Skip to content

Các Bài Kinh Liên Quan Đến Vua Pasenadi xứ Kosala

Chương Một

SN 3.1 Kinh Người Trẻ Tuổi (Daharasutta)

Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật trú tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika trong rừng Jeta, gần thành Sāvatthī.

Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật, và trao đổi lời chào hỏi với Ngài. Sau khi cuộc trò chuyện xã giao kết thúc, vua ngồi xuống một bên và hỏi Đức Phật: "Thưa Tôn giả Gotama, ngài có tự nhận mình đã giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác (supreme perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo, tối cao) không?"

"Nếu có ai đáng được gọi là người đã giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì đó chính là ta. Vì, thưa đại vương, ta đã giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác."

"Nhưng, có những vị sa môn và bà la môn lãnh đạo một giáo đoàn và một cộng đồng, và là thầy của một cộng đồng. Họ là những nhà sáng lập tôn giáo nổi tiếng và có danh tiếng, được nhiều người xem là thánh thiện. Đó là Pūraṇa Kassapa, đạo sĩ cầm gậy tre Gosāla, đạo sĩ lõa thể Ni-kiền-tử thuộc dòng họ Ñātika, Sañjaya Belaṭṭhiputta, Pakudha Kaccāyana, và Ajita mặc áo bằng tóc. Ta cũng đã hỏi họ liệu họ có tự nhận mình đã giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác không, nhưng họ không hề tự nhận như vậy. Vậy tại sao ngài lại tự nhận, trong khi tuổi đời còn trẻ và mới xuất gia?"

"Thưa đại vương, có bốn điều này không nên xem thường hay khinh miệt vì chúng còn non trẻ. Bốn điều đó là gì? Một vị vương tộc, một con rắn, một ngọn lửa, và một Tỷ kheo. Bốn điều này không nên xem thường hay khinh miệt vì chúng còn non trẻ."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thánh, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Một người không nên khinh thường
một vị vương tộc có dòng dõi cao quý,
xuất thân cao sang và danh tiếng,
chỉ vì người ấy còn trẻ.

Vì có thể vị chúa tể ấy,
vị vương tộc ấy, sẽ lên ngôi vua.
Và trong cơn thịnh nộ, ngài sẽ thi hành hình phạt của hoàng gia,
và khiến ngươi bị đánh đập tàn nhẫn.
Vì vậy, ngươi nên tránh xa ngài
vì sự an toàn của chính mình.

Dù ở làng mạc hay nơi hoang dã,
bất cứ nơi nào thấy một con rắn,
một người không nên xem thường nó
hay khinh miệt nó vì nó còn nhỏ.

Với những màu sắc như cầu vồng,
con rắn với hơi thở rực lửa trườn đi.
Nó tấn công và cắn kẻ ngu ngốc,
cả đàn ông lẫn đàn bà.
Vì vậy, ngươi nên tránh xa nó
vì sự an toàn của chính mình.

Một ngọn lửa thiêu rụi rất nhiều,
một đám cháy lớn với vệt đường đen kịt.
Một người không nên xem thường nó
chỉ vì nó còn nhỏ.

Vì một khi có được nhiên liệu,
nó sẽ trở thành một đám cháy lớn.
Nó sẽ tấn công và thiêu đốt kẻ ngu ngốc,
cả đàn ông lẫn đàn bà.
Vì vậy, ngươi nên tránh xa nó
vì sự an toàn của chính mình.

Khi một khu rừng bị lửa thiêu rụi,
một đám cháy lớn với vệt đường đen kịt,
những chồi non sẽ lại mọc lên ở đó,
khi ngày đêm trôi qua.

Nhưng nếu một Tỷ kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức)
thiêu đốt ngươi bằng năng lực của họ,
ngươi sẽ không có con trai hay gia súc,
và con cháu ngươi cũng không tìm thấy của cải.
Ngươi trở nên không con không cháu,
như một gốc cây cọ.

Đó là lý do tại sao một người sáng suốt,
thấy được điều gì tốt cho bản thân,
sẽ luôn đối xử đúng mực với những điều này:
một con rắn, một đám cháy lớn,
một vị vương tộc danh tiếng,
và một Tỷ kheo có giới đức."

Khi nghe những lời này, vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Ngài! Tuyệt vời! Như thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy rõ mọi vật, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các Tỷ kheo). Từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."

SN 3.2 Kinh Một Người (Purisasutta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, có bao nhiêu điều sinh khởi bên trong một người gây ra tổn hại, đau khổ, và bất an cho họ?"

"Thưa đại vương, có ba điều sinh khởi bên trong một người gây ra tổn hại, đau khổ, và bất an cho họ. Ba điều đó là gì? Tham (Greed / Lòng tham), sân (Hate / Lòng căm ghét, tức giận), và si (Delusion / Sự mê muội, vô minh). Ba điều này sinh khởi bên trong một người gây ra tổn hại, đau khổ, và bất an cho họ."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Khi tham, sân, và si,
đã sinh khởi bên trong một người,
chúng làm hại người có tâm ác,
như cây sậy bị chính quả của nó hủy diệt."

SN 3.3 Kinh Già và Chết (Jarāmaraṇasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, đối với một người đã được tái sinh, có sự miễn trừ nào khỏi già và chết không?"

"Thưa đại vương, đối với một người đã được tái sinh, không có sự miễn trừ nào khỏi già và chết. Ngay cả đối với những vị vương tộc, bà la môn, hay gia chủ giàu có---giàu sang, sung túc, và thịnh vượng, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và ngũ cốc---khi họ được sinh ra, cũng không có sự miễn trừ nào khỏi già và chết. Ngay cả đối với các Tỷ kheo là bậc A-la-hán (perfected one / bậc đã đạt đến giác ngộ hoàn toàn)---những người đã chấm dứt các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tinh thần), hoàn thành đời sống phạm hạnh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục đích của chính mình, hoàn toàn chấm dứt hữu kiết sử (fetter of continued existence / sự trói buộc vào vòng luân hồi), và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ---thân thể của họ cũng phải tan rã và được đặt xuống."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Những cỗ xe sang trọng của vua cũng hao mòn,
và ngay cả thân này cũng già đi.
Nhưng chân lý của người thiện không bao giờ cũ---
người thiện tuyên bố như vậy với người thiện."

SN 3.4 Kinh Yêu Quý (Piyasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, vừa rồi, khi con đang ở một mình, suy nghĩ này đã nảy ra trong tâm trí con. 'Ai là những người yêu thương chính mình? Và ai là những người không yêu thương chính mình?'

Sau đó, con nghĩ rằng: 'Những người làm điều xấu qua thân, khẩu, và ý không yêu thương chính mình. Dù họ có thể nói: "Tôi yêu bản thân mình", nhưng họ thực sự không yêu. Tại sao vậy? Bởi vì họ đối xử với bản thân như một kẻ thù. Đó là lý do tại sao họ không yêu thương chính mình.

Những người làm điều tốt qua thân, khẩu, và ý thì yêu thương chính mình. Dù họ có thể nói: "Tôi không yêu bản thân mình", nhưng họ thực sự yêu. Tại sao vậy? Bởi vì họ đối xử với bản thân như một người thân yêu. Đó là lý do tại sao họ yêu thương chính mình.'"

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy!" Đức Phật nói. Và Ngài lặp lại lời của nhà vua, rồi nói thêm:

"Nếu ngươi biết tự thân là đáng yêu,
ngươi sẽ không trói mình vào điều ác.
Vì hạnh phúc không dễ tìm thấy
bởi người làm điều xấu.

Khi ngươi bị thần chết bắt giữ
khi từ bỏ kiếp người,
ngươi có thể gọi cái gì là của mình?
Ngươi mang theo gì khi ra đi?
Cái gì đi theo ngươi,
như một cái bóng không bao giờ rời?

Cả điều thiện và điều ác
mà một người làm trong đời này
là cái họ có thể gọi là của mình.
Đó là cái họ mang theo khi ra đi.
Đó là cái đi theo họ,
như một cái bóng không bao giờ rời.

Đó là lý do tại sao ngươi nên làm điều thiện,
đầu tư cho cuộc sống tương lai.
Những việc thiện của chúng sinh
sẽ hỗ trợ họ trong thế giới bên kia."

SN 3.5 Kinh Tự Bảo Vệ (Attarakkhitasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, vừa rồi, khi con đang ở một mình, suy nghĩ này đã nảy ra trong tâm trí con. 'Ai là những người bảo vệ chính mình? Và ai là những người không bảo vệ chính mình?'

Sau đó, con nghĩ rằng: 'Những người làm điều xấu qua thân, khẩu, và ý không bảo vệ chính mình. Ngay cả khi họ được bảo vệ bởi một đội tượng binh, kỵ binh, xa binh, hay bộ binh, họ vẫn không bảo vệ chính mình. Tại sao vậy? Bởi vì sự bảo vệ đó là bên ngoài, không phải bên trong. Đó là lý do tại sao họ không bảo vệ chính mình.

Những người làm điều tốt qua thân, khẩu, và ý thì bảo vệ chính mình. Ngay cả khi họ không được bảo vệ bởi một đội tượng binh, kỵ binh, xa binh, hay bộ binh, họ vẫn bảo vệ chính mình. Tại sao vậy? Bởi vì sự bảo vệ đó là bên trong, không phải bên ngoài. Đó là lý do tại sao họ bảo vệ chính mình.'"

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy!" Đức Phật nói. Và Ngài lặp lại lời của nhà vua, rồi nói thêm:

"Thân chế ngự là tốt lành;
khẩu chế ngự là tốt lành;
ý chế ngự là tốt lành;
ở mọi nơi, chế ngự là tốt lành.
Một người chân thật, chế ngự ở mọi nơi,
được gọi là 'được bảo vệ'."

SN 3.6 Kinh Số Ít (Appakasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, vừa rồi, khi con đang ở một mình, suy nghĩ này đã nảy ra trong tâm trí con: 'Trên thế gian này, số chúng sinh mà khi có được của cải xa hoa, không trở nên đam mê và buông thả, không sa vào lòng tham dục lạc (sensual pleasures / niềm vui từ các giác quan), và không làm điều sai trái với người khác, thì rất ít. Còn số người mà khi có được của cải xa hoa, trở nên đam mê và buông thả, sa vào lòng tham dục lạc, và làm điều sai trái với người khác, thì nhiều hơn.'"

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy!" Đức Phật nói. Và Ngài lặp lại lời của nhà vua, rồi nói thêm:

"Đầy ham muốn của cải và lạc thú,
tham lam, say mê dục lạc;
họ không nhận ra mình đã đi quá xa,
như con nai rơi vào bẫy đã giăng.
Sau này sẽ cay đắng;
vì kết quả sẽ tồi tệ cho họ."

SN 3.7 Kinh Phán Xử (Aḍḍakaraṇasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, khi con ngồi phán xử, con thấy những vị vương tộc, bà la môn, và gia chủ giàu có---giàu sang, sung túc, và thịnh vượng, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và ngũ cốc. Nhưng họ cố ý nói dối vì dục lạc. Sau đó, con nghĩ: 'Hôm nay đủ rồi, không phán xử nữa. Giờ đây, những người thân yêu nhất của ta sẽ được biết đến qua những phán quyết mà họ đưa ra.'"

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy! Những người là vương tộc, bà la môn, và gia chủ giàu có cố ý nói dối vì dục lạc. Điều đó sẽ gây hại và đau khổ lâu dài cho họ."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Đầy ham muốn của cải và lạc thú,
tham lam, say mê dục lạc;
họ không nhận ra mình đã đi quá xa,
như con cá lọt vào lưới đã giăng.
Sau này sẽ cay đắng;
vì kết quả sẽ tồi tệ cho họ."

SN 3.8 Kinh Với Hoàng Hậu Mallikā (Mallikāsutta)

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala đang ở trên lầu trong cung điện cùng với hoàng hậu Mallikā.

Khi ấy, nhà vua nói với hoàng hậu: "Mallikā, có ai thân thương với nàng hơn chính bản thân nàng không?"

"Không, thưa đại vương, không có ai. Nhưng có ai thân thương với đại vương hơn chính bản thân đại vương không?"

"Đối với ta cũng vậy, Mallikā, không có ai."

Sau đó, vua Pasenadi xứ Kosala đi xuống từ lầu, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại những gì đã xảy ra.

Khi ấy, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đọc bài kệ này:

"Sau khi dùng tâm tìm kiếm khắp mọi phương,
người ta không tìm thấy ai thân thương hơn chính mình.
Cũng vậy đối với người khác, mỗi người đều yêu quý bản thân;
vì vậy, người biết lo cho mình thì không làm hại ai."

SN 3.9 Kinh Tế Lễ (Yaññasutta)

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một buổi tế lễ lớn đã được tổ chức cho vua Pasenadi xứ Kosala. Bò đực, bò tơ, bò cái tơ, dê và cừu đực---mỗi loại năm trăm con---đã được dẫn đến cột trụ để tế lễ. Những người hầu, đầy tớ, và công nhân của vua làm việc dưới sự đe dọa của hình phạt và nguy hiểm, khóc lóc với khuôn mặt đẫm lệ.

Khi ấy, một vài Tỷ kheo vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại những gì đang xảy ra.

Khi ấy, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đọc những bài kệ này:

"Tế lễ ngựa, tế lễ người,
các lễ tế 'ném chốt ách',
'uống rượu soma của hoàng gia', và 'không bị cản trở'---
những lễ tế bạo lực lớn lao này không mang lại quả lớn.

Các bậc hiền triết có chánh hạnh
không tham dự các lễ tế
nơi dê, cừu, và gia súc
và các sinh vật khác bị giết.

Nhưng các bậc hiền triết có chánh hạnh
có tham dự các lễ tế không bạo lực
theo truyền thống gia đình,
nơi dê, cừu, và gia súc,
và các sinh vật khác không bị giết.

Một người thông minh nên tế lễ như thế này,
vì lễ tế này rất có kết quả.
Đối với người bảo trợ các lễ tế như thế này,
mọi việc trở nên tốt hơn, không tệ hơn.
Một lễ tế như vậy thực sự phong phú,
và ngay cả các vị trời cũng hài lòng."

SN 3.10 Kinh Gông Cùm (Bandhanasutta)

Lúc bấy giờ, một nhóm lớn người đã bị vua Pasenadi xứ Kosala xiềng xích---một số bằng dây thừng, một số bằng còng tay, một số bằng dây xích.

Khi ấy, một vài Tỷ kheo vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại những gì đang xảy ra.

Khi ấy, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đọc những bài kệ này:

"Người có trí nói rằng gông cùm đó không mạnh
được làm bằng sắt, gỗ, hay nút thắt.
Nhưng lòng quyến luyến với trang sức, hoa tai,
sự quan tâm đến vợ con:

điều này, người có trí nói, là một gông cùm mạnh mẽ
kéo kẻ đam mê xuống, khó thoát ra.
Cắt đứt cả cái này, họ ra đi,
không bận tâm, đã từ bỏ dục lạc."

Chương Hai

SN 3.11 Kinh Bảy Đạo Sĩ Bện Tóc (Sattajaṭilasutta)

Một thời, Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong ngôi nhà sàn của mẹ Migāra ở Tu viện phía Đông.

Vào buổi chiều, Đức Phật ra khỏi nơi tĩnh tu và ngồi bên ngoài cổng. Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên.

Lúc bấy giờ, bảy đạo sĩ bện tóc, bảy đạo sĩ lõa thể Ni-kiền-tử, bảy đạo sĩ lõa thể, bảy đạo sĩ nhất y, và bảy du sĩ đi ngang qua không xa Đức Phật. Nách và thân thể họ đầy lông, móng tay họ dài; và họ mang đồ đạc bằng đòn gánh.

Khi ấy, vua Pasenadi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sửa lại y phục trên một vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về các vị đạo sĩ đó, và xưng tên ba lần: "Thưa các ngài, tôi là Pasenadi, vua xứ Kosala! ... Tôi là Pasenadi, vua xứ Kosala!"

Sau đó, không lâu sau khi các vị đạo sĩ đó rời đi, vua Pasenadi đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: "Thưa Ngài, họ có phải là những bậc A-la-hán trên thế gian hay những người đang trên đường đến quả vị A-la-hán không?"

"Thưa đại vương, là một người tại gia hưởng thụ dục lạc, sống ở nhà với con cái, dùng gỗ đàn hương nhập từ Kāsi, đeo vòng hoa, hương thơm, và trang điểm, và nhận vàng bạc, thật khó cho ngài để biết ai là bậc A-la-hán hay đang trên đường đến quả vị A-la-hán.

Ngài có thể biết được giới hạnh của một người bằng cách sống chung với họ. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải tình cờ; chỉ khi chú tâm, không phải khi lơ là; và chỉ bởi người có trí tuệ, không phải kẻ ngu si. Ngài có thể biết được sự trong sạch của một người bằng cách giao tiếp với họ. ... Ngài có thể biết được sự kiên cường của một người trong những lúc khó khăn. ... Ngài có thể biết được trí tuệ của một người bằng cách thảo luận. Nhưng chỉ sau một thời gian dài, không phải tình cờ; chỉ khi chú tâm, không phải khi lơ là; và chỉ bởi người có trí tuệ, không phải kẻ ngu si."

"Thật không thể tin được, thưa Ngài, thật tuyệt vời, những lời này của Đức Phật đã được nói rất hay. ...

Thưa Ngài, đây là những gián điệp của con, những mật vụ của con trở về sau khi do thám đất nước. Trước tiên họ hoạt động bí mật, sau đó con yêu cầu họ báo cáo cho con. Và bây giờ---khi họ đã rửa sạch bụi bẩn, tắm gội và xức dầu thơm, tóc và râu được chải chuốt, và mặc đồ trắng---họ sẽ vui chơi, được cung cấp và trang bị năm loại kích thích giác quan."

Khi ấy, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đọc những bài kệ này:

"Không dễ để biết một người qua vẻ bề ngoài.
Ngươi không nên tin họ ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Vì những người không có kỷ luật sống trong thế gian này
dưới vỏ bọc của người có kỷ luật.

Như một chiếc hoa tai giả làm bằng đất sét,
như một đồng xu đồng được mạ vàng,
họ sống ẩn mình trong thế gian,
bên trong hư hỏng nhưng bên ngoài ấn tượng."

SN 3.12 Kinh Năm Vị Vua (Pañcarājasutta)

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, năm vị vua do Pasenadi dẫn đầu đang vui chơi, được cung cấp và trang bị năm loại kích thích giác quan, và cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: "Dục lạc nào là tuyệt vời nhất?"

Một số người nói: "Sắc là dục lạc tuyệt vời nhất!"

Những người khác nói: "Thanh là tuyệt vời nhất!"

Những người khác nói: "Hương là tuyệt vời nhất!"

Những người khác nói: "Vị là tuyệt vời nhất!"

Những người khác nói: "Xúc là tuyệt vời nhất!"

Vì các vị vua không thể thuyết phục lẫn nhau, vua Pasenadi nói với họ: "Nào, các bạn hiền, chúng ta hãy đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài về điều này. Ngài trả lời thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy."

"Vâng, thưa ngài," các vị vua trả lời.

Sau đó, năm vị vua do Pasenadi dẫn đầu đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Vua Pasenadi báo cáo cuộc trò chuyện của họ với Đức Phật, và nói: "Thưa Ngài, dục lạc nào là tuyệt vời nhất?"

"Thưa đại vương, loại kích thích giác quan nào là tuyệt vời nhất được xác định bởi cái nào dễ chịu nhất, ta nói vậy. Cùng một loại sắc mà một số người thấy dễ chịu thì người khác lại thấy khó chịu. Khi ngài hài lòng với một loại sắc nào đó, vì ngài đã có được tất cả những gì mình mong muốn, ngài không muốn bất kỳ loại sắc nào khác tốt hơn hay tinh tế hơn. Đối với ngài, những sắc đó là hoàn hảo và tối cao.

Cùng một loại thanh... hương... vị... xúc mà một số người thấy dễ chịu thì người khác lại thấy khó chịu. Khi ngài hài lòng với một loại xúc nào đó, vì ngài đã có được tất cả những gì mình mong muốn, ngài không muốn bất kỳ loại xúc nào khác tốt hơn hay tinh tế hơn. Đối với ngài, những xúc đó là hoàn hảo và tối cao."

Lúc bấy giờ, cư sĩ Candanaṅgalika đang ngồi trong hội chúng. Sau đó, ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sửa lại y phục trên một vai, chắp tay hướng về Đức Phật, và nói: "Con cảm thấy được thôi thúc để nói, thưa Thế Tôn! Con cảm thấy được thôi thúc để nói, thưa bậc Thánh!"

"Vậy hãy nói những gì con cảm thấy được thôi thúc," Đức Phật nói.

Sau đó, cư sĩ Candanaṅgalika ca ngợi Đức Phật trước mặt Ngài bằng một bài kệ thích hợp:

"Như một đóa sen hồng thơm ngát
nở vào buổi sáng, hương thơm không phai---
hãy xem Aṅgīrasa (một danh hiệu của Đức Phật) tỏa sáng,
rực rỡ như mặt trời trên bầu trời!"

Sau đó, năm vị vua đã tặng cho Candanaṅgalika năm chiếc áo choàng. Và Candanaṅgalika lần lượt cúng dường những chiếc áo choàng đó cho Đức Phật.

SN 3.13 Kinh Một Đấu Cơm (Doṇapākasutta)

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala thường ăn cơm cả một nồi. Sau khi ăn xong, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật, thở hổn hển. Vua đảnh lễ và ngồi xuống một bên.

Khi ấy, biết rằng vua Pasenadi đang thở hổn hển sau khi ăn, nhân dịp đó Đức Phật đọc bài kệ này:

"Khi một người luôn có chánh niệm (mindfulness / sự chú tâm, tỉnh giác),
biết tiết độ trong ăn uống,
sự khó chịu của người ấy tan biến,
và người ấy già đi chậm rãi, chăm sóc cuộc sống của mình."

Lúc bấy giờ, học trò Sudassana đang đứng sau nhà vua. Khi ấy, vua Pasenadi nói với anh ta: "Này Sudassana, hãy ghi nhớ bài kệ này trước mặt Đức Phật và đọc lại cho ta mỗi khi ta được dọn bữa ăn. Ta sẽ cấp cho ngươi một khoản trợ cấp hàng ngày là một trăm đồng."

"Vâng, thưa bệ hạ," Sudassana trả lời. Anh ta ghi nhớ bài kệ đó trước mặt Đức Phật, và sau đó mỗi khi nhà vua được dọn bữa ăn, anh ta lại lặp lại:

"Khi một người luôn có chánh niệm,
biết tiết độ trong ăn uống,
sự khó chịu của người ấy tan biến,
và người ấy già đi chậm rãi, chăm sóc cuộc sống của mình."

Sau đó, nhà vua dần quen với việc ăn nhiều nhất là một chén cơm. Sau một thời gian, thân thể vua Pasenadi trở nên thon gọn. Vuốt ve tay chân mình, lúc đó vua đã bày tỏ tình cảm chân thành này:

"Đức Phật đã có lòng thương xót con theo cả hai cách: trong lợi ích của đời này và lợi ích của đời sau."

SN 3.14 Kinh Trận Chiến (Thứ Nhất) (Paṭhamasaṅgāmasutta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, vua Ajātasattu xứ Magadha, con trai của công chúa Videha, đã huy động một đội quân bốn binh chủng và tiến đến Kāsi để tấn công vua Pasenadi xứ Kosala. Khi vua Pasenadi nghe tin này, ông đã huy động một đội quân bốn binh chủng và tiến đến Kāsi để phòng thủ chống lại Ajātasattu. Sau đó, hai vị vua đã giao chiến. Và trong trận chiến đó, Ajātasattu đã đánh bại Pasenadi, người đã rút về kinh đô của mình tại Sāvatthī.

Khi ấy, một vài Tỷ kheo vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại những gì đã xảy ra. Sau đó, Đức Phật nói:

"Này các Tỷ kheo, vua Ajātasattu có bạn xấu, đồng hành xấu, và thân hữu xấu. Nhưng vua Pasenadi có bạn tốt, đồng hành tốt, và thân hữu tốt. Tuy nhiên, vào ngày hôm nay, vua Pasenadi sẽ có một đêm ngủ không ngon giấc vì là người bại trận."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Chiến thắng sinh ra hận thù;
kẻ bại trận ngủ không ngon giấc.
Người an tịnh ngủ yên,
đã từ bỏ thắng và bại."

SN 3.15 Kinh Trận Chiến (Thứ Hai) (Dutiyasaṅgāmasutta)

Khi ấy, vua Ajātasattu xứ Magadha, con trai của công chúa Videha, đã huy động một đội quân bốn binh chủng và tiến đến Kāsi để tấn công vua Pasenadi xứ Kosala. Khi vua Pasenadi nghe tin này, ông đã huy động một đội quân bốn binh chủng và tiến đến Kāsi để phòng thủ chống lại Ajātasattu. Sau đó, hai vị vua đã giao chiến. Và trong trận chiến đó, Pasenadi đã đánh bại Ajātasattu và bắt sống ông ta.

Khi ấy, vua Pasenadi nghĩ: "Mặc dù ta chưa bao giờ phản bội vua Ajātasattu này, nhưng ông ta đã phản bội ta. Tuy nhiên, ông ta là cháu của ta. Bây giờ ta đã đánh bại tất cả tượng binh, kỵ binh, xa binh, và bộ binh của Ajātasattu, tại sao ta không thả ông ta đi chỉ với mạng sống của mình?"

Và đó là những gì ông đã làm.

Khi ấy, một vài Tỷ kheo ... đã kể lại cho Đức Phật những gì đã xảy ra.

Khi ấy, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đọc những bài kệ này:

"Một người tiếp tục cướp bóc
miễn là nó phục vụ mục đích của mình.
Nhưng ngay khi người khác cướp bóc mình,
kẻ cướp bị cướp lại.

Vì kẻ ngu nghĩ rằng mình đã thoát tội
miễn là việc ác của mình chưa chín muồi.
Nhưng ngay khi việc ác đó chín muồi,
họ rơi vào đau khổ.

Kẻ giết người tạo ra kẻ giết người;
kẻ chinh phục tạo ra kẻ chinh phục;
kẻ lăng mạ tạo ra sự lăng mạ,
và kẻ bắt nạt tạo ra kẻ bắt nạt.
Và cứ thế khi nghiệp quả diễn ra
kẻ cướp bị cướp lại."

SN 3.16 Kinh Một Người Con Gái (Mallikāsutta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Sau đó, một người đàn ông đến gần nhà vua và thì thầm vào tai ông: "Thưa bệ hạ, hoàng hậu Mallikā đã sinh một cô con gái." Khi nghe điều này, vua Pasenadi đã thất vọng.

Khi ấy, biết rằng vua Pasenadi đang thất vọng, nhân dịp đó Đức Phật đọc những bài kệ này:

"Này, một số phụ nữ còn tốt hơn đàn ông,
hỡi người cai trị dân chúng.
Thông minh và đức hạnh,
một người vợ hiền thảo, kính trọng mẹ chồng.

Và khi nàng có một người con trai,
cậu bé trở thành một anh hùng, hỡi chúa tể của đất nước.
Con trai của một người phụ nữ phúc đức như vậy
thậm chí có thể cai trị vương quốc."

SN 3.17 Kinh Siêng Năng (Appamādasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, có một điều gì đó đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau không?"

"Có, thưa đại vương."

"Vậy điều đó là gì?"

"Sự siêng năng, thưa đại vương, là một điều đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau. Dấu chân của tất cả các sinh vật đi bộ có thể nằm gọn trong dấu chân của một con voi. Vì vậy, dấu chân của một con voi được cho là lớn nhất trong tất cả. Tương tự như vậy, bất phóng dật (Diligence / sự không lơ là, cẩn trọng) là một điều đảm bảo lợi ích cho cả đời này và các đời sau."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Đối với người mong muốn một dòng chảy liên tục
của những niềm vui đặc biệt---
tuổi thọ, sắc đẹp, và sức khỏe,
thiên đường, và sinh ra trong một gia đình cao quý---

người sáng suốt ca ngợi sự siêng năng
trong việc tạo phước.
Siêng năng, một người sáng suốt
đảm bảo cả hai lợi ích:

lợi ích trong đời này,
và trong các đời sau.
Một người chú tâm, hiểu rõ ý nghĩa,
được gọi là người sáng suốt."

SN 3.18 Kinh Bạn Tốt (Kalyāṇamittasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, vừa rồi, khi con đang ở một mình, suy nghĩ này đã nảy ra trong tâm trí con. 'Giáo pháp được Đức Phật giải thích rất hay. Nhưng nó dành cho người có bạn tốt, đồng hành tốt, và thân hữu tốt, không phải cho người có bạn xấu, đồng hành xấu, và thân hữu xấu.'"

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy!" Đức Phật nói. Và Ngài lặp lại lời của nhà vua, rồi nói thêm:

"Thưa đại vương, có một lần ta đang ở trong xứ của những người Sakya, nơi họ có một thị trấn tên là Townsville. Khi ấy, Tỷ kheo Ānanda đến gặp ta, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói: 'Thưa Ngài, bạn tốt, đồng hành tốt, và thân hữu tốt là một nửa đời sống phạm hạnh.'

Khi ông ấy nói xong, ta nói với ông ấy: 'Không phải vậy, Ānanda! Không phải vậy, Ānanda! Bạn tốt, đồng hành tốt, và thân hữu tốt là toàn bộ đời sống phạm hạnh. Một Tỷ kheo có bạn tốt, đồng hành tốt, và thân hữu tốt có thể mong đợi phát triển và tu tập bát chánh đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh dẫn đến giải thoát).

Và làm thế nào một Tỷ kheo có bạn tốt phát triển và tu tập bát chánh đạo? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, những điều này dựa trên sự viễn ly, ly tham, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự xả ly. Đó là cách một Tỷ kheo có bạn tốt phát triển và tu tập bát chánh đạo. Và đây là một cách khác để hiểu làm thế nào bạn tốt là toàn bộ đời sống phạm hạnh.

Vì, bằng cách nương tựa vào ta như một người bạn tốt, chúng sinh phải chịu tái sinh, già, và chết, phải chịu sầu, bi, khổ, ưu, và não được giải thoát khỏi tất cả những điều này. Đây là một cách khác để hiểu làm thế nào bạn tốt là toàn bộ đời sống phạm hạnh.'

Vì vậy, thưa đại vương, ngài nên tu tập như thế này: 'Ta sẽ có bạn tốt, đồng hành tốt, và thân hữu tốt.' Đó là cách ngài nên tu tập.

Khi ngài có bạn tốt, đồng hành tốt, và thân hữu tốt, ngài nên sống dựa vào một điều: sự siêng năng trong các thiện pháp.

Khi ngài siêng năng, được hỗ trợ bởi sự siêng năng, các cung nữ trong hậu cung, các chư hầu vương tộc, quân đội, và người dân trong thành thị và nông thôn sẽ nghĩ: 'Nhà vua sống siêng năng, được hỗ trợ bởi sự siêng năng. Chúng ta cũng nên sống siêng năng, được hỗ trợ bởi sự siêng năng!'

Khi ngài siêng năng, được hỗ trợ bởi sự siêng năng, thì không chỉ bản thân ngài, mà cả các cung nữ trong hậu cung, và kho bạc và kho tàng của ngài cũng sẽ được bảo vệ và che chở."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Đối với người mong muốn một dòng chảy liên tục
của sự giàu có đặc biệt,
người sáng suốt ca ngợi sự siêng năng
trong việc tạo phước.
Siêng năng, một người sáng suốt
đảm bảo cả hai lợi ích:

lợi ích trong đời này,
và trong các đời sau.
Chú tâm, hiểu rõ ý nghĩa,
họ được gọi là người sáng suốt."

SN 3.19 Kinh Không Con (Thứ Nhất) (Paṭhamaaputtakasutta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật vào giữa ngày, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông: "Vậy, thưa đại vương, ngài từ đâu đến vào giữa ngày?"

"Thưa Ngài, ở Sāvatthī này, một trưởng giả gia chủ đã qua đời. Vì ông ta chết không có con, con đã đến sau khi chuyển tài sản của ông ta vào kho của hoàng gia. Có tám triệu đồng tiền vàng, chưa kể tiền bạc. Tuy nhiên, vị trưởng giả đó ăn những bữa cháo loãng với dưa muối. Ông ta mặc quần áo gồm ba mảnh vải gai. Ông ta đi lại bằng một chiếc xe nhỏ ọp ẹp, cầm một chiếc lá làm dù che nắng."

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy! Khi một người không chân chính có được của cải đặc biệt, họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Họ cũng không làm cho cha mẹ, vợ con, đầy tớ, công nhân, và nhân viên, và bạn bè và đồng nghiệp hạnh phúc và vui vẻ. Và họ không thiết lập một sự cúng dường cao thượng đến các sa môn và bà la môn, một sự cúng dường hướng đến cõi trời, trổ quả hạnh phúc, và dẫn đến thiên giới. Bởi vì họ không sử dụng đúng cách tài sản đó, nên vua chúa hoặc kẻ cướp lấy đi, hoặc lửa thiêu rụi, hoặc lũ lụt cuốn trôi, hoặc những người thừa kế không được yêu quý lấy đi. Vì tài sản đó không được sử dụng đúng cách, nó bị lãng phí, không được sử dụng.

Giả sử có một hồ sen ở một vùng không có người ở với nước trong, ngọt, mát, sạch, bờ thoai thoải, thú vị. Nhưng người ta không lấy nó, không uống nó, không tắm trong đó, hoặc không sử dụng nó cho bất kỳ mục đích nào. Vì nước đó không được sử dụng đúng cách, nó bị lãng phí, không được sử dụng.

Tương tự như vậy, khi một người không chân chính có được của cải đặc biệt ... nó bị lãng phí, không được sử dụng.

Khi một người chân chính có được của cải đặc biệt, họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Và họ làm cho cha mẹ, vợ con, đầy tớ, công nhân, và nhân viên, và bạn bè và đồng nghiệp hạnh phúc và vui vẻ. Và họ thiết lập một sự cúng dường cao thượng đến các sa môn và bà la môn, một sự cúng dường hướng đến cõi trời, trổ quả hạnh phúc, và dẫn đến thiên giới. Bởi vì họ sử dụng đúng cách tài sản đó, nên vua chúa hoặc kẻ cướp không lấy đi, lửa không thiêu rụi, lũ lụt không cuốn trôi, và những người thừa kế không được yêu quý không lấy đi. Vì tài sản đó được sử dụng đúng cách, nó được sử dụng, không bị lãng phí.

Giả sử có một hồ sen không xa một thị trấn hoặc làng mạc với nước trong, ngọt, mát, sạch, bờ thoai thoải, thú vị. Và người ta lấy nó, uống nó, tắm trong đó, và sử dụng nó cho mục đích của riêng mình. Vì nước đó được sử dụng đúng cách, nó được sử dụng, không bị lãng phí.

Tương tự như vậy, khi một người chân chính có được của cải đặc biệt ... nó được sử dụng, không bị lãng phí.

Như nước mát ở vùng không người ở
bốc hơi khi không được uống;
cũng vậy khi một kẻ tội lỗi có được của cải,
họ không tự dùng cũng không cho đi.

Nhưng khi một người chú tâm và khôn ngoan có được của cải,
họ sử dụng nó và làm nhiệm vụ của mình.
Người chủ đó, sau khi đã hỗ trợ gia đình,
không bị chê trách, đi đến một nơi thiên giới."

SN 3.20 Kinh Không Con (Thứ Hai) (Dutiyaaputtakasutta)

Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật vào giữa ngày ... Đức Phật nói với ông: "Vậy, thưa đại vương, ngài từ đâu đến vào giữa ngày?"

"Thưa Ngài, ở Sāvatthī này, một trưởng giả gia chủ đã qua đời. Vì ông ta chết không có con, con đã đến sau khi chuyển tài sản của ông ta vào kho của hoàng gia. Có mười triệu đồng tiền vàng, chưa kể tiền bạc. Tuy nhiên, vị trưởng giả đó ăn những bữa cháo loãng với dưa muối. Ông ta mặc quần áo gồm ba mảnh vải gai. Ông ta đi lại bằng một chiếc xe nhỏ ọp ẹp, cầm một chiếc lá làm dù che nắng."

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy! Ngày xưa, thưa đại vương, vị trưởng giả gia chủ đó đã cúng dường vật thực cho một vị Độc Giác Phật (independent Buddha / vị Phật tự mình giác ngộ nhưng không thuyết pháp độ sinh) tên là Tagarasikhī. Ông ta đã chỉ thị: 'Hãy cúng dường cho vị sa môn đó,' trước khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Nhưng sau khi cúng dường, ông ta hối hận: 'Thà cho đầy tớ hoặc công nhân ăn vật thực đó còn hơn.' Hơn nữa, ông ta đã giết đứa con duy nhất của anh trai mình để chiếm đoạt tài sản.

Bởi vì vị trưởng giả đó đã cúng dường vật thực cho Tagarasikhī, kết quả của hành động đó là ông ta được tái sinh bảy lần ở một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Và như một kết quả còn lại của cùng hành động đó, ông ta đã giữ vị trí trưởng giả bảy lần ngay tại Sāvatthī này. Nhưng bởi vì vị trưởng giả đó hối hận về việc cúng dường, kết quả của hành động đó là tâm trí ông ta không có xu hướng thưởng thức thức ăn ngon, quần áo đẹp, xe cộ sang trọng, hoặc năm loại dục lạc tinh tế. Và bởi vì vị trưởng giả đó đã giết đứa con duy nhất của anh trai mình để chiếm đoạt tài sản, kết quả của hành động đó là ông ta đã bị thiêu đốt trong địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn năm. Và như một kết quả còn lại của cùng hành động đó, ông ta không có con lần thứ bảy, tài sản của ông ta cuối cùng vào kho bạc của hoàng gia. Bây giờ phước cũ của vị trưởng giả đó đã hết, và ông ta không tích lũy phước mới. Hôm nay, thưa đại vương, vị trưởng giả đó đang bị thiêu đốt trong Đại địa ngục Hào Khiếu."

"Thật sao, thưa Ngài, vị trưởng giả đó đã được tái sinh trong Đại địa ngục Hào Khiếu?"

"Đúng vậy, thưa đại vương."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Ngũ cốc, tiền bạc, bạc và vàng,
hay bất kỳ tài sản nào khác có;
đầy tớ, công nhân, người hầu,
và những người phụ thuộc để sinh sống:

ngươi phải ra đi mà không mang theo những thứ này;
tất cả chúng đều bị bỏ lại.
Nhưng những việc ngươi làm
qua thân, khẩu, và ý---

đó là cái ngươi có thể gọi là của mình.
Đó là cái ngươi mang theo khi ra đi.
Đó là cái đi theo ngươi,
như một cái bóng không bao giờ rời.

Đó là lý do tại sao ngươi nên làm điều thiện,
đầu tư cho cuộc sống tương lai.
Những việc thiện của chúng sinh
sẽ hỗ trợ họ trong thế giới bên kia."

Chương Ba

SN 3.21 Kinh Các Hạng Người (Puggalasutta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Thưa đại vương, có bốn hạng người này được tìm thấy trên thế gian. Bốn hạng người đó là gì?

1. Người từ bóng tối đi vào bóng tối,

2. người từ bóng tối đi ra ánh sáng,

3. người từ ánh sáng đi vào bóng tối,

4. và người từ ánh sáng đi vào ánh sáng.

Và làm thế nào một người là người từ bóng tối đi vào bóng tối? Đó là khi một người được tái sinh trong một gia đình hạ tiện---một gia đình của những người làm nghề khiêng xác chết, đan tre, thợ săn, làm xe ngựa, hoặc nhặt rác---nghèo khổ, ít đồ ăn thức uống, cuộc sống khó khăn, và khó tìm được thức ăn và nơi ở. Và họ xấu xí, khó coi, dị dạng, bệnh tật---một mắt, tàn tật, què quặt, hoặc liệt nửa người. Họ không có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và trang điểm; hoặc giường, nhà, và đèn chiếu sáng. Và họ làm những điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở một cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Người này giống như người đi từ bóng tối vào bóng tối, từ đen tối vào đen tối, từ vết máu này đến vết máu khác. Đó là cách một người là người từ bóng tối đi vào bóng tối.

Và làm thế nào một người là người từ bóng tối đi ra ánh sáng? Đó là khi một người được tái sinh trong một gia đình hạ tiện---một gia đình của những người làm nghề khiêng xác chết, đan tre, thợ săn, làm xe ngựa, hoặc nhặt rác---nghèo khổ, ít đồ ăn thức uống, cuộc sống khó khăn, và khó tìm được thức ăn và nơi ở. Và họ xấu xí, khó coi, dị dạng, bệnh tật---một mắt, tàn tật, què quặt, hoặc liệt nửa người. Họ không có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và trang điểm; hoặc giường, nhà, và đèn chiếu sáng. Nhưng họ làm những điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở một thiện thú, thiên giới.

Người này giống như người đi từ mặt đất lên ghế dài; từ ghế dài lên lưng ngựa; từ lưng ngựa lên lưng voi; và từ lưng voi lên một ngôi nhà sàn. Đó là cách một người là người từ bóng tối đi ra ánh sáng.

Và làm thế nào một người là người từ ánh sáng đi vào bóng tối? Đó là khi một người được tái sinh trong một gia đình cao quý---một gia đình giàu có của vương tộc, bà la môn, hoặc gia chủ---giàu sang, sung túc, và thịnh vượng, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và ngũ cốc. Và họ hấp dẫn, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp vượt trội. Họ có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và trang điểm; và giường, nhà, và đèn chiếu sáng. Nhưng họ làm những điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở một cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Người này giống như người đi từ một ngôi nhà sàn xuống lưng voi; từ lưng voi xuống lưng ngựa; từ lưng ngựa xuống ghế dài; và từ ghế dài xuống mặt đất; và từ mặt đất họ đi vào bóng tối. Đó là cách một người là người từ ánh sáng đi vào bóng tối.

Và làm thế nào một người là người từ ánh sáng đi vào ánh sáng? Đó là khi một người được tái sinh trong một gia đình cao quý---một gia đình giàu có của vương tộc, bà la môn, hoặc gia chủ---giàu sang, sung túc, và thịnh vượng, với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và ngũ cốc. Và họ hấp dẫn, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp vượt trội. Họ có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và trang điểm; và giường, nhà, và đèn chiếu sáng. Và họ làm những điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở một thiện thú, thiên giới.

Người này giống như người chuyển từ ghế dài này sang ghế dài khác; từ lưng ngựa này sang lưng ngựa khác; từ voi này sang voi khác; hoặc từ nhà sàn này sang nhà sàn khác. Đó là cách một người là người từ ánh sáng đi vào ánh sáng. Đây là bốn hạng người được tìm thấy trên thế gian."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Hỡi vua, một số người nghèo,
không có niềm tin và keo kiệt.
Bủn xỉn, với ý định xấu,
họ thiếu tôn trọng, họ có tà kiến.

Họ lăng mạ và sỉ nhục
các sa môn và bà la môn
và những người khất thực khác.
Họ là những người theo thuyết đoạn diệt và những kẻ bắt nạt,

người ngăn cản người khác cho
thức ăn cho người ăn xin.
Hỡi vua, người cai trị dân chúng:
khi những người như vậy chết
họ rơi vào địa ngục khủng khiếp---
từ bóng tối họ đi vào bóng tối.

Hỡi vua, một số người nghèo,
nhưng có niềm tin và không keo kiệt.
Họ cho đi với ý định tốt nhất,
người có tâm hồn thanh thản đó.

Họ đứng dậy và cúi chào
các sa môn và bà la môn
và những người khất thực khác.
Tu tập theo giới luật đạo đức,

họ không ngăn cản người khác cho
thức ăn cho người ăn xin.
Hỡi vua, người cai trị dân chúng:
khi những người như vậy chết
họ đi đến cõi trời Ba Mươi Ba---
từ bóng tối họ đi ra ánh sáng.

Hỡi vua, một số người giàu,
nhưng không có niềm tin và keo kiệt.
Bủn xỉn, với ý định xấu,
họ thiếu tôn trọng, họ có tà kiến.

Họ lăng mạ và sỉ nhục
các sa môn và bà la môn
và những người khất thực khác
Họ là những người theo thuyết đoạn diệt và những kẻ bắt nạt,

người ngăn cản người khác cho
thức ăn cho người ăn xin.
Hỡi vua, người cai trị dân chúng:
khi những người như vậy chết
họ rơi vào địa ngục khủng khiếp---
từ ánh sáng họ đi vào bóng tối.

Hỡi vua, một số người giàu,
có niềm tin và không keo kiệt.
Họ cho đi với ý định tốt nhất,
người có tâm hồn thanh thản đó.

Họ đứng dậy và cúi chào
các sa môn và bà la môn
và những người khất thực khác.
Tu tập theo giới luật đạo đức,

họ không ngăn cản người khác cho
thức ăn cho người ăn xin.
Hỡi vua, người cai trị dân chúng:
khi những người như vậy chết
họ đi đến cõi trời Ba Mươi Ba---
từ ánh sáng họ đi vào ánh sáng."

SN 3.22 Kinh Bà Nội (Ayyikāsutta)

Tại Sāvatthī.

Vua Pasenadi xứ Kosala ngồi xuống một bên, và Đức Phật nói với ông: "Vậy, thưa đại vương, ngài từ đâu đến vào giữa ngày?"

"Thưa Ngài, bà nội của con đã qua đời. Bà đã già, cao tuổi và lớn tuổi. Bà đã ở tuổi cao và đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời; bà đã một trăm hai mươi tuổi. Nhưng con yêu bà nội của con; bà rất thân thương với con. Nếu bằng cách cho đi kho báu voi mà con có thể đưa bà nội trở về, con sẽ làm. Nếu bằng cách cho đi kho báu ngựa mà con có thể đưa bà nội trở về, con sẽ làm. Nếu bằng cách cho đi một ngôi làng quý giá mà con có thể đưa bà nội trở về, con sẽ làm. Nếu bằng cách cho đi cả đất nước mà con có thể đưa bà nội trở về, con sẽ làm."

"Thưa đại vương, tất cả chúng sinh đều phải chết. Cái chết là kết thúc của họ; họ không được miễn trừ khỏi cái chết."

"Thật không thể tin được, thưa Ngài, thật tuyệt vời, những lời này của Đức Phật đã được nói rất hay: 'Tất cả chúng sinh đều phải chết. Cái chết là kết thúc của họ; họ không được miễn trừ khỏi cái chết.'"

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy! Tất cả chúng sinh đều phải chết. Cái chết là kết thúc của họ; họ không được miễn trừ khỏi cái chết. Giống như những chiếc bình do thợ gốm làm ra. Dù chúng là loại nào, dù đã nung hay chưa nung, tất cả chúng đều có thể vỡ tan. Vỡ tan là kết thúc của chúng; chúng không được miễn trừ khỏi sự vỡ tan. Tương tự như vậy, tất cả chúng sinh đều phải chết. Cái chết là kết thúc của họ; họ không được miễn trừ khỏi cái chết."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Tất cả chúng sinh sẽ chết,
vì cuộc sống kết thúc bằng cái chết.
Họ ra đi theo nghiệp của mình,
gặt hái quả của thiện và ác.
Những người làm ác đi đến địa ngục,
và nếu bạn làm thiện bạn sẽ đến thiên đường.

Đó là lý do tại sao bạn nên làm điều thiện,
đầu tư cho cuộc sống tương lai.
Những việc thiện của chúng sinh
sẽ hỗ trợ họ trong thế giới bên kia."

SN 3.23 Kinh Thế Gian (Lokasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, có bao nhiêu điều sinh khởi trên thế gian gây ra tổn hại, đau khổ, và bất an cho nó?"

"Thưa đại vương, có ba điều sinh khởi trên thế gian gây ra tổn hại, đau khổ, và bất an cho nó. Ba điều đó là gì? Tham, sân, và si. Ba điều này sinh khởi trên thế gian gây ra tổn hại, đau khổ, và bất an cho nó."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. ...

"Khi tham, sân, và si,
đã sinh khởi bên trong một người,
chúng làm hại người có tâm ác,
như cây sậy bị chính quả của nó hủy diệt."

SN 3.24 Kinh Bắn Cung (Issattasutta)

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi thưa với Đức Phật: "Thưa Ngài, nên cúng dường ở đâu?"

"Bất cứ nơi nào tâm ngài cảm thấy được thôi thúc, thưa đại vương."

"Nhưng thưa Ngài, cúng dường ở đâu thì có quả lớn?"

"Nên cúng dường ở đâu là một chuyện, thưa đại vương, nhưng cúng dường ở đâu có quả lớn lại là chuyện khác. Một sự cúng dường có quả lớn khi nó được dâng cho một người có giới đức, không nhiều bằng cho một người không có giới đức. Vậy thì, thưa đại vương, ta sẽ hỏi lại ngài về điều này, và ngài có thể trả lời tùy ý.

Ngài nghĩ sao, thưa đại vương? Giả sử ngài đang trong chiến tranh, sẵn sàng cho một trận chiến. Khi ấy, một thanh niên vương tộc đến, người chưa được huấn luyện, không chuyên nghiệp, không phù hợp, không có kinh nghiệm. Và anh ta sợ hãi, lo lắng, hồi hộp, dễ bỏ chạy. Ngài có dùng một người như vậy không? Anh ta có ích gì cho ngài không?"

"Không, thưa Ngài, con sẽ không dùng một người như vậy."

"Còn một thanh niên bà la môn, một thanh niên nông dân, hoặc một thanh niên hạ tiện tương tự thì sao?"

"Không, thưa Ngài, con sẽ không dùng một người như vậy."

"Ngài nghĩ sao, thưa đại vương? Giả sử ngài đang trong chiến tranh, sẵn sàng cho một trận chiến. Khi ấy, một thanh niên vương tộc đến, người đã được huấn luyện, chuyên nghiệp, phù hợp, có kinh nghiệm. Và anh ta không sợ hãi, dũng cảm, gan dạ, đứng vững. Ngài có dùng một người như vậy không? Anh ta có ích gì cho ngài không?"

"Vâng, thưa Ngài, con sẽ có ích từ một người như vậy."

"Còn một thanh niên bà la môn, một thanh niên nông dân, hoặc một thanh niên hạ tiện tương tự thì sao? Ngài có dùng một người như vậy không? Anh ta có ích gì cho ngài không?"

"Vâng, thưa Ngài, con sẽ có ích từ một người như vậy."

"Tương tự như vậy, một sự cúng dường cho bất kỳ ai đã từ bỏ năm yếu tố và sở hữu năm yếu tố thì có quả rất lớn, bất kể họ đã xuất gia từ gia đình nào.

Năm yếu tố họ đã từ bỏ là gì? Tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan), sân hận (ill will / sự tức giận, ác ý), tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ (dullness and drowsiness / hôn trầm và thụy miên), tâm bất an và hối tiếc (restlessness and remorse / trạo cử và hối quá), và nghi (doubt / sự hoài nghi). Đây là năm yếu tố họ đã từ bỏ.

Năm yếu tố họ sở hữu là gì? Toàn bộ giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, và giải thoát tri kiến uẩn của bậc vô học (the entire spectrum of an adept's ethics, immersion, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom / năm nhóm phẩm chất của một bậc đã hoàn tất tu tập: đạo đức, thiền định, trí tuệ, sự giải thoát, và cái thấy biết về sự giải thoát). Đây là năm yếu tố họ sở hữu.

Ta nói rằng một sự cúng dường cho bất kỳ ai đã từ bỏ năm yếu tố này và sở hữu năm yếu tố này thì có quả rất lớn."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thánh, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Bất kỳ thanh niên nào giỏi bắn cung,
mạnh mẽ và dũng mãnh,
sẽ được một vị vua dùng khi ra trận---
người ta không phải là kẻ hèn nhát vì lý do xuất thân.

Cũng vậy, bất cứ ai đã an trú
trong các phẩm chất của sự kiên nhẫn và dịu dàng,
một người thông minh với hành vi cao thượng,
nên được tôn kính ngay cả khi họ xuất thân thấp hèn.

Ngươi nên xây dựng những am thất đáng yêu
và cho những người học thức ở trong đó.
Ngươi nên thiết lập nguồn nước ở những vùng khô cằn
và lối đi ở những nơi khó đi lại.

Thức ăn, thức uống, thực phẩm,
quần áo, và nơi ở
nên được cúng dường cho những người chân thật,
với một trái tim trong sáng và tự tin.

Đám mây mưa sấm sét,
trăm đỉnh của nó được bao bọc bởi tia chớp,
đổ xuống trái đất màu mỡ,
làm ướt đẫm vùng cao và thung lũng.

Cũng vậy, một người sáng suốt,
có niềm tin và học thức,
nên chuẩn bị một bữa ăn để làm hài lòng
những người khất thực bằng thức ăn và thức uống.

Vui mừng, họ rải rác những món quà,
kêu lên 'Hãy cho! hãy cho!'
Vì đó là tiếng sấm của họ,
như mưa từ trời gửi xuống.
Dòng phước đức dồi dào đó
trút xuống người cúng dường."

SN 3.25 Kinh Ví Dụ Ngọn Núi (Pabbatūpamasutta)

Tại Sāvatthī.

Vua Pasenadi xứ Kosala ngồi xuống một bên, và Đức Phật nói với ông: "Vậy, thưa đại vương, ngài từ đâu đến vào giữa ngày?"

"Thưa Ngài, có những vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ đăng quang, những người say mê quyền lực, và bị ám ảnh bởi lòng tham dục lạc. Họ đã đạt được sự ổn định trong đất nước, chiếm giữ một lãnh thổ rộng lớn đã chinh phục. Hôm nay con đã bận rộn hoàn thành nhiệm vụ của những vị vua như vậy."

"Ngài nghĩ sao, thưa đại vương? Giả sử một người đàn ông đáng tin cậy và đáng tin cậy đến từ phía đông. Ông ta sẽ đến gần ngài và nói: 'Xin đại vương, ngài nên biết điều này. Tôi đến từ phía đông. Ở đó tôi thấy một ngọn núi khổng lồ cao đến mây. Và nó đang tiến về phía này, nghiền nát tất cả các sinh vật. Vậy thì, thưa đại vương, hãy làm những gì ngài phải làm!'

Sau đó, một người đàn ông đáng tin cậy và đáng tin cậy thứ hai đến từ phía tây ... một người thứ ba từ phía bắc ... và một người thứ tư từ phía nam. Ông ta sẽ đến gần ngài và nói: 'Xin đại vương, ngài nên biết điều này. Tôi đến từ phía nam. Ở đó tôi thấy một ngọn núi khổng lồ cao đến mây. Và nó đang tiến về phía này, nghiền nát tất cả các sinh vật. Vậy thì, thưa đại vương, hãy làm những gì ngài phải làm!'

Nếu một mối đe dọa khủng khiếp như vậy nảy sinh---một sự mất mát khủng khiếp về sinh mạng con người, khi mà kiếp người rất hiếm có---ngài sẽ làm gì?"

"Thưa Ngài, con có thể làm gì khác ngoài việc hành theo Chánh pháp, sống theo đạo đức, làm các việc thiện lành?"

"Ta nói cho ngài biết, thưa đại vương, ta thông báo cho ngài: tuổi già và cái chết đang tiến đến gần ngài. Vì tuổi già và cái chết đang tiến đến gần ngài, ngài sẽ làm gì?"

"Thưa Ngài, con có thể làm gì khác ngoài việc hành theo Chánh pháp, sống theo đạo đức, làm các việc thiện lành?

Thưa Ngài, có những vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ đăng quang, những người say mê quyền lực, và bị ám ảnh bởi lòng tham dục lạc. Họ đã đạt được sự ổn định trong đất nước, chiếm giữ một lãnh thổ rộng lớn đã chinh phục. Những vị vua như vậy tham gia vào các trận chiến của tượng binh, kỵ binh, xa binh, hoặc bộ binh. Nhưng không có nơi nào, không có lĩnh vực nào cho những trận chiến như vậy khi tuổi già và cái chết đang tiến đến.

Trong triều đình này có những vị đại thần có mưu lược khôn ngoan, có khả năng chia rẽ kẻ thù đang đến gần bằng mưu lược khôn ngoan. Nhưng không có nơi nào, không có lĩnh vực nào cho những trận chiến ngoại giao như vậy khi tuổi già và cái chết đang tiến đến.

Trong triều đình này có rất nhiều vàng, cả tiền đúc và chưa đúc, được cất giữ trong các hầm ngục và tháp. Sử dụng sự giàu có này, chúng ta có thể mua chuộc kẻ thù đang đến gần. Nhưng không có nơi nào, không có lĩnh vực nào cho những trận chiến tiền tệ như vậy khi tuổi già và cái chết đang tiến đến.

Khi tuổi già và cái chết đang tiến đến, con có thể làm gì khác ngoài việc hành theo Chánh pháp, sống theo đạo đức, làm các việc thiện lành?"

"Đúng vậy, thưa đại vương! Đúng vậy! Khi tuổi già và cái chết đang tiến đến, ngài có thể làm gì khác ngoài việc hành theo Chánh pháp, sống theo đạo đức, làm các việc thiện lành?"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thánh, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Giả sử có những ngọn núi rộng lớn
bằng đá rắn chạm đến bầu trời
kéo đến từ mọi phía
và nghiền nát bốn phương.

Cũng vậy, tuổi già và cái chết
tiến đến tất cả các sinh vật sống---
vương tộc, bà la môn, nông dân,
người hạ tiện, người khiêng xác chết, và người nhặt rác.
Chúng không tha thứ gì.
Chúng nghiền nát tất cả dưới chúng.

Không có nơi nào cho voi đứng vững,
cũng không có xe ngựa hay bộ binh.
Chúng không thể bị đánh bại
bằng các trận chiến ngoại giao hay bằng của cải.

Đó là lý do tại sao một người sáng suốt,
thấy được điều gì tốt cho bản thân,
là người khôn ngoan, sẽ đặt niềm tin
vào Đức Phật, giáo pháp, và Tăng đoàn.

Bất cứ ai sống theo giáo pháp
trong thân, khẩu, và ý,
được ca ngợi trong đời này
và ra đi để vui hưởng ở thiên đường."