Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 29. Bài Kinh Lớn Về Ví Dụ Lõi Cây

(Mahāsāropama Sutta)

[192] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá) trên núi Linh Thứu; không lâu sau khi Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) rời đi. [^346] Tại đó, nhắc đến Devadatta, Đức Thế Tôn nói với các tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư) như sau:

29. ÐẠI KINH THÍ DỤ LÕI CÂY

29. ÐẠI KINH THÍ DỤ LÕI CÂY (Mahasaropama-Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), núi Gijjhakuta (Linh Thứu), khi Devadatta (Ðề-bà-đạt- đa) từ bỏ (Chúng Tăng) ra đi không bao lâu. Ÿ đây, nhân việc Devadatta, Thế Tôn cho gọi các Tỷ-kheo và dạy như sau:

2. "Này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi (clansman-kulaputta-người thuộc dòng dõi cao quý) vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị sinh, già, và chết chi phối, bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối; ta là nạn nhân của khổ đau, bị khổ đau vây hãm. Chắc chắn có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ đau này.’ Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy đạt được lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm. Vị ấy hài lòng với lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm đó, và ý định của vị ấy đã được viên mãn. Vì thế, vị ấy tự khen mình và chê bai người khác rằng: ‘Ta có lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm, còn những tỳ kheo khác thì vô danh, không có gì đáng kể.’ Vị ấy say sưa với lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm đó, trở nên buông lung, rơi vào buông lung, và vì buông lung, vị ấy sống trong đau khổ.

"Ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đến một cây lớn có lõi cây. Bỏ qua lõi cây, giác cây, vỏ trong, và vỏ ngoài của nó, người ấy chặt cành và lá rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Rồi một người có mắt sáng, thấy vậy, có thể nói: ‘Người này không biết lõi cây, giác cây, vỏ trong, vỏ ngoài, hay cành và lá. Vì vậy, trong khi cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, người ấy đến một cây lớn có lõi cây, và bỏ qua lõi cây, giác cây, vỏ trong, vỏ ngoài của nó, người ấy chặt cành và lá rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Bất cứ điều gì người này định làm với lõi cây, mục đích của người ấy sẽ không thành.’ Cũng vậy, này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia…[193]…vị ấy sống trong đau khổ. Tỳ kheo này được gọi là người đã lấy cành và lá của đời sống phạm hạnh (holy life - brahma-cariya - đời sống tu hành thanh tịnh) và dừng lại ở đó.

– Ÿ đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền”. Vị ấy, vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. Cũng vậy, ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền”. Vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỷ-kheo, Tỷ- kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy cành lá của phạm hạnh, vì do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).

3. "Này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị sinh, già, và chết chi phối, bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối; ta là nạn nhân của khổ đau, bị khổ đau vây hãm. Chắc chắn có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ đau này.’ Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy đạt được lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm. Vị ấy không hài lòng với lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm đó, và ý định của vị ấy không được viên mãn. Vị ấy không, vì thế, tự khen mình và chê bai người khác. Vị ấy không say sưa với lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm đó; vị ấy không trở nên buông lung và rơi vào buông lung. Vì tinh tấn, vị ấy đạt được thành tựu về giới hạnh (virtue - sīla - đức hạnh, phẩm hạnh). Vị ấy hài lòng với thành tựu về giới hạnh đó và ý định của vị ấy đã được viên mãn. Vì thế, vị ấy tự khen mình và chê bai người khác rằng: ‘Ta có giới hạnh, có phẩm chất tốt, còn những tỳ kheo khác thì vô đạo đức, có phẩm chất xấu.’ Vị ấy say sưa với thành tựu về giới hạnh đó, trở nên buông lung, rơi vào buông lung, và vì buông lung, vị ấy sống trong đau khổ.

"Ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đến một cây lớn có lõi cây. Bỏ qua lõi cây, giác cây, và vỏ trong của nó, người ấy chặt vỏ ngoài rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Rồi một người có mắt sáng, thấy vậy, có thể nói: ‘Người này không biết lõi cây…hay cành và lá. Vì vậy, trong khi cần lõi cây…người ấy chặt vỏ ngoài rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Bất cứ điều gì người này định làm với lõi cây, mục đích của người ấy sẽ không thành.’ Cũng vậy, này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia…vị ấy sống trong đau khổ. [194] Tỳ kheo này được gọi là người đã lấy vỏ ngoài của đời sống phạm hạnh và dừng lại ở đó.

Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu, giới đức này, vị ấy khen mình chê người: “Ta là người trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá giới, theo ác pháp”. Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình… (như trên)… Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy vỏ ngoài của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).

4. "Này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị sinh, già, và chết chi phối, bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối; ta là nạn nhân của khổ đau, bị khổ đau vây hãm. Chắc chắn có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ đau này.’ Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy đạt được lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm. Vị ấy không hài lòng với lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm đó, và ý định của vị ấy không được viên mãn…Vì tinh tấn, vị ấy đạt được thành tựu về giới hạnh. Vị ấy hài lòng với thành tựu về giới hạnh đó, nhưng ý định của vị ấy không được viên mãn. Vị ấy không, vì thế, tự khen mình và chê bai người khác. Vị ấy không say sưa với thành tựu về giới hạnh đó; vị ấy không trở nên buông lung và rơi vào buông lung. Vì tinh tấn, vị ấy đạt được thành tựu về định (concentration - samādhi - sự tập trung tâm trí). Vị ấy hài lòng với thành tựu về định đó và ý định của vị ấy đã được viên mãn. Vì thế, vị ấy tự khen mình và chê bai người khác rằng: ‘Ta có định, tâm ta hợp nhất, còn những tỳ kheo khác thì không có định, tâm tán loạn.’ Vị ấy say sưa với thành tựu về định đó, trở nên buông lung, rơi vào buông lung, và vì buông lung, vị ấy sống trong đau khổ.

"Ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đến một cây lớn có lõi cây. Bỏ qua lõi cây và giác cây của nó, người ấy chặt vỏ trong rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Rồi một người có mắt sáng, thấy vậy, có thể nói: ‘Người này không biết lõi cây…hay cành và lá. Vì vậy, trong khi cần lõi cây…người ấy chặt vỏ trong rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Bất cứ điều gì người này định làm với lõi cây, mục đích của người ấy sẽ không thành.’ Cũng vậy, này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia…vị ấy sống trong đau khổ. [195] Tỳ kheo này được gọi là người đã lấy vỏ trong của đời sống phạm hạnh và dừng lại ở đó.

Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không khen mình, chê người. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định. Do thành tựu thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu thiền định này, vị ấy khen mình chê người: “Ta có thiền định nhất tâm. Các Tỷ-kheo khác không có thiền định, tâm bị phân tán”. Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy, bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình… (như trên)… Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỷ-kheo, như vậy vị ấy được gọi là Tỷ-kheo đã nắm giữ vỏ trong của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).

5. "Này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị sinh, già, và chết chi phối, bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối; ta là nạn nhân của khổ đau, bị khổ đau vây hãm. Chắc chắn có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ đau này.’ Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy đạt được lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm. Vị ấy không hài lòng với lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm đó, và ý định của vị ấy không được viên mãn…Vì tinh tấn, vị ấy đạt được thành tựu về giới hạnh. Vị ấy hài lòng với thành tựu về giới hạnh đó, nhưng ý định của vị ấy không được viên mãn…Vì tinh tấn, vị ấy đạt được thành tựu về định. Vị ấy hài lòng với thành tựu về định đó, nhưng ý định của vị ấy không được viên mãn. Vị ấy không, vì thế, tự khen mình và chê bai người khác. Vị ấy không say sưa với thành tựu về định đó; vị ấy không trở nên buông lung và rơi vào buông lung. Vì tinh tấn, vị ấy đạt được tri kiến (knowledge and vision - ñāṇadassana - kiến thức và tầm nhìn). [^347] Vị ấy hài lòng với tri kiến đó và ý định của vị ấy đã được viên mãn. Vì thế, vị ấy tự khen mình và chê bai người khác rằng: ‘Ta sống có tri kiến, còn những tỳ kheo khác sống không có tri kiến.’ Vị ấy say sưa với tri kiến đó, trở nên buông lung, rơi vào buông lung, và vì buông lung, vị ấy sống trong đau khổ.

"Ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đến một cây lớn có lõi cây. Bỏ qua lõi cây của nó, người ấy chặt giác cây rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Rồi một người có mắt sáng, thấy vậy, có thể nói: ‘Người này không biết lõi cây…hay cành và lá. Vì vậy, trong khi cần lõi cây…người ấy chặt giác cây rồi mang đi, nghĩ rằng đó là lõi cây. Bất cứ điều gì người này định làm với lõi cây, mục đích của người ấy sẽ không thành.’ [196] Cũng vậy, này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia…vị ấy sống trong đau khổ. Tỳ kheo này được gọi là người đã lấy giác cây của đời sống phạm hạnh và dừng lại ở đó.

Lại nữa, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sông không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu Thiền định này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến, vị ấy vì tri kiến này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy do tri kiến này, khen mình, chê người. “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ-kheo khác sống, không thấy và không biết”. Vị ấy, do tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây và mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người ấy không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình… Vị này, vì tri kiến này nên mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị này bị đau khổ. Chư Tỷ-kheo, như vậy vị này gọi là đã nắm giữ giác cây của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây)”.

6. "Này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị sinh, già, và chết chi phối, bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối; ta là nạn nhân của khổ đau, bị khổ đau vây hãm. Chắc chắn có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ đau này.’ Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy đạt được lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm. Vị ấy không hài lòng với lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm đó, và ý định của vị ấy không được viên mãn…Khi vị ấy tinh tấn, vị ấy đạt được thành tựu về giới hạnh. Vị ấy hài lòng với thành tựu về giới hạnh đó, nhưng ý định của vị ấy không được viên mãn…Khi vị ấy tinh tấn, vị ấy đạt được thành tựu về định. Vị ấy hài lòng với thành tựu về định đó, nhưng ý định của vị ấy không được viên mãn…Khi vị ấy tinh tấn, vị ấy đạt được tri kiến. Vị ấy hài lòng với tri kiến đó, nhưng ý định của vị ấy không được viên mãn. Vị ấy không, vì thế, tự khen mình và chê bai người khác. Vị ấy không say sưa với tri kiến đó; vị ấy không trở nên buông lung và rơi vào buông lung. Vì tinh tấn, vị ấy đạt được giải thoát vĩnh viễn (perpetual liberation - akuppā cetovimutti - sự giải thoát tâm không lay chuyển). Và vị tỳ kheo đó không thể nào thối thất khỏi sự giải thoát vĩnh viễn đó. [^348]

"Ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đến một cây lớn có lõi cây, và chỉ chặt lấy lõi cây, người ấy mang nó đi, biết rằng đó là lõi cây. Rồi một người có mắt sáng, thấy vậy, có thể nói: ‘Người này biết lõi cây, giác cây, vỏ trong, vỏ ngoài, và cành và lá. Vì vậy, trong khi cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, [197] người ấy đến một cây lớn có lõi cây, và chỉ chặt lấy lõi cây, người ấy mang nó đi, biết rằng đó là lõi cây. Bất cứ điều gì người này định làm với lõi cây, mục đích của người ấy sẽ thành.’ Cũng vậy, này các tỳ kheo, ở đây có người con trai dòng dõi vì lòng tin xuất gia…Khi vị ấy tinh tấn, vị ấy đạt được giải thoát vĩnh viễn. Và vị tỳ kheo đó không thể nào thối thất khỏi sự giải thoát vĩnh viễn đó.

7. "Vậy đời sống phạm hạnh này, này các tỳ kheo, không phải vì lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm, không phải vì thành tựu về giới hạnh, không phải vì thành tựu về định, không phải vì tri kiến. Mà chính sự giải thoát tâm không lay chuyển (unshakeable deliverance of mind - akuppā cetovimutti - sự giải thoát tâm vững chắc, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài) này mới là mục tiêu của đời sống phạm hạnh, là lõi cây, và là cứu cánh của nó. [^349]

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Các tỳ kheo hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

Lại nữa, ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định, vị ấy do thành tựu Thiền định này, hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Do thành tựu tri kiến này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thời giải thoát. Này các Tỷ-kheo, sự tình này có thể xảy ra, Tỷ-kheo ấy có thể từ bỏ thời giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết đó là lõi cây. Một người có mắt thấy như vậy, có thể nói: “Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thực hiện”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây một Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong khổ đau, bị chi phối bởi khổ đau. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật. Vị ấy thành tựu giới đức. Vị ấy do thành tựu giới đức này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy, không do thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu thiền định nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy vì thành tựu tri kiến này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu được phi thời gian giải thoát. Này chư Tỷ-kheo, sự tình này không thể xảy ra, Tỷ-kheo ấy có thể từ bỏ phi thời giải thoát này.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người nam xuất gia, tu hành theo Phật giáo, thọ trì giới luật.
  • xuất gia / pabbajjā / going forth: Rời bỏ đời sống gia đình để trở thành tu sĩ.
  • lợi lộc, danh dự, và tiếng tăm / lābha, sakkāra, siloka / gain, honour, and renown: Những thành tựu thế gian, thường là mục tiêu của người đời.
  • giới hạnh / sīla / virtue: Đạo đức, phẩm hạnh, sự tuân thủ các giới luật.
  • định / samādhi / concentration: Sự tập trung tâm trí, một trạng thái thiền định.
  • tri kiến / ñāṇadassana / knowledge and vision: Kiến thức và tầm nhìn sâu sắc về thực tại, thường đạt được qua thiền tuệ.
  • giải thoát vĩnh viễn / akuppā cetovimutti / perpetual liberation: Sự giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau, không còn tái sinh, đạt được Niết-bàn.
  • đời sống phạm hạnh / brahma-cariya / holy life: Đời sống tu hành thanh tịnh, hướng đến giải thoát.
  • giải thoát tâm không lay chuyển / akuppā cetovimutti / unshakeable deliverance of mind: Trạng thái tâm hoàn toàn giải thoát, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ yếu tố nào.
  • lõi cây / sāra / heartwood: Phần gỗ cứng nhất và có giá trị nhất của cây, tượng trưng cho mục tiêu cao nhất của đời sống tu hành.
  • giác cây / pheggu / sapwood: Phần gỗ nằm giữa lõi cây và vỏ cây.
  • vỏ trong / antokotthaka / inner bark: Lớp vỏ nằm ngay dưới vỏ ngoài.
  • vỏ ngoài / papaṭikā / outer bark: Lớp vỏ ngoài cùng của cây.
  • cành và lá / sākhāpalāsa / twigs and leaves: Những phần bên ngoài, không có giá trị của cây.
  • người con trai dòng dõi / kulaputta / clansman: Người thuộc dòng dõi cao quý, có địa vị trong xã hội.
  • buông lung / pamāda / negligence: Sự lơ là, thiếu chánh niệm, không cẩn trọng trong hành động, lời nói và suy nghĩ.
  • tinh tấn / appamāda / diligence: Sự siêng năng, nỗ lực, chánh niệm, cẩn trọng trong hành động, lời nói và suy nghĩ.