữu, ai có thể biết thọ mạng của vua. Sự việc này có thể xảy ra. Nếu vua Disampati mệnh chung, thời những vị có trách nhiệm phong vua, hãy phong hoàng tử Renu lên vương vị. Nếu Thiện hữu Renu lên vương vị, hãy chia xẻ vương vị với chúng tôi!

33. “-Xin vâng, Thiện hữu!

“Sáu vị Sát đế lỵ này, vâng theo lời của Bà la môn Mahà Govinda, đến tại chỗ của hoàng tử Renu, khi đến xong liền thưa với hoàng tử Renu:

− Chúng tôi là những bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hợp với Thiện hữu Renu, chúng tôi sung sướng khi Thiện hữu sung sướng, chúng tôi đau khổ khi thiện hữu đau khổ. Nay vua Disampati đã già, trọng tuổi, lớn tuổi, đã đến thời, đã đến hạn cuối cuộc đời. Này Thiện hữu, ai có thể biết được thọ mạng của vua. Sự việc này có thể xảy ra. Nếu vua Disampati mệnh chung, thời những vị có trách nhiệm phong vua, hãy phong hoàng tử Renu lên vương vị. Nếu Thiện hữu Renu lên vương vị, hãy chia vương vị với chúng tôi!

− Chư Thiện hữu, có ai khác có quyền hưởng an lạc trong quốc độ của tôi, ngoài Quý vị? Nếu tôi được lên vương vị, tôi sẽ chia xẻ vương vị cho Quý vị.

34. “Chư Thiện hữu, sau một thời gian vua Disampati mệnh chung. Khi vua Disampati mệnh chung, những vị có trách nhiệm phong vua, liền phong hoàng tử Renu lên vương vị. Khi được phong vương vị, hoàng tử Renu sống đầy đủ và thọ hưởng năm pháp dục tăng thịnh. Khi ấy Bà la môn Mahà Govinda đi đến chỗ sáu vị Sát đế lỵ ở, khi đến xong liền nói rằng:

“- Chư Thiện hữu, vua Disampati đã mệnh chung. Thiện hữu Renu được phong vương vị lại sống đầy đủ và thọ hưởng năm pháp dục tăng thịnh. Chư Thiện hữu, ai có thể biết được? Dục vọng khiến con người si loạn. Chư Thiện hữu, hãy đi đến chỗ vua Renu ở, khi đến xong, hãy nói với vua Renu như sau: “Thiện hữu, vua Disampati đã mệnh chung. Thiện hữu Renu được phong vương vị. Thiện hữu có nhớ lời hứa của mình không?”

“- Xin vâng, này Thiện hữu.

“Sáu vị Sát đế lỵ này vâng theo lời của Bà la môn Mahà Govinda đi đến chỗ vua Renu ở, khi đến xong, liền tâu vua Renu như sau:

“- Thiện hữu, vua Disampati đã mệnh chung, Thiện hữu Renu đã được phong vương vị. Thiện hữu có nhớ lời hứa của mình không?

“- Chư Thiện hữu, tôi có nhớ lời hứa của tôi. Chư Thiện hữu, ai có thể khéo phân chia đại địa này thành bảy phần đồng đều. Ðại địa này, phía Bắc thì rộng, phía Nam như bộ phận trước của cổ xe?

“- Này Thiện hữu, ai có thể làm được, ngoại trừ Bà la môn Mahà Govinda?

35. “Rồi vua Renu cho gọi một người và nói:

“- Này Khanh, Khanh hãy đi đến chỗ Bà la môn Mahà Govinda, khi đến xong hãy nói với Bà la môn Govinda: “Này Thiện hữu, vua Renu cho gọi Thiện hữu.”

“- Xin vâng, tâu đại vương!

“ Người ấy vâng theo lời của vua Renu, đến tại chỗ của Bà la môn Ma hà Govinda ở, khi đến xong liền nói với Bà la môn Mahà Govinda::”- Thiện hữu, vua Renu cho gọi Thiện hữu. “- Xin vâng, Thiện hữu!

“Bà-la-môn Mahà Govinda vâng theo lời nói của người ấy, đến tại chỗ vua Renu ở, khi đến xong liền nói lên những lời thăm viếng và những lời khen tặng xã giao với vua Renu rồi ngồi xuống một bên. Và vua Renu nói với Bà-la-môn Govinda đang ngồi xuống một bên như sau:

“- Này Thiện hữu Govinda, hãy đến và phân chia đại địa này thành bảy phần đồng đều, đại địa này phía Bắc thời rộng, phía Nam như bộ phận trước của cỗ xe.

“Bà-la-môn Mahà Govinda vâng theo lời nói của vua Renu phân chia đại địa này thành bảy phần đồng đều, đại địa này phía Bắc rộng, phía Nam như bộ phận trước của cỗ xe, tất cả phần như hình phần trước của cỗ xe.

36. “Và vua Ruenu giữ phần quốc độ trung ương.

“Dantapura (Nại-đa-bố-la) cho dân Kàlingà (Ca-lăng-giới) và Potana (Bao-tĩnh-noa) cho dân Assaka (Ma-thấp-na-ka).

“Mahissati (ma-hê-sa-ma) cho dân Avanti (Ương-đế-na) và Roruka (Lao-lỗ-ca) cho dân Sovira (Tô-vĩla).

“Mithilà (Di-thế-la) cho dân Videhà (Vi-đề-hê) và Campà (Thiềm-ba) được tạo ra cho dân Anga (Ươnggià),

“Bàrànasì (Ba-la-nại) cho dân Kàsi (Ca-thi).

“Tất cả đều do Govinda tạo lập.

“Và sáu vị Sát-đế-lỵ này đều hoan hỷ về khu phần của mình được và sự thành tựu của điều mong ước:

“- Những điều gì chúng tôi muốn, những điều gì chúng tôi ao ước, những điều gì chúng tôi nhắm đến, những điều gì chúng tôi hy vọng, chúng tôi đều được hết.

“Sattabhù (Phá Oan vương) và Brahmadatta (Phạm Thọ vương), Vessabhũ (Thắng Tôn vương) và Bharata (Minh Ái vương), Renu (Lê-nô vương) và hai Dhataratthà (Trì Quốc vương). Tất cả là bảy vị Bharata (Bà-la-đa vương).

6.2. Tiếng tăm vang dội (Kittisaddaabbhuggamana)

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda; sau khi đến, nói với Bà-la-môn Mahāgovinda điều này: “Như ngài Govinda là người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của vua Reṇu. Cũng vậy, ngài Govinda cũng là người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của chúng tôi, xin ngài Govinda hãy khuyên bảo chúng tôi; xin ngài Govinda đừng từ chối việc khuyên bảo.”

“Thưa vâng, các ngài,” Bà-la-môn Mahāgovinda nhận lời sáu vị Sát-đế-lỵ đó. Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda làm cố vấn cho bảy vị vua Sát-đế-lỵ đã được lễ rưới nước lên đầu, và dạy chú thuật cho bảy vị Bà-la-môn đại gia cùng bảy trăm thanh niên đã tắm gội (những người đã hoàn thành việc học Vệ-đà).

Rồi, thưa các ngài, sau một thời gian, tiếng tăm tốt đẹp này của Bà-la-môn Mahāgovinda vang dội: “Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt nhìn thấy Phạm thiên, Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt đàm đạo, nói chuyện, thảo luận với Phạm thiên.”

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda nghĩ như vầy: “Tiếng tăm tốt đẹp này của ta đã vang dội: ‘Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt nhìn thấy Phạm thiên, Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt đàm đạo, nói chuyện, thảo luận với Phạm thiên.’ Nhưng ta không hề nhìn thấy Phạm thiên, không đàm đạo với Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên. Ta đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão, cao tuổi, các bậc thầy và tổ sư nói rằng: ‘Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na (jhāna) của Tâm thông cảm (bi / karuṇā), người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên, đàm đạo với Phạm thiên, nói chuyện với Phạm thiên, thảo luận với Phạm thiên.’ Hay là ta nên sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm.”

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, nói với vua Reṇu điều này: “Thưa ngài, tiếng tăm tốt đẹp này của tôi đã vang dội: ‘Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt nhìn thấy Phạm thiên, Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt đàm đạo, nói chuyện, thảo luận với Phạm thiên.’ Nhưng thưa ngài, tôi không hề nhìn thấy Phạm thiên, không đàm đạo với Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên. Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão, cao tuổi, các bậc thầy và tổ sư nói rằng: ‘Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên, đàm đạo với Phạm thiên, nói chuyện với Phạm thiên, thảo luận với Phạm thiên.’ Thưa ngài, tôi muốn sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến.”

“Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc.”

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia… “Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc.”

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bảy vị Bà-la-môn đại gia và bảy trăm thanh niên đã tắm gội; sau khi đến, nói với họ điều này: "Thưa các ngài, tiếng tăm tốt đẹp này của tôi đã vang dội… Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão… ‘Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên…’. Do đó, thưa các ngài, hãy tụng đọc chi tiết các chú thuật như đã được nghe, như đã được học, và hãy dạy chú thuật cho nhau; thưa các ngài, tôi muốn sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm;

không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến." “Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc.”

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bốn mươi người vợ ngang hàng; sau khi đến, nói với bốn mươi người vợ ngang hàng điều này: “Này các phu nhân, tiếng tăm tốt đẹp này của tôi đã vang dội… Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão… ‘Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên…’. Này các phu nhân, tôi muốn sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến.” “Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc.”

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda cho xây dựng một ngôi nhà nghỉ mới ở phía Đông thành phố, sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm; không ai đến gần ông ngoại trừ một người mang thức ăn đến.

Rồi, thưa các ngài, khi bốn tháng đã trôi qua, Bà-la-môn Mahāgovinda cảm thấy chán nản, cảm thấy bồn chồn: “Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão, cao tuổi, các bậc thầy và tổ sư nói rằng: ‘Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên, đàm đạo với Phạm thiên, nói chuyện với Phạm thiên, thảo luận với Phạm thiên.’ Nhưng tôi không hề nhìn thấy Phạm thiên, không đàm đạo với Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên.”

37. “Rồi sáu vị Sát-đế-lỵ ấy đến tại chỗ Bà-la-môn Màhà Govinda ở, khi đến xong liền nói với Bà-la-môn Mahà Govinda (Ðại Ðiển Tôn)

“- Như thiện hữu Govinda là bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hiệp với vua Renu, cũng vậy Thiện hữu Mahà Govinda và bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hiệp với chúng tôi. Thiện hữu Govinda hãy giáo hóa chúng tôi, Thiện hữu Govinda chớ có từ chối giáo hóa.

“- Xin vâng, chư Thiện hữu.

“Thiện hữu Mahà Govinda trả lời cho sáu vị Sát-đế-lỵ này. Rồi Thiện hữu Mahà Govinda giáo hóa về vương chánh cho bảy vị Sát-đế-lỵ đã được phong vua, và Mahà Govinda dạy các chú thuật cho bảy vị triệu phú Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh. 38. “Sau một thời gian, danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về Bà-la-môn Mahà Govinda:

“- Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy Phạm thiên; Bà-la-môn Maha Govinda tự thân nói chuyện thảo luận, luận nghị với Phạm thiên.

“Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda suy nghĩ: “Danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về ta: Bà-la-môn Maha Govinda tự thân thấy Phạm thiên; Bà-la-môn Maha Govinda tự thân nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên. Nhưng ta không thấy Phạm thiên, ta không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên, không nghị luận với Phạm thiên. Ta có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử nói rằng: Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, người ấy sẽ thấy Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và nghị luận với Phạm thiên. Vậy ta hãy sống tịnh cư trong bốn tháng mưa và tu tập thiền định về bi tâm”.

39. “Rồi Thiện hữu Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến vua Renu, khi đến xong liền tâu với vua Renu:

“Danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về Thần: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thao luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nhưng Thần không thấy được Phạm thiên, không nói chuyện được với Phạm thiên, không thảo luận được với Phạm thiên, không luận nghị được với Phạm thiên. Thần có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng, lớn tuổi ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nay Thần muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, và tu tập thiền định về bi tâm. Không một ai được đến gặp thần, trừ chỉ một người đem đồ ăn.

“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì Khanh nghĩ là hợp thời.

40. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đến tại chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ ở, khi đến xong liền nói với sáu vị Sátđế-lỵ:

“- Danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về tôi: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Tôi không được thấy Phạm thiên, không nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm Thiên. Nhưng tôi có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và nghị luận với Phạm thiên”. Nay tôi muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm. Không một ai được đến gặp tôi, chỉ trừ một người đem đồ ăn.

“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì Thiện hữu nghĩ là hợp thời.

41. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến chỗ bảy vị triệu phú Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh ở, khi đến xong liền nói với các vị này như sau:

“- Chư Thiện hữu, danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về tôi: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên”. Nhưng tôi không thấy được Phạm thiên, không nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên. Tôi có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử đều nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nay tôi muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, không một ai được đến gặp tôi, chỉ trừ một người đem đồ ăn.

“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì Thiện hữu nghĩ là hợp thời. 42. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng của mình, khi đến xong liền nói với bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng như sau:

“- Chư Thiện hữu, danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về tôi: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên”. Nhưng tôi không được thấy Phạm thiên, tôi không nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên. Tôi có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng, lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử đều nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nay tôi muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, không một ai được đến gặp tôi, chỉ trừ một người đem đồ ăn.

“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì thiện hữu nghĩ là hợp thời.

43. “Rồi Thiện hữu Mahà Govinda cho làm một hội đường mới về phương Ðông kinh thành, tịnh cư trong bốn tháng mưa và tu tập thiền định về bi tâm, không một ai đến gặp, trừ người đem đồ ăn. Sau bốn tháng, sự thất vọng và sợ hãi sau đây khởi lên cho Bà-la-môn Mahà Govinda: “Ta có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng, lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử đều nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và nghị luận với Phạm thiên. Nhưng nay ta không thấy Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên, không nghị luận với Phạm thiên”.

6.3. Đàm đạo với Phạm thiên (Brahmunāsākacchā)

Khi ấy, thưa các ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra biết được tâm tư của Bà-la-môn Mahāgovinda bằng tâm của mình — giống như một người đàn ông lực lưỡng duỗi cánh tay đang co lại, hoặc co cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy — ngài biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện ngay trước mặt Bà-la-môn Mahāgovinda. Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda cảm thấy sợ hãi, cảm thấy kinh hoàng, cảm thấy sởn gai ốc khi nhìn thấy hình dáng chưa từng thấy đó. Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đã nói với Phạm thiên Sanaṅkumāra bằng vần kệ:

“Đầy dung sắc, vinh quang và uy nghi, ngài là ai thưa ngài;
Không biết ngài nên chúng tôi hỏi, làm sao chúng tôi biết được ngài?”

“Họ biết ta là Đồng Tử, ở cõi Phạm thiên từ ngàn xưa;
Tất cả chư thiên đều biết ta, này Govinda hãy biết như vậy.”

“Chỗ ngồi, nước rửa chân, và mật ong cùng rau quả dâng lên Phạm thiên;
Chúng tôi xin hỏi ngài về lễ vật, xin ngài hãy nhận lễ vật của chúng tôi.”

“Ta nhận lễ vật của ông, những gì ông nói này Govinda;
Vì lợi ích trong hiện tại, và vì hạnh phúc trong tương lai;
Đã có cơ hội hãy hỏi đi, bất cứ điều gì ông mong muốn.”

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda nghĩ như vầy: “Ta đã được Phạm thiên Sanaṅkumāra cho phép. Ta nên hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra về lợi ích trong hiện tại hay lợi ích trong tương lai?”

Rồi, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda nghĩ như vầy: “Ta đã thành thạo về những lợi ích trong hiện tại, và những người khác cũng hỏi ta về lợi ích trong hiện tại. Hay là ta chỉ nên hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra về lợi ích trong tương lai.” Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đã hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra bằng vần kệ:

“Tôi xin hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra, người không còn nghi ngờ về những điều người khác muốn biết;
Đứng ở đâu và học tập điều gì, con người mới đạt được cõi Phạm thiên bất tử?”

“Từ bỏ sự chấp ngã ở loài người, này Phạm chí,
Trở nên nhất tâm, giải thoát qua Tâm thông cảm;
Không có mùi xú uế (āmagandha), tránh xa việc dâm dục,
Đứng ở đây và học tập điều này;
Con người mới đạt được cõi Phạm thiên bất tử.”

"‘Từ bỏ sự chấp ngã’, điều này tôi hiểu lời ngài. Ở đây có người từ bỏ khối tài sản nhỏ hoặc từ bỏ khối tài sản lớn, từ bỏ vòng thân thuộc nhỏ hoặc từ bỏ vòng thân thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, như vậy là ‘từ bỏ sự chấp ngã’, điều này tôi hiểu lời ngài.

‘Trở nên nhất tâm’, điều này tôi hiểu lời ngài. Ở đây có người lui tới chỗ ở thanh vắng: rừng núi, gốc cây, khe núi, hang động, nghĩa địa, rừng sâu, bãi đất trống, đống rơm, như vậy là ‘trở nên nhất tâm’, điều này tôi hiểu lời ngài.

‘Giải thoát qua Tâm thông cảm’, điều này tôi hiểu lời ngài. Ở đây có người an trú với tâm tràn đầy Tâm thông cảm lan tỏa một hướng, cũng vậy hướng thứ hai, cũng vậy hướng thứ ba, cũng vậy hướng thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, vì sự đồng nhất với tất cả, người ấy an trú với tâm tràn đầy Tâm thông cảm lan tỏa khắp toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Như vậy là ‘giải thoát qua Tâm thông cảm’, điều này tôi hiểu lời ngài.

Nhưng về mùi xú uế, tôi không hiểu lời ngài nói.

Những gì là mùi xú uế ở loài người, thưa Phạm thiên,
Xin bậc trí giả hãy nói cho người không biết ở đây;
Bị che lấp bởi điều gì mà chúng sinh tạo ra,
Bị đọa vào cõi dữ và bị che lấp khỏi cõi Phạm thiên?"\

“Tức giận, nói dối, lừa gạt và phản trắc,
Keo kiệt, kiêu ngạo, ganh tị;
Mong muốn, khao khát, làm hại người khác,
Ám ảnh dễ chịu (tham / lobha), ám ảnh khó chịu (sân / dosa), say sưa và sự u mê (si / moha);
Bị trói buộc trong những điều này là không thoát khỏi mùi xú uế,
Bị đọa vào cõi dữ và bị che lấp khỏi cõi Phạm thiên.”

“Theo như tôi hiểu lời ngài nói về mùi xú uế. Những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc.”

44. “Rồi Phạm thiên Sanamkumàra với tâm của mình biết được tâm của Bà-la-môn Mahà Govinda, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Bà-la-môn Mahà Govinda. Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda hoảng hốt, run sợ, lông tóc dựng ngược, thốt lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên):

Ôi đoan tướng quang vinh,
Thiện hữu thật là ai?
Không biết nên hỏi Ngài.
Ðể chúng tôi biết Ngài!
Phạm thiên giới biết ta,
Là Ðồng tử thường hằng!
Ta là bậc thiên vương,
Hãy biết ta là vậy,
Hãy đem đến sàng tọa,
Nước rửa chân, thục mật.
Hiền giả muốn nhận gì,
Hãy cho chúng tôi biết!
Ta chấp nhận cúng vật,
Mà Ngươi vừa đề cập.
Vì hạnh phúc hiện tại,
Vì an lạc tương lai,
Dịp may nay đã đến,
Hãy hỏi điều Ngươi muốn.

45. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda suy nghĩ: “Ðây là dịp may Phạm thiên Sanamkumàra dành cho ta. Ta nay hỏi Phạm thiên Sanamkumàra điều gì đã được ích lợi cho hiện tại và tương lai?”.

“Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda suy nghĩ: “Ta rất giỏi về những lợi ích hiện tại. Chính người khác cũng hỏi ta về những lợi ích hiện tại. Vậy ta hãy hỏi Phạm thiên Sanamkumàra lợi ích tương lai”.

“Rồi Ba-la-môn Mahà nói bài kệ sau đây với Phạm thiên Sanmakumàra:

Nay ta hỏi Phạm thiên,
Sanamkumàra!
Ta hỏi điều nghi ngờ,
Người khác đều muốn biết!
An trú tại chỗ nào,
Tu tập tại chỗ nào,
Ðể chứng quả bất tử?\

Chính tại Phạm thiên giới:
Này Ngươi Bà-la-môn.
Ai bỏ ngã, ngã sở,
Tâm chuyên chú nhứt cảnh,
Tu tập đại bi tâm,
Thoát ly mọi xú uế,
Lánh xa mọi tà dục,
An trú ở nơi đây!
Ðể chứng quả bất tử,
Chính tại Phạm thiên giới.

46. “- Từ bỏ ngã và ngã sở hữu, thưa Tôn giả, câu ấy tôi hiểu. Trong đời có người từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hay vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thưa Tôn giả, như vậy ta hiểu nghĩ từ bỏ ngã và ngã sở hữu.

“Tâm chuyên nhất cảnh, thưa Tôn giả, câu ấy tôi hiểu. Trong đời có người lựa một chỗ an trú thanh vắng, một khu rừng, một gốc cây, một ngọn núi, một hang cốc, một bãi tha ma, một sơn lâm, giữa trời không, một đống rơm. Thưa, Tôn giả, như vậy tôi hiểu nghĩa tâm chuyên nhất cảnh.

“Tu tập bi tâm, thưa Tôn giả, câu ấy tôi hiểu. Trong đời có người an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với bi quảng đại vô biên, không hận, không sân. Thưa Tôn giả, như vậy tôi hiểu nghĩa tu tập bi tâm.

“Thưa Tôn giả, riêng câu nói về xú uế tôi không được hiểu.

“Này Phạm thiên, trong loài người cái gì là xú uế?

“Ðó là điều ở nơi đây tôi không hiểu. Tôn giả hãy nói đi!

- Loài người bị gì che,
Bị trói buộc cái gì,
Phải chịu sanh đọa xứ,
Bị đóng cửa Phạm thiên?

Phẫn nộ và vọng ngữ,
Gian manh và lừa đảo,
Hà tiện và quá mạn,
Tật đố và dục cầu,
Nghi ngờ và hại người,
Tham, sân, si kiêu mạn.
Những tánh này trói buộc,
Khiến con người xú uế,
Phải chịu sanh đọa xứ,
Bị đóng cửa Phạm thiên.

“- Như tôi hiểu lời Tôn giả giải thích về các xú uế, chúng không dễ gì mà được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“- Hiền giả Govinda, hãy làm gì Hiền giả xem là hợp thời.

6.4. Báo tin cho vua Reṇu (Reṇurājaāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, nói với vua Reṇu điều này: “Bây giờ xin ngài hãy tìm một vị quan tế tự khác, người sẽ khuyên bảo vương quốc của ngài. Thưa ngài, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Tôi báo tin cho nhà vua, Reṇu chúa tể của đất đai;
Ngài hãy tự mình cai quản vương quốc, tôi không còn vui thích với chức quan tế tự.”

“Nếu ngài thiếu thốn dục lạc, tôi sẽ làm cho ngài đầy đủ;
Ai làm hại ngài tôi sẽ ngăn chặn, tôi là tổng tư lệnh của đất đai;
Ngài là cha tôi là con, xin Govinda đừng rời bỏ chúng tôi.”

“Tôi không thiếu thốn dục lạc, không ai làm hại tôi;
Nghe lời của đấng phi nhân, nên tôi không còn vui thích ở nhà.”

“Đấng phi nhân đó hình dáng ra sao, đã nói với ngài điều gì;
Mà nghe xong ngài lại rời bỏ chúng tôi, và toàn bộ ngôi nhà này?”

"Trước đây khi tôi đang ẩn cư, với mong muốn được tế tự;
Ngọn lửa đang bốc cháy, được rải đầy lá kusa.

Rồi Phạm thiên xuất hiện trước tôi, từ cõi Phạm thiên ngàn xưa;
Ngài đã giải đáp câu hỏi cho tôi, nghe xong tôi không còn vui thích ở nhà."

"Tôi tin tưởng ngài, những gì ngài nói này Govinda;
Nghe lời của đấng phi nhân, làm sao ngài có thể làm khác được.

Chúng tôi sẽ đi theo ngài, ngài Govinda là bậc thầy của chúng tôi;
Giống như viên ngọc lưu ly, không tỳ vết, trong sáng, tuyệt đẹp;
Chúng tôi cũng sẽ sống thanh tịnh như vậy, theo lời khuyên của Govinda.

Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

47. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến chỗ vua Renu ở, khi đến xong liền tâu với vua Renu:

“- Này Tôn giả, hãy tìm một phụ tá khác, vị này sẽ điều khiển quốc sự cho Tôn giả. Tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích các xú uế, chúng tôi dễ gì mà được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

- Vua Renu quốc chủ,
Thần xin tâu Ngài rõ.
Hãy biết quốc độ Ngài,
Thần không thiết chức vụ.

- Nếu Khanh thiếu dục lạc,
Ta cho Khanh đầy đủ!
Nếu có ai hại Khanh,
Quốc chủ, ta ngăn chận.
Khanh là cha, ta con,
Khanh chớ bỏ rơi ta.

- Thần không thiếu dục lạc
Không có ai hại thần.
Vì nghe bậc phi nhân,
Thần không thiết gia đình.

- Phi nhân ấy là ai,
Vị ấy đã nói gì,
Khanh nghe, bỏ gia đình,
Bỏ ta, bỏ tất cả?

- Trước kia ở nơi đây,
Lòng thần chỉ nguyện cầu
Lo đốt nén lửa thiêng,
Và rải cỏ cát tường.
Nay Phạm thiên hiện ra,
Hiện từ Phạm thiên giới,
Trả lời câu hỏi thần,
Nghe xong thần bỏ nhà.

- Này Khanh Govinda,
Ta tin lời Khanh nói!
Ðược nghe bậc phi nhân,
Làm sao làm khác được?
Ta sẽ theo gương Khanh,
Bậc thầy của chúng ta.
Như hòn ngọc lưu ly,
Không tỳ vết, cấu uế,
Thật trong sạch như vậy,
Ta theo giáo lý Người!

“- Nếu Thiện hữu Govinda xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời tôi cũng xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

6.5. Báo tin cho sáu vị Sát-đế-lỵ (Chakhattiyaāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, nói với sáu vị Sát-đế-lỵ điều này: “Bây giờ xin các ngài hãy tìm một vị quan tế tự khác, người sẽ khuyên bảo vương quốc của các ngài. Thưa các ngài, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ bước sang một bên và cùng suy nghĩ như vầy: “Những người Bà-la-môn này vốn tham tiền; hay là chúng ta dùng tiền bạc để giữ Bà-la-môn Mahāgovinda lại.”

Họ đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda và nói như vầy: “Thưa ngài, trong bảy vương quốc này có rất nhiều tài sản, ngài cần bao nhiêu, chúng tôi sẽ mang đến bấy nhiêu.”

“Thôi đi các ngài, chính tôi cũng có rất nhiều tài sản nhờ vào các ngài. Tôi sẽ từ bỏ tất cả để xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ bước sang một bên và cùng suy nghĩ như vầy: “Những người Bà-la-môn này vốn tham phụ nữ; hay là chúng ta dùng phụ nữ để giữ Bà-la-môn Mahāgovinda lại.”

Họ đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda và nói như vầy: “Thưa ngài, trong bảy vương quốc này có rất nhiều phụ nữ, ngài cần bao nhiêu, chúng tôi sẽ mang đến bấy nhiêu.”

“Thôi đi các ngài, chính tôi cũng có bốn mươi người vợ ngang hàng. Tôi sẽ từ bỏ tất cả để xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.”

"Nếu các ngài từ bỏ dục lạc, nơi mà người thường bị trói buộc;
Hãy bắt đầu mạnh mẽ lên, kiên định với sức mạnh của sự nhẫn nhục.

Đây là con đường ngay thẳng, đây là con đường vô thượng;
Điều dạy chân chính được người hiền bảo vệ, để tái sinh vào cõi Phạm thiên."

“Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi bảy năm. Sau bảy năm, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.”

“Bảy năm là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài bảy năm. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao. Đời sau là nơi phải đến, cần phải hiểu bằng trí tuệ, cần phải làm những điều thiện, cần phải thực hành lối sống thanh tịnh, không có chuyện sinh ra mà không chết. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi sáu năm… năm năm… bốn năm… ba năm… hai năm… một năm, sau một năm chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.” “Một năm là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài một năm. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao… Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.” “Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi bảy tháng, sau bảy tháng chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.” “Bảy tháng là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài bảy tháng. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao… Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.” “Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi sáu tháng… năm tháng… bốn tháng… ba tháng… hai tháng… một tháng… nửa tháng, sau nửa tháng chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.”

“Nửa tháng là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài nửa tháng. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao. Đời sau là nơi phải đến, cần phải hiểu bằng trí tuệ, cần phải làm những điều thiện, cần phải thực hành lối sống thanh tịnh, không có chuyện sinh ra mà không chết. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi bảy ngày, để chúng tôi giao lại vương quốc cho con cái và anh em cai quản, sau bảy ngày chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.”

“Bảy ngày thì không lâu, thưa các ngài, tôi sẽ đợi các ngài bảy ngày.”

48. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ ở, khi đến xong liền nói với sáu vị ấy như sau:

“- Chư Hiền giả, hãy tìm một vị phụ tá khác. Vị này sẽ điều khiển quốc sự cho quý vị Hiền giả. Tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“Rồi sáu vị Sát-đế-lỵ đi qua một bên và thảo luận như sau:

“- Những người Bà-la-môn này rất tham tài sản. Chúng ta hãy lấy tài sản để dụ dỗ Bà-la-môn này.

“Các vị này đến tại chỗ của Bà-la-môn Mahà Govinda và nói:

“- Thiện hữu, tài sản trong bảy quốc độ này rất là phong phú, Thiện hữu muốn bao nhiêu, Thiện hữu cứ lấy bấy nhiêu.

“- Thôi thôi, chư Thiện hữu! Tài sản của tôi rất là phong phú, nhờ sự giúp đỡ của quý vị. Nay tôi đã bỏ mọi danh lợi ấy để xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế, chúng không dễ gì được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

49. “Rồi sáu vị Sát-đế-lỵ, đi qua một bên và thảo luận như sau:

“Những người Bà-la-môn này rất tham đàn bà. Chúng tôi hãy lấy đàn bà để dụ dỗ Bà-la-môn này.

“Các vị này đến tại chỗ của Bà-la-môn Mahà Govinda và nói:

“- Thiện hữu, đàn bà trong bảy quốc độ này rất nhiều. Thiện hữu muốn bao nhiêu, Thiện hữu cứ lấy bấy nhiêu.

“- Thôi thôi, chư Thiện hữu, tôi có đến bốn mươi vị phu nhân, thảy đều đồng đẳng. Tôi nay muốn từ bỏ tất cả các vị ấy để xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì được điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

50. “- Nếu Thiện hữu Govinda sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thì chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

Nếu từ bỏ dục vọng,
Mà kẻ phàm say đắm.
Tinh cần và cương quyết,
Vững chắc trong nhẫn lực,
Ðó là con đường chánh,
Con đường hướng vô thượng,
Ðược Thiện nhân hộ trì,
Sanh lên cõi Phạm thiên.

51. “Do vậy, Thiện hữu Govinda hãy chờ bảy năm nữa, sau bảy năm chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi đi.

“- Chư Thiện hữu, bảy năm quá lâu dài. Tôi không thể chờ các Hiền giả đến bảy năm. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi, hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không gì được điều phục nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

52. “- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ trong sáu năm nữa… hãy chờ trong năm năm nữa… hãy chờ trong bốn năm nữa… hãy chờ trong ba năm nữa… hãy chờ trong hai năm nữa… hãy chờ trong một năm nữa. Sau một năm chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

53. “- Chư Thiện hữu, một năm quá lâu dài. Tôi không thể chờ các Hiền giả đến một năm. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh, chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà được điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ trong bảy tháng nữa. Sau bảy tháng chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

54. “- Chư Thiện hữu, bảy tháng quá lâu dài. Tôi không thể chờ các Hiền giả đến bảy tháng. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi, hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ sáu tháng nữa… hãy chờ năm tháng nữa… hãy chờ bốn tháng nữa… hãy chờ ba tháng nữa… hãy chờ hai tháng nữa… hãy chờ một tháng nữa… hãy chờ nửa tháng nữa. Sau nửa tháng, chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

55. “- Chư Thiện hữu, nửa tháng quá lâu dài, tôi không thể chờ các Hiền giả đến nửa tháng. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi, hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ cho bảy ngày cho đến khi chúng tôi giao quốc độ cho các người con và người anh của chúng tôi. Sau bảy ngày, chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

“- Chư Thiện hữu, bảy ngày không lâu gì. Tôi sẽ chờ chư Thiện hữu cho đến bảy ngày.

6.6. Báo tin cho các Bà-la-môn đại gia (Brāhmaṇamahāsālādīnaṁāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bảy vị Bà-la-môn đại gia và bảy trăm thanh niên đã tắm gội; sau khi đến, nói với họ điều này: “Bây giờ xin các ngài hãy tìm một vị thầy khác, người sẽ dạy chú thuật cho các ngài. Thưa các ngài, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế. Những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Xin ngài Govinda đừng xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Thưa ngài, sự xuất gia thì ít quyền lực và ít lợi lộc; còn địa vị Bà-la-môn thì nhiều quyền lực và nhiều lợi lộc.”

“Xin các ngài đừng nói như vầy: ‘Sự xuất gia thì ít quyền lực và ít lợi lộc, còn địa vị Bà-la-môn thì nhiều quyền lực và nhiều lợi lộc.’ Thưa các ngài, ai khác ngoài tôi có nhiều quyền lực hơn hay nhiều lợi lộc hơn. Thưa các ngài, hiện nay tôi giống như vua của các vị vua, giống như Phạm thiên của các Bà-la-môn, giống như chư thiên của các gia chủ. Tôi sẽ từ bỏ tất cả để xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.”

56. “Rồi Bà-la-môn Maha Govinda đi đến chỗ bảy triệu phú Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh ở, khi đến xong liền nói với bảy vị triệu phúc Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh như sau:

“- Này các Thiện hữu, hãy tìm một vị giáo thọ khác, vị ấy sẽ dạy các thần chú cho chư Thiện hữu, nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“- Thiện hữu Bà-la-môn Govinda, chớ có xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Thiện hữu, xuất gia ít có quyền thế, và ít có lợi dưỡng. Làm người Bà-la-môn có nhiều quyền thế và có nhiều lợi dưỡng.

“- Chư Thiện hữu chớ có nói như vậy: “Xuất gia ít có quyền thế và ít có lợi dưỡng. Làm người Bà-la-môn có nhiều quyền thế và có nhiều lợi dưỡng”. Chư Thiện hữu, có ai nhiều quyền thế và nhiều lợi dưỡng hơn tôi. Tôi nay là vua các vị vua, là Phạm thiên cho các vị Bà-la-môn, và là vị Trời cho các Gia chủ, và tất cả điều này, tôi muốn vất bỏ, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!

“- Nếu Thiện hữu Govinda xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

6.7. Báo tin cho các người vợ (Bhariyānaṁāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bốn mươi người vợ ngang hàng; sau khi đến, nói với bốn mươi người vợ ngang hàng điều này: “Này các phu nhân, ai muốn thì hãy về nhà người thân của mình hoặc tìm một người chồng khác. Này các phu nhân, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Này các phu nhân, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.”

“Ngài chính là người thân của chúng tôi khi chúng tôi cần người thân, ngài là chồng của chúng tôi khi chúng tôi cần chồng. Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó.”

57. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng, khi đến xong liền nói với bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng như sau:

“- Các phu nhân, nếu muốn hãy trở về gia đình của mình hay gia đình quyến thuộc và tìm một người chồng khác. Tôi nay muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà được điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

“- Ngài là người quyến thuộc của chúng tôi, người quyến thuộc mà chúng tôi ao ước. Ngài là chồng của chúng tôi, người chồng mà chúng tôi ao ước. Nếu Tôn giả Govinda xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Tôn giả đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.

6.8. Sự xuất gia của Mahāgovinda (Mahāgovindapabbajjā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda sau bảy ngày đó đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Khi Bà-la-môn Mahāgovinda xuất gia, bảy vị vua Sát-đế-lỵ đã được lễ rưới nước lên đầu, bảy vị Bà-la-môn đại gia, bảy trăm thanh niên đã tắm gội, bốn mươi người vợ ngang hàng, hàng ngàn Sát-đế-lỵ, hàng ngàn Bà-la-môn, hàng ngàn gia chủ, và phụ nữ từ nhiều hậu cung đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình theo sau Bà-la-môn Mahāgovinda.

Được hội chúng đó vây quanh, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi du hành qua các làng mạc, thị trấn và kinh đô. Thưa các ngài, vào thời điểm đó, khi Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến một làng mạc hay thị trấn nào, ở đó ông giống như vua của các vị vua, giống như Phạm thiên của các Bà-la-môn, giống như chư thiên của các gia chủ. Vào thời điểm đó, khi mọi người hắt hơi hay vấp ngã. Họ đều nói như vầy: “Kính lễ Bà-la-môn Mahāgovinda, kính lễ vị quan tế tự của bảy vương quốc.”

Thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda an trú với tâm tràn đầy Tâm yêu thương lan tỏa một hướng, cũng vậy hướng thứ hai, cũng vậy hướng thứ ba, cũng vậy hướng thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, vì sự đồng nhất với tất cả, ông an trú với tâm tràn đầy Tâm yêu thương lan tỏa khắp toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Với tâm tràn đầy Tâm thông cảm… Với tâm tràn đầy Tâm cùng vui… Với tâm tràn đầy Tâm bình thản… không ác ý. Ông đã thuyết giảng cho các đệ tử con đường dẫn đến sự cộng trú ở cõi Phạm thiên.

Thưa các ngài, vào thời điểm đó, những đệ tử nào của Bà-la-môn Mahāgovinda thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp. Sau khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi lành, cõi Phạm thiên. Những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, sau khi thân hoại mạng chung, một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại (Paranimmitavasavattī); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Hóa Lạc (Nimmānaratī); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Đâu-suất (Tusita); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Dạ-ma (Yāma); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Đao-lợi (Tāvatiṁsa); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Tứ Thiên Vương (Cātumahārājikā); những ai chỉ làm sung mãn thân phận thấp kém nhất thì làm sung mãn thân phận nhạc thần (gandhabba).

Như vậy, thưa các ngài, sự xuất gia của tất cả những thiện nam tử đó không phải là vô ích, không phải là trống rỗng, mà có kết quả, có lợi ích.’

Thế Tôn có nhớ điều đó không?"

"Ta nhớ, này Pañcasikha. Vào thời điểm đó, ta chính là Bà-la-môn Mahāgovinda. Ta đã thuyết giảng cho các đệ tử con đường dẫn đến sự cộng trú ở cõi Phạm thiên. Nhưng này Pañcasikha, lối sống thanh tịnh đó không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến sự phai nhạt, không dẫn đến sự chấm dứt, không dẫn đến sự tĩnh lặng, không dẫn đến sự hiểu biết trực tiếp, không dẫn đến sự giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến sự tái sinh vào cõi Phạm thiên.

Còn lối sống thanh tịnh này của ta, này Pañcasikha, hoàn toàn dẫn đến sự nhàm chán, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự tĩnh lặng, sự hiểu biết trực tiếp, sự giác ngộ, và Niết-bàn. Và lối sống thanh tịnh nào, này Pañcasikha, hoàn toàn dẫn đến sự nhàm chán, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự tĩnh lặng, sự hiểu biết trực tiếp, sự giác ngộ, và Niết-bàn? Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo). Cụ thể là — Nhìn Thấy Thiện (sammādiṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (sammāsaṅkappa), Lời Nói Thiện (sammāvācā), Hành Động Thiện (sammākammanta), Đời Sống Thiện (sammāājīva), Nỗ lực Thiện (sammāvāyāma), Tự Quan Sát Thiện (sammāsati), Định thiện (sammāsamādhi). Đây chính là lối sống thanh tịnh, này Pañcasikha, hoàn toàn dẫn đến sự nhàm chán, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự tĩnh lặng, sự hiểu biết trực tiếp, sự giác ngộ, và Niết-bàn.

Này Pañcasikha, những đệ tử nào của ta thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, do cạn kiệt (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), họ tự mình trải nghiệm trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn nguồn ác ngay trong hiện tại;

những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, do diệt trừ hoàn toàn năm Xiềng Xích (kiết sử / saṁyojana) cõi dưới, họ sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātika) tại đó, nhập diệt hoàn toàn tại đó, không còn quay trở lại từ thế giới đó nữa.

Những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, một số do diệt trừ hoàn toàn ba Xiềng Xích, làm nhẹ bớt đắm nhiễm (tham / rāga), ám ảnh khó chịu (sân / dosa) và sự u mê (si / moha), họ trở thành bậc Nhất lai, chỉ quay lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt đau khổ.

Những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, một số do diệt trừ hoàn toàn ba Xiềng Xích, họ trở thành bậc Dự lưu, không còn rơi vào cõi dữ, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ.

Như vậy, này Pañcasikha, sự xuất gia của tất cả những thiện nam tử này không phải là vô ích, không phải là trống rỗng, mà có kết quả, có lợi ích."

Thế Tôn đã nói như vậy. Nhạc thần Pañcasikha hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn nói, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài rồi biến mất ngay tại chỗ.

Kết thúc kinh Mahāgovinda, kinh thứ sáu.

58. “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda, sau bảy ngày liền cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi Bà-la-môn Mahà Govinda xuất gia, bảy vị Sát-đế-lỵ được làm lễ quán đảnh lên vương vị, bảy vị Bà-la-môn triệu phú, bảy trăm vị tịnh hạnh, bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng, vài ngàn vị Sát-đế-lỵ, vài ngàn vị Bà-la-môn, vài ngàn cư sĩ, và một số thiếu phụ trẻ từ các cư xá thiếu phụ, những vị này đều cạo bỏ râu tóc, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình theo Bà-la-môn Mahà Govinda. Và được bao vây bởi hội chúng như vậy, Bà-la-môn Mahà Govinda du hành đi qua làng, qua quận, qua các đô thị. Và đến tại làng nào, hay quận nào, hay đô thị nào, Bà-la-môn Mahà Govinda được xem là vua các vị vua, là Phạm thiên cho các Bà-la-môn, là vị Trời cho các cư sĩ. Trong thời gian ấy nếu có người nào nhảy mũi hay trượt chân, người ấy liền nói: “Ðảnh lễ Bà-la-môn Mahà Govinda! Ðảnh lễ vị phụ tá bảy quốc độ!”

59. “Bà-la-môn Mahà Govinda an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Bà-la-môn Mahà Govinda, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, biến mãn với tâm câ hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Và vị ấy dạy cho các đệ tử con đường đưa đến sự thân hữu với Phạm thiên giới.

60. “Và tất cả những vị nào, trong thời ấy là đệ tử của Bà-la-môn Mahà Govinda đều hiểu được toàn diện giáo lý của Bà-la-môn Mahà Govinda. Những vị này, khi thân hoại, mạng chung đều được sanh lên thiện thú, Phạm thiên giới. Những vị nào không hiểu một cách toàn diện tất cả giáo lý, sau khi thân hoại, mạng chung, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Tha Hóa Tự tại thiên, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Dạ-ma thiên, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, một số được sanh làm thâ hữu với Tứ Thiên vương thiên. Cho đến những vị phải thành tựu các thân thấp kém nhất, cũng được thành tựu thân Càn-thát-bà.

Như vậy tất cả những thiện nam tử đã xuất gia không phải vô hiệu, không phải trống không, trái lại thật sự có hiệu quả, có tiến bộ.

61. Thế Tôn có nhớ không?

− Này Pancasikha, Ta có nhớ. Ta thuở ấy là Mahà Govinda. Ta dạy cho các đệ tử của Ta con đường đưa đến sự thân hữu ở Phạm thiên quốc. Nhưng này Pancasikha, con đường phạm hạnh ấy không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Con đường ấy chỉ đưa sanh lên cõi Phạm thiên. Này Pancasikha, con đường phạm hạnh của Ta hoàn toàn đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Ðó là con đường Thánh đạo tám ngành tức là Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh. Này Pancasikha, con đường phạm hạnh này hoàn toàn đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

62. Này Pancasikha, những vị đệ tử nào đã hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, những vị ấy trừ diệt các lậu hoặc, vô lậu, tự mình hiện chứng thắng trí giác ngộ, sống an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Trong những vị không hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, một số những vị ấy, diệt trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (lên Thiên giới) và ở tại chỗ ấy được nhập Niết-bàn, không phải sanh lại thế giới này. Trong những vị không hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, một trong những vị ấy diệt trừ ba kiết sử, làm nhẹ bớt tham, sân, si, thành bậc Nhất lai, chỉ phải sanh vào thế giới này một lần nữa rồi diệt tận khổ đau. Trong những vị này không hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, một số những vị ấy từ diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn phải sanh vào đọa xứ, nhất định chứng quả Bồ-đề. Này Pancasikha, như vậy tất cả những thiện nam tử đã xuất gia, không phải vô hiệu, không phải trống không, trái lại thật sự có hiệu quả, có tiến bộ.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Pancasikha, con của Càn-thát-bà, sung sướng, hoan hỷ nghe lời dạy của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.

-ooOoo-