Tương Ưng với Bà-la-môn
Phẩm về các Bậc A-la-hán
SN 7.1 Với Dhanañjānī Kinh Dhanañjānī
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần thành Rājagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, có một nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja tên là Dhanañjānī, hết lòng sùng kính Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia). Một lần, khi đang mang bữa ăn cho chồng, bà bị vấp ngã và thốt lên lời cảm thán chân thành này ba lần:
"Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán (perfected one / bậc đã hoàn thiện, đã giác ngộ), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn)!
Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác!
Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác!"
Khi bà nói vậy, người Bà-la-môn nói với Dhanañjānī:
"Phải rồi. Chỉ một chút chuyện nhỏ mà con mụ hạ tiện này cũng tuôn lời ca tụng ông sa-môn (ascetic / người tu hành khổ hạnh) trọc đầu đó. Ngay bây giờ, hỡi người đàn bà hạ tiện, ta sẽ đi bác bỏ giáo lý của thầy ngươi!"
"Thưa Bà-la-môn, con không thấy một ai trong thế giới này—với chư Thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài người—có thể bác bỏ được giáo lý của Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Nhưng dù sao, ông cứ đi đi. Khi đến đó ông sẽ hiểu."
Bấy giờ, người Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja, tức giận và bực bội, đã đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật bằng thơ kệ:
"Khi đốt cháy điều gì, Ngài ngủ được an lành?
Khi đốt cháy điều gì, không còn sầu muộn?
Đâu là một pháp duy nhất
mà Ngài tán thành việc giết bỏ?""Khi tức giận được đốt cháy, người ngủ được an lành.
Khi tức giận được đốt cháy, không còn sầu muộn.
Này Bà-la-môn, tức giận có gốc rễ độc hại
và đầu ngọn ngọt ngào.
Các bậc Thánh tán thán việc giết bỏ nó,
vì khi nó được đốt cháy, không còn sầu muộn."
Khi Ngài nói vậy, người Bà-la-môn thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! Như người lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che giấu, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy các vật, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Xin cho con được xuất gia, được thọ giới trong sự hiện diện của Tôn giả Gotama?”
Và người Bà-la-môn đã được xuất gia, được thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Bhāradvāja, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết đoán, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Ngài đã sống, đạt được bằng chính trí tuệ của mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà.
Ngài hiểu rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.2 Kẻ Lăng Mạ Kinh Akkosaka
Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Bà-la-môn Bhāradvāja người Thô Lỗ nghe tin đồn rằng một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja đã từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà theo sa-môn Gotama. Tức giận và không hài lòng, ông ta đến gặp Đức Phật và mắng nhiếc, lăng mạ Ngài bằng những lời lẽ thô tục, cay nghiệt. Khi ông ta nói xong, Đức Phật bảo ông:
"Này Bà-la-môn, ông nghĩ sao? Bạn bè, đồng nghiệp, bà con, thân quyến và khách khứa có còn đến thăm ông không?"
"Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng họ có đến."
"Vậy ông có dọn cho họ các món ăn tươi, nấu chín và các món ngon không?"
"Nhưng nếu họ không nhận, này Bà-la-môn, thì nó thuộc về ai?"
"Trong trường hợp đó, nó vẫn thuộc về tôi."
"Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi ông mắng nhiếc, quấy nhiễu và công kích chúng tôi, những người không mắng nhiếc, quấy nhiễu và công kích lại, chúng tôi không nhận nó. Nó vẫn thuộc về ông, này Bà-la-môn, nó vẫn thuộc về ông!"
"Người nào khi bị mắng nhiếc, quấy nhiễu và công kích mà mắng nhiếc, quấy nhiễu và công kích lại, thì được cho là đã ăn món ăn đó và có phản ứng với nó. Nhưng chúng tôi không ăn món ăn của ông, cũng không có phản ứng gì với nó. Nó vẫn thuộc về ông, này Bà-la-môn, nó vẫn thuộc về ông!"
"Về Tôn giả Gotama, nhà vua và tùy tùng đều hiểu rằng ‘sa-môn Gotama là một bậc A-la-hán’. Vậy mà Ngài vẫn còn tức giận."
"Tức giận từ đâu đến ? với người không còn tức giận,
đã được điều phục, chân chính,
chánh trí giải thoát thông,
an tịnh không lay động?tức giận với người đang giận
chỉ làm việc tệ hơn.
không tức giận với người đang giận
ông chiến thắng một trận chiến khó thắng.biết người kia đang giận,
ông hành động vì lợi ích cho cả hai
chính mình và người kia
nếu ông chánh niệm, bình tĩnh.Người không thông giáo pháp
xem người chữa lành cho cả hai
chính mình và người kia
là một kẻ ngốc."
Khi Ngài đã nói, Bhāradvāja người Thô Lỗ thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! ... Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Thưa Ngài, xin cho con được xuất gia, được thọ giới trong sự hiện diện của Tôn giả Gotama?"
Và Bà-la-môn Bhāradvāja người Thô Lỗ đã được xuất gia, được thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Bhāradvāja người Thô Lỗ, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết đoán, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Ngài đã sống, đạt được bằng chính trí tuệ của mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà.
Ngài hiểu rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.3 Với Bhāradvāja người Hung Dữ Kinh Asurindaka
Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bà-la-môn Bhāradvāja người Hung Dữ nghe tin đồn rằng một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja đã từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà theo sa-môn Gotama. Tức giận và không hài lòng, ông ta đến gặp Đức Phật và mắng nhiếc, lăng mạ Ngài bằng những lời lẽ thô tục, cay nghiệt.
Nhưng khi ông ta nói vậy, Đức Phật vẫn im lặng.
Bấy giờ, Bhāradvāja người Hung Dữ nói với Đức Phật: “Ông thua rồi, sa-môn, ông thua rồi!”
"‘Ha! Ta thắng rồi!’ kẻ ngu nghĩ,
khi nói những lời cay nghiệt.
Nhẫn nại mới là chiến thắng thực sự
đối với những người hiểu biết.Khi ông tức giận với người đang giận
ông chỉ làm mọi việc tệ hơn cho chính mình.
Khi ông không tức giận với người đang giận
ông chiến thắng một trận chiến khó thắng.Khi biết người kia đang tức giận,
ông hành động vì lợi ích cho cả hai
chính mình và người kia
nếu ông chánh niệm và giữ bình tĩnh.Những người không rành về Pháp
xem người chữa lành cho cả hai
chính mình và người kia
là một kẻ ngốc."
Khi Ngài đã nói, Bhāradvāja người Hung Dữ thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! ..." ... Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.4 Với Bhāradvāja người Cay Đắng Kinh Bilaṅgika
Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bà-la-môn Bhāradvāja người Cay Đắng nghe tin đồn rằng một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja đã từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà theo sa-môn Gotama. Tức giận và không hài lòng, ông ta đến gặp Đức Phật và đứng im lặng một bên.
Bấy giờ, Đức Phật, biết được dòng suy nghĩ của Bhāradvāja người Cay Đắng, đã nói với ông bằng thơ kệ:
"Kẻ nào làm hại người không làm gì sai,
một người trong sạch không tì vết,
điều ác sẽ phản lại kẻ ngu,
như bụi mịn tung ngược chiều gió."
Khi Ngài nói vậy, Bà-la-môn Bhāradvāja người Cay Đắng thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! ..." ... Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.5 Vô Hại Kinh Ahiṁsaka
Tại Sāvatthī (Xá-vệ).
Bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja người Vô Hại đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và nói: “Tôi là Vô Hại, thưa Tôn giả Gotama, tôi là Vô Hại!”
"Nếu ông thực sự giống như tên của mình,
thì ông sẽ là Vô Hại.
Nhưng một người thực sự vô hại
không làm hại ai qua
thân, khẩu, hay ý;
họ không làm hại bất kỳ ai khác."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Bhāradvāja người Vô Hại thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! ..." ... Và Tôn giả Bhāradvāja người Vô Hại đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.6 Với Bhāradvāja người Búi Tóc Kinh Jaṭā
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja người Búi Tóc đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật bằng thơ kệ:
"Rối ở trong, rối ở ngoài:
chúng sanh bị rối trong đám rối.
Con xin hỏi Ngài, Gotama:
ai có thể gỡ được đám rối này?""Người có trí tuệ vững trên giới đức,
phát triển tâm và trí tuệ,
một Tỷ kheo nhiệt tâm và tỉnh giác---
có thể gỡ được đám rối này.Những ai mà tham, sân, và si
đã phai nhạt;
các bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc
--- họ đã gỡ được đám rối.Nơi mà danh và sắc
chấm dứt không còn dư tàn;
cũng như sự va chạm và nhận thức về hình tướng:
chính nơi đó đám rối được cắt đứt."
Khi Ngài đã nói, Bhāradvāja người Búi Tóc thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! ..." ... Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.7 Với Bhāradvāja người Thanh Tịnh Kinh Suddhika
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja người Thanh Tịnh đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và đọc câu kệ này trước sự hiện diện của Ngài:
"Không Bà-la-môn nào trên đời được thanh tịnh
dù có giới đức và khổ hạnh.
Nhưng người thành tựu minh và hạnh (knowledge and conduct / sự hiểu biết và hành vi đúng đắn)
mới được thanh tịnh, không phải những kẻ phàm phu này.""Dù người tụng niệm nhiều lời cầu nguyện
cũng không phải là Bà-la-môn do sanh
nếu bên trong nhơ bẩn và hư hỏng,
tự nuôi sống bằng sự gian trá.Bất kể ông là quý tộc,
Bà-la-môn, nông dân, người hầu,
— hay người làm nghề dọn xác hoặc nhặt rác---
nếu ông năng nổ và quyết tâm,
luôn kiên trì mạnh mẽ,
ông sẽ đạt được sự thanh tịnh tối hậu.
Hãy biết điều đó là sự thật, này Bà-la-môn."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Bhāradvāja người Thanh Tịnh thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ..." ... Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.8 Với Bhāradvāja người Thờ Lửa Kinh Aggika
Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, bơ sữa và cơm sữa đã được dọn sẵn cho Bà-la-môn Bhāradvāja người Thờ Lửa, ông nghĩ: “Ta sẽ phụng sự ngọn lửa thiêng! Ta sẽ thực hiện lễ tế lửa!”
Bấy giờ, Đức Phật vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Rājagaha để khất thực. Đi khất thực không phân biệt trong thành Rājagaha, Ngài đến gần nhà của Bhāradvāja người Thờ Lửa và đứng sang một bên.
Bhāradvāja người Thờ Lửa thấy Ngài đứng khất thực và nói với Ngài bằng thơ kệ:
"Người thành tựu tam minh ,
sanh trưởng tốt và học rộng,
thành tựu minh và hạnh
có thể thưởng thức món cơm sữa này.""Dù người tụng niệm nhiều lời cầu nguyện
cũng không phải là Bà-la-môn do sanh
nếu bên trong nhơ bẩn và hư hỏng,
với một đám tùy tùng có được nhờ gian trá.Người biết được các kiếp quá khứ của mình,
thấy được các cõi trời và cõi khổ,
và đã đạt đến sự chấm dứt tái sanh,
là một bậc hiền triết có tuệ giác hoàn hảo.Nhờ ba loại minh này
một Bà-la-môn là bậc thầy của tam minh.
Thành tựu minh và hạnh,
họ có thể thưởng thức món cơm sữa này."
"Xin mời Tôn giả Gotama dùng! Ngài thực sự là một Bà-la-môn."
"Thức ăn được chú nguyện bằng kệ tụng, ta không nên ăn.
Đó không phải là nguyên tắc của những người thấy biết, này Bà-la-môn.
Chư Phật từ chối những vật được chú nguyện bằng kệ tụng.
Vì có một nguyên tắc như vậy, này Bà-la-môn,
— đó là cách các Ngài sống.Hãy cúng dường bằng thức ăn và đồ uống khác
cho bậc toàn thiện, bậc đại tiên,
đã đoạn tận lậu hoặc và dập tắt hối hận.
Vì Ngài là ruộng phước cho người tìm kiếm công đức."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Bhāradvāja người Thờ Lửa thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! ..." ... Và Tôn giả Bhāradvāja người Thờ Lửa đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.9 Với Bhāradvāja ở Sundarikā Kinh Sundarika
Một thời Đức Phật trú tại xứ Kosala, bên bờ sông Sundarikā.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja ở Sundarikā đang phụng sự ngọn lửa thiêng và thực hiện lễ tế lửa bên bờ sông Sundarikā.
Rồi ông nhìn khắp bốn phương, tự hỏi: “Bây giờ ai có thể ăn phần còn lại của lễ vật này?”
Ông thấy Đức Phật đang thiền định dưới gốc một cây, y trùm kín đầu. Tay trái cầm phần lễ vật còn lại, tay phải cầm bình nước, ông tiến lại gần Đức Phật. Khi nghe tiếng bước chân của Bhāradvāja ở Sundarikā, Đức Phật mở đầu ra.
Bhāradvāja ở Sundarikā nghĩ: “Người này cạo đầu, ông ta là một người cạo đầu!” Và ông muốn quay trở lại.
Nhưng ông nghĩ: “Ngay cả một số Bà-la-môn cũng cạo đầu. Tại sao ta không đến hỏi ông ta về dòng dõi?”
Bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja ở Sundarikā đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài: “Thưa ngài, ngài thuộc dòng dõi nào?”
"Đừng hỏi về dòng dõi, hãy hỏi về hạnh kiểm;
vì ngọn lửa Jātaveda được sinh ra từ củi.
Một bậc hiền triết kiên định, dù xuất thân từ gia đình thấp kém,
là một con ngựa thuần chủng được kiểm soát bởi lòng tàm (conscience / sự xấu hổ với tội lỗi).Được điều phục bởi sự thật, viên mãn nhờ sự điều phục,
một bậc thầy toàn tri
— người đã hoàn thành đời sống phạm hạnh---
đó là người mà một người tế lễ
— nên tự giới thiệu,
và dâng cúng đúng thời
— cho một người xứng đáng nhận lễ vật cúng dường.""Lễ tế của ta
— hẳn đã được thực hiện tốt,
vì ta đã gặp được một bậc thầy toàn tri như vậy!
Chính vì ta chưa từng gặp ai như Ngài
nên những người khác đã ăn phần lễ vật còn lại.
Xin mời Tôn giả Gotama dùng, Ngài thực sự là một Bà-la-môn."
"Thức ăn được chú nguyện bằng kệ tụng, ta không nên ăn.
Đó không phải là nguyên tắc của những người thấy biết, này Bà-la-môn.
Chư Phật từ chối những vật được chú nguyện bằng kệ tụng.
Vì có một nguyên tắc như vậy, này Bà-la-môn,
— đó là cách các Ngài sống.Hãy cúng dường bằng thức ăn và đồ uống khác
cho bậc toàn thiện, bậc đại tiên,
đã đoạn tận lậu hoặc và dập tắt hối hận.
Vì Ngài là ruộng phước cho người tìm kiếm công đức."
"Vậy, thưa Tôn giả Gotama, con nên cho ai phần còn lại của lễ vật này?"
"Này Bà-la-môn, Ta không thấy ai trong thế giới này—với chư Thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài người—có thể tiêu hóa đúng cách phần lễ vật còn lại này, ngoại trừ Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài. Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy vứt phần lễ vật còn lại đó ở nơi ít cây cỏ, hoặc thả xuống nước không có sinh vật."
Vì vậy, Bhāradvāja ở Sundarikā đã thả phần lễ vật còn lại vào nước không có sinh vật. Và khi phần lễ vật đó được đặt vào nước, chúng xèo xèo và rít lên, bốc hơi và tỏa khói. Giả sử có một cái vạc sắt được đun nóng cả ngày. Nếu bạn đặt nó vào nước, nó sẽ xèo xèo và rít lên, bốc hơi và tỏa khói. Tương tự như vậy, khi phần lễ vật đó được đặt vào nước, chúng xèo xèo và rít lên, bốc hơi và tỏa khói.
Bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja ở Sundarikā, kinh ngạc và kính sợ, đến gặp Đức Phật và đứng sang một bên. Đức Phật nói với ông bằng thơ kệ:
"Khi ông nhóm củi, này Bà-la-môn,
đừng tưởng rằng đây là sự thanh tịnh, vì nó chỉ là bên ngoài.
Vì những người thiện xảo nói rằng đây không phải là con đường đến sự thanh tịnh,
khi người ta tìm kiếm sự thanh tịnh ở những thứ bên ngoài.Ta đã từ bỏ việc nhóm củi, này Bà-la-môn,
giờ ta chỉ thắp lên ngọn lửa bên trong.
Luôn rực cháy, luôn thanh tịnh,
ta là một bậc A-la-hán sống đời phạm hạnh.Kiêu mạn, này Bà-la-môn, là gánh nặng của tài sản ông,
tức giận là khói, và dối trá là tro.
Lưỡi là cái muỗng và tâm là bàn thờ lửa;
một bản ngã được điều phục tốt là ánh sáng của một người.Giáo pháp là một cái hồ với bờ là giới đức, này Bà-la-môn,
không vẩn đục, được người tốt ca ngợi.
Nơi đó các bậc thầy toàn tri đến tắm,
và vượt qua bờ bên kia mà không bị ướt.Sự thật, nguyên tắc, sự chế ngự, đời sống phạm hạnh;
sự đạt được tối thượng dựa trên trung đạo,
— này Bà-la-môn.
Hãy đảnh lễ những người chân thành---
ta tuyên bố người đó là
— người đi theo giáo pháp."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Bhāradvāja ở Sundarikā thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ..." ... Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 7.10 Nhiều Con Gái Kinh Bahudhītara
Một thời Đức Phật trú tại xứ Kosala trong một khu rừng.
Lúc bấy giờ, một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja bị mất mười bốn con bò. Trong khi tìm kiếm chúng, ông đi vào khu rừng đó, nơi ông thấy Đức Phật đang ngồi kiết già, thân ngay thẳng, và chánh niệm được thiết lập trước mặt. Ông đến gần Đức Phật và đọc những câu kệ này trước sự hiện diện của Ngài:
"Vị sa-môn này chắc không có
mười bốn con bò
bị mất sáu ngày qua:
nên vị sa-môn này mới hạnh phúc.Vị sa-môn này chắc không có
một ruộng vừng bị hư hại,
chỉ còn một hai lá:
nên vị sa-môn này mới hạnh phúc.Vị sa-môn này chắc không có
chuột trong kho trống
nhảy múa vui vẻ:
nên vị sa-môn này mới hạnh phúc.Vị sa-môn này chắc không có
những tấm thảm suốt bảy tháng
bị bọ chét xâm chiếm:
nên vị sa-môn này mới hạnh phúc.Vị sa-môn này chắc không có
bảy cô con gái góa chồng
mỗi người có một hai con:
nên vị sa-môn này mới hạnh phúc.Vị sa-môn này chắc không có
một người vợ da vàng vọt, lốm đốm
đánh thức ông bằng một cú đá:
nên vị sa-môn này mới hạnh phúc.Vị sa-môn này chắc không có
các chủ nợ gõ cửa lúc rạng đông,
cảnh báo, ‘Trả nợ! Trả nợ!’:
nên vị sa-môn này mới hạnh phúc.""Đúng vậy, này Bà-la-môn, ta không có
mười bốn con bò
bị mất sáu ngày qua:
nên ta mới hạnh phúc, này Bà-la-môn.Đúng vậy, này Bà-la-môn, ta không có
một ruộng vừng bị hư hại,
chỉ còn một hai lá:
nên ta mới hạnh phúc, này Bà-la-môn.Đúng vậy, này Bà-la-môn, ta không có
chuột trong kho trống
nhảy múa vui vẻ:
nên ta mới hạnh phúc, này Bà-la-môn.Đúng vậy, này Bà-la-môn, ta không có
những tấm thảm suốt bảy tháng
bị bọ chét xâm chiếm:
nên ta mới hạnh phúc, này Bà-la-môn.Đúng vậy, này Bà-la-môn, ta không có
bảy cô con gái góa chồng
mỗi người có một hai con:
nên ta mới hạnh phúc, này Bà-la-môn.Đúng vậy, này Bà-la-môn, ta không có
một người vợ da lốm đốm, rỗ
đánh thức ta bằng một cú đá:
nên ta mới hạnh phúc, này Bà-la-môn.Đúng vậy, này Bà-la-môn, ta không có
các chủ nợ gõ cửa lúc rạng đông,
cảnh báo, ‘Trả nợ! Trả nợ!’:
nên ta mới hạnh phúc, này Bà-la-môn."
Khi Ngài đã nói, người Bà-la-môn thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! ... Như người lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che giấu, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy các vật, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Xin cho con được xuất gia, được thọ giới trong sự hiện diện của Tôn giả Gotama?"
Và người Bà-la-môn đã được xuất gia, được thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Bhāradvāja, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết đoán, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Ngài đã sống, đạt được bằng chính trí tuệ của mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà.
Ngài hiểu rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
Phẩm về Cư Sĩ
SN 7.11 Với Bhāradvāja người Nông Dân Kinh Kasibhāradvāja
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại xứ Magadha, ở vùng Đồi Phía Nam gần làng Bà-la-môn Ekanāḷa.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja người Nông Dân đã thắng khoảng năm trăm cái cày, đang là mùa gieo hạt. Bấy giờ, Đức Phật vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đến nơi Bhāradvāja người Nông Dân đang làm việc.
Lúc bấy giờ, Bhāradvāja người Nông Dân đang phân phát thức ăn. Bấy giờ, Đức Phật đến nơi phân phát và đứng sang một bên.
Bhāradvāja người Nông Dân thấy Ngài đứng khất thực và nói với Ngài: "Tôi cày và gieo, thưa sa-môn, rồi tôi mới ăn. Ông cũng nên cày và gieo, rồi hãy ăn."
"Tôi cũng cày và gieo, này Bà-la-môn, rồi tôi mới ăn."
"Tôi không thấy Tôn giả Gotama có ách hay cày, lưỡi cày hay roi, hay bò, vậy mà Ngài nói: ‘Tôi cũng cày và gieo, này Bà-la-môn, rồi tôi mới ăn.’”
Bấy giờ, Bhāradvāja người Nông Dân nói với Đức Phật bằng thơ kệ:
"Ngài tự nhận là nông dân,
nhưng tôi không thấy Ngài làm ruộng.
Xin hãy cho tôi biết Ngài là nông dân thế nào khi được hỏi:
làm sao tôi nhận ra việc làm ruộng của Ngài?""Niềm tin là hạt giống, nhiệt tâm là mưa,
và trí tuệ là ách và cày của ta.
Lòng tàm là cán cày, tâm là dây cương,
chánh niệm là lưỡi cày và roi của ta.Thận trọng trong thân và khẩu,
ta tiết chế trong việc ăn uống.
Ta dùng sự thật làm lưỡi hái,
và sự dịu dàng là sự giải thoát của ta.Siêng năng là con thú kéo của ta,
đưa ta đến nơi an ổn khỏi ách.
Nó đi không quay lại
đến nơi không còn sầu muộn.Đó là cách làm ruộng
mà có quả là sự giải thoát khỏi cái chết.
Khi ông hoàn thành việc làm ruộng này
ông được giải thoát khỏi mọi khổ đau."
"Xin mời Tôn giả Gotama dùng, Ngài thực sự là một nông dân. Vì Tôn giả Gotama làm công việc nông nghiệp có quả là sự giải thoát khỏi cái chết."
Ta không nhận cúng dường
Thức ăn qua kệ tụng.
Nguyên tắc người thấy biết,
này hỡi Bà-la-môn.
Chư Phật luôn từ chối
những vật được bằng kệ tụng.
Nguyên tắc là như vậy,
này hỡi Bà-la-môn,
— là cách các Ngài sống.Hãy cúng dường thiện nguyện
thức ăn, đồ uống khác
bậc toàn thiện, đại tiên,
đã đoạn tận lậu hoặc
và dập tắt hối hận.
Đó là ruộng phước đức
cho người tìm kiếm công đức."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Bhāradvāja người Nông Dân thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.12 Với Udaya Kinh Udaya
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Đức Phật vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đến nhà của Bà-la-môn Udaya. Rồi Udaya đổ đầy bát của Đức Phật bằng cơm. Ngày hôm sau ... và ngày sau đó nữa ... Udaya lại đổ đầy bát của Đức Phật bằng cơm.
Nhưng khi đã đổ đầy bát của Đức Phật lần thứ ba, ông nói với Đức Phật: "Sa-môn Gotama tham lam này cứ quay lại mãi!"
"Lần này qua lần khác, họ gieo hạt;
lần này qua lần khác, vua trời ban mưa;
lần này qua lần khác, nông dân cày ruộng;
lần này qua lần khác, ngũ cốc được sản xuất cho quốc gia.Lần này qua lần khác, người ăn xin đi xin;
lần này qua lần khác, người thí chủ cho đi.
Lần này qua lần khác, khi người thí chủ đã cho đi,
lần này qua lần khác, họ có được chỗ ở trên thiên giới.Lần này qua lần khác, người vắt sữa bò;
lần này qua lần khác, con bê bám lấy mẹ;
lần này qua lần khác, áp bức và hăm dọa;
kẻ ngu đần đó trở lại bụng mẹ lần này qua lần khác.Lần này qua lần khác, người ta tái sanh và chết;
lần này qua lần khác, người ta được mang đến nghĩa địa.
Nhưng khi họ đã đạt được con đường
— để không còn tái sanh nữa,
người có trí tuệ bao la không tái sanh lần này qua lần khác."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Udaya thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.13 Với Devahita Kinh Devahita
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, Đức Phật bị bệnh gió. Tôn giả Upavāna là người chăm sóc Ngài.
Bấy giờ, Đức Phật nói với Upavāna: "Này Upavāna, hãy tìm cho ta một ít nước nóng."
"Vâng, thưa Ngài," Upavāna đáp. Ngài đắp y, mang bát và y, đến nhà của Bà-la-môn Devahita, và đứng im lặng một bên.
Devahita thấy ngài đứng đó và nói với ngài bằng thơ kệ:
"Người thiện hữu đứng im lặng,
cạo đầu, quấn y ngoài.
Ông muốn gì? Ông tìm gì?
Ông đến đây để xin gì?""Bậc A-la-hán, bậc Thánh trong đời,
bậc hiền triết đang bị bệnh gió.
Nếu có nước nóng,
xin hãy cho bậc hiền triết, thưa Bà-la-môn.Tôi muốn mang nó đến cho người
được những người đáng kính kính trọng,
được những người đáng tôn vinh tôn vinh,
được những người đáng tôn kính tôn kính."
Bấy giờ, Devahita cho một người mang đến một đòn gánh nước nóng. Ông cũng biếu Tôn giả Upavāna một hũ mật đường.
Bấy giờ, Tôn giả Upavāna đến gặp Đức Phật và tắm cho Ngài bằng nước nóng. Sau đó, ngài khuấy mật đường vào nước nóng và dâng lên Đức Phật. Bệnh của Đức Phật liền thuyên giảm.
Bấy giờ, Bà-la-môn Devahita đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật bằng thơ kệ:
"Nên cho tặng vật ở đâu?
Cho ở đâu thì có quả lớn?
Làm thế nào để người cúng dường
đảm bảo sự thành công của lễ vật tôn giáo của họ?""Người biết được các kiếp quá khứ của mình,
thấy được các cõi trời và cõi khổ,
và đã đạt đến sự chấm dứt tái sanh,
là một bậc hiền triết có tuệ giác hoàn hảo.Ở đây ông nên cho tặng vật;
những gì được cho ở đây có quả rất lớn.
Đó là cách một người bảo trợ các lễ tế
đảm bảo sự thành công của lễ vật tôn giáo của họ."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Devahita thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.14 Một Bà-la-môn giàu có Kinh Mahāsāla
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, một Bà-la-môn giàu có, ăn mặc tồi tàn, khoác áo choàng rách rưới, đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi ông: "Này Bà-la-môn, tại sao ông lại ăn mặc tồi tàn, khoác áo choàng rách rưới như vậy?"
"Thưa Tôn giả Gotama, tôi có bốn người con trai. Theo lời vợ chúng, chúng đã đuổi tôi ra khỏi nhà."
"Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy học thuộc những câu kệ này và đọc cho các con trai của ông nghe khi tất cả đang ngồi trong công hội với đông đảo mọi người.
‘Ta đã vui mừng khôn xiết khi chúng chào đời,
và cầu mong cho chúng những điều tốt đẹp nhất.
Nhưng theo lời vợ chúng, chúng đã đuổi ta đi,
như chó săn đuổi heo.Hóa ra chúng là những kẻ độc ác, những kẻ xấu xa,
dù chúng gọi ta là cha già thân yêu.
Chúng là những con quái vật đội lốt con trai,
đuổi ta đi khi ta đã già.Như một con ngựa già vô dụng
bị dẫn đi khỏi máng cỏ,
người cha già của những đứa trẻ đó
đi ăn xin ở nhà người khác.Ngay cả cây gậy của ta cũng tốt hơn
những đứa con bất hiếu đó,
vì nó xua đuổi được bò mộng hoang,
và cả chó hoang.Nó đi trước ta trong bóng tối;
trong nước sâu nó nâng đỡ ta.
Nhờ sức mạnh kỳ diệu của cây gậy này,
khi ta vấp ngã, ta lại đứng vững.’"
Sau khi học thuộc những câu kệ đó trước sự hiện diện của Đức Phật, người Bà-la-môn đã đọc chúng cho các con trai của mình nghe khi tất cả đang ngồi trong công hội với đông đảo mọi người. ...
Bấy giờ, các con trai của Bà-la-môn dẫn ông về nhà, tắm rửa cho ông, và mỗi người mặc cho ông một bộ y phục tốt. Sau đó, Bà-la-môn, lấy một bộ y phục, đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:
"Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi, những Bà-la-môn, thường tìm một khoản phí cho thầy dạy của mình. Xin Tôn giả Gotama hãy nhận lấy khoản phí thầy dạy của con!" Đức Phật đã nhận lấy vì lòng bi mẫn. Bấy giờ, người Bà-la-môn giàu có thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.15 Kiêu Ngạo Kinh Mānatthaddha
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, một Bà-la-môn tên là Kiêu Ngạo đang ở tại Sāvatthī. Ông ta không cúi lạy mẹ, cha, thầy dạy, hay anh cả của mình. Lúc bấy giờ, Đức Phật đang thuyết Pháp, được một hội chúng đông đảo vây quanh.
Bấy giờ, Kiêu Ngạo nghĩ: “Sa-môn Gotama đang thuyết Pháp, được một hội chúng đông đảo vây quanh. Tại sao ta không đến gần ông ta? Nếu ông ta nói với ta, ta sẽ nói với ông ta. Nhưng nếu ông ta không nói, ta cũng sẽ không nói.”
Bấy giờ, Bà-la-môn Kiêu Ngạo đến gặp Đức Phật và đứng im lặng một bên. Nhưng Đức Phật không nói với ông ta.
Bấy giờ, Kiêu Ngạo nghĩ: “Sa-môn Gotama này chẳng biết gì cả!” Và ông ta muốn quay về ngay lập tức.
Bấy giờ, Đức Phật, biết được dòng suy nghĩ của Kiêu Ngạo, đã nói với ông bằng thơ kệ:
"Nuôi dưỡng lòng kiêu mạn là không tốt
nếu ông muốn điều tốt cho mình, này Bà-la-môn.
Ông nên nuôi dưỡng mục đích
đã đưa ông đến đây."
Bấy giờ, Kiêu Ngạo nghĩ: “Sa-môn Gotama biết được tâm của ta!” Ông ta cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật, vuốt ve và hôn lên chân Ngài, và xưng tên mình: “Thưa Tôn giả Gotama, con là Kiêu Ngạo! Con là Kiêu Ngạo!”
Bấy giờ, hội chúng đó kinh ngạc: “Ôi lạy Chúa, thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Bà-la-môn Kiêu Ngạo này không cúi lạy mẹ, cha, thầy dạy, hay anh cả của mình. Vậy mà ông ta lại thể hiện lòng sùng kính tột bậc đối với sa-môn Gotama!”
Bấy giờ, Đức Phật nói với Bà-la-môn Kiêu Ngạo: “Đủ rồi, Bà-la-môn. Hãy đứng dậy và ngồi vào chỗ của mình. Vì tâm ông đã có niềm tin nơi ta.”
Bấy giờ, Kiêu Ngạo ngồi vào chỗ của mình và thưa với Đức Phật:
"Đối với ai không nên kiêu mạn?
Ai nên được tôn trọng?
Ai nên được quý mến?
Ai là người tốt để tôn kính đúng mực?""Mẹ và cha của ông,
và cả anh cả của ông,
thầy dạy là người thứ tư.
Đối với những người này, ông không nên kiêu mạn.
Họ là những người ông nên tôn trọng.
Họ là những người ông nên quý mến.
Và họ là những người tốt để tôn kính đúng mực.Và khi ông đã dẹp bỏ lòng kiêu mạn,
— và không còn tự cao,
hãy thể hiện lòng tôn kính tối thượng đối với
các bậc A-la-hán, đã nguội lạnh,
nhiệm vụ đã hoàn thành, không còn lậu hoặc."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Kiêu Ngạo thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.16 Người Thích Chống Đối Kinh Paccanīka
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, một Bà-la-môn tên là Chống Đối, người thích mâu thuẫn, đang ở tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Chống Đối nghĩ: “Tại sao ta không đến gặp sa-môn Gotama và phản bác mọi điều ông ta nói?”
Lúc bấy giờ, Đức Phật đang kinh hành chánh niệm ngoài trời.
Bấy giờ, Bà-la-môn Chống Đối đến gặp Đức Phật và nói với Ngài khi Ngài đang đi: “Sa-môn, hãy thuyết Pháp.”
"Lời hay ý đẹp không dễ hiểu
bởi người thích mâu thuẫn,
tâm trí bị ô nhiễm
và đầy sân hận.Nhưng khi ông đã xua tan sân hận,
và tâm trí nghi ngờ của mình,
và đã loại bỏ oán giận,
thì ông sẽ hiểu được lời hay ý đẹp."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Chống Đối thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.17 Người Thợ Xây Kinh Navakammika
Một thời Đức Phật trú tại xứ Kosala trong một khu rừng.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Bhāradvāja người Thợ Xây đang làm một số công việc xây dựng trong khu rừng rậm đó. Ông thấy Đức Phật đang ngồi kiết già dưới gốc một cây sala, thân ngay thẳng, và chánh niệm được thiết lập trước mặt.
Thấy vậy, ông nảy ra ý nghĩ: “Ta thích làm công việc xây dựng này ở đây trong rừng. Không biết sa-môn Gotama thích làm gì?”
Bấy giờ, Bhāradvāja người Thợ Xây đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng thơ kệ:
"Ngài làm công việc gì
như một Tỷ kheo trong rừng sala?
Làm sao Ngài tìm thấy niềm vui
một mình trong hoang dã, Gotama?""Ta không có gì cần làm trong rừng;
khu rừng của ta đã bị chặt tận gốc, nó đã khô héo.
Với khu rừng đã được dọn sạch và không còn gai góc,
ta vui hưởng sự cô độc trong rừng,
— đã từ bỏ sự bất mãn."
Khi Ngài đã nói, Bà-la-môn Bhāradvāja người Thợ Xây thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.18 Kiếm Củi Kinh Kaṭṭhahāra
Một thời Đức Phật trú tại xứ Kosala trong một khu rừng.
Bấy giờ, một vài học trò, đệ tử của một Bà-la-môn Bhāradvāja, đến một khu rừng để kiếm củi. Họ thấy Đức Phật đang ngồi kiết già dưới gốc một cây sala, thân ngay thẳng, và chánh niệm được thiết lập trước mặt. Thấy vậy, họ đến gặp Bhāradvāja và nói với ông: “Thưa thầy, thầy nên biết điều này. Trong khu rừng nọ, sa-môn Gotama đang ngồi kiết già, thân ngay thẳng, và chánh niệm được thiết lập trước mặt.”
Bấy giờ, Bhāradvāja cùng với những học trò trẻ đó đến khu rừng nơi ông thấy Đức Phật đang ngồi kiết già, thân ngay thẳng, và chánh niệm được thiết lập trước mặt.
Ông đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng thơ kệ:
"Sâu trong rừng rậm đầy kinh hoàng,
Ngài đã đi vào vùng hoang dã trống vắng, hoang vu.
Tĩnh lặng, vững chãi và duyên dáng:
Ngài thiền định thật đẹp làm sao, hỡi Tỷ kheo!Nơi không có ca hát hay âm nhạc,
một bậc hiền triết cô độc tìm đến nơi hoang dã.
Điều này đối với tôi thật đáng kinh ngạc,
rằng Ngài sống một mình trong rừng thật vui vẻ.Tôi cho rằng Ngài muốn được tái sanh cùng
với vị vua tối cao
— của cõi trời Ba Mươi Ba.
Có phải vì thế mà Ngài tìm đến nơi hoang dã hoang vu,
để thực hành khổ hạnh nhằm đạt được thần tính?""Bất kỳ mong muốn và hy vọng nào luôn gắn liền
với nhiều cõi giới khác nhau---
những khao khát nảy sinh từ gốc rễ của vô minh---
ta đã loại bỏ tất cả chúng tận gốc rễ.Vì vậy, ta không mong muốn, không dính mắc, không ràng buộc;
giữa mọi sự, cái thấy của ta rõ ràng.
Ta đã đạt được trạng thái ân sủng,
— sự giác ngộ tối thượng;
ta thiền định một mình, này Bà-la-môn, và tự tin."
Khi Ngài đã nói, Bhāradvāja thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.19 Bà-la-môn Nuôi Mẹ Kinh Mātuposaka
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, một Bà-la-môn nuôi mẹ đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật: "Thưa Tôn giả Gotama, con khất thực một cách hợp pháp, dùng nó để nuôi dưỡng cha mẹ. Làm như vậy, con có đang làm tròn bổn phận của mình không?"
"Chắc chắn rồi, này Bà-la-môn, làm như vậy là ông đang làm tròn bổn phận của mình. Bất cứ ai khất thực một cách hợp pháp và dùng nó để nuôi dưỡng cha mẹ mình đều tạo ra nhiều công đức.
Một người phàm nuôi dưỡng mẹ
và cha bằng phương tiện hợp pháp;
vì họ chăm sóc
cha mẹ mình như thế này,
họ được người trí ca ngợi trong đời này,
và sau khi qua đời, họ vui hưởng trên thiên giới."
Khi Ngài nói vậy, người Bà-la-môn nuôi mẹ thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.20 Người Ăn Xin Kinh Bhikkhaka
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, một Bà-la-môn ăn xin đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật: "Thưa Tôn giả Gotama, cả Ngài và tôi đều là người ăn xin. Vậy, sự khác biệt giữa chúng ta là gì?"
"Người ta không trở thành người ăn xin
chỉ bằng việc đi xin người khác.
Người đã đảm nhận các nhiệm vụ gia đình
vẫn chưa trở thành một Tỷ kheo.Nhưng người sống đời phạm hạnh
đã xua tan cả công đức và tội lỗi,
và đi lang thang sau khi đã thẩm định thế gian,
được gọi là một Tỷ kheo."
Khi Ngài đã nói, người Bà-la-môn ăn xin thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.21 Với Saṅgārava Kinh Saṅgārava
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, có một Bà-la-môn tên là Saṅgārava đang ở tại Sāvatthī. Ông thực hành thanh tẩy bằng nước, tin vào sự thanh tẩy bằng nước. Ông sống chuyên tâm vào việc ngâm mình trong nước vào lúc bình minh và hoàng hôn. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào Sāvatthī để khất thực.
Ngài đi khất thực ở Sāvatthī. Sau bữa ăn, trên đường từ khất thực trở về, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa với Ngài: "Thưa Ngài, có một Bà-la-môn tên là Saṅgārava đang ở tại Sāvatthī. Ông thực hành thanh tẩy bằng nước, tin vào sự thanh tẩy bằng nước. Ông sống chuyên tâm vào việc tắm rửa theo nghi lễ vào lúc bình minh và hoàng hôn. Xin Ngài hãy đến thăm nhà ông ấy vì lòng bi mẫn." Đức Phật im lặng chấp thuận.
Bấy giờ, Đức Phật vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đến nhà của Bà-la-môn Saṅgārava, và ngồi xuống trên chỗ đã được trải sẵn. Bấy giờ, Bà-la-môn Saṅgārava đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ta ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi ông: "Có thật không, này Bà-la-môn, rằng ông thực hành thanh tẩy bằng nước, tin vào sự thanh tẩy bằng nước; rằng ông sống chuyên tâm vào việc ngâm mình trong nước vào lúc bình minh và hoàng hôn?"
"Vâng, thưa Tôn giả Gotama."
"Nhưng này Bà-la-môn, vì lý do gì ông thực hành thanh tẩy bằng nước?"
"Đó là vì, thưa Tôn giả Gotama, bất kỳ việc ác nào con đã làm ban ngày, con gột rửa bằng cách tắm vào lúc hoàng hôn; và bất kỳ việc ác nào con đã làm ban đêm, con gột rửa bằng cách tắm vào lúc bình minh. Đó là lý do tại sao con thực hành thanh tẩy bằng nước."
"Giáo pháp là một cái hồ với bờ là giới đức, này Bà-la-môn,
không vẩn đục, được người tốt ca ngợi.
Nơi đó các bậc thầy toàn tri đến tắm,
và vượt qua bờ bên kia mà không bị ướt."
Khi Ngài đã nói, Saṅgārava thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 7.22 Tại Khomadussa Kinh Khomadussa
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại xứ của dòng họ Sakya, nơi có một thị trấn tên là Khomadussa.
Bấy giờ, Đức Phật vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào Khomadussa để khất thực. Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn và gia chủ ở Khomadussa đang tụ tập tại công hội để bàn việc, trong khi một cơn mưa nhẹ lất phất.
Bấy giờ, Đức Phật tiến đến công hội đó. Các Bà-la-môn và gia chủ thấy Đức Phật từ xa đi tới và nói: “Những kẻ cạo đầu này là ai, những sa-môn giả hiệu này? Họ không hiểu quy tắc của công hội sao?”
Bấy giờ, Đức Phật nói với các Bà-la-môn và gia chủ ở Khomadussa bằng thơ kệ:
"Nếu người tốt không có mặt thì đó không phải là một công hội thực sự;
và những người nói ngược lại nguyên tắc
— không phải là người tốt.
Đã từ bỏ tham, sân, và si,
những người nói theo nguyên tắc là người tốt."
Khi Ngài đã nói, các Bà-la-môn và gia chủ ở Khomadussa thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! Như người lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che giấu, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy các vật, Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ chúng con là những cư sĩ đã quy y trọn đời."