Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 27. Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi

(Cūlahatthipadopama Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. [^319] Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá Vệ), trong khu rừng Jeta (Kỳ Đà), vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

2. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Jāṇussoni (Xà-nư-thủ-ni) đang đi ra khỏi thành Xá Vệ vào giữa trưa trên một chiếc xe ngựa toàn màu trắng do những con ngựa trắng kéo. Ông thấy du sĩ Pilotika (Tỳ-lô-đề-ca) đi đến từ đằng xa và hỏi: "Thưa thầy Vacchāyana (Bạt-già-di-na), thầy đi đâu về vào giữa trưa thế này?"320

“Thưa ngài, tôi đi từ chỗ Sa-môn Gotama (Cù-đàm) về.”

“Thầy Vacchāyana nghĩ gì về trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama? Ngài ấy có trí tuệ, phải không?”

“Thưa ngài, tôi là ai mà biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama? Chắc hẳn phải là người ngang hàng với Ngài ấy mới biết được trí tuệ sáng suốt của Sa-môn Gotama.”

“Thầy Vacchāyana ca ngợi Sa-môn Gotama bằng lời ca ngợi cao quý thật đấy.”

“Thưa ngài, tôi là ai mà ca ngợi Sa-môn Gotama? Sa-môn Gotama được những người đáng ca ngợi ca ngợi là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.”

“Thầy Vacchāyana thấy những lý do gì mà thầy có lòng tin vững chắc như vậy nơi Sa-môn Gotama?”

27. TIỂU KINH DỤ DẤU CHÂN VOI

27. TIỂU KINH DỤ DẤU CHÂN VOI (Cùlahatthipadopama Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika:

– Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy?

– Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây.

– Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa- môn Gotama là bậc có trí không?

– Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.

– Tôn giả Vacchayana thật sự tán thán Sa-môn Gotama với lời tán thán tối thượng.

– Này Tôn giả, tôi là ai mà có thể tán thán Sa-môn Gotama, bậc tối thượng được tán thán trong các bậc được tán thán, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.

– Nhưng Tôn giả Vacchayana thấy được lý do gì ở Sa-môn Gotama mà Tôn giả có lòng tin tưởng như vậy?

3. "Thưa ngài, ví như một người thợ rừng bắt voi lão luyện đi vào rừng voi và thấy trong rừng voi [176] một dấu chân voi lớn, dài và rộng. Người ấy sẽ đi đến kết luận: ‘Quả thật, đây là một con voi đực to lớn.’ Cũng vậy, khi tôi thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn, Chánh Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng chúng đang thực hành con đường tốt đẹp.’ Bốn dấu chân đó là gì?

4. "Thưa ngài, tôi đã thấy ở đây một số quý tộc uyên bác, thông minh, hiểu biết về giáo lý của những người khác, sắc bén như những người bắn cung chẻ sợi tóc; họ đi khắp nơi, dường như, phá hủy quan điểm của người khác bằng trí tuệ sắc bén của họ. Khi họ nghe: ‘Sa-môn Gotama sẽ đến thăm làng hoặc thị trấn nào đó,’ họ đặt ra một câu hỏi như sau: ‘Chúng ta sẽ đến Sa-môn Gotama và hỏi Ngài câu hỏi này. Nếu Ngài được hỏi như thế này, Ngài sẽ trả lời như thế này, và vì vậy chúng ta sẽ bác bỏ giáo lý của Ngài theo cách này; và nếu Ngài được hỏi như thế kia, Ngài sẽ trả lời như thế kia, và vì vậy chúng ta sẽ bác bỏ giáo lý của Ngài theo cách đó.’

"Họ nghe: ‘Sa-môn Gotama đã đến thăm làng hoặc thị trấn nào đó.’ Họ đến gặp Sa-môn Gotama, và Sa-môn Gotama giảng dạy, thúc giục, khích lệ và khuyến khích họ bằng một bài pháp thoại. Sau khi được Sa-môn Gotama giảng dạy, thúc giục, khích lệ và khuyến khích bằng một bài pháp thoại, họ thậm chí còn không hỏi Ngài câu hỏi đó, vậy làm sao họ có thể bác bỏ giáo lý của Ngài? Trên thực tế, họ trở thành đệ tử của Ngài. Khi tôi thấy dấu chân đầu tiên này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn, Chánh Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng chúng đang thực hành con đường tốt đẹp.’

5. "Lại nữa, tôi đã thấy một số Bà-la-môn uyên bác, thông minh… Trên thực tế, họ cũng trở thành đệ tử của Ngài. Khi tôi thấy dấu chân thứ hai này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’

6. "Lại nữa, tôi đã thấy một số gia chủ uyên bác, thông minh…[177]… Trên thực tế, họ cũng trở thành đệ tử của Ngài. Khi tôi thấy dấu chân thứ ba này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’

7. "Lại nữa, tôi đã thấy một số Sa-môn uyên bác, thông minh… Họ thậm chí còn không hỏi Ngài câu hỏi đó, vậy làm sao họ có thể bác bỏ giáo lý của Ngài? Trên thực tế, họ xin Sa-môn Gotama cho phép họ xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống đời sống không gia đình, và Ngài cho phép họ xuất gia. Không lâu sau khi họ xuất gia, sống một mình, ẩn dật, tinh tấn, nhiệt tâm và kiên định, bằng cách tự mình chứng ngộ với trực trí, họ ngay trong đời này chứng nhập và an trú vào mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh mà vì mục tiêu đó, các thiện nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống đời sống không gia đình. Họ nói như sau: ‘Chúng ta đã suýt bị lạc đường, chúng ta đã suýt bị diệt vong, vì trước đây chúng ta tự nhận mình là Sa-môn mặc dù chúng ta không thực sự là Sa-môn; chúng ta tự nhận mình là Bà-la-môn mặc dù chúng ta không thực sự là Bà-la-môn; chúng ta tự nhận mình là A-la-hán mặc dù chúng ta không thực sự là A-la-hán. Nhưng bây giờ chúng ta là Sa-môn, bây giờ chúng ta là Bà-la-môn, bây giờ chúng ta là A-la-hán.’ Khi tôi thấy dấu chân thứ tư này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’

“Khi tôi thấy bốn dấu chân này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn, Chánh Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng chúng đang thực hành con đường tốt đẹp.’”

– Này Tôn giả, như một người săn voi thiện xảo vào một khu rừng có voi ở, và thấy một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang. Người đó đi đến kết luận: “Con voi này là con voi lớn”. Cũng vậy, này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”. Thế nào là bốn?

Tôi thấy ở đây có một số Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “'Chúng ta, sau khi đến, sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này”.

Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Ðược Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ nhất này của Sa-môn Gotama, Tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Bà-la-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe… (như trên)… trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ hai này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số gia chủ bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe… (như trên)… trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ ba này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Sa-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa- môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này”. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến ngôi làng này hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Ðược Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định sẵn), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ xin phép Sa-môn Gotama được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sa-môn Gotama cho họ được xuất gia. Ðược xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần, và không bao lâu tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, ngay trong hiện tại, mục đích tối thượng của phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Họ nói như sau: “Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt. Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải là Bà- la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải là bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán”. Khi tôi thấy dấu chân thứ tư của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

8. Khi nghe vậy, Bà-la-môn Jāṇussoni xuống khỏi chiếc xe ngựa toàn màu trắng do những con ngựa trắng kéo, và đặt y trên vai, ông chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và thốt lên lời cảm thán này ba lần: “Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn! Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn! Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn! Có lẽ một lúc nào đó [178] chúng ta có thể gặp Tôn giả Gotama và đàm đạo với Ngài.”

9. Rồi Bà-la-môn Jāṇussoni đi đến Đức Thế Tôn và trao đổi lời chào với Ngài. Khi cuộc nói chuyện lịch sự và thân thiện này kết thúc, ông ngồi xuống một bên và kể lại cho Đức Thế Tôn toàn bộ cuộc trò chuyện của ông với du sĩ Pilotika. Sau đó, Đức Thế Tôn nói với ông: “Ở điểm này, này Bà-la-môn, ví dụ về dấu chân voi vẫn chưa được hoàn thiện một cách chi tiết. Về cách nó được hoàn thiện một cách chi tiết, hãy lắng nghe và chú ý cẩn thận đến những gì Ta sẽ nói.” - “Vâng, thưa Tôn giả,” Bà-la-môn Jāṇussoni trả lời. Đức Thế Tôn nói như sau:

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Janussoni, từ cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, bước xuống, đắp thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn vái lạy, và thốt ra ba lần cảm hứng ngữ sau đây: “Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Rất có thể, chúng ta sẽ gặp Tôn giả Gotama tại một lúc nào, một chỗ nào đó. Rất có thể, sẽ có một cuộc đàm luận”. Rồi Bà-la-môn Janussoni đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni đem tất cả câu chuyện của Du Sĩ Pilotika, thuật lại với Thế Tôn. Sau khi nghe vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Janussoni:

– Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi. Này Bà-la-môn, với tầm mức như thế nào ví dụ dấu chân voi được đầy đủ một cách rộng rãi, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói:

– Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Janussoni vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

10. "Này Bà-la-môn, ví như một người thợ rừng bắt voi đi vào rừng voi và thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài và rộng. Một người thợ rừng bắt voi lão luyện sẽ chưa đi đến kết luận: ‘Quả thật, đây là một con voi đực to lớn.’ Tại sao vậy? Trong rừng voi có những con voi cái nhỏ để lại dấu chân lớn, và đây có thể là một trong những dấu chân của chúng. Người ấy đi theo dấu chân đó và thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài và rộng, và một số vết cào ở trên cao. Một người thợ rừng bắt voi lão luyện vẫn chưa đi đến kết luận: ‘Quả thật, đây là một con voi đực to lớn.’ Tại sao vậy? Trong rừng voi có những con voi cái cao có răng nanh nổi bật và để lại dấu chân lớn, và đây có thể là một trong những dấu chân của chúng. Người ấy đi theo dấu chân đó xa hơn và thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài và rộng, và một số vết cào ở trên cao, và những vết do ngà để lại. Một người thợ rừng bắt voi lão luyện vẫn chưa đi đến kết luận: ‘Quả thật, đây là một con voi đực to lớn.’ Tại sao vậy? Trong rừng voi có những con voi cái cao có ngà và để lại dấu chân lớn, và đây có thể là một trong những dấu chân của chúng. Người ấy đi theo dấu chân đó xa hơn và thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài và rộng, và một số vết cào ở trên cao, và những vết do ngà để lại, và những cành cây bị gãy. Và người ấy thấy con voi đực đó ở gốc cây hoặc ở nơi trống trải, đang đi lại, ngồi hoặc nằm. Người ấy đi đến kết luận: ‘Đây là con voi đực to lớn đó.’

11. "Cũng vậy, [179] này Bà-la-môn, ở đây một Như Lai xuất hiện trên thế gian, bậc Ứng Cúng, bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, đầy đủ minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài tuyên bố thế giới này với chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, thế hệ này với Sa-môn và Bà-la-môn, vua chúa và dân chúng, mà Ngài đã tự mình chứng ngộ với trực trí. Ngài giảng dạy Chánh Pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, và toàn thiện ở phần cuối, với ý nghĩa và văn cú đúng đắn, và Ngài khai mở một đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh.

12. "Một gia chủ hoặc con trai của gia chủ hoặc người sinh ra trong một gia tộc khác nghe Chánh Pháp đó. Khi nghe Chánh Pháp, người ấy có được lòng tin nơi Như Lai. Có được lòng tin đó, người ấy suy nghĩ như sau: ‘Đời sống gia đình chật hẹp và đầy bụi bặm; đời sống xuất gia rộng mở. Thật không dễ dàng, khi sống tại gia, để sống đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh như vỏ ốc xà cừ được đánh bóng. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, và xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống đời sống không gia đình.’ Vào một dịp sau đó, từ bỏ tài sản nhỏ hoặc lớn, từ bỏ gia đình nhỏ hoặc lớn, người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, và xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống đời sống không gia đình.

13. "Sau khi xuất gia như vậy và có được sự tu tập và nếp sống của một tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư), từ bỏ sát sinh, vị ấy không sát sinh; với gậy và vũ khí được bỏ xuống, hiền lành và tử tế, vị ấy sống từ bi với tất cả chúng sinh. Từ bỏ lấy của không cho, vị ấy không lấy của không cho; chỉ lấy những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho, không trộm cắp, vị ấy sống thanh tịnh. Từ bỏ đời sống không phạm hạnh, vị ấy sống phạm hạnh, sống riêng biệt, tránh xa hành vi giao hợp thô tục.

"Từ bỏ nói dối, vị ấy không nói dối; vị ấy nói sự thật, trung thành với sự thật, đáng tin cậy và không lừa dối thế gian. Từ bỏ nói lời chia rẽ, vị ấy không nói lời chia rẽ; vị ấy không lặp lại ở nơi khác những gì vị ấy đã nghe ở đây để chia rẽ [những người đó] với những người này, cũng không lặp lại với những người này những gì vị ấy đã nghe ở nơi khác để chia rẽ [những người này] với những người đó; như vậy vị ấy là người hòa giải những người chia rẽ, người thúc đẩy tình bạn, người thích hòa hợp, vui mừng trong hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, người nói những lời thúc đẩy hòa hợp. Từ bỏ nói lời thô ác, vị ấy không nói lời thô ác; vị ấy nói những lời dịu dàng, dễ nghe, và đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người mong muốn [180] và dễ chịu với nhiều người. Từ bỏ nói lời phù phiếm, vị ấy không nói lời phù phiếm; vị ấy nói đúng thời, nói những gì là sự thật, nói về những gì tốt đẹp, nói về Chánh Pháp và Luật; đúng thời vị ấy nói những lời đáng ghi nhớ, hợp lý, vừa phải và có lợi ích.

"Vị ấy không làm hại hạt giống và cây cối. Vị ấy thực hành ăn chỉ một phần trong ngày, không ăn vào ban đêm và ngoài thời gian thích hợp. [^321] Vị ấy không nhảy múa, ca hát, âm nhạc và các buổi biểu diễn sân khấu. Vị ấy không đeo vòng hoa, làm đẹp mình bằng hương liệu và trang điểm mình bằng dầu thơm. Vị ấy không nằm giường cao và lớn. Vị ấy không nhận vàng và bạc. Vị ấy không nhận ngũ cốc sống. Vị ấy không nhận thịt sống. Vị ấy không nhận phụ nữ và con gái. Vị ấy không nhận nô lệ nam và nữ. Vị ấy không nhận dê và cừu. Vị ấy không nhận gà và lợn. Vị ấy không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Vị ấy không nhận ruộng đất. Vị ấy không đi làm việc vặt và chạy việc. Vị ấy không mua bán. Vị ấy không cân gian, đo lường gian và dùng thước đo gian. Vị ấy không lừa đảo, dối trá, gian lận và lừa bịp. Vị ấy không làm tổn thương, giết hại, trói buộc, cướp bóc, cướp đoạt và bạo lực.

14. "Vị ấy trở nên hài lòng với y phục để bảo vệ thân thể và với đồ ăn khất thực để duy trì dạ dày, và bất cứ nơi nào vị ấy đi, vị ấy chỉ mang theo những thứ này. Giống như một con chim, bất cứ nơi nào nó bay, nó bay với đôi cánh là gánh nặng duy nhất của nó, cũng vậy, tỳ kheo trở nên hài lòng với y phục để bảo vệ thân thể và với đồ ăn khất thực để duy trì dạ dày, và bất cứ nơi nào vị ấy đi, vị ấy chỉ mang theo những thứ này. Có được giới uẩn (aggregate of virtue - tập hợp đạo đức) cao quý này, vị ấy cảm nghiệm trong nội tâm một niềm hạnh phúc không có lỗi lầm.

15. "Khi thấy một sắc (form - hình dạng) bằng mắt, vị ấy không nắm bắt các dấu hiệu và đặc điểm của nó. Vì, nếu vị ấy để nhãn căn (eye faculty - khả năng của mắt) không được bảo vệ, các trạng thái bất thiện, không tốt đẹp của tham lam và sầu muộn có thể xâm nhập vào vị ấy, vị ấy thực hành sự chế ngự nhãn căn, vị ấy bảo vệ nhãn căn, vị ấy thực hiện sự chế ngự nhãn căn. [^322] Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi… Khi chạm một xúc bằng thân… Khi nhận thức một pháp (mind-object - đối tượng của tâm) bằng ý, vị ấy không nắm bắt các dấu hiệu và đặc điểm của nó. Vì, nếu vị ấy để ý căn (mind faculty - khả năng của tâm) không được bảo vệ, các trạng thái bất thiện, không tốt đẹp của tham lam và sầu muộn có thể xâm nhập vào vị ấy, vị ấy thực hành sự chế ngự ý căn, [181] vị ấy bảo vệ ý căn, vị ấy thực hiện sự chế ngự ý căn. Có được sự chế ngự các căn (restraint of the faculties - sự kiềm chế các giác quan) cao quý này, vị ấy cảm nghiệm trong nội tâm một niềm hạnh phúc không bị ô nhiễm.

16. "Vị ấy trở thành người có chánh niệm tỉnh giác (full awareness - nhận thức đầy đủ) khi đi tới và đi lui; người có chánh niệm tỉnh giác khi nhìn về phía trước và nhìn đi nơi khác; người có chánh niệm tỉnh giác khi co duỗi tay chân; người có chánh niệm tỉnh giác khi mặc y và mang y và bát; người có chánh niệm tỉnh giác khi ăn, uống, nhai và nếm; người có chánh niệm tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; người có chánh niệm tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói và im lặng.

– Này Bà-la-môn, ví như một người săn voi vào một khu rừng có voi ở. Người đó thấy một dấu chân voi lớn trong rừng voi, dài bề dài và rộng bề ngang. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó

không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn”. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, và những vật cao đều bị cọ xát. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi, một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, và những vật cao bị ngà voi cắt chém. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn”. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà lớn, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị gãy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: “Con voi này thật là con voi đực lớn”.

Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này, cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài giảng dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.

Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy thành tựu học giới và nếp sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu tình, từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, từ bỏ không phạm hạnh, sống theo phạm hạnh, sống tránh xa (không phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục pháp.

Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, vị ấy nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ trang sức bằng vòng hoa hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức; từ bỏ dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ nhận các hạt

sống; từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai; từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, y bát đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

17. "Có được giới uẩn cao quý này, và sự chế ngự các căn cao quý này, và có được chánh niệm và chánh niệm tỉnh giác (mindfulness and full awareness - chánh niệm và nhận thức đầy đủ) cao quý này, vị ấy tìm đến một nơi ở ẩn dật: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang động trên sườn đồi, bãi tha ma, bụi rậm, không gian mở, đống rơm.

18. "Khi trở về sau khi đi khất thực, sau bữa ăn, vị ấy ngồi xuống, khoanh chân, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Từ bỏ tham ái (covetousness - sự thèm muốn) đối với thế gian, vị ấy sống với tâm không tham ái; vị ấy thanh tịnh tâm khỏi tham ái. [^323] Từ bỏ sân hận (ill will and hatred - ác ý và hận thù), vị ấy sống với tâm không sân hận, từ bi đối với hạnh phúc của tất cả chúng sinh; vị ấy thanh tịnh tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên (sloth and torpor - lười biếng và uể oải), vị ấy sống không hôn trầm thụy miên, nhận thức ánh sáng, chánh niệm và chánh niệm tỉnh giác; vị ấy thanh tịnh tâm khỏi hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá (restlessness and remorse - bồn chồn và hối hận), vị ấy sống không dao động với tâm an tịnh bên trong; vị ấy thanh tịnh tâm khỏi trạo cử hối quá. Từ bỏ nghi (doubt - sự nghi ngờ), vị ấy sống vượt qua nghi, không còn hoang mang về các pháp thiện; vị ấy thanh tịnh tâm khỏi nghi.

Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá, từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

19. "Sau khi từ bỏ năm triền cái (five hindrances - năm chướng ngại) này, những bất tịnh của tâm làm suy yếu trí tuệ, hoàn toàn xa lìa các dục lạc, xa lìa các pháp bất thiện, vị ấy chứng và trú sơ thiền (first jhāna - tầng thiền thứ nhất), một trạng thái hỷ lạc (rapture and pleasure - hỷ và lạc) do ly dục sinh, có tầm (applied thought - suy nghĩ áp đặt) và tứ (sustained thought - suy nghĩ duy trì). Này Bà-la-môn, đây được gọi là dấu chân của Như Lai, một thứ được Như Lai cào xước, một thứ được Như Lai đánh dấu, nhưng một vị thánh đệ tử (noble disciple - đệ tử cao quý) chưa đi đến kết luận: 'Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn, Chánh Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng chúng đang thực hành con đường tốt đẹp. [^324]

20. "Lại nữa, với sự vắng lặng của tầm và tứ, một tỳ kheo chứng và trú nhị thiền (second jhāna - tầng thiền thứ hai), một trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm (singleness of mind - sự tập trung của tâm). Này Bà-la-môn, đây cũng được gọi là dấu chân của Như Lai… nhưng một vị thánh [182] đệ tử chưa đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’

21. "Lại nữa, với sự ly hỷ, trú xả (equanimity - sự cân bằng), chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ (pleasure - niềm vui) mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú (pleasant abiding who has equanimity and is mindful - trú xứ an lạc của những ai có tâm xả và chánh niệm), vị ấy chứng và trú tam thiền (third jhāna - tầng thiền thứ ba). Này Bà-la-môn, đây cũng được gọi là dấu chân của Như Lai…nhưng một vị thánh đệ tử chưa đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’

22. "Lại nữa, với sự xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu (joy and grief - niềm vui và nỗi buồn) đã cảm thọ trước, vị tỳ kheo chứng và trú tứ thiền (fourth jhāna - tầng thiền thứ tư), không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh (purity of mindfulness due to equanimity - sự thanh tịnh của chánh niệm nhờ tâm xả). Này Bà-la-môn, đây cũng được gọi là dấu chân của Như Lai…nhưng một vị thánh đệ tử chưa đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’

23. "Khi tâm định tĩnh (concentrated mind - tâm tập trung) của vị ấy được thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, thoát khỏi phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng minh (knowledge of the recollection of past lives - trí nhớ về các kiếp sống quá khứ). Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình, đó là, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại của thế giới, nhiều kiếp thành của thế giới, nhiều kiếp hoại và thành của thế giới: …(như Kinh số 4, §27)… Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình. Này Bà-la-môn, đây cũng được gọi là dấu chân của Như Lai…nhưng một vị thánh đệ tử chưa đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’ [183]

24. "Khi tâm định tĩnh của vị ấy được thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, thoát khỏi phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến thiên nhãn minh (knowledge of the passing away and reappearance of beings - trí tuệ về sự ra đi và tái xuất hiện của chúng sinh). Với thiên nhãn (divine eye - con mắt thần thánh), thanh tịnh và vượt qua con mắt người thường, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh. Vị ấy hiểu cách chúng sinh luân hồi theo nghiệp của họ như sau:…(như Kinh số 4, §29)… Như vậy, với thiên nhãn, thanh tịnh và vượt qua con mắt người thường, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, và vị ấy hiểu cách chúng sinh luân hồi theo nghiệp của họ. Này Bà-la-môn, đây cũng được gọi là dấu chân của Như Lai…nhưng một vị thánh đệ tử chưa đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn…’

25. "Khi tâm định tĩnh của vị ấy được thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, thoát khỏi phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận minh (knowledge of the destruction of the taints - trí tuệ về sự diệt trừ các lậu hoặc). Vị ấy hiểu như thật: ‘Đây là khổ’;…‘Đây là nguyên nhân của khổ’;…‘Đây là sự diệt khổ’;…‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’;…‘Đây là các lậu hoặc (taints - ô nhiễm)’;…‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’;…‘Đây là sự diệt trừ các lậu hoặc’;…‘Đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc.’

"Này Bà-la-môn, đây cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, một thứ được Như Lai cào xước, một thứ được Như Lai đánh dấu, nhưng một vị thánh đệ tử vẫn chưa đi đến kết luận: ‘Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn, Chánh Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng chúng đang thực hành con đường tốt đẹp.’ Thay vào đó, vị ấy đang trong quá trình đi đến kết luận này. [^325]

26. "Khi vị ấy biết và thấy như vậy, tâm vị ấy giải thoát khỏi dục lậu (taint of sensual desire - ô nhiễm của ham muốn nhục dục), [184] khỏi hữu lậu (taint of being - ô nhiễm của sự tồn tại), và khỏi vô minh lậu (taint of ignorance - ô nhiễm của sự vô minh). Khi tâm được giải thoát, vị ấy có trí tuệ: ‘Tâm đã giải thoát.’ Vị ấy hiểu: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

“Này Bà-la-môn, đây cũng được gọi là dấu chân của Như Lai, một thứ được Như Lai cào xước, một thứ được Như Lai đánh dấu. Chính tại điểm này, một vị thánh đệ tử đã đi đến kết luận: 'Đức Thế Tôn là bậc giác ngộ hoàn toàn, Chánh Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, Tăng chúng đang thực hành con đường tốt đẹp. [^326] Và chính tại điểm này, này Bà-la-môn, ví dụ về dấu chân voi đã được hoàn thiện một cách chi tiết.”

27. Khi nghe vậy, Bà-la-môn Jānussoni nói với Đức Thế Tôn: “Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ Chánh Pháp bằng nhiều cách, như thể Ngài đang dựng đứng lại những gì đã bị lật đổ, phơi bày những gì bị che giấu, chỉ đường cho người bị lạc, hoặc giơ cao ngọn đèn trong bóng tối cho những người có mắt sáng thấy rõ các hình sắc. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Chánh Pháp và quy y Tăng chúng tỳ kheo. Từ nay trở đi, xin Tôn giả Gotama hãy nhớ đến con như một cư sĩ đã quy y Ngài trọn đời.”

Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc, do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai, nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ ràng, chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.

Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa”.

Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, ví

dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi.

Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng!

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người nam xuất gia tu hành trong Phật giáo, sống theo giới luật của Phật chế.
  • Chánh Pháp / Dhamma / Dharma: Giáo lý của Đức Phật, bao gồm những lời dạy về sự thật và con đường giải thoát.
  • Tăng chúng / Sangha / Sangha: Cộng đồng những người xuất gia tu hành theo Phật giáo.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathagata: Một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”.
  • A-la-hán / arahant / arahant: Bậc thánh đã diệt trừ hoàn toàn phiền não, đạt được giải thoát hoàn toàn.
  • Giới uẩn / sīlakkhandha / aggregate of virtue: Tập hợp các phẩm chất đạo đức của một người tu hành.
  • Nhãn căn / cakkhu-indriya / eye faculty: Khả năng nhìn của mắt.
  • Ý căn / mano-indriya / mind faculty: Khả năng nhận thức của tâm.
  • Chánh niệm tỉnh giác / sati sampajañña / mindfulness and full awareness: Sự chú tâm và nhận biết rõ ràng về những gì đang xảy ra trong thân và tâm.
  • Năm triền cái / pañca nīvaraṇāni / five hindrances: Năm chướng ngại ngăn cản sự tiến bộ trên con đường tu tập, bao gồm: tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, và nghi.
  • Sơ thiền / paṭhama jhāna / first jhāna: Tầng thiền định thứ nhất, đặc trưng bởi sự hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm và tứ.
  • Nhị thiền / dutiya jhāna / second jhāna: Tầng thiền định thứ hai, đặc trưng bởi sự hỷ lạc do định sinh, không tầm, không tứ.
  • Tam thiền / tatiya jhāna / third jhāna: Tầng thiền định thứ ba, đặc trưng bởi sự xả niệm lạc trú.
  • Tứ thiền / catuttha jhāna / fourth jhāna: Tầng thiền định thứ tư, đặc trưng bởi sự xả niệm thanh tịnh.
  • Túc mạng minh / pubbenivāsānussati-ñāṇa / knowledge of the recollection of past lives: Khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ.
  • Thiên nhãn minh / dibbacakkhu-ñāṇa / knowledge of the passing away and reappearance of beings: Khả năng nhìn thấy sự chết đi và tái sinh của chúng sinh.
  • Lậu tận minh / āsavakkhaya-ñāṇa / knowledge of the destruction of the taints: Khả năng hiểu biết về sự diệt trừ các lậu hoặc, nguyên nhân của khổ đau.
  • Dục lậu / kāmāsava / taint of sensual desire: Sự ô nhiễm do ham muốn nhục dục.
  • Hữu lậu / bhavāsava / taint of being: Sự ô nhiễm do ham muốn tồn tại.
  • Vô minh lậu / avijjāsava / taint of ignorance: Sự ô nhiễm do thiếu hiểu biết về sự thật.
  • Xá Vệ / Sāvatthī / Sāvatthī: Một thành phố cổ ở Ấn Độ, nơi Đức Phật thường trú và giảng dạy.
  • Jeta / Jeta / Jeta’s Grove: Một khu rừng gần thành Xá Vệ, do thái tử Jeta hiến tặng cho Đức Phật.
  • Anāthapiṇḍika / Anāthapiṇḍika / Anāthapiṇḍika: Một thương gia giàu có ở Xá Vệ, người đã mua khu rừng Jeta và xây dựng tu viện cho Đức Phật. -Phạm hạnh / brahmacariyā / the holy life: nếp sống thanh tịnh, trong sạch của người tu theo đạo Phật, hướng đến mục tiêu giải thoát.