Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 8. Gọt Giũa

(Kinh Sallekha)

1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật (The Blessed One) ở tại Sāvatthī (Xá Vệ), trong khu rừng Jeta, công viên của Anāthapiṇ̣ika (Cấp Cô Độc).

2. Rồi, vào buổi chiều, tôn giả Mahā Cunda (Đại Ca Diếp) sau khi ngồi thiền xong, liền đến gặp Đức Phật. Sau khi đảnh lễ Đức Phật, ngài ngồi xuống một bên và thưa rằng:

3. “Bạch Thế Tôn, có nhiều quan điểm (views) khác nhau xuất hiện trên thế gian, liên quan đến học thuyết về một cái tôi (self) hoặc học thuyết về thế giới. Liệu một vị tỳ kheo (bhikkhu - người tu hành nam) chỉ mới bắt đầu [việc tu tập thiền định] có thể từ bỏ và buông bỏ những quan điểm đó không?”

"Này Cunda, đối với những quan điểm khác nhau xuất hiện trên thế gian, liên quan đến học thuyết về một cái tôi hoặc học thuyết về thế giới: nếu [đối tượng] mà những quan điểm đó nảy sinh, làm nền tảng, và tác động lên được thấy đúng như thật với trí tuệ (proper wisdom) như sau: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là bản ngã của tôi,’ thì việc từ bỏ và buông bỏ những quan điểm đó sẽ xảy ra.

8. KINH ÐOẠN GIẢM

8. KINH ÐOẠN GIẢM (Sallekha Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Cunda, vào buổi chiều từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Cunda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận. Bạch Thế Tôn, đối với một Tỷ-kheo, có tác ý ngay từ ban đầu, thời có thể đoạn trừ những sở kiến ấy hay không, có thể xả ly những sở kiến ấy hay không?

– Này Cunda, những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận, - chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn, và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cài này không phải tự ngã của tôi”, có vậy thời có sự đoạn trừ những sở kiến ấy, có sự xả ly những sở kiến ấy.

(TÁM THÀNH TỰU)

4. "Này Cunda, có thể ở đây, một vị tỳ kheo, hoàn toàn tách biệt khỏi những thú vui giác quan (sensual pleasures), tách biệt khỏi những trạng thái bất thiện (unwholesome states), chứng và an trú vào sơ thiền (first jhāna), một trạng thái đi kèm với tầm và tứ (applied and sustained thought), với hỷ và lạc (rapture and pleasure) sinh ra từ sự tách biệt. Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng trong Giáo Pháp (Discipline) của bậc Thánh Nhân (Noble One), những thành tựu này không được gọi là ‘gọt giũa’: chúng được gọi là ‘an trú lạc ngay trong hiện tại’ (pleasant abidings here and now).

5. "Có thể ở đây, một vị tỳ kheo, với sự lắng dịu của tầm và tứ, chứng và an trú vào nhị thiền (second jhāna), một trạng thái có sự tự tin và nhất tâm (singleness of mind) mà không có tầm và tứ, với hỷ và lạc sinh ra từ định (concentration). Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng…trong Giáo Pháp của bậc Thánh Nhân, chúng được gọi là ‘an trú lạc ngay trong hiện tại’.

6. "Có thể ở đây, một vị tỳ kheo, với sự phai nhạt của hỷ, an trú trong xả (equanimity), chánh niệm (mindful) và tỉnh giác (fully aware), vẫn cảm thấy lạc nơi thân, chứng và an trú vào tam thiền (third jhāna), mà các bậc Thánh Nhân tuyên bố: ‘Vị ấy có sự an trú lạc, người có xả và chánh niệm.’ Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng…trong Giáo Pháp của bậc Thánh Nhân, chúng được gọi là ‘an trú lạc ngay trong hiện tại’.

7. "Có thể ở đây, một vị tỳ kheo, với sự từ bỏ lạc và khổ, và với sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, chứng và an trú vào tứ thiền (fourth jhāna), một trạng thái không có khổ-không có lạc (neither-pain-nor-pleasure) và thanh tịnh của chánh niệm nhờ vào xả. Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng trong Giáo Pháp của bậc Thánh Nhân, những thành tựu này không được gọi là ‘gọt giũa’: chúng được gọi là ‘an trú lạc ngay trong hiện tại’.

8. "Có thể ở đây, một vị tỳ kheo, với sự vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc (perceptions of form), với sự biến mất của các tưởng về xúc chạm giác quan (perceptions of sensory impact), không chú ý đến các tưởng về sự đa dạng (perceptions of diversity), nhận biết rằng ‘không gian là vô biên,’ chứng và an trú vào không vô biên xứ (base of infinite space). Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng trong Giáo Pháp của bậc Thánh Nhân, những thành tựu này không được gọi là ‘gọt giũa’: chúng được gọi là ‘an trú an bình’ (peaceful abidings).

9. "Có thể ở đây, một vị tỳ kheo, bằng cách vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, nhận biết rằng ‘thức là vô biên,’ chứng và an trú vào thức vô biên xứ (base of infinite consciousness). Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng…trong Giáo Pháp của bậc Thánh Nhân, chúng được gọi là ‘an trú an bình’.

10. "Có thể ở đây, một vị tỳ kheo, bằng cách vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, nhận biết rằng ‘không có gì cả,’ chứng và an trú vào vô sở hữu xứ (base of nothingness). Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng…trong Giáo Pháp của bậc Thánh Nhân, chúng được gọi là ‘an trú an bình’.

11. "Có thể ở đây, một vị tỳ kheo, bằng cách vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, chứng và an trú vào phi tưởng phi phi tưởng xứ (base of neither-perception-nor-non-perception). Vị ấy có thể nghĩ: ‘Ta đang an trú trong sự gọt giũa.’ Nhưng trong Giáo Pháp của bậc Thánh Nhân, những thành tựu này không được gọi là ‘gọt giũa’: chúng được gọi là ‘an trú an bình’.

(Tám chứng đắc)

Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây một Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây, một Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây, một Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy có thể nghĩ “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng. Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Vị ấy có thể tự nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.

(GỌT GIŨA)

12. "Này Cunda, đây là cách mà các ông nên thực hành sự gọt giũa:

(1) ‘Người khác sẽ tàn ác; chúng ta sẽ không tàn ác ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(2) ‘Người khác sẽ sát sinh; chúng ta sẽ không sát sinh ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(3) ‘Người khác sẽ lấy của không cho; chúng ta sẽ không lấy của không cho ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(4) ‘Người khác sẽ không sống phạm hạnh (uncelibate); chúng ta sẽ sống phạm hạnh (celibate) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(5) ‘Người khác sẽ nói dối; chúng ta sẽ không nói dối ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(6) ‘Người khác sẽ nói lời ác ý; chúng ta sẽ không nói lời ác ý ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(7) ‘Người khác sẽ nói lời thô lỗ; chúng ta sẽ không nói lời thô lỗ ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(8) ‘Người khác sẽ nói lời phù phiếm; chúng ta sẽ không nói lời phù phiếm ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(9) ‘Người khác sẽ tham lam; chúng ta sẽ không tham lam ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(10) ‘Người khác sẽ có sân hận (ill will); chúng ta sẽ không có sân hận ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(11) ‘Người khác sẽ có tà kiến (wrong view); chúng ta sẽ có chánh kiến (right view) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(12) ‘Người khác sẽ có tà tư duy (wrong intention); chúng ta sẽ có chánh tư duy (right intention) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(13) ‘Người khác sẽ có tà ngữ (wrong speech); chúng ta sẽ có chánh ngữ (right speech) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(14) ‘Người khác sẽ có tà nghiệp (wrong action); chúng ta sẽ có chánh nghiệp (right action) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(15) ‘Người khác sẽ có tà mạng (wrong livelihood); chúng ta sẽ có chánh mạng (right livelihood) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(16) ‘Người khác sẽ có tà tinh tấn (wrong effort); chúng ta sẽ có chánh tinh tấn (right effort) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(17) ‘Người khác sẽ có tà niệm (wrong mindfulness); chúng ta sẽ có chánh niệm (right mindfulness) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(18) ‘Người khác sẽ có tà định (wrong concentration); chúng ta sẽ có chánh định (right concentration) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(19) ‘Người khác sẽ có tà trí (wrong knowledge); chúng ta sẽ có chánh trí (right knowledge) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(20) ‘Người khác sẽ có tà giải thoát (wrong deliverance); chúng ta sẽ có chánh giải thoát (right deliverance) ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(21) ‘Người khác sẽ bị hôn trầm, thụy miên (sloth and torpor) chi phối; chúng ta sẽ không bị hôn trầm, thụy miên chi phối ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(22) ‘Người khác sẽ trạo cử (restless); chúng ta sẽ không trạo cử ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(23) ‘Người khác sẽ nghi ngờ; chúng ta sẽ vượt qua nghi ngờ ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(24) ‘Người khác sẽ giận dữ; chúng ta sẽ không giận dữ ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(25) ‘Người khác sẽ thù hận; chúng ta sẽ không thù hận ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(26) ‘Người khác sẽ khinh người; chúng ta sẽ không khinh người ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(27) ‘Người khác sẽ hống hách; chúng ta sẽ không hống hách ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(28) ‘Người khác sẽ ganh tị; chúng ta sẽ không ganh tị ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(29) ‘Người khác sẽ keo kiệt; chúng ta sẽ không keo kiệt ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(30) ‘Người khác sẽ gian dối; chúng ta sẽ không gian dối ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(31) ‘Người khác sẽ lừa đảo; chúng ta sẽ không lừa đảo ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(32) ‘Người khác sẽ cố chấp; chúng ta sẽ không cố chấp ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(33) ‘Người khác sẽ ngạo mạn; chúng ta sẽ không ngạo mạn ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(34) ‘Người khác sẽ khó bảo; chúng ta sẽ dễ bảo ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(35) ‘Người khác sẽ có bạn xấu; chúng ta sẽ có bạn tốt ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(36) ‘Người khác sẽ buông lung; chúng ta sẽ tinh tấn ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(37) ‘Người khác sẽ không có đức tin; chúng ta sẽ có đức tin ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(38) ‘Người khác sẽ không biết xấu hổ; chúng ta sẽ biết xấu hổ ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(39) ‘Người khác sẽ không sợ làm điều ác; chúng ta sẽ sợ làm điều ác ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(40) ‘Người khác sẽ ít học; chúng ta sẽ học rộng ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(41) ‘Người khác sẽ lười biếng; chúng ta sẽ siêng năng ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(42) ‘Người khác sẽ thất niệm; chúng ta sẽ an trú vào chánh niệm ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(43) ‘Người khác sẽ thiếu trí tuệ; chúng ta sẽ có trí tuệ ở đây’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(44) ‘Người khác sẽ bám chặt vào quan điểm của mình, giữ chúng một cách cố chấp, và khó từ bỏ chúng; chúng ta sẽ không bám chặt vào quan điểm của mình, không giữ chúng một cách cố chấp, mà sẽ dễ dàng từ bỏ chúng’: sự gọt giũa nên được thực hành như vậy.

(Ðoạn giảm)

Này Cunda, ở đây đoạn giảm được các Người thực hiện khi các Người nghĩ:

(1) “Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây không thể là những người làm hại”, như vậy đoạn giảm được thực hiện.
(2) “Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh”, như vậy đoạn giảm được thực hiện.
(3) “Những kẻ khác có thể lấy của không cho, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ lấy của không cho”, như vậy đoạn giảm được thực hiện.
(4) “Những kẻ khác có thể không phạm hạnh, chúng ta ở đây sẽ sống phạm hạnh”, như vậy… (như trên)… thực hiện.
(5) “Những kẻ khác có thể nói láo, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói láo”,… (như trên)…
(6) “Những kẻ khác có thể nói hai lưỡi, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói hai lưỡi”,… (như trên)…
(7) “Những kẻ khác có thể nói lời độc ác”, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời độc ác", … (như trên)…
(8) “Những kẻ khác có thể nói lời phù phiếm, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời phù phiếm”,… (như trên)…
(9) “Những kẻ khác có thể tham dục, chúng ta ở đây không tham dục”,… (như trên)…
(10) “Những kẻ khác có thể có sân tâm, chúng ta ở đây sẽ không có sân tâm”,… (như trên)…
(11) "Những kẻ khác có thể có tà kiến, chúng ta ở đây sẽ có chánh kiến,… (như trên)…
(12) “Những kẻ khác có thể có tà tư duy, chúng ta ở đây sẽ có chánh tư duy”,… (như trên)…
(13) “Những kẻ khác có thể có tà ngữ, chúng ta ở đây sẽ có chánh ngữ”,… (như trên)…
(14) “Những kẻ khác có thể có tà nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có chánh nghiệp”,… (như trên)…
(15) “Những kẻ khác có thể có tà mạng, chúng ta ở đây sẽ có chánh mạng”,… (như trên)…
(16) “Những kẻ khác có thể có tà tinh tấn, chúng ta ở đây sẽ có chánh tinh tấn”,… (như trên)…
(17) “Những kẻ khác có thể có tà niệm, chúng ta ở đây sẽ có chánh niệm”,… (như trên)…
(18) “Những kẻ khác có thể có tà định, chúng ta ở đây sẽ có chánh định”,… (như trên)…
(19) “Những kẻ khác có thể có tà trí, chúng ta ở đây sẽ có chánh trí”,… (như trên)…
(20) “Những kẻ khác có thể có tà giải thoát, chúng ta ở đây sẽ có chánh giải thoát”,… (như trên)…
(21) “Những kẻ khác có thể bị hôn trầm thụy miên chi phối, chúng ta ở đây sẽ không có hôn trầm thụy miên chi phối”,… (như trên)…
(22) “Những kẻ khác có thể có trạo hối, chúng ta ở đây sẽ không có trạo hối”,… (như trên)…
(23) “Những kẻ khác có thể nghi hoặc, chúng ta ở đây sẽ trừ diệt nghi hoặc”,… (như trên)…
(24) “Những kẻ khác có thể phẫn nộ, chúng ta ở đây sẽ không có phẫn nộ”,… (như trên)…
(25) “Những kẻ khác có thể oán hận, chúng ta ở đây sẽ không có oán hận”,… (như trên)…
(26) “Những kẻ khác có thể hư ngụy, chúng ta ở đây sẽ không hư ngụy”,… (như trên)…
(27) “Những kẻ khác có thể não hại, chúng ta ở đây sẽ không não hại”,… (như trên)…
(28) “Những kẻ khác có thể tật đố, chúng ta ở đây sẽ không tật đố”,… (như trên)…
(29) “Những kẻ khác có thể xan tham, chúng ta ở đây sẽ không xan tham”,… (như trên)…
(30) "Những kẻ khác có thể man trá, chúng ta ở đây sẽ không man trá,… (như trên)…\

(31) “Những kẻ khác có thể khi cuống, chúng ta ở đây sẽ không khi cuống”,… (như trên)…
(32) “Những kẻ khác có thể ngoan cố, chúng ta ở đây không thể ngoan cố”,… (như trên)…
(33) “Những kẻ khác có thể cấp tháo, chúng ta ở đây không thể cấp tháo”,… (như trên)…
(34) “Những kẻ khác có thể khó nói (nan thuyết), chúng ta ở đây sẽ dễ nói”,… (như trên)…
(35) “Những kẻ khác có thể là ác hữu, chúng ta ở đây sẽ là thiện hữu”,… (như trên)…
(36) “Những kẻ khác có thể phóng dật, chúng ta ở đây sẽ không phóng dật”,… (như trên)…
(37) “Những kẻ khác có thể là bất tín, chúng ta ở đây sẽ có tín tâm”,… (như trên)…
(38) “Những kẻ khác có thể không xấu hổ, chúng ta ở đây sẽ có xấu hổ”,… (như trên)…
(39) “Những kẻ khác có thể không sợ hãi, chúng ta ở đây sẽ có sợ hãi”,… (như trên)…
(40) “Những kẻ khác có thể nghe ít, chúng ta ở đây sẽ nghe nhiều”… (như trên)…
(41) “Những kẻ khác có thể biếng nhác, chúng ta ở đây sẽ siêng năng”,… (như trên)…
(42) “Những kẻ khác có thể thất niệm, chúng ta ở đây sẽ an trú niệm”,… (như trên)…
(43) “Những kẻ khác có thể liệt tuệ, chúng ta ở đây thành tựu tuệ”,… (như trên)…
(44) “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả” như vậy đoạn giảm được thực hiện.

(KHUYNH HƯỚNG TÂM)

13. "Này Cunda, Ta nói rằng ngay cả việc hướng tâm (inclination of mind) đến các trạng thái thiện (wholesome states) cũng có lợi ích lớn, vậy thì còn nói gì đến các hành động thân và khẩu phù hợp [với trạng thái tâm như vậy]? Vì vậy, này Cunda:

(1) Tâm nên được hướng như sau: ‘Người khác sẽ tàn ác; chúng ta sẽ không tàn ác ở đây.’

(2) Tâm nên được hướng như sau: ‘Người khác sẽ sát sinh; chúng ta sẽ không sát sinh ở đây.’

(3-43) Tâm nên được hướng như sau:…

(44) Tâm nên được hướng như sau: ‘Người khác sẽ bám chặt vào quan điểm của mình, giữ chúng một cách cố chấp, và khó từ bỏ chúng; chúng ta sẽ không bám chặt vào quan điểm của mình, không giữ chúng một cách cố chấp, mà sẽ dễ dàng từ bỏ chúng.’

(Khởi tâm)

Này Cunda, Ta nói rằng sự khởi tâm rất có lợi ích cho các thiện pháp, còn nói gì thân nghiệp, khẩu nghiệp phù hợp (với tâm ý). Do vậy, này Cunda:

(1) “Những kẻ khác có thể làm hại, chúng ta ở đây sẽ không làm hại”, cần phải khởi tâm như vậy. (2) “Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh”, cần phải khởi tâm như vậy… (như trên)… (3-43) "Những kẻ khác… (như trên)…
(44) “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”, cần phải phát tâm như vậy.

(TRÁNH XA)

14. "Này Cunda, ví như có một con đường gập ghềnh và một con đường bằng phẳng khác để tránh nó; và ví như có một chỗ lội gập ghềnh và một chỗ lội bằng phẳng khác để tránh nó. Cũng vậy:

(1) Một người hay tàn ác có sự không tàn ác để tránh xa nó.

(2) Một người hay sát sinh có sự không sát sinh để tránh xa nó.

(3) Một người hay lấy của không cho có sự không lấy của không cho để tránh xa nó.

(4) Một người không sống phạm hạnh có sự sống phạm hạnh để tránh xa nó.

(5) Một người hay nói dối có sự không nói dối để tránh xa nó.

(6) Một người hay nói lời ác ý có sự không nói lời ác ý để tránh xa nó.

(7) Một người hay nói lời thô lỗ có sự không nói lời thô lỗ để tránh xa nó.

(8) Một người hay nói lời phù phiếm có sự không nói lời phù phiếm để tránh xa nó.

(9) Một người hay tham lam có sự không tham lam để tránh xa nó.

(10) Một người hay sân hận có sự không sân hận để tránh xa nó.

(11) Một người có tà kiến có chánh kiến để tránh xa nó.

(12) Một người có tà tư duy có chánh tư duy để tránh xa nó.

(13) Một người có tà ngữ có chánh ngữ để tránh xa nó.

(14) Một người có tà nghiệp có chánh nghiệp để tránh xa nó.

(15) Một người có tà mạng có chánh mạng để tránh xa nó.

(16) Một người có tà tinh tấn có chánh tinh tấn để tránh xa nó.

(17) Một người có tà niệm có chánh niệm để tránh xa nó.

(18) Một người có tà định có chánh định để tránh xa nó.

(19) Một người có tà trí có chánh trí để tránh xa nó.

(20) Một người có tà giải thoát có chánh giải thoát để tránh xa nó.

(21) Một người bị hôn trầm, thụy miên chi phối có sự không bị hôn trầm, thụy miên chi phối để tránh xa nó.

(22) Một người hay trạo cử có sự không trạo cử để tránh xa nó.

(23) Một người hay nghi ngờ có trạng thái vượt qua nghi ngờ để tránh xa nó.

(24) Một người hay giận dữ có sự không giận dữ để tránh xa nó.

(25) Một người hay thù hận có sự không thù hận để tránh xa nó.

(26) Một người hay khinh người có sự không khinh người để tránh xa nó.

(27) Một người hay hống hách có thái độ không hống hách để tránh xa nó.

(28) Một người hay ganh tị có sự không ganh tị để tránh xa nó.

(29) Một người hay keo kiệt có sự không keo kiệt để tránh xa nó.

(30) Một người hay gian dối có sự không gian dối để tránh xa nó.

(31) Một người hay lừa đảo có sự không lừa đảo để tránh xa nó.

(32) Một người hay cố chấp có sự không cố chấp để tránh xa nó.

(33) Một người hay ngạo mạn có sự không ngạo mạn để tránh xa nó.

(34) Một người khó bảo có sự dễ bảo để tránh xa nó.

(35) Một người hay kết bạn xấu có sự kết bạn tốt để tránh xa nó.

(36) Một người hay buông lung có sự tinh tấn để tránh xa nó.

(37) Một người không có đức tin có đức tin để tránh xa nó.

(38) Một người không biết xấu hổ có sự biết xấu hổ để tránh xa nó.

(39) Một người không sợ làm điều ác có sự sợ làm điều ác để tránh xa nó.

(40) Một người ít học có sự học rộng để tránh xa nó.

(41) Một người lười biếng có sự khơi dậy năng lực (arousal of energy) để tránh xa nó.

(42) Một người thất niệm có sự thiết lập chánh niệm (establishment of mindfulness) để tránh xa nó.

(43) Một người thiếu trí tuệ có sự đạt được trí tuệ (acquisition of wisdom) để tránh xa nó.

(44) Một người bám chặt vào quan điểm của mình, giữ chúng một cách cố chấp và khó từ bỏ chúng, có sự không bám chặt vào quan điểm của mình, không giữ chúng một cách cố chấp và dễ dàng từ bỏ chúng, để tránh xa nó.

(Từ bỏ)

Này Cunda, giống như một con đường không bằng phẳng, có một con đường bằng phẳng khác đối trị. Này Cunda, giống như một bến nước không bằng phẳng, có một bến nước bằng phẳng khác đối trị. Cũng vậy này Cunda:

(1) Ðối với con người làm hại, có sự không làm hại đối trị. (2) Ðối với con người sát sanh, có từ bỏ sát sanh đối trị. (3) Ðối với con người lấy của không cho, có từ bỏ lấy của không cho đối trị. (4-43) …, không phạm hạnh, có phạm hạnh…; nói láo, có từ bỏ nói láo…; nói hai lưỡi, có từ bỏ nói hai lưỡi…; nói ác khẩu, có từ bỏ nói ác khẩu; nói phù phiếm, có từ bỏ nói phù phiếm…;… tham dục, có không tham dục…;… sân tâm, có không sân tâm…;… tà kiến, có chánh kiến…;… tà tư duy, có chánh tư duy…;… tà ngữ, có chánh ngữ…;… tà nghiệp, có chánh nghiệp…;… tà mạng, có chánh mạng…;… tà tinh tấn, có chánh tinh tấn…;… tà niệm, có chánh niệm…;… tà định, có chánh định…;… tà trí, có chánh trí…;… tà giải thoát, có chánh giải thoát…;… bị hôn trầm thụy miên chi phối, có không bị hôn trầm thụy miên chi phối…;… trạo hối, có không trạo hối…;… nghi hoặc, có trừ diệt nghi hoặc…;… phẫn nộ, có không phẫn nộ…;… oán hận, có không oán hận…;… hư ngụy, có không hư ngụy…;… não hại, có không não hại…;… tật đố, có không tật đố…;… xan tham, có không xan tham…;… man trá, có không man trá…;… khi cuống, có không khi cuống…;… ngoan cố, có không ngoan cố… cấp tháo, có không cấp tháo…;… khó nói, có không khó nói…;… ác hữu, có thiện hữu…;… phóng dật, có không phóng dật…;… bất tín, có tín tâm…;… không xấu hổ, có xấu hổ…;… không sợ hãi, có sợ hãi…;… nghe ít, có nghe nhiều…;… biếng nhác, có siêng năng…;… thất niệm, có an trú niệm…;… liệt tuệ, có thành tựu tuệ… (44) Ðối với con người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, có không nhiễm thế tục, không

cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả đối trị.

(CON ĐƯỜNG ĐI LÊN)

15. "Này Cunda, cũng như tất cả các trạng thái bất thiện (unwholesome states) đều dẫn xuống và tất cả các trạng thái thiện đều dẫn lên, cũng vậy:

(1) Một người hay tàn ác có sự không tàn ác để dẫn người ấy đi lên.

(2) Một người hay sát sinh có sự không sát sinh để dẫn người ấy đi lên.

(3-43) Một người hay…để dẫn người ấy đi lên.

(44) Một người bám chặt vào quan điểm của mình, giữ chúng một cách cố chấp và khó từ bỏ chúng, có sự không bám chặt vào quan điểm của mình, không giữ chúng một cách cố chấp và dễ dàng từ bỏ chúng, để dẫn người ấy đi lên.

(Hướng thượng)

Này Cunda, ví như các bất thiện pháp, tất cả đều hướng hạ, còn các thiện pháp, tất cả đều hướng thượng. Cũng vậy, này Cunda:

(1) Con người không làm hại, hướng thượng đối với người làm hại, con người từ bỏ sát sanh, hướng thượng đối với người sát sanh. (2) Con người từ bỏ lấy của không cho, hướng thượng đối với người lấy của không cho. (3-43) Con người … (như trên)…
(44) Con người không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, hướng thượng đối với người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả.

(CON ĐƯỜNG DẬP TẮT)

16. "Này Cunda, một người mà bản thân đang chìm trong bùn thì không thể kéo người khác đang chìm trong bùn ra được; một người mà bản thân không chìm trong bùn thì có thể kéo người khác đang chìm trong bùn ra được. Một người mà bản thân chưa được thuần hóa (untamed), chưa được rèn luyện (undisciplined), [với các phiền não (defilements)] chưa được dập tắt, thì không thể thuần hóa người khác, rèn luyện người khác, và giúp dập tắt [phiền não của người khác]; một người mà bản thân đã được thuần hóa, đã được rèn luyện, [với các phiền não] đã được dập tắt, thì có thể thuần hóa người khác, rèn luyện người khác, và giúp dập tắt [phiền não của người khác]. Cũng vậy:

(1) Một người hay tàn ác có sự không tàn ác để dập tắt nó.

(2) Một người hay sát sinh có sự không sát sinh để dập tắt nó.

(3-43) Một người hay…để dập tắt nó.

(44) Một người bám chặt vào quan điểm của mình, giữ chúng một cách cố chấp và khó từ bỏ chúng, có sự không bám chặt vào quan điểm của mình, không giữ chúng một cách cố chấp và dễ dàng từ bỏ chúng, để dập tắt nó.

(Pháp môn giải thoát)

Này Cunda, con người tự mình bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy không thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không rơi vào bùn lầy, có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy có thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy không xảy ra. Một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy xảy ra. Cũng vậy, này Cunda:

(1) Ðối với người làm hại, không làm hại đưa đến hoàn toàn giải thoát; đối với con người sát sanh, từ bỏ sát sanh đưa đến hoàn toàn giải thoát. (2) Ðối với con người lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho đưa đến hoàn toàn giải thoát. (3-43) Ðối với con người không phạm hạnh, sống phạm hạnh…; đối với con người nói láo, từ bỏ nói láo…; đối với con người nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi…; đối với con người ác khẩu, từ bỏ nói ác khẩu…; đối với con người nói phù phiếm, từ bỏ nói phù phiếm…; đối với con người có tham dục, không tham dục…; đối với con người có sân tâm, không sân tâm…; đối với con người có tà kiến, chánh kiến…; đối với con người có tà tư duy, chánh tư duy…; đối với con người có tà ngữ, chánh ngữ…; đối với con người có tà nghiệp, chánh nghiệp…; đối với con người có tà mạng, chánh mạng…; đối với con người có tà tinh tấn, chánh tinh tấn…; đối với con người có tà niệm, chánh niệm…; đối với con người có tà định, chánh định…; đối với con người có tà trí, chánh trí…; đối với con người có tà giải thoát, chánh giải thoát…; đối với con người bị hôn trầm thụy miên chi phối, không bị hôn trầm thụy miên chi phối…; đối với con người trạo hối, không trạo hối…; đối với con người nghi hoặc, không nghi hoặc…; đối với con người phẫn nộ, không phẫn nộ…; đối với con người oán hận, không oán hận…; đối với con người hư ngụy, không hư ngụy…; đối với con người não hại, không não hại…; đối với con người tật đố, không tật đố…; đối với con người xan tham, không xan tham…; đối với con người man trá, không man trá…; đối với con người khi cuống, không khi cuống…; đối với con người ngoan cố, không ngoan cố…; đối với con người cấp tháo, không cấp tháo …; đối với con người khó nói, dễ nói…; đối với con người ác hữu, thiện hữu…; đối với con người phóng dật, không phóng dật…; đối với con người bất tín, tín tâm…; đối với con người không xấu hổ, có xấu hổ…; đối với con người không sợ hãi, có sợ hãi…; đối với con người nghe ít, nghe nhiều…; đối với con người biếng nhác, siêng năng…; đối với con người thất niệm, an trú niệm…; đối với con người liệt tuệ, thành tựu trí tuệ… (44) Ðối với con người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, đưa đến hoàn toàn giải thoát.

(KẾT LUẬN)

17. "Vậy này Cunda, con đường gọt giũa đã được Ta chỉ dạy, con đường hướng tâm đã được Ta chỉ dạy, con đường tránh xa đã được Ta chỉ dạy, con đường đi lên đã được Ta chỉ dạy, và con đường dập tắt đã được Ta chỉ dạy.

18. “Những gì một vị thầy (teacher) nên làm cho các đệ tử (disciples) của mình vì lòng từ bi (compassion), tìm kiếm sự tốt đẹp cho họ và có lòng từ bi đối với họ, thì Ta đã làm cho các ông, này Cunda. Có những gốc cây này, có những túp lều trống này. Hãy thiền định (Meditate), này Cunda, đừng trì hoãn, kẻo sau này các ông sẽ hối tiếc. Đây là lời chỉ dạy của chúng ta cho các ông.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Tôn giả Mahā Cunda hoan hỷ và hài lòng với những lời của Đức Phật.

(Kết luận)

Này Cunda, như vậy Ta đã giảng pháp môn đoạn giảm, đã giảng pháp môn khởi tâm, đã giảng pháp môn đối trị, đã giảng pháp môn hướng thượng, đã giảng pháp môn giải thoát hoàn toàn.

Này Cunda, những gì bậc Ðạo Sư phải làm, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng cho các Người. Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những nhà không tịnh. Này Cunda, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta cho các Người.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Maha Cunda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Gọt giũa / Sallekha / Effacement: Sự loại bỏ, gột rửa những điều bất thiện.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu: Người tu hành nam trong Phật giáo.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Discipline: Giáo lý, lời dạy của Đức Phật.
  • Bậc Thánh Nhân / Ariya / Noble One: Người đã đạt được các tầng Thánh, giải thoát khỏi khổ đau.
  • Sơ thiền / paṭhamajjhāna / first jhāna: Trạng thái thiền định đầu tiên, có tầm, tứ, hỷ, lạc.
  • Nhị thiền / dutiyajjhāna / second jhāna: Trạng thái thiền định thứ hai, không có tầm và tứ, có hỷ, lạc.
  • Tam thiền / tatiyajjhāna / third jhāna: Trạng thái thiền định thứ ba, có xả, chánh niệm, lạc.
  • Tứ thiền / catutthajjhāna / fourth jhāna: Trạng thái thiền định thứ tư, xả niệm thanh tịnh.
  • Không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana / base of infinite space: Một trong các tầng thiền vô sắc, nơi hành giả nhận thức không gian là vô biên.
  • Thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana / base of infinite consciousness: Một trong các tầng thiền vô sắc, nơi hành giả nhận thức thức là vô biên.
  • Vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana / base of nothingness: Một trong các tầng thiền vô sắc, nơi hành giả nhận thức không có gì cả.
  • Phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana / base of neither-perception-nor-non-perception: Một trong các tầng thiền vô sắc, nơi hành giả không còn tưởng rõ ràng, cũng không phải không có tưởng.
  • Tầm / vitakka / applied thought: Hướng tâm đến đối tượng.
  • Tứ / vicāra / sustained thought: Duy trì sự chú tâm trên đối tượng.
  • Hỷ / Pīti / rapture: Cảm giác hân hoan, phấn chấn.
  • Lạc / Sukha / pleasure: Cảm giác dễ chịu, thoải mái.
  • Xả / Upekkhā / equanimity: Trạng thái tâm bình thản, không dao động.
  • Chánh niệm / Sati / mindfulness: Sự ghi nhớ, chú tâm vào hiện tại.
  • Tỉnh giác / Sampajañña / fully aware: Sự nhận biết rõ ràng về những gì đang diễn ra.
  • Định / Samādhi / concentration: Sự tập trung tâm vào một đối tượng.
  • Tà kiến / Micchā-diṭṭhi / wrong view: Quan điểm sai lầm, không đúng với sự thật.
  • Chánh kiến / Sammā-diṭṭhi / right view: Quan điểm đúng đắn, phù hợp với sự thật.
  • Tà tư duy / Micchā-saṅkappa / wrong intention: Suy nghĩ sai lầm, có hại.
  • Chánh tư duy / Sammā-saṅkappa / right intention: Suy nghĩ đúng đắn, có lợi.
  • Tà ngữ / Micchā-vācā / wrong speech: Lời nói sai lầm, có hại.
  • Chánh ngữ / Sammā-vācā / right speech: Lời nói đúng đắn, có lợi.
  • Tà nghiệp / Micchā-kammanta / wrong action: Hành động sai lầm, có hại.
  • Chánh nghiệp / Sammā-kammanta / right action: Hành động đúng đắn, có lợi.
  • Tà mạng / Micchā-ājīva / wrong livelihood: Cách kiếm sống sai lầm, có hại.
  • Chánh mạng / Sammā-ājīva / right livelihood: Cách kiếm sống đúng đắn, có lợi.
  • Tà tinh tấn / Micchā-vāyāma / wrong effort: Nỗ lực sai lầm, có hại.
  • Chánh tinh tấn / Sammā-vāyāma / right effort: Nỗ lực đúng đắn, có lợi.
  • Tà niệm / Micchā-sati / wrong mindfulness: Chú tâm sai lầm, có hại.
  • Chánh niệm / Sammā-sati / right mindfulness: Chú tâm đúng đắn, có lợi.
  • Tà định / Micchā-samādhi / wrong concentration: Tập trung sai lầm, có hại.
  • Chánh định / Sammā-samādhi / right concentration: Tập trung đúng đắn, có lợi.
  • Tà trí / Micchā-ñāṇa / wrong knowledge: Kiến thức sai lầm.
  • Chánh trí / Sammā-ñāṇa / right knowledge: Kiến thức đúng đắn.
  • Tà giải thoát / Micchā-vimutti / wrong deliverance: Giải thoát sai lầm.
  • Chánh giải thoát / Sammā-vimutti / right deliverance: Giải thoát đúng đắn.
  • Hôn trầm, thụy miên / Thīna-middha / sloth and torpor: Trạng thái uể oải, buồn ngủ, thiếu tỉnh táo.
  • Trạo cử / Uddhacca / restlessness: Trạng thái tâm không yên, xao động.
  • Sân hận / Byāpāda / ill will: Tâm trạng tức giận, thù hận.
  • Từ bi / Mettā / compassion: Lòng thương yêu, mong muốn người khác hạnh phúc.
  • Phiền não / Kilesa / defilements: Những trạng thái tâm bất thiện, gây ra khổ đau.