Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 39. Đại kinh ở Assapura

(Mahā-Assapura Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Thế Tôn (Blessed One/ Bhagavā) đang trú tại nước Angan, trong một thị trấn của người Angan tên là Assapura. Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ kheo (bhikkhus/ monk): “Này các tỳ kheo.” - “Bạch Thế Tôn,” các vị ấy đáp. Đức Thế Tôn nói như sau:

2. "‘Sa môn (recluses/ samaṇa/ người tu hành), sa môn,’ này các tỳ kheo, đó là cách người đời nhìn nhận các ông. Và khi được hỏi, ‘Các ông là ai?’, các ông tự nhận mình là sa môn. Vì đó là danh xưng của các ông và là điều các ông tự nhận, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ thực hành và tu tập những pháp khiến một người trở thành sa môn, khiến một người trở thành bà-la-môn (brahmin/ brāhmaṇa), [^415] để danh xưng của chúng ta là chân thật và lời tự nhận của chúng ta là xác thực, và để những vật dụng cúng dường như y phục, vật thực, chỗ ở và dược phẩm mà chúng ta thọ dụng sẽ mang lại quả báu và lợi ích lớn cho người cúng dường, và để sự xuất gia (going forth/ pabbajjā/từ bỏ gia đình) của chúng ta không vô ích mà có kết quả và sinh sôi nảy nở.’

39. ÐẠI KINH XÓM NGỰA

39. ÐẠI KINH XÓM NGỰA (Mahà-Assapura Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương- già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.

(HẠNH KIỂM VÀ NUÔI MẠNG)

3. "Và này các tỳ kheo, những pháp nào khiến một người trở thành sa môn, khiến một người trở thành bà-la-môn? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: 'Chúng ta sẽ biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi (shame and fear of wrongdoing/ hiri-ottappa/ tàm quý). [^416] Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi. Chừng ấy là đủ, chừng ấy đã xong, mục đích của sa môn hạnh (recluseship/ samaṇattha/đời sống tu hành) đã đạt được, không còn gì để làm nữa’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm. [^417]

4. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? [272] Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Hành động của thân (bodily conduct/ kāyasammācāra/ thân hành) của chúng ta phải thanh tịnh, rõ ràng và cởi mở, không tì vết và được chế ngự, và chúng ta sẽ không tự khen mình và chê người (laud ourselves and disparage others/ attukkaṃsana paravambhana) dựa trên hành động thân thanh tịnh đó.’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, và hành động thân của chúng ta đã thanh tịnh. Chừng ấy là đủ…’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

5. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Lời nói (verbal conduct/ vacīkamma/ khẩu hành) của chúng ta phải thanh tịnh, rõ ràng và cởi mở, không tì vết và được chế ngự, và chúng ta sẽ không tự khen mình và chê người dựa trên lời nói thanh tịnh đó.’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, hành động thân đã thanh tịnh, và lời nói đã thanh tịnh. Chừng ấy là đủ…’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

6. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Ý nghĩ (mental conduct/ manokamma/ ý hành) của chúng ta phải thanh tịnh, rõ ràng và cởi mở, không tì vết và được chế ngự, và chúng ta sẽ không tự khen mình và chê người dựa trên ý nghĩ thanh tịnh đó.’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, hành động thân và lời nói đã thanh tịnh, và ý nghĩ đã thanh tịnh. Chừng ấy là đủ…’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

7. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Cách nuôi mạng (livelihood/ājīva) của chúng ta phải thanh tịnh, rõ ràng và cởi mở, không tì vết và được chế ngự, và chúng ta sẽ không tự khen mình và chê người dựa trên cách nuôi mạng thanh tịnh đó.’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, hành động thân, lời nói, và ý nghĩ đã thanh tịnh, và cách nuôi mạng đã thanh tịnh. [273] Chừng ấy là đủ…’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy.

Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

(Giới hạnh)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? “Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các Ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Thân hành chúng ta phải được thanh tinh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì khẩu hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì ý hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và ý hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì sanh mạng thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

(CHẾ NGỰ CÁC GIÁC QUAN)

8. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ phòng hộ các cửa của các giác quan (sense faculties/ indriya/ căn). Khi mắt thấy sắc, chúng ta sẽ không nắm giữ tướng chung và tướng riêng (signs and features/ nimitta-anubyañjana/đặc điểm chi tiết). Vì nếu để nhãn căn không được phòng hộ, các ác pháp bất thiện như tham lam và ưu phiền (covetousness and grief/ abhijjhā-domanassa) có thể xâm chiếm, nên chúng ta sẽ thực hành sự chế ngự nó, chúng ta sẽ phòng hộ nhãn căn, chúng ta sẽ thực hiện sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi hương… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân xúc chạm… Khi ý nhận thức pháp (mind-object/ dhamma/đối tượng của tâm), chúng ta sẽ không nắm giữ tướng chung và tướng riêng. Vì nếu để ý căn không được phòng hộ, các ác pháp bất thiện như tham lam và ưu phiền có thể xâm chiếm, nên chúng ta sẽ thực hành sự chế ngự nó, chúng ta sẽ phòng hộ ý căn, chúng ta sẽ thực hiện sự chế ngự ý căn.’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, hành động thân, lời nói, ý nghĩ và cách nuôi mạng đã thanh tịnh, và chúng ta đã phòng hộ các cửa giác quan. Chừng ấy là đủ…’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

(Hộ trì các căn)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

(TIẾT ĐỘ TRONG ĂN UỐNG)

9. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ tiết độ trong ăn uống (moderate in eating/ bhojane mattaññutā). Quán chiếu khôn ngoan (reflecting wisely/ yoniso manasikāra/ như lý tác ý), chúng ta thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để làm đẹp hay trang sức thân thể, mà chỉ để duy trì và nuôi dưỡng thân này, để chấm dứt sự khó chịu, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh (holy life/ brahmacariya/ cuộc sống thánh thiện), với suy nghĩ: “Như vậy ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ (đói) mà không khởi lên cảm thọ mới (no quá mức), và ta sẽ khỏe mạnh, không phạm lỗi lầm và sống an lạc.”’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, hành động thân, lời nói, ý nghĩ và cách nuôi mạng đã thanh tịnh, chúng ta phòng hộ các cửa giác quan, và chúng ta tiết độ trong ăn uống. Chừng ấy là đủ…’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

(Tiết chế ăn uống)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hổ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh và các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến

cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

(CHÚ TÂM TỈNH THỨC)

10. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ chuyên tâm vào sự chú tâm tỉnh thức (wakefulness/ jāgariya). Ban ngày, trong khi đi kinh hành và ngồi, chúng ta sẽ gột rửa tâm khỏi các trạng thái ngăn che (obstructive states/āvaraṇīya dhamma/ chướng ngại pháp). Vào canh đầu của đêm, [274] trong khi đi kinh hành và ngồi, chúng ta sẽ gột rửa tâm khỏi các trạng thái ngăn che. Vào canh giữa của đêm, chúng ta sẽ nằm nghiêng bên phải trong dáng nằm của sư tử, chân này gác lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác (mindful and fully aware/ sati-sampajañña), sau khi đã ghi nhớ trong tâm thời điểm thức dậy. Sau khi thức dậy, vào canh cuối của đêm, trong khi đi kinh hành và ngồi, chúng ta sẽ gột rửa tâm khỏi các trạng thái ngăn che.’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi… và chúng ta chuyên tâm vào sự chú tâm tỉnh thức. Chừng ấy là đủ…’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

(Chú tâm cảnh giác)

Này các Tỷ-kheo, thế nào la các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

(CHÁNH NIỆM VÀ TỈNH GIÁC)

11. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Này các tỳ kheo, các ông cần phải tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ thành tựu chánh niệm và tỉnh giác. Chúng ta sẽ hành động trong sự tỉnh giác khi đi tới và đi lui; chúng ta sẽ hành động trong sự tỉnh giác khi nhìn tới và nhìn sang bên; chúng ta sẽ hành động trong sự tỉnh giác khi co duỗi tay chân; chúng ta sẽ hành động trong sự tỉnh giác khi mang y, mang y thượng và bát; chúng ta sẽ hành động trong sự tỉnh giác khi ăn, uống, nhai và nếm; chúng ta sẽ hành động trong sự tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; chúng ta sẽ hành động trong sự tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói và khi im lặng.’ Này các tỳ kheo, các ông có thể nghĩ rằng: ‘Chúng ta đã biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi… và chúng ta thành tựu chánh niệm và tỉnh giác. Chừng ấy là đủ, chừng ấy đã xong, mục đích của sa môn hạnh đã đạt được, không còn gì để làm nữa’; và các ông có thể tự mãn với chừng ấy. Này các tỳ kheo, Ta bảo cho các ông biết, Ta tuyên bố với các ông: Những ai đang tìm cầu địa vị sa môn, đừng dừng lại giữa đường khi mục đích sa môn hạnh vẫn còn những việc phải làm thêm.

(Chánh niệm tỉnh giác)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông.Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

(ĐOẠN TRỪ CÁC TRIỀN CÁI)

12. "Còn việc gì phải làm thêm nữa? Ở đây, này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo tìm đến một chỗ nghỉ ngơi thanh vắng: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, hay đống rơm.

13. "Sau khi đi khất thực trở về, sau bữa ăn, vị ấy ngồi xuống, xếp chân bằng tròn, giữ lưng thẳng và thiết lập chánh niệm trước mặt. Từ bỏ tham ái đối với thế gian (covetousness for the world/ abhijjhā), vị ấy an trú với tâm thoát khỏi tham ái; vị ấy gột rửa tâm mình khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận (ill will/ byāpāda), vị ấy an trú với tâm không sân hận, thương xót vì lợi ích của tất cả chúng sinh; [275] vị ấy gột rửa tâm mình khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên (sloth and torpor/ thīna-middha/ lười biếng và buồn ngủ), vị ấy an trú thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, tưởng nhớ đến ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác; vị ấy gột rửa tâm mình khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trào cử và hối quá (restlessness and remorse/ uddhacca-kukkucca/ bồn chồn và hối tiếc), vị ấy an trú không dao động với tâm nội tĩnh; vị ấy gột rửa tâm mình khỏi trào cử và hối quá. Từ bỏ hoài nghi (doubt/ vicikicchā), vị ấy an trú vượt qua hoài nghi, không còn phân vân về các thiện pháp; vị ấy gột rửa tâm mình khỏi hoài nghi.

14. "Này các tỳ kheo, ví như một người vay một khoản nợ để kinh doanh và công việc kinh doanh thành công, người ấy có thể trả hết số nợ cũ và còn dư dả để nuôi vợ; khi suy ngẫm về điều này, người ấy sẽ vui mừng và tràn đầy hân hoan. Hoặc ví như một người bị bệnh, đau đớn và ốm nặng, ăn uống không tiêu và cơ thể không còn sức lực, nhưng sau đó người ấy khỏi bệnh, ăn uống ngon miệng và cơ thể phục hồi sức lực; khi suy ngẫm về điều này, người ấy sẽ vui mừng và tràn đầy hân hoan. Hoặc ví như một người bị giam trong ngục tù, nhưng sau đó được thả ra, an toàn và yên ổn, không mất mát tài sản; khi suy ngẫm về điều này, người ấy sẽ vui mừng và tràn đầy hân hoan. Hoặc ví như một người nô lệ, không được tự chủ mà phải phụ thuộc vào người khác, không thể đi đâu tùy thích, nhưng sau đó được giải phóng khỏi cảnh nô lệ, tự chủ, không phụ thuộc người khác, là người tự do có thể đi đâu tùy thích; khi suy ngẫm về điều này, [276] người ấy sẽ vui mừng và tràn đầy hân hoan. Hoặc ví như một người giàu có mang theo tài sản đi qua một con đường băng qua sa mạc, nhưng sau đó vượt qua sa mạc, an toàn và yên ổn, không mất mát tài sản; khi suy ngẫm về điều này, người ấy sẽ vui mừng và tràn đầy hân hoan. Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi năm triền cái (five hindrances/ pañca nīvaraṇā/năm chướng ngại tinh thần) này chưa được đoạn trừ trong tự thân, vị tỳ kheo xem chúng lần lượt như món nợ, căn bệnh, ngục tù, cảnh nô lệ, và con đường qua sa mạc. Nhưng khi năm triền cái này đã được đoạn trừ trong tự thân, vị ấy xem đó như sự hết nợ, sự khỏe mạnh, sự thoát khỏi ngục tù, sự giải phóng khỏi nô lệ, và vùng đất an toàn. [^418]

(Ðoạn trừ các triền cái)

Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Này các Tỷ-kheo, như một người mắc nợ liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được những nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian, người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. "Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy sau một thời gian thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại.

Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác , không được tự do đi lại. Nay ta thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc. Người ấy sau một thời gian đã đi khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỷ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi chúng được diệt trừ.

(BỐN TẦNG THIỀN)

15. "Sau khi đoạn trừ năm triền cái này, những cấu uế của tâm làm suy yếu trí tuệ, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, vị ấy chứng và trú thiền (jhāna/ tầng thiền) thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm và tứ (applied and sustained thought/ vitakka-vicāra/ hướng tâm và duy trì tâm). Vị ấy làm cho hỷ lạc do ly dục sanh thấm đẫm, tẩm ướt, làm đầy và tràn ngập thân này, đến mức không một phần nào của toàn thân vị ấy không được hỷ lạc do ly dục sanh thấm nhuần. Ví như một người thợ tắm hay đệ tử của người thợ tắm giỏi đổ bột tắm vào thau đồng, rồi rưới nước dần dần và nhào trộn cho đến khi cục bột tắm thấm nước, ướt đẫm cả trong lẫn ngoài nhưng không chảy giọt; cũng vậy, vị tỳ kheo làm cho hỷ lạc do ly dục sanh thấm đẫm, tẩm ướt, làm đầy và tràn ngập thân này, đến mức không một phần nào của toàn thân vị ấy không được hỷ lạc do ly dục sanh thấm nhuần.

16. "Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự tịnh chỉ tầm và tứ, vị tỳ kheo chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Vị ấy làm cho hỷ lạc do định sanh thấm đẫm, tẩm ướt, làm đầy và tràn ngập thân này, đến mức không một phần nào của toàn thân vị ấy không được hỷ lạc do định sanh thấm nhuần. Ví như một hồ nước có mạch nước ngầm phun lên từ đáy, [277] không có dòng nước chảy vào từ hướng đông, tây, nam hay bắc, và cũng không được mưa rào bổ sung từng đợt, nhưng dòng nước mát phun lên từ hồ sẽ làm cho nước mát thấm đẫm, tẩm ướt, làm đầy và tràn ngập hồ, đến mức không một phần nào của toàn hồ không được nước mát thấm nhuần; cũng vậy, vị tỳ kheo làm cho hỷ lạc do định sanh thấm đẫm… thân này.

17. "Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự ly tham đối với hỷ, vị tỳ kheo trú xả (equanimity/ upekkhā/sự thản nhiên), chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc thọ nơi thân, chứng và trú thiền thứ ba, mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Người nào có xả và chánh niệm, người ấy trú trong an lạc.’ Vị ấy làm cho lạc thọ không có hỷ thấm đẫm, tẩm ướt, làm đầy và tràn ngập thân này, đến mức không một phần nào của toàn thân vị ấy không được lạc thọ không có hỷ thấm nhuần. Ví như trong một hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, những bông sen sinh ra và lớn lên trong nước, sống ngập trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, được nước mát thấm đẫm, tẩm ướt, làm đầy và tràn ngập từ ngọn đến gốc, đến mức không một phần nào của tất cả các bông sen ấy không được nước mát thấm nhuần; cũng vậy, vị tỳ kheo làm cho lạc thọ không có hỷ thấm đẫm… thân này.

18. "Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự xả bỏ lạc và khổ, và với sự diệt trừ hỷ và ưu đã có từ trước, vị tỳ kheo chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy ngồi thấm nhuần thân này với tâm thanh tịnh và trong sáng, đến mức không một phần nào của toàn thân [278] vị ấy không được tâm thanh tịnh và trong sáng thấm nhuần. Ví như một người ngồi trùm kín từ đầu xuống chân bằng một tấm vải trắng, đến mức không một phần nào của toàn thân vị ấy không được tấm vải trắng che phủ; cũng vậy, vị tỳ kheo ngồi thấm nhuần thân này với tâm thanh tịnh và trong sáng…

(Bốn tầng thiền-na)

Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh thấm nhuần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tĩnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

(TAM MINH)

19. "Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu xuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng minh (recollection of past lives/ pubbenivāsānussati ñāṇa/ nhớ lại các kiếp sống trước). Vị ấy nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ, như một đời, hai đời… (như Kinh số 4, đoạn 27)… Như vậy, vị ấy nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ với các nét đại cương và chi tiết. Ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, rồi từ làng đó trở về làng mình, người ấy có thể nghĩ: ‘Ta đã đi từ làng mình đến làng kia, tại đó ta đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này; và từ làng đó ta đi đến làng khác, tại đó ta đứng như thế này…; và từ làng đó ta trở về làng mình.’ Cũng vậy, vị tỳ kheo nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ…

20. "Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu xuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự sống chết của chúng sinh… (như Kinh số 4, đoạn 29) [279]… Như vậy, với thiên nhãn (divine eye/ dibbacakkhu) thanh tịnh siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp hèn và cao sang, đẹp đẽ và xấu xí, may mắn và bất hạnh, và vị ấy hiểu rõ các chúng sinh tái sinh tùy theo hành nghiệp của họ. Ví như có hai ngôi nhà có cửa và một người mắt sáng đứng giữa hai nhà ấy thấy người ta đi vào, đi ra và đi qua lại, cũng vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, vị tỳ kheo thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh… và hiểu rõ các chúng sinh tái sinh tùy theo hành nghiệp của họ.

21. "Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu xuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự đoạn tận các lậu hoặc (taints/āsava/ phiền não rò rỉ). Vị ấy hiểu rõ như thật: ‘Đây là khổ’; … ‘Đây là nguyên nhân của khổ’; … ‘Đây là sự diệt khổ’; … ‘Đây là con đường đưa đến diệt khổ’; … ‘Đây là các lậu hoặc’; … ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’; … ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc’; … ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.’

"Khi biết và thấy như vậy, tâm vị ấy giải thoát khỏi dục lậu (taint of sensual desire/ kāmāsava), giải thoát khỏi hữu lậu (taint of being/ bhavāsava/ sự hiện hữu), và giải thoát khỏi vô minh lậu (taint of ignorance/ avijjāsava). Khi tâm đã giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Ta đã giải thoát.’ Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’

"Ví như một hồ nước trên núi cao, trong vắt, tĩnh lặng và không bị khuấy động, một người mắt sáng đứng trên bờ có thể thấy các vỏ ốc, sỏi đá, và đàn cá đang bơi lội hay đứng yên, người ấy có thể nghĩ: ‘Hồ nước này trong vắt, tĩnh lặng và không bị khuấy động, và đây là [280] các vỏ ốc, sỏi đá, và đàn cá đang bơi lội hay đứng yên.’ Cũng vậy, vị tỳ kheo hiểu rõ như thật: ‘Đây là khổ.’… Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’

(Ba Minh)

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mực như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến, Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này các Tỷ-kheo, ví như có hai nhà có cửa, và ở đây, một người có mắt đứng ở giữa, người này có thể thấy các người (khác) đi vào nhà, đi ra, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, vị ấy thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm, đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của Khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự đoạn trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.

Này các Tỷ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết như thật: "Ðây là khổ… biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!” Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.

(BẬC A-LA-HÁN)

22. "Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo như vậy được gọi là sa môn, là bà-la-môn, là người đã được gột rửa (one who has been washed/ nhātaka), là người đã đạt đến tri kiến, là bậc thánh giả (holy scholar/ vedagu/ người thấu suốt), là bậc Thánh, là bậc A-la-hán (arahant/ bậc Ứng Cúng). [^419]

23. "Và thế nào là tỳ kheo là một sa môn? Vị ấy đã làm lắng dịu các ác pháp bất thiện gây ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, gây phiền toái, chín muồi trong đau khổ, và dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai. Đó là cách một tỳ kheo là một sa môn.

24. "Và thế nào là tỳ kheo là một bà-la-môn? Vị ấy đã trục xuất các ác pháp bất thiện gây ô nhiễm… và dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai. Đó là cách một tỳ kheo là một bà-la-môn.

25. "Và thế nào là tỳ kheo là người đã được gột rửa? [^420] Vị ấy đã gột rửa sạch các ác pháp bất thiện gây ô nhiễm… và dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai. Đó là cách một tỳ kheo là người đã được gột rửa.

26. "Và thế nào là tỳ kheo là người đã đạt đến tri kiến? Vị ấy đã liễu tri các ác pháp bất thiện gây ô nhiễm… và dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai. Đó là cách một tỳ kheo là người đã đạt đến tri kiến.

27. "Và thế nào là tỳ kheo là một bậc thánh giả? [^421] Các ác pháp bất thiện gây ô nhiễm… và dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai đã trôi đi khỏi vị ấy. Đó là cách một tỳ kheo là một bậc thánh giả.

28. "Và thế nào là tỳ kheo là một bậc Thánh? Các ác pháp bất thiện gây ô nhiễm… và dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai đã rời xa vị ấy. Đó là cách một tỳ kheo là một bậc Thánh.

29. “Và thế nào là tỳ kheo là một bậc A-la-hán? Các ác pháp bất thiện gây ô nhiễm, dẫn đến tái sinh, gây phiền toái, chín muồi trong đau khổ, và dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai đã rời xa vị ấy. Đó là cách một tỳ kheo là một bậc A-la-hán.”

Đó là những lời Đức Thế Tôn thuyết giảng. Các tỳ kheo hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

(Bậc A-la-hán)

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.

Này các Tỷ-kheo, như thế nào, Tỷ-kheo là Sa-môn? Vị này đã làm cho dừng lại các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Sa-môn.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào Tỷ-kheo là Bà-la-môn? Vị này đã tẩn xuất ra ngoài các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Bà-la-môn.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch sẽ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đã biết và hiểu rõ? Vị này đã biết và hiểu rõ các ác, các

pháp bất thiện,những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã biết rõ.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo có học? Vị này đã tiêu diệt các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có học.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh? Vị này đã làm cho xa lìa các ác pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc A-la-hán? Vị này đã làm cho xa lìa các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo là bậc A-la-hán.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, bậc giác ngộ hoàn toàn.
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người nam xuất gia tu hành trọn vẹn theo giáo pháp của Đức Phật.
  • sa môn / samaṇa / recluses: Người tu hành đã từ bỏ đời sống gia đình để tìm cầu chân lý (thường dùng chỉ chung các tu sĩ thời xưa).
  • bà-la-môn / brāhmaṇa / brahmin: Tầng lớp tu sĩ hoặc trí thức trong xã hội Ấn Độ cổ đại; trong đạo Phật, từ này đôi khi được dùng để chỉ bậc Thánh đã loại bỏ các ác pháp.
  • xuất gia / pabbajjā / going forth: Hành động từ bỏ gia đình, nhà cửa để sống đời sống không gia đình của người tu hành.
  • biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi / hiri-ottappa / shame and fear of wrongdoing: (Tàm quý) Hai phẩm chất đạo đức quan trọng giúp ngăn ngừa làm việc ác; hổ thẹn với lương tâm mình và ghê sợ quả báo xấu.
  • sa môn hạnh / samaṇattha / recluseship: Mục đích, lý tưởng hoặc nếp sống của người tu hành.
  • hành động của thân / kāyasammācāra / bodily conduct: Những việc làm thực hiện qua thân thể.
  • tự khen mình và chê người / attukkaṃsana paravambhana / laud ourselves and disparage others: Thái độ kiêu ngạo, tự tâng bốc bản thân và hạ thấp người khác.
  • lời nói / vacīkamma / verbal conduct: Hành động qua lời nói.
  • ý nghĩ / manokamma / mental conduct: Hành động qua tư tưởng, suy nghĩ.
  • cách nuôi mạng / ājīva / livelihood: Phương kế sinh nhai, nghề nghiệp để kiếm sống.
  • các giác quan / indriya / sense faculties: Các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) dùng để tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
  • tướng chung và tướng riêng / nimitta-anubyañjana / signs and features: Hình dáng tổng quát và các chi tiết nhỏ nhặt của đối tượng mà tâm thường bám víu vào.
  • tham lam và ưu phiền / abhijjhā-domanassa / covetousness and grief: Trạng thái tâm dính mắc, thèm muốn hoặc buồn bã, khổ sở.
  • pháp / dhamma / mind-object: Đối tượng của ý căn (những gì tâm suy nghĩ, ghi nhận).
  • tiết độ trong ăn uống / bhojane mattaññutā / moderate in eating: Biết lượng sức và ăn vừa đủ để duy trì sức khỏe tu tập, không ăn vì đam mê khoái lạc.
  • quán chiếu khôn ngoan / yoniso manasikāra / reflecting wisely: (Như lý tác ý) Suy xét đúng đắn, hướng tâm vào bản chất thật của sự việc.
  • đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Nếp sống thanh tịnh, cao thượng, thường ám chỉ đời sống độc thân của người xuất gia.
  • chú tâm tỉnh thức / jāgariya / wakefulness: Sự tỉnh táo, không để tâm rơi vào trạng thái lười biếng hay buồn ngủ, thường đi kèm nỗ lực tu tập suốt đêm.
  • các trạng thái ngăn che / āvaraṇīya dhamma / obstructive states: Những pháp bất thiện che lấp tâm trí, cản trở sự phát triển trí tuệ.
  • chánh niệm và tỉnh giác / sati-sampajañña / mindful and fully aware: Sự nhớ nghĩ (ghi nhớ) và biết rõ trọn vẹn những gì đang xảy ra trong hiện tại.
  • năm triền cái / pañca nīvaraṇā / five hindrances: Năm chướng ngại tinh thần (tham dục, sân hận, hôn trầm, trào cử, hoài nghi) ngăn che tâm định và tuệ.
  • tham ái đối với thế gian / abhijjhā / covetousness for the world: Sự thèm khát, dính mắc vào các dục lạc trần gian.
  • sân hận / byāpāda / ill will: Tâm nóng giận, oán ghét, muốn làm hại người khác.
  • hôn trầm và thụy miên / thīna-middha / sloth and torpor: Trạng thái tâm lười biếng, nặng nề, buồn ngủ và thụ động.
  • trào cử và hối quá / uddhacca-kukkucca / restlessness and remorse: Trạng thái tâm bồn chồn, không yên và hối tiếc về những việc đã làm hoặc chưa làm.
  • hoài nghi / vicikicchā / doubt: Sự nghi ngờ, do dự, không quyết đoán đối với chánh pháp.
  • thiền / jhāna / jhāna: Trạng thái định tâm sâu lắng, vắng lặng các phiền não.
  • tầm và tứ / vitakka-vicāra / applied and sustained thought: (Hướng tâm và duy trì tâm) Hai chi phần của thiền định; ‘tầm’ là hướng tâm đến đối tượng, ‘tứ’ là dán chặt, duy trì tâm trên đối tượng đó.
  • xả / upekkhā / equanimity: Trạng thái tâm thản nhiên, quân bình, không thiên lệch về yêu hay ghét, khổ hay lạc.
  • túc mạng minh / pubbenivāsānussati ñāṇa / recollection of past lives: Trí tuệ nhớ lại các kiếp sống trong quá khứ.
  • thiên nhãn / dibbacakkhu / divine eye: Khả năng nhìn thấy siêu nhiên, thấy được sự sống chết và tái sinh của chúng sinh.
  • lậu hoặc / āsava / taints: Những phiền não rò rỉ, ngủ ngầm trong tâm, làm cho tâm bị ô nhiễm và trôi lăn trong luân hồi.
  • dục lậu / kāmāsava / taint of sensual desire: Lậu hoặc thuộc về ham muốn dục lạc.
  • hữu lậu / bhavāsava / taint of being: Lậu hoặc thuộc về sự khao khát hiện hữu, tái sinh.
  • vô minh lậu / avijjāsava / taint of ignorance: Lậu hoặc thuộc về sự không hiểu biết đúng đắn sự thật.
  • người đã được gột rửa / nhātaka / one who has been washed: Người đã tẩy sạch mọi cấu uế trong tâm (một cách chơi chữ với nghi thức tắm rửa của Bà-la-môn giáo).
  • bậc thánh giả / vedagu / holy scholar: Người đã đạt đến sự hiểu biết rốt ráo (bờ kia).
  • A-la-hán / arahant / arahant: Bậc Thánh cao nhất trong Phật giáo Nguyên thủy, người đã đoạn tận mọi lậu hoặc và không còn tái sinh.