Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 15. Suy xét

(Anumāna Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Có một lần, tôn giả Mahā Moggallāna đang sống ở xứ Bhagga, tại Sumsumāragira, trong Rừng Bhesakalā, Vườn Nai. Tại đó, ngài nói với các vị tỳ kheo (bhikkhu - nhà sư) như sau: “Này các bạn tỳ kheo.” - “Thưa bạn,” họ đáp lại. Tôn giả Mahā Moggallāna nói như sau:

2. "Này các bạn, mặc dù một vị tỳ kheo có thể thỉnh cầu như vầy: ‘Xin các vị tôn kính hãy khuyên bảo tôi, [^212] tôi cần được các vị tôn kính khuyên bảo,’ nhưng nếu vị ấy khó khuyên bảo và có những tính cách khiến vị ấy khó khuyên bảo, nếu vị ấy thiếu kiên nhẫn và không tiếp thu lời dạy một cách đúng đắn, thì những người bạn đồng tu (companions in the holy life) của vị ấy sẽ nghĩ rằng vị ấy không nên được khuyên bảo hay chỉ dạy, họ coi vị ấy là người không đáng tin cậy.

3. "Những tính cách nào khiến vị ấy khó khuyên bảo?

(1) Ở đây, một vị tỳ kheo có những mong muốn xấu xa và bị những mong muốn xấu xa đó chi phối; [^213] đây là một tính cách khiến vị ấy khó khuyên bảo.

(2) Thêm nữa, một vị tỳ kheo tự khen mình và chê bai người khác; đây là một tính cách khiến vị ấy khó khuyên bảo.

(3) Thêm nữa, một vị tỳ kheo hay giận dữ và bị cơn giận chi phối; đây là một tính cách…

(4) Thêm nữa, một vị tỳ kheo hay giận dữ, và vì giận dữ mà sinh thù hận…

(5) Thêm nữa, một vị tỳ kheo hay giận dữ, và vì giận dữ mà trở nên cố chấp…

(6) Thêm nữa, một vị tỳ kheo hay giận dữ, và thốt ra những lời lẽ gần như giận dữ…

(7) Thêm nữa, một vị tỳ kheo bị khiển trách, và vị ấy chống đối người khiển trách…

(8) Thêm nữa, một vị tỳ kheo bị khiển trách, và vị ấy bôi nhọ người khiển trách…

(9) Thêm nữa, [96] một vị tỳ kheo bị khiển trách, và vị ấy khiển trách lại người khiển trách…

(10) Thêm nữa, một vị tỳ kheo bị khiển trách, và vị ấy quanh co, nói lảng sang chuyện khác, và tỏ ra giận dữ, thù hằn, và cay đắng…

(11) Thêm nữa, một vị tỳ kheo bị khiển trách, và vị ấy không giải thích cho hành vi của mình…

(12) Thêm nữa, một vị tỳ kheo tỏ ra khinh thường và hống hách…

(13) Thêm nữa, một vị tỳ kheo hay ghen tị và keo kiệt…

(14) Thêm nữa, một vị tỳ kheo gian dối và lừa lọc…

(15) Thêm nữa, một vị tỳ kheo ngoan cố và kiêu ngạo…

(16) Thêm nữa, một vị tỳ kheo bám chặt vào quan điểm riêng của mình, giữ khư khư chúng, và khó lòng từ bỏ chúng; đây là một tính cách khiến vị ấy khó khuyên bảo. [^214]

"Này các bạn, đây được gọi là những tính cách khiến vị ấy khó khuyên bảo.

15. KINH TƯ LƯỢNG

15. KINH TƯ LƯỢNG (Anumàna Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Tôn giả Mahamoggallana sống giữa những người thuộc dòng họ Bhagga, tại núi Sumsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Ở đây, Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên) gọi các Tỷ-kheo:

–“Chư Hiền Tỷ-kheo.”

–“Thưa Hiền giả.”

Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahamoggallana. Tôn giả Mahamoggallana nói như sau:

– Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo thỉnh nguyện: “Mong rằng chư Tôn giả nói với tôi, mong rằng tôi được chư Tôn giả nói!” Nhưng nếu vị ấy là một người khó nói, đầy đủ những tánh khiến người ấy trở thành khó nói, khó kham nhẫn, không cung kính đón nhận khi được giảng dạy thì các vị đồng phạm hạnh nghĩ rằng, Tỷ-kheo ấy không đáng nói đến, nghĩ rằng Tỷ-kheo ấy không đáng được giáo huấn, nghĩ rằng không nên đặt lòng tin vào người ấy.

Chư Hiền, thế nào là những tánh khiến người ấy trở thành khó nói?

(1) Chư Hiền, ở đây, vị Tỷ-kheo có ác dục bị ác dục chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo có ác dục, bị ác dục chi phối, như vậy là một tánh khiến trở thành khó nói.

(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo khen mình chê người; chư Hiền, Tỷ-kheo khen mình chê người, như vậy là một tánh khiến trở thành khó nói.

(3) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối, như vậy là một tánh khiến trở thành khó nói.

(4) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành người có hiềm hận; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành người có hiềm hận, như vậy là… khó nói.

(5) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp, như vậy là… khó nói.

(6) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ; chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ… khó nói.

(7) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chống đối vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(8) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chỉ trích vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(9) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(10) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn của mình; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(11) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội; chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… khó nói.

(12) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo hư ngụy và não hại; chư Hiền, Tỷ-kheo hư ngụy và não hại… khó nói.

(13) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo tật đố và xan tham; chư Hiền, Tỷ-kheo tật đố và xan tham… khó nói.

(14) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo lừa đảo và lường gạt; chư Hiền, Tỷ-kheo lừa đảo và lường gạt… khó nói.

(15) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo ngoan mê và quá mạn; chư Hiền, Tỷ-kheo ngoan mê và quá mạn… khó nói.

(16) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả; chư Hiền, Tỷ- kheo chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, như vậy là một tánh trở thành khó nói.

Chư Hiền, như vậy được gọi là những tánh khiến trở thành khó nói.

4. "Này các bạn, mặc dù một vị tỳ kheo không thỉnh cầu như vầy: ‘Xin các vị tôn kính hãy khuyên bảo tôi; tôi cần được các vị tôn kính khuyên bảo,’ nhưng nếu vị ấy dễ khuyên bảo và có những tính cách khiến vị ấy dễ khuyên bảo, nếu vị ấy kiên nhẫn và tiếp thu lời dạy một cách đúng đắn, thì những người bạn đồng tu của vị ấy sẽ nghĩ rằng vị ấy nên được khuyên bảo và chỉ dạy, và họ coi vị ấy là người đáng tin cậy.

5. "Những tính cách nào khiến vị ấy dễ khuyên bảo?

(1) Ở đây, một vị tỳ kheo không có những mong muốn xấu xa và không bị những mong muốn xấu xa đó chi phối; đây là một tính cách khiến vị ấy dễ khuyên bảo.

(2) Thêm nữa, một vị tỳ kheo không tự khen mình cũng không chê bai người khác; đây là một tính cách…

(3) Vị ấy không giận dữ cũng không để cơn giận chi phối mình…

(4) Vị ấy không giận dữ hoặc vì giận dữ mà sinh thù hận…

(5) Vị ấy không giận dữ hoặc vì giận dữ mà trở nên cố chấp…

(6) Vị ấy không giận dữ, và không thốt ra những lời lẽ gần như giận dữ…

(7) Vị ấy bị khiển trách, và không chống đối người khiển trách…

(8) Vị ấy bị khiển trách, và không bôi nhọ người khiển trách…[97]

(9) Vị ấy bị khiển trách, và không khiển trách lại người khiển trách…

(10) Vị ấy bị khiển trách, và không quanh co, nói lảng sang chuyện khác, và tỏ ra giận dữ, thù hằn, và cay đắng…

(11) Vị ấy bị khiển trách, và không không giải thích cho hành vi của mình…

(12) Vị ấy không tỏ ra khinh thường hoặc hống hách…

(13) Vị ấy không ghen tị hoặc keo kiệt…

(14) Vị ấy không gian dối hoặc lừa lọc…

(15) Vị ấy không ngoan cố hoặc kiêu ngạo…

(16) Thêm nữa, một vị tỳ kheo không bám chặt vào quan điểm riêng của mình hoặc giữ khư khư chúng, và vị ấy dễ dàng từ bỏ chúng; đây là một tính cách khiến vị ấy dễ khuyên bảo.

"Này các bạn, đây được gọi là những tính cách khiến vị ấy dễ khuyên bảo.

Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo không thỉnh nguyện: “Mong rằng chư Tôn giả nói với tôi, mong rằng tôi được chư Tôn giả nói!”; Và nếu vị ấy là một người dễ nói, đầy đủ những đức tánh khiến người ấy trở thành dễ nói, kham nhẫn, cung kính đón nhận khi được nghe giảng dạy, thì các vị đồng phạm hạnh nghĩ rằng, Tỷ- kheo ấy đáng được nói đến, nghĩ rằng Tỷ-kheo ấy đáng được giáo huấn, nghĩ rằng nên đặt lòng tin vào người ấy.

Chư Hiền, thế nào là những đức tánh khiến người ấy trở thành dễ nói?

(1) Chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo không có ác dục, không bị ác dục chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo không có ác dục, không bị ác dục chi phối, như vậy là một đức tánh khiến trở thành dễ nói.

(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không khen mình chê người; chư Hiền, Tỷ-kheo không khen mình chê người… dễ nói.

(3) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ,… trở thành dễ nói.

(4) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ… trở thành dễ nói.

(5) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ… trở thành dễ nói.

(6) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không vì phẫn nộ thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ; chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ… trở thành dễ nói.

(7) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, không trở lại chống đối vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ- kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(8) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không trở lại chỉ trích vị đã khiển trách mình; chư Hiền, Tỷ- kheo bị buộc tội … trở thành dễ nói.

(9) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình; chư Hiền, Tỷ- kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(10) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn của mình, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(11) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội… trở thành dễ nói.

(12) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không hư ngụy và não hại, chư Hiền, Tỷ-kheo không hư ngụy và não hại… trở thành dễ nói.

(13) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không tật đố và xan tham, chư Hiền, Tỷ-kheo không tật đố và xan tham … trở thành dễ nói.

(14) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không khi cuống và lường gạt. Chư Hiền, Tỷ-kheo không khi cuống và lường gạt… trở thành dễ nói.

(15) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không ngoan mê và quá mạn, chư Hiền, Tỷ-kheo không ngoan mê và quá mạn… trở thành dễ nói.

(16) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, chư Hiền, Tỷ-kheo không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, như vậy là một đức tánh trở thành dễ nói.

Chư Hiền, như vậy được gọi là những đức tánh khiến trở thành dễ nói.

6. "Giờ đây, này các bạn, một vị tỳ kheo nên tự suy xét về bản thân mình theo cách sau: [^215]

(1) ‘Một người có những mong muốn xấu xa và bị những mong muốn xấu xa đó chi phối thì thật khó ưa và khó chịu đối với tôi. Nếu tôi có những mong muốn xấu xa và bị những mong muốn xấu xa đó chi phối, tôi sẽ trở nên khó ưa và khó chịu đối với người khác.’ Một vị tỳ kheo biết điều này nên khơi dậy tâm trí của mình như sau: ‘Tôi sẽ không có những mong muốn xấu xa và không bị những mong muốn xấu xa đó chi phối.’

(2-16) ‘Một người tự khen mình và chê bai người khác… [98 ]…Một người bám chặt vào quan điểm riêng của mình, giữ khư khư chúng, và khó lòng từ bỏ chúng thì thật khó ưa và khó chịu đối với tôi. Nếu tôi bám chặt vào quan điểm riêng của mình, giữ khư khư chúng, và khó lòng từ bỏ chúng, tôi sẽ trở nên khó ưa và khó chịu đối với người khác.’ Một vị tỳ kheo biết điều này nên khơi dậy tâm trí của mình như sau: ‘Tôi sẽ không bám chặt vào quan điểm riêng của mình, giữ khư khư chúng, và tôi sẽ dễ dàng từ bỏ chúng.’

(1) Chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo cần phải tư lượng tự ngã với tự ngã như sau: “Người này có ác dục, bị ác dục chi phối nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta có ác dục, bị ác dục chi phối, các người khác sẽ không ưa ta, không thích ta”. Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không có ác dục, sẽ không bị ác dục chi phối.”

(2) “Người này khen mình chê người, nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta khen mình chê người, các người khác sẽ không ưa ta, sẽ không thích ta”. Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy, cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không khen mình chê người.”

(3) “Người này có phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối, nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối”;

(4) “Người này phẫn nộ, vì vị phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận”;

(5) “Người này phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp”;

(6) “Người này phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ nên Ta không ưa người ấy… Ta sẽ không phẫn nộ, không thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ”;

(7) “Người này bị buộc tội, trở lại chống đối vị đã buộc tội mình, nên Ta không ưa người ấy… Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chống đối vị buộc tội mình”;

(8) “Người này bị buộc tội trở lại chỉ trích vị đã khiển trách mình, nên Ta không ưa người ấy… Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chỉ trích vị buộc tội mình”;

(9) “Người này bị buộc tội, trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình, nên ta không ưa người ấy… Ta có bị buộc tội, sẽ không trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình”;

(10) “Người này bị buộc tội, tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của mình, nên ta không ưa người ấy… Ta bị buộc tội sẽ không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, không trả lời ra ngoài vấn đề, và không để lộ phẫn nộ, sân hận bất mãn của mình”;

(11) “Người này bị buộc tội, không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội biết nên ta không ưa người ấy… Ta bị buộc tội, sẽ giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội biết”;

(12) “Người này hư ngụy và não hại nên Ta không ưa người ấy… Ta sẽ không hư ngụy và não hại”;

(13) “Người này tật đố và xan tham nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không tật đố và xan tham”;

(14) “Người này khi cuống và lường gạt nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không khi cuống và lường gạt”;

(15) “Người này ngoan mê và quá mạn nên ta không ưa người ấy… Ta sẽ không ngoan mê và quá mạn”;

(16) “Người này chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả nên ta không ưa người ấy, không thích người ấy. Và nếu ta chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, các người khác sẽ không ưa ta, không thích ta”. Chư Hiền, Tỷ-kheo khi biết vậy, cần phải phát tâm như sau: “Ta sẽ không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”.

7. "Giờ đây, này các bạn, một vị tỳ kheo nên tự xem xét lại bản thân như sau:

(1) ‘Tôi có những mong muốn xấu xa và có bị những mong muốn xấu xa đó chi phối không?’ Nếu, khi tự xem xét lại bản thân, vị ấy biết rằng: ‘Tôi có những mong muốn xấu xa, tôi bị những mong muốn xấu xa đó chi phối,’ thì vị ấy nên nỗ lực từ bỏ những trạng thái xấu xa, không tốt đẹp đó. Nhưng nếu, khi tự xem xét lại bản thân, vị ấy biết rằng: ‘Tôi không có những mong muốn xấu xa, tôi không bị những mong muốn xấu xa đó chi phối,’ thì vị ấy có thể sống hạnh phúc và hoan hỷ, rèn luyện ngày đêm trong những trạng thái tốt đẹp.

(2-16) Thêm nữa, một vị tỳ kheo nên tự xem xét lại bản thân như sau: ‘Tôi có tự khen mình và chê bai người khác không?’…[99]…‘Tôi có bám chặt vào quan điểm riêng của mình, giữ khư khư chúng, và khó lòng từ bỏ chúng không?’ Nếu, khi tự xem xét lại bản thân, vị ấy biết rằng: ‘Tôi bám chặt vào quan điểm riêng của mình…,’ thì [100] vị ấy nên nỗ lực từ bỏ những trạng thái xấu xa, không tốt đẹp đó. Nhưng nếu, khi tự xem xét lại bản thân, vị ấy biết rằng: ‘Tôi không bám chặt vào quan điểm riêng của mình…’ thì vị ấy có thể sống hạnh phúc và hoan hỷ, rèn luyện ngày đêm trong những trạng thái tốt đẹp.

8. "Này các bạn, khi một vị tỳ kheo tự xem xét lại bản thân như vậy, nếu vị ấy thấy rằng những trạng thái xấu xa, không tốt đẹp này chưa được từ bỏ hết trong bản thân mình, thì vị ấy nên nỗ lực từ bỏ tất cả chúng. Nhưng nếu, khi tự xem xét lại bản thân như vậy, vị ấy thấy rằng tất cả chúng đã được từ bỏ hết trong bản thân mình, thì vị ấy có thể sống hạnh phúc và hoan hỷ, rèn luyện ngày đêm trong những trạng thái tốt đẹp. [^216]

“Giống như khi một người phụ nữ - hoặc một người đàn ông - trẻ tuổi, thích trang điểm, khi nhìn hình ảnh khuôn mặt của mình trong một tấm gương sáng rõ hoặc trong một chậu nước trong, thấy một vết nhọ hoặc một vết bẩn trên đó, cô ấy sẽ cố gắng loại bỏ nó, nhưng nếu cô ấy không thấy vết nhọ hoặc vết bẩn nào trên đó, cô ấy trở nên vui mừng như sau: ‘Thật là một điều may mắn cho tôi vì nó sạch sẽ’; cũng vậy, khi một vị tỳ kheo tự xem xét lại bản thân như vậy…thì vị ấy có thể sống hạnh phúc và hoan hỷ, rèn luyện ngày đêm trong những trạng thái tốt đẹp.”

Đó là những gì tôn giả Mahā Moggallāna đã nói. Các vị tỳ kheo hài lòng và hoan hỷ với lời của tôn giả Mahā Moggallāna.

Chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo cần phải quán sát tự ngã với tự ngã như sau:

(1) “Không biết ta có ác dục, có bị ác dục chi phối không?” Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có ác dục và bị ác dục chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có ác dục, không bị ác dục chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát tự ngã với tự ngã như sau: "Không biết ta có khen mình chê người hay không? Ta không khen mình chê người… các thiện pháp.

(3) Lại nữa… không biết ta có phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối không…? Ta không có phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối… các thiện pháp.

(4) Lại nữa… không biết ta có phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân, trở thành có hiềm hận không…? Ta không có phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân, trở thành người hiềm hận… các thiện pháp.

(5) Lại nữa… không biết ta có phẫn nộ làm nhân, trở thành người cố chấp…? Ta không có phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân, trở thành người cố chấp… các thiện pháp.

(6) Lại nữa,… không biết ta có phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ…? Ta không có phẫn nộ,

không thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ… các thiện pháp.

(7) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chống đối vị đã buộc tội ta…? Ta bị buộc tội, ta không trở lại chống vị đã buộc tội ta… các thiện pháp.

(8) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chỉ trích vị đã buộc tội ta…? Ta bị buộc tội, ta không trở lại chỉ trích vị đã buộc tội ta … các thiện pháp.

(9) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta…? Ta bị buộc tội, ta không trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta … các thiện pháp.

(10) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của ta…? Ta bị buộc tội, ta không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, không trả lời ngoài vấn đề, và ta không để lộ sự phẫn nộ, sân hận và bất mãn của ta… các thiện pháp.

(11) Lại nữa… Ta bị buộc tội, không biết ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết… Ta bị buộc tội, Ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết… các thiện pháp.

(12) Lại nữa, không biết ta có hư ngụy và não hại…? Ta không có hư ngụy và não hại… các thiện pháp.

(13) Lại nữa, không biết ta có tật đố và xan tham…? Ta không có tật đố và xan tham… các thiện pháp.

(14) Lại nữa, không biết ta có khi cuống và lường gạt…? Ta không có khi cuống và lường gạt… các thiện pháp.

(15) Lại nữa… không biết ta có ngoan mê và quá mạn…? Ta không có ngoan mê và quá mạn… các thiện pháp".

(16) Lại nữa, chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo cần phải quán sát tự ngã như sau: “Không biết ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả không?” Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ những ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp đã được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Chư Hiền, ví như một phụ nữ hay một đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang điểm, tự quán sát mặt mày của mình trong một tấm kính sạch sẽ và trong suốt, hay trong một bát nước trong sáng. Nếu người ấy thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy tinh tấn đoạn trừ bụi bặm hay cấu uế ấy. Nếu người ấy không thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy sẽ hoan hỷ nghĩ rằng: “Thật sự ta được điều tốt đẹp; thật sự ta được thanh tịnh”. Cũng vậy chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng các ác, bất thiện pháp đã đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Tôn giả Mahamoggallana thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Mahamoggallana.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nhà sư Phật giáo.
  • Tôn giả / venerable / venerable: Cách gọi kính trọng đối với một nhà sư.
  • Đồng tu / companions in the holy life / companions in the holy life: Những người cùng tu tập theo Phật giáo.
  • Trạng thái / state / state: Chỉ tình trạng tâm lý, cảm xúc.