Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

37. Kinh Tiểu Đoạn Tận Ái

(Cūḷataṇhāsankhaya Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Đông Viên, tại Lộc Mẫu Giảng Đường.

2. Lúc bấy giờ, Sakka (Sakka/Đế Thích), vua của các vị trời (gods/deva), đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, ông đứng sang một bên và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, vắn tắt như thế nào là một vị tỳ kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái (craving/taṇhā/tham), là bậc đã đạt đến cứu cánh tối thượng, sự an ổn khổ ách tối thượng, phạm hạnh tối thượng, mục đích tối thượng, là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người?” 395

37. TIỂU KINH ÐOẠN TẬN ÁI

37. TIỂU KINH ÐOẠN TẬN ÁI (Cùlatanhàsankhaya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Ðông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatu).

Rồi Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên chủ Sakka đứng một bên, bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

3. “Này vua của các vị trời (gods), ở đây, một vị tỳ kheo nghe được không có điều gì đáng để gắn bó (adhering/abhinivesa/bám chấp). Khi một vị tỳ kheo đã nghe được rằng không có điều gì đáng để gắn bó vào, thì vị ấy biết trực tiếp (directly knows/abhiññā/thắng tri) mọi thứ; sau khi biết trực tiếp mọi thứ, vị ấy hiểu thấu đáo (fully understands/pariññā/liễu tri) mọi thứ; sau khi hiểu thấu đáo mọi thứ, bất cứ cảm thọ (feelings/vedanā/cảm nhận) nào vị ấy cảm nhận, dù là dễ chịu, đau đớn hay không-đau-đớn-cũng-không-dễ-chịu, vị ấy an trú quan sát (contemplating/anupassanā/quán) sự vô thường nơi các cảm thọ ấy, quan sát sự phai nhạt (fading away/virāga/ly tham), quan sát sự chấm dứt (cessation/nirodha/đoạn diệt), quan sát sự từ bỏ (relinquishment/paṭinissagga/chủ động từ bỏ). Nhờ quan sát như vậy, vị ấy không nắm giữ (cling/upādāna/chấp thủ) bất cứ điều gì trên đời. Khi không nắm giữ, vị ấy không dao động (agitated/paritassati/ưu tư). Khi không dao động, vị ấy tự mình chứng ngộ Niết bàn (Nibbāna/Nirvana/trạng thái tịch diệt). 396 [252] Vị ấy hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Này vua của các vị trời, vắn tắt là theo cách này, một vị tỳ kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, là bậc đã đạt đến cứu cánh tối thượng, sự an ổn khổ ách tối thượng, phạm hạnh tối thượng, mục đích tối thượng, là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người.”

4. Bấy giờ Sakka, vua của các vị trời, hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn, và đi nhiễu quanh Ngài hướng về phía tay phải, rồi biến mất ngay tại chỗ.

5. Lúc bấy giờ, tôn giả Mahā Moggallāna (Đại Mục-kiền-liên) đang ngồi cách Thế Tôn không xa. Rồi tôn giả suy nghĩ: “Liệu vị thần (spirit/yakkha/dạ xoa) ấy đã thấu hiểu ý nghĩa lời dạy của Thế Tôn khi ông ấy hoan hỷ, hay là chưa? Ta hãy thử tìm hiểu xem ông ấy đã hiểu hay chưa.”

– Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”. Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”, vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”. Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người.

Rồi Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết giảng, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana (Ðại Mục-kiền liên) ngồi cách Thế Tôn không xa. Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ: “Không hiểu Dạ-xoa (Yakkaha) kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không? Ta hãy tìm biết Dạ- xoa kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không?”

6. Rồi, nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co hay co cánh tay đang duỗi, tôn giả Mahā Moggallāna biến mất khỏi Lộc Mẫu Giảng Đường ở Đông Viên và hiện ra giữa chư thiên cõi Ba mươi ba.

7. Lúc bấy giờ, Sakka, vua của các vị trời, đang được cung phụng và bao quanh bởi năm loại nhạc trời, và ông đang tận hưởng thú vui trong Vườn Hoan hỷ Nhất Liên. Khi thấy tôn giả Mahā Moggallāna từ xa đi đến, ông cho lui dàn nhạc, đi đến đón tôn giả Mahā Moggallāna và nói: “Hãy đến đây, thưa tôn giả Moggallāna! Chào mừng tôn giả Moggallāna! Đã lâu lắm rồi tôn giả Moggallāna mới có dịp đến đây. Mời ngồi, thưa tôn giả Moggallāna; chỗ ngồi này đã soạn sẵn.”

Tôn giả Mahā Moggallāna ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn, và Sakka lấy một ghế thấp hơn và ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahā Moggallāna bèn hỏi ông:

8. “Này Kosiya 397(Kosiya/Kiều-thi-ca), Thế Tôn đã nói vắn tắt với ông như thế nào về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái? Thật tốt nếu chúng tôi cũng được nghe lại lời dạy ấy.”

“Thưa tôn giả Moggallāna, chúng tôi rất bận rộn, chúng tôi có quá nhiều việc phải làm, không chỉ việc riêng của mình, mà còn cả công việc của chư thiên cõi Ba mươi ba. Hơn nữa, thưa tôn giả Moggallāna, những gì được nghe kỹ, được học kỹ, [253] được tác ý kỹ, được ghi nhớ kỹ, sẽ không dễ gì biến mất đột ngột. Thưa tôn giả Moggallāna, đã từng có lần chiến tranh nổ ra giữa chư thiên và các A-tu-la (titans/asura/phi thiên). 398 Trong cuộc chiến đó, chư thiên thắng và các A-tu-la bại trận. Khi tôi thắng trận đó và trở về như một người chinh phục, tôi đã cho xây dựng Cung điện Vejayanta. Thưa tôn giả Moggallāna, Cung điện Vejayanta có một trăm tháp cao, mỗi tháp có bảy trăm lầu các, mỗi lầu các có bảy thiên nữ, và mỗi thiên nữ có bảy người hầu. Tôn giả có muốn xem vẻ đẹp của Cung điện Vejayanta không, thưa tôn giả Moggallāna?” Tôn giả Mahā Moggallāna im lặng nhận lời.

9. Rồi Sakka, vua của các vị trời, và Thiên vương 399Vessavana (Vessavana/Tỳ-sa-môn) đi đến Cung điện Vejayanta, nhường tôn giả Mahā Moggallāna đi trước. Khi các người hầu của Sakka thấy tôn giả Mahā Moggallāna từ xa đi đến, họ ngượng ngùng và xấu hổ, rồi mỗi người đi vào phòng riêng của mình. Cũng giống như cô con dâu ngượng ngùng và xấu hổ khi thấy cha chồng, cũng vậy, khi các người hầu của Sakka thấy tôn giả Mahā Moggallāna đi đến, họ ngượng ngùng và xấu hổ, rồi mỗi người đi vào phòng riêng của mình.

10. Rồi Sakka, vua của các vị trời, và Thiên vương Vessavana mời tôn giả Mahā Moggallāna đi khắp nơi và thăm thú Cung điện Vejayanta: “Thưa tôn giả Moggallāna, hãy xem vẻ đẹp này của Cung điện Vejayanta! Thưa tôn giả Moggallāna, hãy xem vẻ đẹp này của Cung điện Vejayanta!”

“Điều này thật xứng đáng với tôn giả Kosiya, như một người đã từng tạo phước đức trong quá khứ; và bất cứ khi nào loài người thấy điều gì đẹp đẽ, họ đều nói: ‘Thưa chư vị, nó đẹp như của chư thiên cõi Ba mươi ba vậy!’ Điều này thật xứng đáng với tôn giả Kosiya, như một người đã từng tạo phước đức.”

11. Rồi tôn giả Mahā Moggallāna suy nghĩ như sau: “Vị thần này sống quá lơ đễnh (negligently/pamāda/phóng dật). Hay là ta hãy khơi dậy tâm kinh cảm (sense of urgency/saṃvega/sự sợ hãi luân hồi) nơi ông ấy?” Rồi tôn giả Mahā Moggallāna thi triển thần thông đến mức dùng ngón chân cái làm cho Cung điện Vejayanta rung chuyển, chấn động và run rẩy. 400 [254] Sakka, Thiên vương Vessavana và chư thiên cõi Ba mươi ba đều kinh ngạc và sững sờ, họ nói: “Thưa chư vị, thật kỳ diệu, thật phi thường, uy lực và thần thông của vị sa-môn này thật lớn, chỉ với ngón chân cái mà ngài làm cho thiên cung rung chuyển, chấn động và run rẩy!”

Rồi Tôn giả Maha Moggallana, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất ở Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường và hiện ra ở giữa chư thiên cõi trời Ba mươi ba.

Lúc bấy giờ Thiên chủ Sakka, với đầy đủ năm trăm nhạc khí chư thiên, đang vui chơi tại vườn Nhất bạch liên. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả từ xa đến, bảo năm trăm nhạc khí chư thiên dừng nghỉ, đi đến Tôn giả Maha Moggallana, sau khi đến, thưa với Tôn giả Maha Moggallana: “Hãy đến đây, Thiện hữu Moggallana; thiện lai, Thiện hữu Moggallana! Này Thiện Hữu Moggallana, lâu lắm Thiệĩn hữu mới có dịp đến đây. Hãy ngồi, Thiện hữu Moggallana, trên chỗ đã soạn sẵn”.

Tôn giả Mahamoggallana, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Còn Thiên chủ Sakka lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với Thiên chủ Sakka đang ngồi xuống một bên:

– Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đã nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.

– Thiện hữu Moggallana, chúng tôi bận nhiều công việc, chúng tôi có nhiều việc phải làm, việc làm cho chúng tôi và việc làm cho chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Lại nữa, này Thiện hữu Moggallana, lời thuyết giảng ấy được khéo nghe, khéo nắm vững , khéo suy tư, khéo thẩm lự nên không thể mau quên được. Này Thiện hữu Moggallana, xưa kia phát khởi chiến tranh giữa chư Thiên và chúng Asura (A-tu- la). Này Thiện hữu Moggallana, trong trận chiến này, chư Thiên thắng, chúng Asura bại. Này thiện hữu Moggallana, sau khi thắng trận chiến ấy và nhân dịp thắng trận, chúng tôi, sau khi trở về, cho xây dựng một lâu đài tên là Vejayanta (Tối Thắng Ðiện). Này Thiện hữu Moggallana, lâu đài Vejayanta có đến một trăm vọng tháp, trong mỗi vọng tháp có bảy ngôi nhà có hình tam giác, trong mỗi nhà tam giác có bảy tiên nữ, và mỗi tiên nữ có đến bảy thị nữ. Này thiện hữu Moggallana, Thiện hữu có muốn xem những điều khả ái của lâu đài Vejayanta không?

Tôn giả Maha Moggallana im lặng nhận lời. Rồi Thiên chủ Sakka cùng với đại vương Vessavana để Tôn giả Maha Moggallana đi trước và đi đến lâu đài Vejayanta. Các thị nữ của Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Maha Moggallana đi từ xa đến, sau khi thấy, liền hổ thẹn, bẽn lẽn, rồi bước vào phòng của mình. Ví như cô dâu khi thấy cha chồng liền hổ thẹn, bẽn lẽn; cũng như vậy, các thị nữ của Thiên chủ Sakka, khi thấy Tôn giả Maha Moggallana liền hổ thẹn, bẽn lẽn, vào phòng riêng của mình.

Rồi Thiên chủ Sakka và đại vương Vessavana đưa Tôn giả Maha Moggallana đi thăm và xem khắp lâu đài Vejayanta: “Này Thiện hữu Moggallana, xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta; xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đã làm thời xưa; và loài Người, khi thấy cái gì khả ái liền nói: ‘Thật sự, cái này chói sáng từ chư thiên cõi trời Ba mươi ba. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đã làm thời xưa’”.

Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ: “Dạ-xoa này sống phóng dật một cách quá đáng. Ta hãy làm cho vị này hoảng sợ”. Tôn giả Maha Moggallana liền thị hiện thần thông lực, dùng ngón chân cái làm cho lầu Vejayanta rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Thiên chủ Sakka, đại vương Sessavana và chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba, tâm cảm thấy kỳ diệu, hy hữu: “Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay đại thần thông lực, đại oai lực của Tôn giả Sa-môn! Với ngón chân cái, vị này làm cho thiên cung này rung động, chuyển động, chấn động mạnh!”

12. Khi tôn giả Mahā Moggallāna biết rằng Sakka, vua của các vị trời, đã khởi tâm kinh cảm đến dựng tóc gáy, ngài bèn hỏi ông: “Này Kosiya, Thế Tôn đã nói vắn tắt với ông như thế nào về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái? Thật tốt nếu chúng tôi cũng được nghe lại lời dạy ấy.”

“Thưa tôn giả Moggallāna, tôi đã đi đến chỗ Thế Tôn, và sau khi đảnh lễ Ngài, tôi đứng sang một bên và bạch: ‘Bạch Thế Tôn,… [như đoạn §3]… giữa chư thiên và loài người?’ Khi lời này được nói ra, thưa tôn giả Moggallāna, Thế Tôn đã dạy tôi: ‘Này vua của các vị trời,… [như đoạn §3]… giữa chư thiên và loài người.’ Đó là cách Thế Tôn đã nói vắn tắt với tôi về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái, thưa tôn giả Moggallāna.”

Tôn giả Mahamoggallana sau khi biết Thiên chủ Sakka đã hoảng sợ, lông tóc dựng ngược liền nói với Thiên chủ Sakka:

– Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đã nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.

– Ở đây, này Thiện hữu Moggallana, tôi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Này Thiện hữu Moggallana, sau khi đứng một bên, tôi bạch với Thế Tôn như sau:

"-- Bạch Thế Tôn, một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo là ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

Khi nghe nói vậy, này Thiện hữu Moggallana, Thế Tôn nói với tôi như sau:

“-- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp””. Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp". Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não; do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”. “Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người”.

Như vậy, này Thiện hữu Moggallana, Thế Tôn nói một cách tóm tắt cho tôi về ái tận giải thoát. "

13. Bấy giờ tôn giả Mahā Moggallāna hoan hỷ và tín thọ lời của Sakka, vua của các vị trời. [255] Rồi, nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co hay co cánh tay đang duỗi, ngài biến mất khỏi chư thiên cõi Ba mươi ba và hiện ra tại Đông Viên, trong Lộc Mẫu Giảng Đường.

14. Rồi, ngay sau khi tôn giả Mahā Moggallāna vừa đi khỏi, các người hầu của Sakka, vua của các vị trời, hỏi ông: “Thưa ngài, đó có phải là bậc Đạo sư của ngài, là Thế Tôn không?” - “Không, thưa chư vị, đó không phải là bậc Đạo sư của ta, là Thế Tôn. Đó là một trong những bạn đồng phạm hạnh (companions in the holy life/sabrahmacārī) của ta, tôn giả Mahā Moggallāna.” 401 - “Thưa ngài, thật là một lợi đắc cho ngài khi có người bạn đồng phạm hạnh có đại thần lực và đại uy lực như vậy. Ôi, huống chi là bậc Đạo sư của ngài là Thế Tôn!”

Rồi Tôn giả Maha Moggallana, sau khi hoan hỷ, tín cho lời Thiên chủ Sakka nói, như một nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất giữa chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba, và hiện ra tại Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường.

Sau khi Tôn giả Mahamoggallana đi chẳng bao lâu, các thị nữ của Thiên chủ Sakka nói với Thiên chủ Sakka như sau:

– Thưa Thiên chủ, có phải vị ấy là Thế Tôn, bậc Ðạo sư của Thiên chủ?

– Không, vị ấy không phải là Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của ta. Vị ấy là đồng phạm hạnh với ta, Tôn giả Maha Moggallana.

– Thưa Thiên chủ, thật là điều tốt lành cho Thiên chủ, có một vị đồng phạm hạnh có đại thần thông, có đại oai lực như vậy. Chắc chắn vị ấy là Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của Thiên chủ.

15. Rồi tôn giả Mahā Moggallāna đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, tôn giả ngồi xuống một bên và bạch: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ là đã từng thuyết vắn tắt - cho một vị thần danh tiếng có đông đảo quyến thuộc - về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái không?”

“Này Moggallāna, Ta có nhớ. Tại đây, Sakka, vua của các vị trời, đã đến gặp Ta, và sau khi đảnh lễ Ta, ông ấy đứng sang một bên và hỏi: ‘Bạch Thế Tôn, vắn tắt như thế nào là một vị tỳ kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, là bậc đã đạt đến cứu cánh tối thượng, sự an ổn khổ ách tối thượng, phạm hạnh tối thượng, mục đích tối thượng, là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người?’ Khi lời này được nói ra, Ta đã bảo ông ấy: ‘Này vua của các vị trời, ở đây, một vị tỳ kheo đã nghe rằng không có điều gì đáng để gắn bó vào. Khi một vị tỳ kheo đã nghe rằng không có điều gì đáng để gắn bó vào, thì vị ấy biết rõ mọi thứ; sau khi biết rõ mọi thứ, vị ấy hiểu thấu đáo mọi thứ; sau khi hiểu thấu đáo mọi thứ, bất cứ cảm thọ nào vị ấy cảm nhận, dù là dễ chịu, đau đớn hay không-đau-đớn-cũng-không-dễ-chịu, vị ấy an trú quan sát sự vô thường nơi các cảm thọ ấy, quan sát sự phai nhạt, quan sát sự chấm dứt, quan sát sự buông bỏ. Nhờ quan sát như vậy, vị ấy không nắm giữ bất cứ điều gì trên đời. Khi không nắm giữ, vị ấy không dao động. Khi không dao động, vị ấy tự mình chứng ngộ Niết bàn. Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, [256] những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Này vua của các vị trời, vắn tắt là theo cách này, một vị tỳ kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái… là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người.’ Đó là cách Ta nhớ lại đã thuyết vắn tắt cho Sakka, vua của các vị trời, về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái.”

Đó là những gì Thế Tôn đã thuyết. Tôn giả Mahā Moggallāna mãn nguyện và hoan hỷ với lời dạy của Thế Tôn.

Rồi Tôn giả Maha Moggallana đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Moggallana bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết chăng, Thế Tôn vừa mới nói về ái tận giải thoát một cách tóm tắt cho một Dạ-xoa có đại oai lực?

– Này Moggallana, Ta biết. Ở đây, Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Ta ở, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, này Moggallana, Thiên chủ Sakka bạch với Ta:

"-- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận, giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

Khi nghe nói vậy, này Maha Moggallana, Ta nói với Thiên chủ Sakka:

"-- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”. Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”. Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật gì ở đời. Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”. Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận, giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cảnh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư

Thiên và loài Người".

Như vậy, này Moggallana, Ta biết Ta vừa nói một cách tóm tắt về ái tận giải thoát cho Thiên chủ Sakka."

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Maha Moggallana hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Sakka / Sakka / Đế Thích: Vua của cõi trời Đao Lợi (Ba mươi ba), người hộ trì Phật pháp.
  • vị trời / deva / gods: Chư thiên, những chúng sinh sống ở cõi trời, có phước báu và tuổi thọ cao hơn loài người.
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người nam xuất gia tu hành theo giáo pháp của Đức Phật (khất sĩ).
  • ái / taṇhā / craving: Sự khao khát, tham muốn mãnh liệt, nguyên nhân của khổ đau (tham ái).
  • gắn bó / abhinivesa / adhering: Sự bám víu, thiên chấp vào các quan điểm hoặc đối tượng (bám chấp).
  • biết rõ / abhiññā / directly knows: Sự hiểu biết trực tiếp, thấu suốt bằng trí tuệ (thắng tri).
  • hiểu thấu đáo / pariññā / fully understands: Sự hiểu biết trọn vẹn, cùng tột về bản chất của pháp (liễu tri).
  • cảm thọ / vedanā / feelings: Sự cảm nhận của tâm đối với các đối tượng (vui, khổ, hoặc trung tính).
  • quan sát / anupassanā / contemplating: Sự nhìn ngắm, quán chiếu liên tục vào bản chất của đối tượng (quán).
  • phai nhạt / virāga / fading away: Sự ly tham, không còn say mê đối tượng.
  • chấm dứt / nirodha / cessation: Sự diệt tận, ngưng nghỉ của các hành (đoạn diệt).
  • buông bỏ / paṭinissagga / relinquishment: Sự từ bỏ, xả ly hoàn toàn.
  • nắm giữ / upādāna / cling: Sự chấp thủ, ôm giữ chặt chẽ đối tượng (chấp thủ).
  • dao động / paritassati / agitated: Trạng thái lo âu, sợ hãi, run rẩy do tham ái và chấp thủ (ưu tư).
  • Niết bàn / Nibbāna / Nirvana: Trạng thái tịch diệt, giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau và luân hồi.
  • vị thần / yakkha / spirit: Ở đây chỉ Sakka hoặc một vị trời có uy lực (Dạ xoa).
  • Kosiya / Kosiya: Một tên gọi khác của Sakka (Kiều-thi-ca).
  • A-tu-la / asura / titans: Một loài chúng sinh hiếu chiến, thường tranh đấu với chư thiên (Phi thiên).
  • Vessavana / Vessavana: Một trong Tứ Đại Thiên Vương, cai quản phương Bắc (Tỳ-sa-môn).
  • lơ đễnh / pamāda / negligently: Sự thiếu chánh niệm, buông lung trong các dục (phóng dật).
  • tâm kinh cảm / saṃvega / sense of urgency: Sự xúc động mạnh mẽ, sợ hãi trước khổ đau luân hồi thúc đẩy nỗ lực tu tập.
  • bạn đồng phạm hạnh / sabrahmacārī / companions in the holy life: Những người cùng tu tập theo một giáo pháp thanh tịnh.