Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

38. Đại Kinh về Đoạn Trừ Ái

(Mahātamhāsankhaya Sutta)

(BỐI CẢNH)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn (Blessed One/ Bhagavā/Đức Phật) đang cư trú tại Sāvatthī, trong Rừng Jeta, Vườn của ông Anāthapindika.

2. Lúc bấy giờ, một quan điểm sai lầm (pernicious view/ pāpakadiṭṭhi/ tà kiến) đã khởi lên từ vị tỳ kheo tên Satti, con của một người đánh cá, như sau: “Theo như ta hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức (consciousness/ viññāṇa/ sự nhận biết) này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi (round of rebirths/ saṃsāra), chứ không phải cái nào khác.” 402

3. Một số tỳ kheo, sau khi nghe về điều này, đã đến gặp tỳ kheo Satti và hỏi: “Này hiền giả Satti, có thật là quan điểm sai lầm như thế đã khởi lên trong ông không?”

“Chính xác là vậy, chư hiền. Theo như tôi hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi, chứ không phải cái nào khác.”

Bấy giờ, các tỳ kheo ấy, vì muốn tách ông ra khỏi quan điểm sai lầm đó, đã truy vấn, chất vấn và cật vấn ông như sau: “Này hiền giả Satti, đừng nói như vậy. Đừng xuyên tạc Thế Tôn; xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn sẽ không nói như vậy. Vì trong nhiều bài kinh, Thế Tôn đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên (dependently arisen/ paṭiccasamuppanna/ duyên khởi), [257] nếu không có điều kiện (condition/ paccaya/ duyên) thì không có sự khởi sinh của thức.”

Tuy nhiên, mặc dù bị các tỳ kheo truy vấn, chất vấn và cật vấn như vậy, tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, vẫn khăng khăng giữ chặt (adhered/ upādāna/ chấp thủ) vào quan điểm sai lầm đó và tiếp tục khẳng định nó.

4. Vì các tỳ kheo không thể kéo ông ra khỏi quan điểm sai lầm đó, họ bèn đến gặp Thế Tôn, và sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên và thuật lại tất cả những gì đã xảy ra, rồi thưa thêm: “Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể kéo tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, ra khỏi quan điểm sai lầm này, nên chúng con trình sự việc này lên Thế Tôn.”

38. ÐẠI KINH ÐOẠN TẬN ÁI

38. ÐẠI KINH ÐOẠN TẬN ÁI (Mahàtanhàsankhaya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá như sau:

– Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

– Thật sự là vậy, chư Hiền, theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

– Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.

– Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác.

Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con người đánh cá từ bỏ ác tà kiến ấy, nên các vị ấy đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác””. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

“-- Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác’”.

Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá nói với chúng con như sau:

"-- Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận:

"-- Hiền giả Sati chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên thì thức không hiện khởi.

"Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá dầu cho được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy:

“-- Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.

Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này."

5. Bấy giờ, Thế Tôn bảo một tỳ kheo nọ: “Này tỳ kheo, hãy đi [258] và nhân danh ta bảo tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, rằng Bậc Đạo Sư cho gọi ông ấy.” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” vị ấy đáp, rồi đi đến chỗ tỳ kheo Satti và bảo: “Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả Satti.”

“Vâng, thưa hiền giả,” ông đáp, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, ông ngồi xuống một bên. Thế Tôn bèn hỏi ông: “Này Satti, có thật là quan điểm sai lầm sau đây đã khởi lên trong ông: ‘Theo như ta hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi, chứ không phải cái nào khác’?”

“Đúng như vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi, chứ không phải cái nào khác.”

“Cái thức đó là gì, này Satti?”

“Bạch Thế Tôn, đó là cái biết nói, biết cảm thọ, và kinh nghiệm kết quả của các hành động thiện và ác ở chỗ này hay chỗ kia.” 403

“Này kẻ lầm lạc (misguided man/ moghapurisa), ông đã từng biết ta thuyết giảng Giáo pháp như thế cho ai bao giờ? Này kẻ lầm lạc, chẳng phải trong nhiều bài kinh ta đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên, nếu không có điều kiện thì không có sự khởi sinh của thức sao? Nhưng ông, này kẻ lầm lạc, đã xuyên tạc chúng ta bởi sự nắm bắt sai lệch của ông, tự làm hại mình và tạo ra nhiều điều bất thiện; vì điều này sẽ dẫn đến sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho ông.”

6. Rồi Thế Tôn bảo các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các ông nghĩ sao? Tỳ kheo Satti, con của người đánh cá này, có nhen nhóm được chút tia sáng trí tuệ nào trong Pháp và Luật này không?”

“Làm sao có thể được, bạch Thế Tôn? Dạ không, bạch Thế Tôn.”

Khi nghe nói vậy, tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, ngồi im lặng, hoang mang, vai rũ xuống, đầu cúi gầm, ủ rũ và không nói được lời nào. Biết được điều này, Thế Tôn bảo ông: “Này kẻ lầm lạc, ông sẽ bị nhận diện bởi chính quan điểm sai lầm của mình. Ta sẽ hỏi các tỳ kheo về vấn đề này.”

7. Rồi Thế Tôn hỏi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các ông có hiểu Giáo pháp do ta thuyết giảng giống như tỳ kheo Satti, [259] con của người đánh cá này, khi ông ta xuyên tạc chúng ta bởi sự nắm bắt sai lệch, tự làm hại mình và tạo ra nhiều điều bất thiện không?”

“Dạ không, bạch Thế Tôn. Vì trong nhiều bài kinh, Thế Tôn đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên, nếu không có điều kiện thì không có sự khởi sinh của thức.”

"Lành thay, này các tỳ kheo. Thật tốt khi các ông hiểu Giáo pháp do ta thuyết giảng như vậy. Vì trong nhiều bài kinh, ta đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên, nếu không đủ điều kiện thì không có sự khởi sinh của thức. Nhưng tỳ kheo Satti, con của người đánh cá này, đã xuyên tạc chúng ta bởi sự nắm bắt sai lệch, tự làm hại mình và tạo ra nhiều điều bất thiện; vì điều này sẽ dẫn đến sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho kẻ lầm lạc này.

Rồi Thế Tôn cho gọi là một Tỷ-kheo khác:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá: “Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:

– Hiền giả Sati, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá đang ngồi xuống một bên:

– Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác”?

– Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

– Này Sati, thế nào là thức ấy.

– Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói, cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.

– Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp, Luật này không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể có được, không thể được, bạch Thế Tôn.

Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, im lặng, hổ người, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn sau khi biết được Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá.

– Này kẻ mê mờ kia, người ta sẽ biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng giống như Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức?

– Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên, thức không hiện khởi.

– Lành thay, chư Tỷ-kheo, lành thay, chư Tỷ-kheo, các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy! Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi. Không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, còn tự pháp hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ mê mờ ấy.

(TÍNH DUYÊN KHỞI CỦA THỨC)

8. "Này các tỳ kheo, thức được hình thành theo điều kiện cụ thể mà nhờ đó nó khởi lên. Khi thức khởi lên dựa vào mắt và các hình sắc, nó được gọi là nhãn thức (eye-consciousness/ cakkhuviññāṇa/ sự nhận biết qua mắt); khi thức khởi lên dựa vào tai và âm thanh, nó được gọi là nhĩ thức; khi thức khởi lên dựa vào mũi và mùi hương, [260] nó được gọi là tỷ thức; khi thức khởi lên dựa vào lưỡi và vị, nó được gọi là thiệt thức; khi thức khởi lên dựa vào thân và vật xúc chạm, nó được gọi là thân thức; khi thức khởi lên dựa vào ý và các pháp (đối tượng của tâm), nó được gọi là ý thức. Cũng giống như lửa được hình thành theo nhiên liệu cụ thể mà nhờ đó nó cháy - khi lửa cháy dựa vào củi, nó được gọi là lửa củi; khi lửa cháy dựa vào cành cây vụn, nó được gọi là lửa cành cây; khi lửa cháy dựa vào cỏ, nó được gọi là lửa cỏ; khi lửa cháy dựa vào phân bò, nó được gọi là lửa phân bò; khi lửa cháy dựa vào trấu, nó được gọi là lửa trấu; khi lửa cháy dựa vào rác, nó được gọi là lửa rác - cũng vậy, thức được hình thành theo điều kiện cụ thể mà nhờ đó nó khởi lên. 404 Khi thức khởi lên dựa vào mắt và các hình sắc, nó được gọi là nhãn thức… khi thức khởi lên dựa vào ý và các pháp, nó được gọi là ý thức.

(Duyên sanh Thức)

Này các Tỷ-kheo, do duyên mà thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên là tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có tên tùy theo duyên ấy: duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân bò, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa phân bò. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.

(CÁC CÂU HỎI VỀ SỰ HIỆN HỮU)

9. “Này các tỳ kheo, các ông có thấy: ‘Cái-này hiện hữu’ không?” 405 – “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, các ông có thấy: ‘Nguồn gốc của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn (nutriment/ āhāra/ vật thực) xuất hiện hay không’?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, các ông có thấy: ‘Khi thức ăn đó hết thì cái Cái-này sẽ biến mất’ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

10. “Này các tỳ kheo, khi một người không thấy về điều: ‘Cái-này hiện hữu hay không’ thì sự nghi ngờ có khởi lên không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, khi một người không thấy về điều: ‘Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện hay không’ thì sự nghi ngờ có khởi lên không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, khi một người không thấy về điều: ‘Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất hay không’ thì sự nghi ngờ có khởi lên không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

11. “Này các tỳ kheo, khi một người thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: ‘Cái-này hiện hữu’ thì nghi ngờ có được đoạn trừ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, khi một người thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: ‘Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện’ thì nghi ngờ có được đoạn trừ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, khi một người thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: ‘Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất’ thì nghi ngờ có được đoạn trừ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

12. “Này các tỳ kheo, các ông có thoát khỏi nghi ngờ ở điểm này: ‘Cái-này hiện hữu hay không’ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, các ông có thoát khỏi nghi ngờ ở điểm này: ‘Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện’ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, các ông có thoát khỏi nghi ngờ ở điểm này: ‘Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất’ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

13. “Này các tỳ kheo, điều này đã được các ông khéo thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: ‘Cái-này hiện hữu’ chưa?” - “Thưa rồi, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, điều này đã được các ông khéo thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: ‘Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện’ chưa?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

– “Này các tỳ kheo, điều này đã được các ông khéo thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: ‘Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất’ chưa?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

14. “Này các tỳ kheo, dù cho quan điểm này có thanh tịnh và sáng tỏ như vậy, nhưng nếu các ông gắn bó với nó, nâng niu nó, trân quý nó, và xem nó như của sở hữu, thì các ông có hiểu Giáo pháp đã được ví như chiếc bè, là để vượt qua, chứ không phải để nắm giữ không?” 406 - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Này các tỳ kheo, dù cho quan điểm này có thanh tịnh và sáng tỏ như vậy, [261] nhưng nếu các ông không gắn bó với nó, không nâng niu nó, không trân quý nó, và không xem nó như của sở hữu, thì các ông có hiểu Giáo pháp đã được ví như chiếc bè, là để vượt qua, chứ không phải để nắm giữ không?” - “Thưa có, bạch Thế Tôn.”

(Các câu hỏi về sanh vật)

Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sanh vật này không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không?

– Bạch Thế Tôn có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy cũng bị đoạn diệt không?

– Bạch Thế Tôn, có thấy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sanh vật này có thể không có mặt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, vì do dự nên nghi hoặc sanh. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sanh vật này có thể không có mặt.

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Sự tác thành của món ăn ấy có thể có hay không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, thì sự nghi ngờ này được trừ diệt. Do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật có thể bị đoạn diệt hay không bị đoạn diệt?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sự tác thành của món ăn ấy, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), ở đây, các Ông có phải không có nghi hoặc không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sanh vật này có mặt, (đối với vấn đề này) có phải các Ông khéo thấy, nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, sự hiện hữu của sanh vật ấy là do các món ăn ấy tác thành,… này, có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy có thể bị đoạn diệt, (đối với vấn đề này), có phải các Ông khéo thấy nhờ như thật chánh trí tuệ không?

– Bạch Thế Tôn, có vậy.

– Này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông chấp trước, lấy làm hãnh diện, truy cầu, xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, không.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông không chấp trước, không lấy làm hãnh diện, không truy cầu, không xem là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ là của mình, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thể ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.

– Bạch Thế Tôn, có.

(THỨC ĂN VÀ LÝ DUYÊN KHỞI)

15. "Này các tỳ kheo, có bốn loại thức ăn để duy trì các sự hiện hữu của chúng sinh và hỗ trợ cho những chúng sinh đang tìm kiếm một sự tái sinh. Bốn loại đó là gì? Đó là: thức ăn vật chất (physical food/ kabaḷīkārāhāra/đoàn thực), thô hoặc tế; xúc chạm (contact/ phassa/ xúc) là thứ hai; ý định (mental volition/ manosañcetanā/tư niệm thực) là thứ ba; và thức là thứ tư. 407

16. "Này các tỳ kheo, bốn loại thức ăn này lấy gì làm nguồn, lấy gì làm gốc, từ đâu sinh ra và hiện khởi? Bốn loại thức ăn này lấy tham ái (craving/ taṇhā/khao khát) làm nguồn, lấy tham ái làm gốc; chúng được sinh ra và hiện khởi từ tham ái. Và tham ái này lấy gì làm nguồn…? Tham ái lấy cảm thọ (feeling/ vedanā/ cảm giác) làm nguồn… Và cảm thọ này lấy gì làm nguồn…? Cảm thọ lấy xúc chạm làm nguồn… Và xúc chạm này lấy gì làm nguồn…? Xúc chạm lấy sáu giác quan (sixfold base/ saḷāyatana/ lục nhập) làm nguồn… Và sáu giác quan này lấy gì làm nguồn…? Sáu giác quan lấy danh-sắc (mentality-materiality/ nāmarūpa/ tâm và thân) làm nguồn… Và danh-sắc này lấy gì làm nguồn…? Danh-sắc lấy thức làm nguồn… Và thức này lấy gì làm nguồn…? Thức lấy các hoạt (formations/ saṅkhāra/ hoạt động tâm ý) làm nguồn… Và các hoạt này lấy gì làm nguồn, lấy gì làm gốc, từ đâu sinh ra và hiện khởi? Các hoạt lấy vô minh (ignorance/ avijjā/sự thiếu hiểu biết) làm nguồn, lấy vô minh làm gốc; chúng được sinh ra và hiện khởi từ vô minh.

(Thức ăn và Duyên khởi)

– Này các Tỷ-kheo, có bốn món ăn giúp cho an trú các loài hữu tình đã sanh hay phò trợ các loài hữu tình sẽ sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô hoặc tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, và thứ tư là thức thực.

Và này các Tỷ-kheo bốn món ăn này, lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Bốn món ăn này lấy ái làm nhân duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm sanh chủng, lấy ái làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, ái này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Ái lấy thọ làm nhân duyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm sanh chủng, lấy thọ làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thọ này lấy gì làm nguyên nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thọ lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm tập khởi, lấy xúc làm sanh chủng, lấy xúc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, xúc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Xúc lấy sáu nhập làm nhân duyên, lấy sáu nhập làm tập khởi, lấy sáu nhập làm sanh chủng, lấy sáu nhập làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Sáu nhập lấy danh sắc làm nhân duyên, lấy danh sắc làm tập khởi, lấy danh sắc làm sanh chủng, lấy danh sắc làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, danh sắc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Danh sắc lấy thức làm nhân duyên, lấy thức là tập khởi, lấy thức làm sanh chủng, lấy thức làm nguyên nhân. Này các Tỷ-kheo, thức này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Thức lấy hành làm nhân duyên, lấy hành làm tập khởi, lấy hành làm sanh chủng, lấy hành làm nguyên nhân. Này các Tỷ- kheo, các hành này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sanh chủng, lấy gì làm nguyên nhân? Các hành lấy vô minh làm sanh chủng, lấy vô minh làm nguyên nhân.

(THUYẾT GIẢNG THUẬN CHIỀU VỀ SỰ KHỞI SINH)

17. "Như vậy, này các tỳ kheo, với vô minh làm điều kiện, các hoạt [khởi lên]; với các hoạt làm điều kiện, thức; với thức làm điều kiện, danh-sắc; với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan; với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm; với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ; với cảm thọ làm điều kiện, tham ái; với tham ái làm điều kiện, giữ chặt (clinging/ upādāna/ chấp thủ); với giữ chặt làm điều kiện, hiện hữu (being/ bhava/ hữu); với sự hiện hữu làm điều kiện, sinh (birth/ jāti); với sinh làm điều kiện, già và chết (ageing and death/ jarāmaraṇa), sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

(Duyên theo chiều thuận)

Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được hiện hữu. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

(CÂU HỎI NGƯỢC CHIỀU VỀ SỰ KHỞI SINH)

18. “‘Với sinh làm điều kiện, già và chết’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải già và chết lấy sinh làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

“Già và chết lấy sinh làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với sinh làm điều kiện, già và chết’.”

“‘Với hiện hữu làm điều kiện, sinh’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải sinh lấy hiện hữu làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

“Sinh lấy hiện hữu làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với hiện hữu làm điều kiện, sinh’.”

“‘Với giữ chặt(thủ) làm điều kiện, hiện hữu’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải hiện hữu lấy giữ chặt làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

“Sự hiện hữu lấy giữ chặt làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu’.”

“‘Với tham ái làm điều kiện, giữ chặt’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải giữ chặt lấy tham ái làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

giữ chặt lấy tham ái làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với tham ái làm điều kiện, giữ chặt’.”

“‘Với cảm thọ làm điều kiện, tham ái’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải tham ái lấy cảm thọ làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

Tham ái lấy cảm thọ làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với cảm thọ làm điều kiện, tham ái’.”

“‘Với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải cảm thọ lấy xúc chạm làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

Cảm thọ lấy xúc chạm làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ’.”

“‘Với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải xúc chạm lấy sáu giác quan làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

Xúc chạm lấy sáu giác quan làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm’.”

“‘Với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải sáu giác quan lấy danh-sắc làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

Sáu giác quan lấy danh-sắc làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan’.”

“‘Với thức làm điều kiện, danh-sắc’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải danh-sắc lấy thức làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

Danh-sắc lấy thức làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với thức làm điều kiện, danh-sắc’.”

“‘Với hoạt làm điều kiện, thức’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải thức lấy hoạt làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

Thức lấy hoạt làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với hoạt làm điều kiện, thức’.”

“‘Với vô minh làm điều kiện, hoạt’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải hoạt lấy vô minh làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

Hoạt lấy vô minh làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với hoạt làm điều kiện, vô minh’.”

(Duyên theo chiều nghịch)

Trước đã nói: Sanh duyên già, chết (Do duyên sanh nên già, chết hiện khởi). Này các Tỷ-kheo, sanh duyên già, chết có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, sanh duyên già, chết. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sanh duyên già, chết.

– Trước đã nói: hữu duyên sanh. Này các Tỷ-kheo, hữu duyên sanh có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, hữu duyên sanh. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hữu duyên sanh.

– Trước đã nói: Thủ duyên hữu. Này các Tỷ-kheo, thủ duyên hữu có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thủ duyên hữu. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thủ duyên hữu.

– Trước đã nói: Ái duyên thủ. Này các Tỷ-kheo, ái duyên thủ có phải không? Hay ở đây, (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, ái duyên thủ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Ái duyên thủ.

– Trước đã nói: Thọ duyên ái. Này các Tỷ-kheo, thọ duyên ái có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thọ duyên ái. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thọ duyên ái.

– Trước đã nói: Xúc duyên thọ. Này các Tỷ-kheo, xúc duyên thọ có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, xúc duyên thọ. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Xúc duyên thọ.

– Trước đã nói: Sáu nhập duyên xúc. Này các Tỷ-kheo, sáu nhập duyên xúc có phải không? Hay ở đây

(nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, sáu nhập duyên xúc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Sáu nhập duyên xúc.

– Trước đã nói: Danh sắc duyên sáu nhập. Này các Tỷ-kheo, danh sắc duyên sáu nhập có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, danh sắc duyên sáu nhập. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Danh sắc duyên sáu nhập.

– Trước đã nói: Thức duyên danh sắc. Này các Tỷ-kheo, thức duyên danh sắc có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, thức duyên danh sắc. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Thức duyên danh sắc.

– Trước đã nói: Hành duyên thức: Này các Tỷ-kheo, hành duyên thức có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, hành duyên thức. Như vậy, đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Hành duyên thức.

– Trước đã nói: Vô minh duyên hành. Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, vô minh duyên hành. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Vô minh duyên hành.

(TÓM TẮT VỀ SỰ KHỞI SINH)

19. "Lành thay, này các tỳ kheo. Các ông nói như vậy, và ta cũng nói như vậy: ‘Khi cái-này hiện hữu, cái-kia hình thành; [263] với sự khởi lên của cái này, cái kia khởi lên.’ 408 Nghĩa là, với vô minh làm điều kiện, các hoạt [khởi lên]; với các hoạt làm điều kiện, thức; với thức làm điều kiện, danh-sắc; với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan; với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm; với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ; với cảm thọ làm điều kiện, tham ái; với tham ái làm điều kiện, giữ chặt; với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu; với sự hiện hữu làm điều kiện, sự sinh; với sự sinh làm điều kiện, * già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

(Tóm lược về Duyên)

– Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh”, như vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não cùng sanh khởi. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

(THUYẾT GIẢNG THUẬN CHIỀU VỀ SỰ ĐOẠN DIỆT)

20. "Nhưng với sự ly tham và đoạn diệt hoàn toàn của vô minh, các hoạt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của các hoạt, thức đoạn diệt; với sự đoạn diệt của thức, danh-sắc đoạn diệt; với sự đoạn diệt của danh-sắc, sáu giác quan đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sáu giác quan, xúc chạm đoạn diệt; với sự đoạn diệt của xúc chạm, cảm thọ đoạn diệt; với sự đoạn diệt của cảm thọ, tham ái đoạn diệt; với sự đoạn diệt của tham ái, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sự sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(Diệt theo chiều thuận)

Do vô minh đoạn diệt, xả ly một cách hoàn toàn nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(CÂU HỎI NGƯỢC CHIỀU VỀ SỰ ĐOẠN DIỆT)

21. “‘Với sự đoạn diệt của sự sinh, sự đoạn diệt của già và chết’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải già và chết đoạn diệt với sự đoạn diệt của sự sinh hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

“Già và chết đoạn diệt với sự đoạn diệt của sự sinh, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với sự đoạn diệt của sự sinh, sự đoạn diệt của già và chết’.”

“‘Với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sự đoạn diệt của sự sinh’…‘Với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự đoạn diệt của sự hiện hữu’…‘Với sự đoạn diệt của tham ái, sự đoạn diệt của giữ chặt’…‘Với sự đoạn diệt của cảm thọ, sự đoạn diệt của tham ái’…‘Với sự đoạn diệt của xúc chạm, sự đoạn diệt của cảm thọ’ [264]…‘Với sự đoạn diệt của sáu giác quan, sự đoạn diệt của xúc chạm’…‘Với sự đoạn diệt của danh-sắc, sự đoạn diệt của sáu giác quan’…‘Với sự đoạn diệt của thức, sự đoạn diệt của danh-sắc’…‘Với sự đoạn diệt của các hoạt, sự đoạn diệt của thức’…‘Với sự đoạn diệt của vô minh, sự đoạn diệt của các hoạt’: đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải các hoạt đoạn diệt với sự đoạn diệt của vô minh hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?”

“Các hoạt đoạn diệt với sự đoạn diệt của vô minh, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: ‘Với sự đoạn diệt của vô minh, sự đoạn diệt của các hoạt’.”

(Diệt theo chiều nghịch)

Trước đã nói: Do sanh diệt nên già, chết diệt. Này các Tỷ-kheo, do sanh diệt nên già, chết diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sanh diệt nên già, chết diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do

sanh diệt nên già, chết diệt.

– Trước đã nói: Do hữu diệt nên sanh diệt. Này các Tỷ-kheo, do hữu diệt nên sanh diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hữu diệt nên sanh diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hữu diệt nên sanh diệt.

– Trước đã nói: Do thủ diệt nên hữu diệt. Này các Tỷ-kheo, do thủ diệt nên hữu diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thủ diệt nên hữu diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thủ diệt nên hữu diệt.

– Trước đã nói: Do ái diệt nên thủ diệt. Này các Tỷ-kheo, do ái diệt nên thủ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do ái diệt nên thủ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do ái diệt nên thủ diệt.

– Trước đã nói: Do thọ diệt nên ái diệt. Này các Tỷ-kheo, do thọ diệt nên ái diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thọ diệt nên ái diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do thọ diệt nên ái diệt.

– Trước đã nói: Do xúc diệt nên thọ diệt. Này các Tỷ-kheo, do xúc diệt nên thọ diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do xúc diệt nên thọ diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do xúc diệt nên thọ diệt.

– Trước đã nói: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Này các Tỷ-kheo, do sáu nhập diệt nên xúc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do sáu nhập diệt nên xúc diệt.

– Trước đã nói: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Này các Tỷ-kheo, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt.

– Trước đã nói: Do thức diệt nên danh sắc diệt. Này các Tỷ-kheo, do thức diệt nên danh sắc diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thức diệt nên danh sắc diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do thức diệt nên danh sắc diệt.

– Trước đã nói: Do hành diệt nên thức diệt. Này các Tỷ-kheo, do hành diệt nên thức diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hành diệt nên thức diệt. Như vậy đối với chúng con (nghĩa) ở đây là vậy: Do hành diệt nên thức diệt.

– Trước đã nói: Do vô minh diệt nên hành diệt. Này các Tỷ-kheo, do vô minh diệt nên hành diệt có phải không? Hay ở đây (nghĩa) như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do vô minh diệt nên hành diệt. Như vậy đối với chúng con, (nghĩa) ở đây là vậy: Do vô minh diệt nên hành diệt.

(TÓM TẮT VỀ SỰ ĐOẠN DIỆT)

22. "Lành thay, này các tỳ kheo. Các ông nói như vậy, và ta cũng nói như vậy: ‘Khi cái này không hiện hữu - cái kia không hình thành; với sự đoạn diệt của cái này - cái kia đoạn diệt.’ Hay là, với sự đoạn diệt của vô minh, hoạt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của hoạt, thức đoạn diệt; với sự đoạn diệt của thức, danh-sắc đoạn diệt; với sự đoạn diệt của danh-sắc, sáu giác quan đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sáu giác quan, xúc chạm đoạn diệt; với sự đoạn diệt của xúc chạm, cảm thọ đoạn diệt; với sự đoạn diệt của cảm thọ, tham ái đoạn diệt; với sự đoạn diệt của tham ái, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(Tóm lược về Diệt)

– Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông nói như vậy và Ta cũng nói như vậy: “Cái này không có nên cái kia không có, cái này diệt nên cái kia diệt”, như vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên sáu nhập diệt, sáu nhập diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(HIỂU BIẾT CÁ NHÂN)

23. “Này các tỳ kheo, khi biết và thấy như vậy, [265] các ông có chạy về quá khứ như vầy: ‘Trong quá khứ ta có hiện hữu không? Trong quá khứ ta không hiện hữu chăng? Trong quá khứ ta là gì? Trong quá khứ ta như thế nào? Trong quá khứ, sau khi là gì, ta đã trở thành gì?’ không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Khi biết và thấy như vậy, các ông có chạy tới tương lai như vầy: ‘Trong tương lai ta sẽ hiện hữu không? Trong tương lai ta sẽ không hiện hữu chăng? Trong tương lai ta sẽ là gì? Trong tương lai ta sẽ như thế nào? Trong tương lai, sau khi là gì, ta sẽ trở thành gì?’ không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Khi biết và thấy như vậy, các ông có còn hoang mang trong nội tâm về hiện tại như vầy: ‘Ta có hiện hữu không? Ta không hiện hữu chăng? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến? Nó sẽ đi về đâu?’ không?” 409 - “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

24. “Này các tỳ kheo, khi biết và thấy như vậy, các ông có nói: ‘Vì Bậc Đạo Sư được chúng tôi tôn trọng, chúng tôi nói như vậy là vì tôn trọng Bậc Đạo Sư’ không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Khi biết và thấy như vậy, các ông có nói: ‘Vị Sa-môn nói điều này, và các sa-môn [khác] cũng nói vậy, nhưng chúng tôi không nói như vậy’ không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Khi biết và thấy như vậy, các ông có thừa nhận một đạo sư nào khác không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Khi biết và thấy như vậy, các ông có quay lại với các nghi lễ, những cuộc tranh luận ồn ào, và các điềm báo tốt lành của các sa-môn và bà-la-môn bình thường, coi đó là cốt lõi [của đời sống phạm hạnh] không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Có phải các ông chỉ nói về những gì các ông đã tự mình biết, tự mình thấy, và tự mình hiểu không?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

25. "Lành thay, này các tỳ kheo. Các ông đã được ta dẫn dắt bằng Giáo pháp này, một giáo pháp thiết thực hiện tại (visible here and now/ sanditthiko), không có thời gian (immediately effective/ akāliko/ vượt thời gian), mời gọi đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để cho người trí tự mình chứng nghiệm. Chính vì điều này mà đã có lời dạy: ‘Này các tỳ kheo, Giáo pháp này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, mời gọi đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để cho người trí tự mình chứng nghiệm.’

(Tri kiến về ngã)

Này các Tỷ-kheo, các Ông nên biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời quá khứ, và suy nghĩ: “Ta có mặt trong thời quá khứ hay không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta có mặt như thế nào trong thời quá khứ”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời vị lai, và suy nghĩ: “Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nghi ngờ gì về mình trong thời hiện tại: “Ta có mặt hay ta không có mặt. Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt, hình vóc như thế nào? Hữu tình này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Bậc Ðạo Sư được chúng ta tôn trọng. Chúng ta nói vì chúng ta tôn trọng bậc Ðạo Sư”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: “Một Sa-môn nói với chúng tôi như vậy, các Sa-môn khác cũng nói như vậy, và còn chúng tôi không có nói như vậy”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có tìm một vị Ðạo Sư khác không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có trở lui lại các giới cấm, tế tự đàn tràng của các tục tử Sa-môn, Bà-la-môn (và nghĩ rằng) chúng là căn bản không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, có phải các Ông chỉ nói những gì các Ông tự biết, tự thấy, tự ý thức được?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Lành thay, này các Tỷ-kheo,! Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được ta giới thiệu Chánh Pháp, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Này các Tỷ-kheo, Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Tất cả những gì đã nói là do duyên này mà nói.

(VÒNG LUÂN HỒI: TỪ THỤ THAI ĐẾN TRƯỞNG THÀNH)

26. "Này các tỳ kheo, sự thụ thai của một phôi thai trong tử cung diễn ra thông qua sự kết hợp của ba yếu tố. 410 Ở đây, có sự kết hợp của cha và mẹ, nhưng không phải thời kỳ thuận lợi của người mẹ, và chúng sinh sắp tái sinh411 (being to be reborn/ gandhabba/ hương ấm) không có mặt - trong trường hợp này không có [266] sự thụ thai của phôi thai trong tử cung. Ở đây, có sự kết hợp của cha và mẹ, và là thời kỳ thuận lợi của người mẹ, nhưng chúng sinh sắp tái sinh không có mặt - trong trường hợp này cũng không có sự thụ thai của phôi thai trong tử cung. Nhưng khi có sự kết hợp của cha và mẹ, và là thời kỳ thuận lợi của người mẹ, và chúng sinh sắp tái sinh có mặt, thông qua sự kết hợp của ba yếu tố này, sự thụ thai của phôi thai trong tử cung diễn ra.

27. "Người mẹ sau đó mang phôi thai trong bụng suốt chín hoặc mười tháng với nhiều lo âu, như một gánh nặng. Rồi, vào cuối chín hoặc mười tháng, người mẹ sinh con với nhiều lo âu, như một gánh nặng. Khi đứa trẻ ra đời, bà nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình; vì sữa mẹ được gọi là máu trong Luật của Bậc Thánh.

28. "Khi lớn lên và các căn đã trưởng thành, đứa trẻ chơi những trò chơi như cày đồ chơi, đánh khăng, nhào lộn, chong chóng đồ chơi, đồ đong đo đồ chơi, xe đồ chơi, và cung tên đồ chơi.

29. "Khi lớn lên và các căn đã trưởng thành [hơn nữa], chàng thanh niên tận hưởng sự cung phụng và đầy đủ năm sợi dây dục-giác-quan, với các hình sắc nhận biết qua mắt… âm thanh nhận biết qua tai… mùi hương nhận biết qua mũi… vị nhận biết qua lưỡi… vật xúc chạm nhận biết qua thân mà đáng khao khát, đáng mong muốn, dễ chịu và đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, và khơi gợi lòng tham.

(Vòng luân hồi: từ sanh đến trưởng thành)

Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.

Rồi này các Tỷ-kheo, người mẹ trong chín hay mười tháng mang bào thai ấy, với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đã sinh, người mẹ nuôi (hài nhi ấy) với máu của mình. Này các Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là máu.

Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ ấy, sau khi lớn lên, sau khi các căn đã thuần thục, chơi với những trò chơi dành cho các đứa trẻ, như với cái cày nhỏ, chơi khăng, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ.

Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ sau khi lớn lên, sau khi các căn do mắt nhận thức, được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc; các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… Các hương do mũi nhận thức… Các vị do lưỡi nhận thức… Các xúc do thân cảm xúc; các xúc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục.

(SỰ TIẾP DIỄN CỦA VÒNG LUÂN HỒI)

30. "Khi thấy một hình sắc bằng mắt, người ấy tham đắm nếu nó dễ chịu; ghét bỏ nếu nó khó chịu. Người ấy sống với niệm thiện trên thân không được thiết lập, một tâm trí hạn hẹp, và không hiểu đúng như thật về giải thoát bằng tâm (deliverance of mind/ cetovimutti) và giải thoát bằng trí tuệ (deliverance by wisdom/ paññāvimutti), nơi mà các ác pháp bất thiện diệt tận không còn dư tàn. Bận rộn với sự ưa thích và chống đối như vậy, bất cứ cảm thọ nào người ấy cảm nhận - dù là dễ chịu, đau đớn hay không-đau-đớn-cũng-không-dễ-chịu - người ấy đều thích thú cảm thọ đó, hoan nghênh nó, và tiếp tục nắm giữ nó. 412 Khi làm như vậy, sự thích thú khởi lên trong người ấy. Sự thích thú trong các cảm thọ chính là giữ chặt. Với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu [khởi lên]; với sự hiện hữu làm điều kiện, sự sinh; với sự sinh làm điều kiện, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

"Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi… Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân… Khi nhận biết một pháp bằng ý, [267] người ấy tham đắm nếu nó dễ chịu; ghét bỏ nếu nó khó chịu… Sự thích thú trong các cảm thọ chính là giữ chặt. Với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu [khởi lên]; với sự hiện hữu làm điều kiện, sự sinh; với sự sinh làm điều kiện, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

(Tiếp tục luân hồi)

Khi thấy sắc bằng mắt, người đó tham ái đối với sắc đẹp, người đó ghét bỏ đối với sắc xấu, người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước thọ ấy. Vì tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy, nên dục sanh hỷ, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, nên dục hỷ sanh, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi người đó nghe tiếng với tai… khi người đó ngửi hương với mũi… khi người đó nếm vị với lưỡi… khi người đó cảm xúc với thân… khi người đó nhận thức pháp với ý, người đó tham ái đối với pháp tốt, ghét bỏ đối với pháp xấu. Người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không còn dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy. Vì người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

(SỰ CHẤM DỨT CỦA VÒNG LUÂN HỒI: LỘ TRÌNH TU TẬP)

31-38. "Ở đây, này các tỳ kheo, một vị Như Lai (Tathāgata/Đức Phật) xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… (như Kinh 27, §§11-18 ) [268-69]… vị ấy thanh lọc tâm mình khỏi nghi ngờ. [270]

39. "Sau khi đã đoạn trừ năm chướng ngại (five hindrances/ nīvaraṇa/ triền cái) này, những phiền não của tâm làm suy yếu trí tuệ, hoàn toàn ly dục, ly các bất thiện pháp, vị ấy chứng và trú thiền-na (jhāna/ tầng thiền) thứ nhất… Với sự tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền-na thứ hai… Với sự ly tham đối với hỷ… vị ấy chứng và trú thiền-na thứ ba… Với sự xả bỏ lạc và khổ… vị ấy chứng và trú thiền-na thứ tư… trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

(Ðoạn tận luân hồi: Sự tu tập)

Ở đời, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên thuyết điều Như Lai đã chứng ngộ. Như Lai thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Như Lai truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy. Sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng kính ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Sau một thời gian, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống thành tựu học pháp chánh hạnh, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, sống thanh tịnh, không có trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, sống theo phạm hạnh, sống hạnh viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ.

Từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại đối với đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp, từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, trình diễn, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ, gái và trai, từ bỏ nhận cừu và dê, từ bỏ nhận gia cầm và heo, từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Vị ấy nhờ thành tựu Thánh giới uẩn này nên hưởng được lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp; vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiểu tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy với sự thành tựu Thành giới uẩn này, với sự thành tựu Thánh hộ trì căn này, và với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa, tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Sau khi từ bỏ năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Lại nữa, này các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm giác sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

(SỰ CHẤM DỨT CỦA VÒNG LUÂN HỒI: ĐOẠN DIỆT HOÀN TOÀN)

40. "Khi thấy một hình sắc bằng mắt, vị ấy không tham đắm nếu nó dễ chịu; không ghét bỏ nếu nó khó chịu. Vị ấy sống với niệm thiện trên thân được thiết lập, với một tâm vô lượng, và hiểu đúng như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát, nơi mà các ác pháp bất thiện diệt tận không còn dư tàn. 413 Sau khi đã đoạn trừ sự ưa thích và chống đối như vậy, bất cứ cảm thọ nào vị ấy cảm nhận, dù là dễ chịu, đau đớn hay không-đau-đớn-cũng-không-dễ-chịu, vị ấy không thích thú cảm thọ đó, không hoan nghênh nó, hay tiếp tục nắm giữ nó. 414 Vì không làm như vậy, sự thích thú trong các cảm thọ diệt tận nơi vị ấy. Với sự đoạn diệt của thích thú, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của hiện hữu, sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

"Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi… Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân… Khi nhận biết một pháp bằng ý, vị ấy không tham đắm nếu nó dễ chịu; không ghét bỏ nếu nó khó chịu… Với sự đoạn diệt của thích thú, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sự sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(Ðoạn tận luân hồi: Giải thoát rốt ráo)

Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai… khi vị ngửi hương bằng mũi… Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi… Khi vị ấy cảm xúc bằng thân… Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(KẾT LUẬN)

41. “Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ sự giải thoát nhờ đoạn trừ tham ái này mà ta đã thuyết giảng vắn tắt. Nhưng tỳ kheo Satti, [271] con của người đánh cá, đang bị mắc vào một lưới tham ái rộng lớn, trong sự trói buộc của tham ái.”

Đó là những gì Thế Tôn đã thuyết giảng. Các tỳ kheo hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

(Kết luận)

Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, bậc giác ngộ hoàn toàn.
  • quan điểm sai lầm / pāpakadiṭṭhi / pernicious view: Tà kiến, cái nhìn lệch lạc trái với sự thật (như cho rằng thức là thường hằng bất biến).
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người nam xuất gia tu hành trọn vẹn theo giáo pháp của Đức Phật.
  • thức / viññāṇa / consciousness: Sự nhận biết của tâm đối với các đối tượng (qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).
  • vòng luân hồi / saṃsāra / round of rebirths: Sự trôi lăn liên tục trong các kiếp sống sinh tử.
  • do duyên mà khởi lên / paṭiccasamuppanna / dependently arisen: Nguyên lý cho rằng mọi sự vật hiện tượng sinh ra đều do các điều kiện kết hợp, không tự nhiên mà có (Duyên khởi).
  • điều kiện / paccaya / condition: Yếu tố cần thiết để một sự vật khác sinh khởi (Duyên).
  • gắn bó / upādāna / adhering: Sự bám chặt, chấp thủ vào một đối tượng hay quan điểm.
  • kẻ lầm lạc / moghapurisa / misguided man: Người ngu si, hiểu sai giáo pháp, tự gây hại cho mình (thường dùng để quở trách).
  • nhãn thức / cakkhuviññāṇa / eye-consciousness: Sự nhận biết hình ảnh thông qua con mắt.
  • thức ăn / āhāra / nutriment: Những yếu tố nuôi dưỡng và duy trì sự sống (bao gồm thức ăn vật chất, xúc chạm, ý chí và thức).
  • thức ăn vật chất / kabaḷīkārāhāra / physical food: Đồ ăn thức uống nuôi dưỡng thân thể (Đoàn thực).
  • xúc chạm / phassa / contact: Sự gặp gỡ giữa căn (giác quan), trần (đối tượng) và thức (Xúc).
  • tác ý / manosañcetanā / mental volition: Ý muốn, sự hướng tâm có chủ đích (Tư niệm thực).
  • tham ái / taṇhā / craving: Sự khao khát, ham muốn mãnh liệt đối với các đối tượng giác quan hoặc sự hiện hữu.
  • cảm thọ / vedanā / feeling: Cảm giác vui, buồn hoặc trung tính khi tiếp xúc với đối tượng.
  • sáu giác quan / saḷāyatana / sixfold base: Sáu cửa ngõ tiếp nhận thông tin (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) - Lục nhập.
  • danh-sắc / nāmarūpa / mentality-materiality: Sự kết hợp giữa tâm (danh) và thân (sắc).
  • các hoạt / saṅkhāra / formations: Các hoạt động tâm ý tạo tác, năng lực kiến tạo sự sống.
  • vô minh / avijjā / ignorance: Sự thiếu hiểu biết về Tứ Diệu Đế, không thấy rõ bản chất thật của sự vật.
  • giữ chặt / upādāna / clinging: Sự nắm giữ chặt chẽ, chấp thủ (cấp độ mạnh hơn của tham ái).
  • sự hiện hữu / bhava / being: Trạng thái tồn tại, sự trở thành trong một cõi giới nào đó (Hữu).
  • sự sinh / jāti / birth: Sự ra đời, xuất hiện của các uẩn.
  • già và chết / jarāmaraṇa / ageing and death: Sự suy tàn và chấm dứt của thọ mạng.
  • thiết thực hiện tại / sanditthiko / visible here and now: Giáo pháp có thể thấy và kiểm chứng ngay trong đời sống này.
  • không có thời gian / akāliko / immediately effective: Giáo pháp mang lại kết quả ngay lập tức, không phải chờ đợi (vượt thời gian).
  • chúng sinh sắp tái sinh / gandhabba / being to be reborn: Thần thức hay hương ấm chuẩn bị đi đầu thai.
  • tâm giải thoát / cetovimutti / deliverance of mind: Sự giải thoát của tâm khỏi các phiền não nhờ định (thiền định).
  • tuệ giải thoát / paññāvimutti / deliverance by wisdom: Sự giải thoát nhờ trí tuệ thấu suốt bản chất vô thường, vô ngã.
  • Như Lai / Tathāgata: Danh hiệu Đức Phật tự xưng, nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy” (đến/đi từ chân lý).
  • năm chướng ngại / nīvaraṇa / five hindrances: Năm trạng thái tâm lý cản trở thiền định và trí tuệ (tham dục, sân hận, hôn trầm, trào cử, hoài nghi).
  • thiền / jhāna: Trạng thái tâm tập trung sâu lắng, vắng lặng các phiền não.