Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 40. Kinh Tiểu Assapura

(Cūḷa-Assapura Sutta)

[281] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại xứ Anga, ở một thị trấn của người Anga tên là Assapura. Tại đây, Đức Thế Tôn gọi các vị tỳ kheo (bhikkhus): “Này các Tỳ kheo.” - “Bạch Thế Tôn,” các vị ấy đáp lời. Đức Thế Tôn dạy như sau:

2. "Này các Tỳ kheo, người đời nhìn nhận các thầy là ‘Sa môn, Sa môn’ (recluse - người tu hành, người xuất gia tìm đạo). Và khi được hỏi, ‘Các vị là ai?’, các thầy tự nhận mình là Sa môn. Vì các thầy được gọi như vậy và tự nhận như vậy, các thầy nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ thực hành con đường đúng với phẩm hạnh sa môn [^422] để danh xưng của chúng ta là chân thật và lời tự nhận là đúng đắn, để sự cúng dường y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men của thí chủ mang lại quả lớn, lợi ích lớn cho họ, và để sự xuất gia (going forth - từ bỏ đời sống gia đình để tu hành) của chúng ta không uổng phí, mà có kết quả, có thành tựu.’

3. "Này các Tỳ kheo, thế nào là một vị tỳ kheo không thực hành con đường đúng với phẩm hạnh sa môn? Khi nào một vị tỳ kheo còn tham lam mà chưa từ bỏ lòng tham, còn tâm sân hận mà chưa từ bỏ sân hận, còn giận dữ mà chưa từ bỏ giận dữ, còn oán thù mà chưa từ bỏ oán thù, còn khinh miệt mà chưa từ bỏ khinh miệt, còn áp chế mà chưa từ bỏ thái độ áp chế, còn ganh tị mà chưa từ bỏ ganh tị, còn keo kiệt mà chưa từ bỏ keo kiệt, còn gian trá mà chưa từ bỏ gian trá, còn xảo trá mà chưa từ bỏ xảo trá, còn có những ước muốn xấu xa mà chưa từ bỏ những ước muốn xấu xa, còn có tà kiến (wrong view - micchā diṭṭhi - quan điểm sai lầm, không đúng Chánh Pháp) mà chưa từ bỏ tà kiến, [^423] thì khi ấy, Ta nói rằng, vị ấy không thực hành con đường đúng với phẩm hạnh sa môn, vì đã không từ bỏ được những vết nhơ của sa môn, những lỗi lầm của sa môn, những cặn bã của sa môn này – những thứ là nền tảng cho sự tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới bất hạnh (state of deprivation/unhappy destination - các cõi tái sinh đau khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) và phải chịu kết quả ở đó.

4. "Ví như một vũ khí gọi là mataja, được mài sắc cả hai lưỡi, được bọc kỹ và cất trong một bao kiếm vá víu. Ta nói rằng sự xuất gia của vị tỳ kheo như vậy cũng tương tự thế.

5. "Ta không nói rằng phẩm hạnh sa môn có được ở người mặc y phấn tảo chỉ qua việc mặc y phấn tảo, hay ở người tu khổ hạnh lõa thể chỉ qua việc lõa thể, hay ở người sống trong bụi bẩn chỉ qua việc sống trong bụi bẩn, hay ở người tắm gội dưới nước (để thanh tẩy) chỉ qua việc tắm gội dưới nước, hay ở người sống dưới gốc cây chỉ qua việc [282] sống dưới gốc cây, hay ở người sống ngoài trời chỉ qua việc sống ngoài trời, hay ở người thực hành hạnh đứng không nghỉ chỉ qua việc đứng không nghỉ, hay ở người ăn theo giờ quy định chỉ qua việc ăn theo giờ quy định, hay ở người đọc thần chú chỉ qua việc đọc thần chú; Ta cũng không nói rằng phẩm hạnh sa môn có được ở người tu khổ hạnh bện tóc chỉ qua việc bện tóc.

6. "Này các Tỳ kheo, nếu chỉ qua việc mặc y phấn tảo mà một người mặc y phấn tảo còn tham lam lại từ bỏ được lòng tham, còn tâm sân hận lại từ bỏ được sân hận… còn tà kiến lại từ bỏ được tà kiến, thì bạn bè, thân quyến, họ hàng của người ấy đã cho người ấy mặc y phấn tảo ngay từ khi mới sinh ra và khuyên người ấy thực hành việc mặc y phấn tảo rằng: ‘Này bạn thân mến, hãy trở thành người mặc y phấn tảo để khi bạn tham lam, bạn sẽ từ bỏ được lòng tham, khi bạn có tâm sân hận, bạn sẽ từ bỏ được sân hận… khi bạn có tà kiến, bạn sẽ từ bỏ được tà kiến.’ Nhưng Ta thấy ở đây có người mặc y phấn tảo vẫn còn tham lam, vẫn còn tâm sân hận… vẫn còn tà kiến; và đó là lý do Ta không nói rằng phẩm hạnh sa môn có được ở người mặc y phấn tảo chỉ qua việc mặc y phấn tảo.

"Nếu chỉ qua việc lõa thể mà một người tu khổ hạnh lõa thể còn tham lam lại từ bỏ được lòng tham… Nếu chỉ qua việc sống trong bụi bẩn… Nếu chỉ qua việc tắm gội dưới nước… Nếu chỉ qua việc sống dưới gốc cây… Nếu chỉ qua việc sống ngoài trời… Nếu chỉ qua việc đứng không nghỉ… Nếu chỉ qua việc ăn theo giờ quy định… Nếu chỉ qua việc đọc thần chú… Nếu chỉ qua việc bện tóc… [283] … và đó là lý do Ta không nói rằng phẩm hạnh sa môn có được ở người tu khổ hạnh bện tóc chỉ qua việc bện tóc.

7. "Này các Tỳ kheo, thế nào là một vị tỳ kheo thực hành con đường đúng với phẩm hạnh sa môn? Khi bất kỳ vị tỳ kheo nào từng tham lam nay đã từ bỏ lòng tham, từng có tâm sân hận nay đã từ bỏ sân hận, từng giận dữ nay đã từ bỏ giận dữ, từng oán thù nay đã từ bỏ oán thù, từng khinh miệt nay đã từ bỏ khinh miệt, từng áp chế nay đã từ bỏ thái độ áp chế, từng ganh tị nay đã từ bỏ ganh tị, từng keo kiệt nay đã từ bỏ keo kiệt, từng gian trá nay đã từ bỏ gian trá, từng xảo trá nay đã từ bỏ xảo trá, từng có những ước muốn xấu xa nay đã từ bỏ những ước muốn xấu xa, từng có tà kiến nay đã từ bỏ tà kiến, thì khi ấy, Ta nói rằng, vị ấy thực hành con đường đúng với phẩm hạnh sa môn, vì đã từ bỏ được những vết nhơ của sa môn, những lỗi lầm của sa môn, những cặn bã của sa môn này – những thứ là nền tảng cho sự tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới bất hạnh và phải chịu kết quả ở đó.

8. "Vị ấy thấy mình đã thanh lọc khỏi tất cả các trạng thái bất thiện (unwholesome states - akusala dhamma - các pháp/tâm sở có hại, gây đau khổ) xấu xa này, thấy mình đã giải thoát khỏi chúng. Khi thấy được điều này, sự hân hoan (gladness - pāmojja) sinh khởi trong vị ấy. Khi hân hoan, hỷ lạc (rapture - pīti - niềm vui phấn khởi, trạng thái sung sướng của tâm) sinh khởi; ở người có hỷ lạc, thân trở nên an tĩnh (tranquil - passaddhi); người có thân an tĩnh cảm thấy lạc (pleasure - sukha); ở người cảm thấy lạc, tâm trở nên định tĩnh (concentrated - samāhita).

9. "Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ (loving-kindness - mettā - lòng yêu thương, mong muốn chúng sinh được an lạc), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như thế nào, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, và đối với tất cả như đối với chính mình, vị ấy an trú biến mãn toàn thế giới với tâm thấm nhuần lòng từ, rộng lớn, cao thượng, vô lượng, không hận thù, không sân độc.

10-12. "Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng bi (compassion - karuṇā - lòng thương xót, mong muốn chúng sinh thoát khổ)… với tâm thấm nhuần lòng hỷ (appreciative joy - muditā - niềm vui khi thấy người khác thành công, hạnh phúc)… với tâm thấm nhuần lòng xả (equanimity - upekkhā - tâm bình thản, không thiên vị, không bám chấp)… rộng lớn, cao thượng, vô lượng, không hận thù, không sân độc.

13. [^Note1] "Ví như có một hồ nước trong, mát dịu, dễ chịu, trong suốt, bờ hồ bằng phẳng, đáng thích thú. [284] Nếu một người, bị nắng nóng thiêu đốt và kiệt sức, mệt mỏi, khô khát, đến từ phương đông, phương tây, phương bắc, phương nam hay từ bất cứ đâu, khi gặp hồ nước ấy, người đó sẽ làm dịu cơn khát và cơn sốt do nắng nóng. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi quý tộc xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, và sau khi gặp được Giáo pháp và Giới luật (Dhamma and Discipline - Dhamma-Vinaya - lời dạy của Đức Phật và các quy tắc ứng xử cho tu sĩ) do Như Lai (Tathāgata) tuyên thuyết, phát triển lòng từ, bi, hỷ, xả, và nhờ đó đạt được sự an lạc nội tâm (internal peace - ajjhattaṃ santi - sự bình yên, tĩnh lặng bên trong tâm hồn), thì chính nhờ sự an lạc nội tâm đó, Ta nói rằng, vị ấy thực hành con đường đúng với phẩm hạnh sa môn. Và nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi Bà-la-môn xuất gia… Nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi thương gia xuất gia… Nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi lao động xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, và sau khi gặp được Giáo pháp và Giới luật do Như Lai tuyên thuyết, phát triển lòng từ, bi, hỷ, xả, và nhờ đó đạt được sự an lạc nội tâm, thì chính nhờ sự an lạc nội tâm đó, Ta nói rằng, vị ấy thực hành con đường đúng với phẩm hạnh sa môn.

14. “Này các Tỳ kheo, nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi quý tộc xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, và bằng cách tự mình chứng ngộ với thắng trí (direct knowledge - abhiññā - sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt thông qua tu tập) ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát (deliverance of mind - ceto-vimutti - sự giải thoát khỏi phiền não nhờ định tâm) và tuệ giải thoát (deliverance by wisdom - paññā-vimutti - sự giải thoát khỏi vô minh nhờ trí tuệ) vô lậu (taintless - anāsava - không còn lậu hoặc) do sự đoạn tận các lậu hoặc (destruction of the taints - āsavakkhaya - sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc (taints - āsava - những ô nhiễm tinh thần tiềm ẩn làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi)), thì vị ấy đã là một sa môn nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc. [^424] Và nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi Bà-la-môn xuất gia… Nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi thương gia xuất gia… Nếu bất kỳ ai thuộc dòng dõi lao động xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, và bằng cách tự mình chứng ngộ với thắng trí ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu do sự đoạn tận các lậu hoặc, thì vị ấy đã là một sa môn nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Các vị Tỳ kheo hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

40. TIỂU KINH XÓM NGỰA

40. TIỂU KINH XÓM NGỰA (Cùla-Assapura Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo.

– Bạch Thế Tôn.

Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông có được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt, có tâm thù hận và lòng thù hận không được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẫn và lòng xan lẫn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.

Này các Tỷ-kheo, ví như một loại võ khí nguy hiểm tên mataja có hai lưỡi rất sắc bén, có thể được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói sự xuất gia của Tỷ-kheo ấy là như vậy.

Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y (Sanghati) chỉ tùy thuộc vào mang đại y. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị lõa thể chỉ tùy thuộc vào lõa thể. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống thoa bụi và đất chỉ tùy thuộc vào hạnh thoa bụi và đất. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống theo lễ nghi tắm rửa chỉ tùy thuộc vào lễ nghi tắm rửa. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống dưới gốc cây chỉ tùy thuộc vào hạnh sống dưới gốc cây. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa- môn hạnh của một vị sống ngoài trời chỉ tùy thuộc vào hạnh sống ngoài trời. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người theo hạnh đứng thẳng chỉ tùy thuộc vào hạnh đứng thẳng. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị ăn uống có định kỳ chỉ tùy thuộc vào hạnh ăn uống có định kỳ. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người sống theo chú thuật chỉ tùy thuộc vào hạnh sống theo chú thuật. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của vị bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc.

Này các Tỷ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ vào hạnh mang đại y của người mang đại y, nếu lòng sân của người có tâm sân được đoạn diệt, nếu lòng phẫn nộ của người có tâm phẫn nộ được đoạn diệt, nếu lòng hiềm hận của người có tâm hiềm hận được đoạn diệt, nếu lòng giả dối của người có tâm giả dối được đoạn diệt, nếu lòng não hại của người có tâm não hại được đoạn diệt, nếu lòng tật đố của người có tâm tật đố được đoan diệt, nếu lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn được đoạn diệt, nếu lòng man trá của người có tâm man trá được đoạn diệt, nếu lòng xảo trá của người có tâm xảo trá được đoạn diệt, nếu lòng ái dục của người có tâm ái dục được đoạn diệt, nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt, (chỉ nhờ hạnh mang đại y của người mang đại y), thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó mang đại y ngay khi người đó mới sanh, và khuyên người đó mặc đại y như sau: "Này hiền nhi, hãy mang đại y, nếu mang đại y thì lòng tham dục của người có tâm tham dục, sẽ được đoạn diệt, lòng sân của người có tâm sân sẽ được đoạn diệt, lòng giả dối của người có tâm giả dối sẽ được đoạn diệt, lòng não hại của người có tâm não hại sẽ được đoạn diệt, lòng tật đố của người có tâm tật đố sẽ được đoạn diệt, lòng xan lẫn của người có tâm xan lẫn sẽ được đoạn diệt, lòng man trá của người có tâm man trá sẽ được đoạn diệt, lòng xảo trá của người có tâm xảo trá sẽ được đoạn diệt, lòng ái dục của người có tâm ái dục sẽ được đoạn diệt, tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt chỉ nhờ mang đại y. "Này các Tỷ-kheo, bởi vì Ta thấy có người mang đại y nhưng vẫn có tâm tham dục, có tâm sân hận, có tâm phẫn nộ, có tâm giả dối, có tâm não hại, có tâm tật đố, có tâm xan lẩn, có tâm man trá, có tâm xảo trá, có tâm ái dục, có tâm tà kiến, nên Ta không nói rằng, Sa-môn hạnh của người có tham dục chỉ tùy thuộc vào hạnh mang đại y của vị ấy.

Này các Tỷ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ hạnh lõa thể của người lõa thể… chỉ nhờ hạnh thoa bụi và đất của người sống theo hạnh thoa bụi và đất… chỉ nhờ hạnh lễ nghi tắm rửa của người sống theo hạnh lễ nghi tắm rửa… chỉ nhờ hạnh sống dưới gốc cây của người sống dưới gốc cây… chỉ nhờ hạnh sống ngoài trời của người sống ngoài trời… chỉ nhờ hạnh sống đứng thẳng của người sống đứng thẳng… chỉ nhờ hạnh ăn uống có định kỳ của người sống ăn uống có định kỳ… chỉ nhờ hạnh sống theo chú thuật của người sống theo chú thuật… Này các Tỷ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục đoạn diệt chỉ nhờ hạnh bện tóc của người sống theo hạnh bện tóc; nếu lòng sân hận của người có tâm sân hận… (như trên)…, nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt (chỉ nhờ hạnh của người sống theo hạnh bện tóc), thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó bện tóc; ngay khi người đó mới sinh, và khuyên người đó bện tóc như sau: “Này hiền nhi, hãy bện tóc; nếu bện tóc thì lòng dục của người có tâm tham dục sẽ được đoạn diệt, lòng sân hận của người có tâm sân hận… nếu tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt, chỉ nhớ sống theo hạnh bện tóc”". Này các Tỷ-kheo, bởi vì Ta thấy có người theo hạnh bện tóc nhưng vẫn có tâm tham dục, có tâm sân hận, có tâm phẫn nộ, có tâm giả dối, có tâm não hại, có tâm tật đố, có tâm xan lẩn, có tâm man trá, có tâm xảo trá, có tâm ái dục, có tà kiến, nên Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người theo hạnh bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc của vị ấy.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỷ- kheo, đối với Tỷ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt, có tâm sân và lòng sân hận được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến được đoạn diệt… Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì có thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.

Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp và vị ấy thấy tự ngã được giải thoát. Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại vô biên, không hận không sân.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại vô biên, không hận không sân.

Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ. Nếu có người từ phương Ðông đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước. Người ấy đi đến hồ sen ấy giải trừ khát nước và giải trừ nóng bức. Nếu có người từ phương Tây đi đến, nếu có người từ phương Bắc đi đến, nếu có người từ phương Nam đi đến, nếu có người từ bất cứ ở đâu đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước, người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước, giải trừ nóng bức. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có người từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến pháp luật do Như lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Nếu vị ấy từ gia đình Bà-la-môn… từ gia đình Phệ xá (Vessa)… từ gia đình Thủ đà (Sudda), xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến pháp luật do Như Lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.

Nếu từ gia đình Sát đế lị, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến pháp luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu từ gia đình Bà-la-môn… từ gia đình Phệ xá… từ gia đình Thủ đà, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến pháp luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Buddhist monk: Nam tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc, sống đời sống xuất gia theo giới luật của Đức Phật.
  • Sa môn / Samaṇa / Recluse, ascetic: Người tu hành, người xuất gia từ bỏ đời sống thế tục để tìm cầu giải thoát tâm linh, không chỉ giới hạn trong Phật giáo.
  • Sự xuất gia / Pabbajjā / Going forth: Hành động từ bỏ đời sống gia đình, thế tục để trở thành tu sĩ, sống đời không nhà.
  • Tà kiến / Micchā diṭṭhi / Wrong view: Quan điểm, nhận thức sai lầm, không phù hợp với sự thật, với Chánh pháp, ví dụ như không tin nhân quả, nghiệp báo.
  • Cõi khổ, cảnh giới bất hạnh / Apāya, Duggati / State of deprivation, unhappy destination: Các cõi tái sinh đau khổ trong luân hồi, thường gồm địa ngục, ngạ quỷ (quỷ đói), súc sinh, và đôi khi A-tu-la.
  • Các trạng thái bất thiện / Akusala dhamma / Unwholesome states: Các pháp (trạng thái tâm, tâm sở) có hại, gây đau khổ cho mình và người khác, bắt nguồn từ tham, sân, si.
  • Hân hoan / Pāmojja / Gladness: Niềm vui mừng, phấn khởi ban đầu khi tâm bắt đầu thanh tịnh hoặc làm điều thiện.
  • Hỷ lạc / Pīti / Rapture, joy: Niềm vui sướng, phấn khích mạnh mẽ hơn hân hoan, một yếu tố của thiền định (thiền chi), có thể biểu hiện qua nhiều cấp độ khác nhau.
  • An tĩnh, Khinh an / Passaddhi / Tranquility: Sự lắng dịu, yên bình của cả thân và tâm, một yếu tố quan trọng trong thiền định.
  • Lạc / Sukha / Pleasure, happiness: Cảm giác dễ chịu, hạnh phúc, an lạc của thân hoặc tâm. Trong thiền định, đây là lạc thọ vi tế hơn hỷ lạc.
  • Định tĩnh, Nhất tâm / Samāhita (từ Samādhi) / Concentrated, composed: Trạng thái tâm được tập trung vào một đối tượng duy nhất, không phân tán, một yếu tố cốt lõi của thiền định (samādhi).
  • Từ / Mettā / Loving-kindness: Lòng yêu thương chân thành, mong muốn tất cả chúng sinh được an lạc, hạnh phúc. Một trong Tứ Vô Lượng Tâm.
  • Bi / Karuṇā / Compassion: Lòng thương xót sâu sắc, mong muốn tất cả chúng sinh thoát khỏi đau khổ. Một trong Tứ Vô Lượng Tâm.
  • Hỷ / Muditā / Appreciative joy, sympathetic joy: Niềm vui thanh cao khi thấy người khác thành công, hạnh phúc, không ganh tị. Một trong Tứ Vô Lượng Tâm. (Khác với Hỷ lạc - Pīti).
  • Xả / Upekkhā / Equanimity: Tâm bình thản, quân bình, không thiên vị, không bám chấp yêu ghét trước các hoàn cảnh thuận nghịch của cuộc đời. Một trong Tứ Vô Lượng Tâm và cũng là một trạng thái tuệ giác cao.
  • Giáo pháp và Giới luật / Dhamma-Vinaya / Dhamma and Discipline: Toàn bộ lời dạy của Đức Phật (Giáo pháp - Dhamma) và các quy tắc ứng xử, kỷ luật cho Tăng đoàn (Giới luật - Vinaya).
  • Như Lai / Tathāgata / Thus Gone One, Thus Come One: Một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”, chỉ sự chứng ngộ chân lý tối thượng.
  • Sự an lạc nội tâm / Ajjhattaṃ santi / Internal peace: Sự bình yên, tĩnh lặng, hạnh phúc phát sinh từ bên trong tâm hồn, không phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài.
  • Thắng trí / Abhiññā / Direct knowledge, supernormal knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt thông qua tu tập thiền định và trí tuệ, bao gồm các năng lực như thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng thông, lậu tận thông.
  • Tâm giải thoát / Ceto-vimutti / Deliverance of mind: Sự giải thoát khỏi các phiền não (đặc biệt là tham ái) nhờ sức mạnh của thiền định (samādhi).
  • Tuệ giải thoát / Paññā-vimutti / Deliverance by wisdom: Sự giải thoát khỏi vô minh (avijjā) nhờ sự phát triển của trí tuệ (paññā), thấy rõ bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của vạn pháp.
  • Vô lậu / Anāsava / Taintless, free from taints: Trạng thái đã hoàn toàn thoát khỏi các lậu hoặc, không còn ô nhiễm.
  • Sự đoạn tận các lậu hoặc / Āsavakkhaya / Destruction of the taints: Sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc, đồng nghĩa với việc chứng đắc Niết Bàn, giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi.
  • Lậu hoặc / Āsava / Taints, outflows, effluents, corruptions: Những ô nhiễm tinh thần sâu kín, tiềm ẩn (như dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu) làm chúng sinh trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi.

[^Note1]: Paragraph numbering in the English source seems to skip from 12 to 11, then to 14. I have labeled this paragraph 13 for sequential clarity while keeping the original reference number [284].