Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 33. Đại Kinh Người Chăn Bò

(Mahāgopālaka Sutta)

[220] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá Vệ), tại khu rừng Jeta (Kỳ Đà), trong vườn của ông Anāthapindika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Ngài gọi các tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư): “Này các tỳ kheo.” Các vị ấy đáp: “Bạch Thế Tôn.” Thế Tôn nói như sau:

2. "Này các tỳ kheo, khi một người chăn bò không đủ mười một yếu tố, thì anh ta không thể giữ và nuôi dưỡng đàn bò. Mười một yếu tố đó là gì? Ở đây, người chăn bò không có kiến thức về hình dáng, không khéo léo về đặc điểm, không nhặt trứng ruồi, không băng bó vết thương, không xông khói chuồng trại, không biết bến nước, không biết thế nào là đã uống, không biết đường đi, không khéo léo về đồng cỏ, vắt sữa cạn kiệt, và không tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với những con bò đực là cha và là con đầu đàn. Khi một người chăn bò không đủ mười một yếu tố này, thì anh ta không thể giữ và nuôi dưỡng đàn bò.

3. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một tỳ kheo không đủ mười một phẩm chất, thì vị ấy không thể tăng trưởng, tiến bộ và thành tựu trong Pháp và Luật này. Mười một phẩm chất đó là gì? Ở đây, một tỳ kheo không có kiến thức về hình dáng, không khéo léo về đặc điểm, không nhặt trứng ruồi, không băng bó vết thương, không xông khói nơi ở, không biết bến nước, không biết thế nào là đã uống, không biết đường đi, không khéo léo về đồng cỏ, vắt sữa cạn kiệt, và không tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với các tỳ kheo trưởng lão đã xuất gia lâu năm, là cha và là người lãnh đạo Tăng đoàn.

33. ÐẠI KINH NGƯỜI CHĂN BÒ

33. ÐẠI KINH NGƯỜI CHĂN BÒ (Mahàgopàlaka Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

4. "Làm thế nào một tỳ kheo không có kiến thức về hình dáng? Ở đây, một tỳ kheo không hiểu đúng như thật rằng: ‘Tất cả sắc pháp (material form) bất kỳ loại nào đều bao gồm bốn đại nguyên tố (the four great elements - đất, nước, lửa, gió) và sắc pháp phát sinh từ bốn đại nguyên tố.’ Đó là cách một tỳ kheo không có kiến thức về hình dáng.

5. "Làm thế nào một tỳ kheo không khéo léo về đặc điểm? Ở đây, một tỳ kheo không hiểu đúng như thật rằng: ‘Kẻ ngu si được nhận biết qua hành động; người trí được nhận biết qua hành động.’ Đó là cách một tỳ kheo không khéo léo về đặc điểm. [^364]

6. "Làm thế nào một tỳ kheo không nhặt trứng ruồi? Ở đây, khi một niệm tưởng dục vọng (sensual desire) khởi lên, một tỳ kheo dung túng nó; vị ấy không từ bỏ nó, loại bỏ nó, diệt trừ nó, và làm cho nó biến mất. Khi một niệm tưởng sân hận khởi lên… Khi một niệm tưởng tàn ác khởi lên… Khi các trạng thái bất thiện, không tốt lành khởi lên, một tỳ kheo dung túng chúng; [221] vị ấy không từ bỏ chúng, loại bỏ chúng, diệt trừ chúng, và làm cho chúng biến mất. Đó là cách một tỳ kheo không nhặt trứng ruồi.

7. "Làm thế nào một tỳ kheo không băng bó vết thương? Ở đây, khi thấy một hình sắc bằng mắt, một tỳ kheo giữ các dấu hiệu và đặc điểm của nó. Vị ấy để nhãn căn (eye faculty - khả năng của mắt) không được bảo vệ, các trạng thái bất thiện, không tốt lành của tham lam và sầu muộn có thể xâm chiếm vị ấy, vị ấy không thực hành cách kiềm chế nó, không bảo vệ nhãn căn, không thực hiện sự kiềm chế nhãn căn. Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi… Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân… Khi nhận thức một đối tượng tâm bằng ý, vị ấy nắm giữ các dấu hiệu và đặc điểm của nó. Mặc dù, khi vị ấy để ý căn (mind faculty - khả năng của tâm) không được bảo vệ, các trạng thái bất thiện, không tốt lành của tham lam và sầu muộn có thể xâm chiếm vị ấy, vị ấy không thực hành cách kiềm chế nó, không bảo vệ ý căn, không thực hiện sự kiềm chế ý căn. Đó là cách một tỳ kheo không băng bó vết thương.

8. "Làm thế nào một tỳ kheo không xông khói nơi ở? Ở đây, một tỳ kheo không giảng dạy lại chi tiết Giáo Pháp như vị ấy đã học và thông thạo cho người khác. Đó là cách một tỳ kheo không xông khói nơi ở.

9. "Làm thế nào một tỳ kheo không biết bến nước? Ở đây, một tỳ kheo không thường xuyên đến gặp những tỳ kheo đã học rộng, thông thạo truyền thống, duy trì Giáo Pháp, Luật, và các Quy tắc, [^365] và vị ấy không hỏi han và thắc mắc với họ như sau: ‘Thưa tôn giả, điều này là như thế nào? Ý nghĩa của điều này là gì?’ Những vị tôn giả này không khai mở cho vị ấy những gì chưa được khai mở, không làm sáng tỏ những gì chưa rõ ràng, hoặc loại bỏ những nghi ngờ của vị ấy về nhiều điều gây ra nghi ngờ. Đó là cách một tỳ kheo không biết bến nước.

10. "Làm thế nào một tỳ kheo không biết thế nào là đã uống? Ở đây, khi Giáo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết đang được giảng dạy, một tỳ kheo không đạt được cảm hứng trong ý nghĩa, không đạt được cảm hứng trong Giáo Pháp, không đạt được sự hoan hỷ liên quan đến Giáo Pháp. [^366] Đó là cách một tỳ kheo không biết thế nào là đã uống.

11. "Làm thế nào một tỳ kheo không biết đường đi? Ở đây, một tỳ kheo không hiểu Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) (Noble Eightfold Path - con đường tám nhánh cao quý) đúng như thật. Đó là cách một tỳ kheo không biết đường đi.

12. "Làm thế nào một tỳ kheo không khéo léo về đồng cỏ? Ở đây, một tỳ kheo không hiểu bốn nền tảng của chánh niệm (four foundations of mindfulness - Tứ Niệm Xứ) đúng như thật. Đó là cách [222] một tỳ kheo không khéo léo về đồng cỏ. [^367]

13. "Làm thế nào một tỳ kheo vắt sữa cạn kiệt? Ở đây, khi các gia chủ có đức tin thỉnh mời một tỳ kheo nhận y phục, vật thực, chỗ nghỉ ngơi, và thuốc men tùy thích, tỳ kheo không biết tiết độ trong việc thọ nhận. Đó là cách một tỳ kheo vắt sữa cạn kiệt.

14. "Làm thế nào một tỳ kheo không tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với các tỳ kheo trưởng lão đã xuất gia lâu năm, là cha và là người lãnh đạo Tăng đoàn? Ở đây, một tỳ kheo không duy trì các hành động thân ái (loving-kindness) bằng thân cả công khai và riêng tư đối với các tỳ kheo trưởng lão đó; vị ấy không duy trì các hành động thân ái bằng lời nói đối với họ cả công khai và riêng tư; vị ấy không duy trì các hành động thân ái bằng ý nghĩ đối với họ cả công khai và riêng tư. Đó là cách một tỳ kheo không tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với các tỳ kheo trưởng lão đã xuất gia lâu năm, là cha và là người lãnh đạo Tăng đoàn.

"Khi một tỳ kheo có đủ mười một phẩm chất này, thì vị ấy không thể tăng trưởng, tiến bộ và thành tựu trong Pháp và Luật này.

– Này các Tỷ-kheo, nếu không đầy đủ mười một đức tánh này, một người chăn bò không thể chăn giữ đàn bò, không thể khiến đàn bò được hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một người chăn bò không biết rõ sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con bò chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, là người không chú ý, không săn sóc đặc biệt những con bò đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn bò nào không đầy đủ mười một đức tánh như vậy, không thể chăn giữ đàn bò, không thể khiến đàn bò được hưng thịnh.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp, không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không biết sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con bò chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng Tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt.

Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết rõ các sắc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với sắc pháp không như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo không biết rõ các sắc.

Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không khéo (phân biệt) các tướng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng của người đó, kẻ trí và nghiệp tướng của người đó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không khéo (phân biệt) các tướng.

Chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thọ dụng dục tầm khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại,. Tỷ kheo thọ dụng sân tầm khởi lên … thọ dụng hại tầm khởi lên … thọ dụng các ác, bất thiện pháp khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không băng bó vết thương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì làm con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo không tự chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì con mắt, không thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng

riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo không chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì ý căn, không thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không băng bó vết thương.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không xông khói? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có thuyết giảng rộng rãi cho các người khác biết Chánh pháp mình được nghe, được thọ trì. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không xông khói.

Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua? Ở đây, này các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những Tỷ-kheo đa văn được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì matika (các bản tóm tắt) nhưng không hỏi, không trả lời các vị ấy: “Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? ý nghĩa này là gì?” Những bậc Tôn giả ấy không làm cho hiển lộ những điều chưa hiển lộ, không làm cho rõ ràng những điều chưa được rõ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị ấy không đoạn trừ nghi hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua.

Và chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết rõ chỗ nước uống? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, không chứng đạt nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, không chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết chỗ nước uống.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết về con đường. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết đến con đường.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không như thật biết về Bốn Niệm xứ. Như vậy này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi các vị tại gia vì lòng tin cúng dường các vật dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ- kheo không biết nhận lãnh cho được vừa đủ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo, đối với những Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với Thượng tọa, trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có thân nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có khẩu nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có ý nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đối với những Thượng tọa, trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp này, thì không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp, Luật này.

15. "Này các tỳ kheo, khi một người chăn bò có đủ mười một yếu tố, thì anh ta có thể giữ và nuôi dưỡng đàn bò. Mười một yếu tố đó là gì? Ở đây, người chăn bò có kiến thức về hình dáng, khéo léo về đặc điểm, nhặt trứng ruồi, băng bó vết thương, xông khói chuồng trại, biết bến nước, biết thế nào là đã uống, biết đường đi, khéo léo về đồng cỏ, không vắt sữa cạn kiệt, và tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với những con bò đực là cha và là con đầu đàn. Khi một người chăn bò có đủ mười một yếu tố này, thì anh ta có thể giữ và nuôi dưỡng đàn bò.

16. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một tỳ kheo có đủ mười một phẩm chất này, thì vị ấy có thể tăng trưởng, tiến bộ và thành tựu trong Pháp và Luật này. Mười một phẩm chất đó là gì? Ở đây, một tỳ kheo có kiến thức về hình dáng, khéo léo về đặc điểm, nhặt trứng ruồi, băng bó vết thương, xông khói nơi ở, biết bến nước, biết thế nào là đã uống, biết đường đi, khéo léo về đồng cỏ, không vắt sữa cạn kiệt, và tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với các tỳ kheo trưởng lão đã xuất gia lâu năm, là cha và là người lãnh đạo Tăng đoàn.

17. "Làm thế nào một tỳ kheo có kiến thức về hình dáng? Ở đây, một tỳ kheo hiểu đúng như thật rằng: ‘Tất cả sắc pháp [223] bất kỳ loại nào đều bao gồm bốn đại nguyên tố và sắc pháp phát sinh từ bốn đại nguyên tố.’ Đó là cách một tỳ kheo có kiến thức về hình dáng.

18. "Làm thế nào một tỳ kheo khéo léo về đặc điểm? Ở đây, một tỳ kheo hiểu đúng như thật rằng: ‘Kẻ ngu si được nhận biết qua hành động của mình; người trí được nhận biết qua hành động của mình.’ Đó là cách một tỳ kheo khéo léo về đặc điểm.

19. "Làm thế nào một tỳ kheo nhặt trứng ruồi? Ở đây, khi một niệm tưởng dục vọng khởi lên, một tỳ kheo không dung túng nó; vị ấy từ bỏ nó, loại bỏ nó, diệt trừ nó, và làm cho nó biến mất. Khi một niệm tưởng sân hận khởi lên… Khi một niệm tưởng tàn ác khởi lên… Khi các trạng thái bất thiện, không tốt lành khởi lên, một tỳ kheo không dung túng chúng; vị ấy từ bỏ chúng, loại bỏ chúng, diệt trừ chúng, và làm cho chúng biến mất. Đó là cách một tỳ kheo nhặt trứng ruồi.

20. "Làm thế nào một tỳ kheo băng bó vết thương? Ở đây, khi thấy một hình sắc bằng mắt, một tỳ kheo không nắm giữ các dấu hiệu và đặc điểm của nó. Vì nếu vị ấy để nhãn căn không được bảo vệ, các trạng thái bất thiện, không tốt lành của tham lam và sầu muộn có thể xâm chiếm vị ấy, vị ấy thực hành cách kiềm chế nó, bảo vệ nhãn căn, thực hiện sự kiềm chế nhãn căn. Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi… Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân… Khi nhận thức một đối tượng tâm bằng ý, một tỳ kheo không nắm giữ các dấu hiệu và đặc điểm của nó. Vì, nếu vị ấy để ý căn không được bảo vệ, các trạng thái bất thiện, không tốt lành của tham lam và sầu muộn có thể xâm chiếm vị ấy, vị ấy thực hành cách kiềm chế nó, bảo vệ ý căn, thực hiện sự kiềm chế ý căn. Đó là cách một tỳ kheo băng bó vết thương.

21. "Làm thế nào một tỳ kheo xông khói nơi ở? Ở đây, một tỳ kheo giảng dạy chi tiết Giáo Pháp như vị ấy đã học và thông thạo cho người khác. Đó là cách một tỳ kheo xông khói nơi ở.

22. "Làm thế nào một tỳ kheo biết bến nước? Ở đây, một tỳ kheo thường xuyên đến gặp những tỳ kheo đã học rộng, thông thạo truyền thống, duy trì Giáo Pháp, Luật, và các Quy tắc, và vị ấy hỏi han và thắc mắc với họ như sau: ‘Thưa tôn giả, điều này là như thế nào? Ý nghĩa của điều này là gì?’ Những vị tôn giả này khai mở cho vị ấy những gì chưa được khai mở, làm sáng tỏ những gì chưa rõ ràng, và loại bỏ những nghi ngờ của vị ấy về nhiều điều gây ra nghi ngờ. Đó là cách một tỳ kheo biết bến nước.

23. "Làm thế nào [224] một tỳ kheo biết thế nào là đã uống? Ở đây, khi Giáo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết đang được giảng dạy, một tỳ kheo đạt được cảm hứng trong ý nghĩa, đạt được cảm hứng trong Giáo Pháp, đạt được sự hoan hỷ liên quan đến Giáo Pháp. Đó là cách một tỳ kheo biết thế nào là đã uống.

24. "Làm thế nào một tỳ kheo biết đường đi? Ở đây, một tỳ kheo hiểu Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) đúng như thật. Đó là cách một tỳ kheo hiểu đường đi.

25. "Làm thế nào một tỳ kheo khéo léo về đồng cỏ? Ở đây, một tỳ kheo hiểu bốn nền tảng của chánh niệm đúng như thật. Đó là cách một tỳ kheo khéo léo về đồng cỏ.

26. "Làm thế nào một tỳ kheo không vắt sữa cạn kiệt? Ở đây, khi các gia chủ có đức tin thỉnh mời một tỳ kheo nhận y phục, vật thực, chỗ nghỉ ngơi, và thuốc men tùy thích, tỳ kheo biết tiết độ trong việc thọ nhận. Đó là cách một tỳ kheo không vắt sữa cạn kiệt.

27. "Làm thế nào một tỳ kheo tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với các tỳ kheo trưởng lão đã xuất gia lâu năm, là cha và là người lãnh đạo Tăng đoàn? Ở đây, một tỳ kheo duy trì các hành động thân ái cả công khai và riêng tư đối với các tỳ kheo trưởng lão đó; vị ấy duy trì các hành động thân ái bằng lời nói đối với họ cả công khai và riêng tư; vị ấy duy trì các hành động thân ái bằng ý nghĩ đối với họ cả công khai và riêng tư. Đó là cách một tỳ kheo tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với các tỳ kheo trưởng lão đã xuất gia lâu năm, là cha và là người lãnh đạo Tăng đoàn.

“Khi một tỳ kheo có đủ mười một phẩm chất này, thì vị ấy có thể tăng trưởng, tiến bộ và thành tựu trong Pháp và Luật này.”

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Các tỳ kheo hoan hỷ và tán thán lời dạy của Thế Tôn.

Này các Tỷ-kheo, người chăn bò đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn bò, khiến đàn bò trở thành hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chăn bò biết rõ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con bò chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường, khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, không vắt sữa cho đến khô kiệt, là người chú ý săn sóc đặc biệt, những con bò đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn bò đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn bò và làm cho đàn bò trở thành hưng thịnh.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ mười một pháp này có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp, Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, biết rõ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con bò chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ, không phải là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng tọa, trưởng lảo, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rõ các sắc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với sắc pháp như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết rõ các sắc.

Chư Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo khéo (phân biệt) các tướng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng kẻ ngu, kẻ trí và nghiệp tướng kẻ trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khéo (phân biệt) các tướng.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trừ bỏ trứng con bò chét? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thọ dụng dục tầm khởi lên, từ bỏ, tránh né, chấm dứt, làm cho không tồn tại. Tỷ kheo không thọ dụng sân tầm khởi lên … không thọ dụng hại tầm khởi lên … không thọ dụng các ác, bất thiện pháp khởi lên, từ bỏ, tránh né, chấm dứt, làm cho không tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo trừ bỏ trứng con bò chét.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo băng bó vết thương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo băng bó vết thương.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo có xông khói? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thuyết giảng rộng rãi cho các người khác biết Chánh pháp mình được nghe, được thọ trì. Như vậy, này các Tỷ- kheo, là Tỷ-kheo có xông khói.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết chỗ nước có thể lội qua. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những Tỷ-kheo đa văn, được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì matika (các bản tóm tắt) có hỏi, có trả lời các vị ấy: "Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? Ý nghĩa này là gì? những bậc Tôn giả ấy làm cho hiển lộ những điều chưa được hiển lộ, làm cho rõ ràng những điều chưa được rõ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị đoạn trừ nghi hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết rõ chỗ nước có thể lội qua.

Và chư Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rõ chỗ nước uống? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, giảng dạy, chứng đạt nghĩa tín thọ, chứng đạt pháp tín thọ, chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, là Tỷ-kheo biết chỗ nước uống.

Và các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết rõ về con đường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết rõ con đường.

Và này, các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết về Bốn Niệm xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo léo đối với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi các vị tại gia vì lòng tin cúng dường các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo biết nhận lãnh cho được vừa đủ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không vắt sữa cho đến khô kiệt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo, đối với những Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với các Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có thân nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, có khẩu nghiệp, đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, có ý nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đối với những Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, có sự tôn trọng đặc biệt.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đầy đủ mười một pháp này, thì có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp, Luật này.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người nam xuất gia, tu hành theo giới luật Phật giáo, sống trong Tăng đoàn.
  • Sāvatthī / Sāvatthī / Sāvatthī: Thành Xá Vệ, một trong những thành phố lớn nhất ở Ấn Độ cổ đại vào thời Đức Phật.
  • Jeta / Jeta / Jeta’s Grove: Rừng Kỳ Đà, một khu rừng gần thành Xá Vệ, nơi Đức Phật thường thuyết pháp.
  • Anāthapindika / Anāthapiṇḍika / Anāthapiṇḍika: Cấp Cô Độc, một thương gia giàu có và là đệ tử cư sĩ của Đức Phật, người đã mua khu rừng Jeta và xây dựng tu viện tại đó.
  • Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật.
  • Pháp và Luật / Dhamma-Vinaya / Dhamma and Discipline: Giáo lý và giới luật của Đức Phật.
  • sắc pháp / rūpa / material form: Các hiện tượng vật chất, bao gồm thân thể và các đối tượng bên ngoài.
  • bốn đại nguyên tố / cattāro mahābhūtāni / the four great elements: Đất (paṭhavī), nước (āpo), lửa (tejo), gió (vāyo), bốn yếu tố cơ bản cấu thành nên sắc pháp.
  • niệm tưởng dục vọng / kāma-vitakka / thought of sensual desire: Suy nghĩ về các đối tượng dục lạc, ham muốn.
  • nhãn căn / cakkhu-indriya / eye faculty: Khả năng của mắt để nhìn thấy.
  • ý căn / mano-indriya / mind faculty: Khả năng của tâm để nhận thức.
  • Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) / ariya-aṭṭhaṅgika-magga / Noble Eightfold Path: Con đường tu tập gồm tám nhánh để đạt đến giác ngộ, bao gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
  • bốn nền tảng của chánh niệm / cattāro satipaṭṭhānā / four foundations of mindfulness: Tứ Niệm Xứ, bốn đối tượng để quán niệm, bao gồm: thân, thọ, tâm, pháp.
  • hành động thân ái / mettā-kāya-kamma / bodily acts of loving-kindness: Hành động thể hiện lòng từ bi, yêu thương qua thân thể.