Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 60. Giáo Lý Chắc Chắn

(Kinh Apaṇṇaka)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala cùng với một đại Tăng đoàn gồm các vị tỳ kheo (bhikkhus - các nhà sư nam đã xuất gia), và cuối cùng Ngài đến một ngôi làng Bà la môn của xứ Kosala tên là Sālā.

2. Các gia chủ Bà la môn ở Sālā nghe tin: “Sa môn Gotama, người con của dòng họ Sakya đã xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành ở xứ Kosala [401] cùng với một đại Tăng đoàn tỳ kheo và đã đến Sālā. Tiếng tốt về Tôn giả Gotama đã được đồn xa như sau: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc xứng đáng tôn kính, bậc giác ngộ hoàn toàn, hoàn hảo về minh và hạnh, bậc thiện thệ, bậc hiểu biết thế gian, bậc lãnh đạo vô song cho những người cần được điều phục, bậc thầy của trời và người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý. Ngài tuyên thuyết về thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, về thế hệ này với các sa môn và Bà la môn, các vị vua chúa và dân chúng, những điều mà chính Ngài đã chứng ngộ bằng thắng trí (direct knowledge - abhiññā - sự hiểu biết siêu việt, trực tiếp không qua trung gian). Ngài giảng dạy Pháp (Dhamma - giáo lý của Đức Phật) tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, với ý nghĩa và lời lẽ đúng đắn, và Ngài trình bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh.’ Thật tốt đẹp thay khi được gặp những bậc A-la-hán (arahants - bậc thánh đã giác ngộ hoàn toàn, chấm dứt mọi phiền não và vòng luân hồi) như vậy.”

3. Rồi các gia chủ Bà la môn ở Sālā đến gặp Đức Thế Tôn. Một số đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số chào hỏi Ngài, và sau khi cuộc trò chuyện lịch sự và thân mật kết thúc, họ ngồi xuống một bên; một số chắp tay cung kính hướng về Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói rõ tên và dòng họ của mình trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.

4. Khi họ đã ngồi yên, Đức Thế Tôn hỏi họ: “Này các gia chủ, có vị thầy nào hợp ý quý vị, mà quý vị đã có được niềm tin có cơ sở nơi vị ấy không?” “Thưa Tôn giả, không, không có vị thầy nào hợp ý chúng con, mà chúng con đã có được niềm tin có cơ sở nơi vị ấy.”

"Này các gia chủ, vì quý vị chưa tìm được một vị thầy hợp ý, quý vị có thể chấp nhận và thực hành giáo lý chắc chắn này, vì khi giáo lý chắc chắn này được chấp nhận và thực hành, nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho quý vị. Và giáo lý chắc chắn đó là gì?

60. KINH KHÔNG GÌ CHUYỂN HƯỚNG

60. KINH KHÔNG GÌ CHUYỂN HƯỚNG (Apannaka Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo và đến tại Sala, một làng Bà- la-môn của dân chúng Kosala.

Các Bà-la-môn gia chủ ở Sala được nghe tiếng đồn như sau: “Sa-môn Gotama, giòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành giữa dân chúng Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo, đã đến Sala”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời, loài Người. Khi đã chứng ngộ. Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy”.

Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Sala đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, một số người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người yên lặng ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Bà-la-môn gia chủ ở tại Sala đang ngồi xuống một bên:

– Này các Gia chủ, các Ông có vị Ðạo sư khả ý nào mà các Ông có lý do đặt được lòng tin không?

– Bạch Thế Tôn, chúng con không có vị Ðạo sư khả ý nào để chúng con có lý do đặt được lòng tin.

– Này các Gia chủ, nếu các Ông không có một vị Ðạo sư khả ý nào, thời hãy lấy pháp không gì chuyển hướng này mà thực hành. Này các Gia chủ, pháp không gì chuyển hướng này được khéo thọ trì, khéo thành tựu, sẽ đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài cho các Ông. Và này các Gia chủ, thế nào là pháp “không gì chuyển hướng”?

(I. THUYẾT HƯ VÔ)

5. (A) "Này các gia chủ, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế lễ; không có quả hay kết quả của các hành động thiện và ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có chúng sinh hóa sinh (spontaneously reborn beings - opapātika - các chúng sinh được sinh ra tức thời, không qua bào thai hay trứng, như chư thiên hay chúng sinh địa ngục); không có các sa môn và Bà la môn tốt lành, đức hạnh trên thế gian, những người đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ [402]

6. (B) "Này, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết hoàn toàn đối lập với các sa môn và Bà la môn kia, và họ nói như sau: ‘Có bố thí, có cúng dường, có tế lễ; có quả và kết quả của các hành động thiện và ác; có đời này và đời sau; có mẹ và cha; có chúng sinh hóa sinh; có các sa môn và Bà la môn tốt lành, đức hạnh trên thế gian, những người đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi tuyên thuyết về đời này và đời sau.’

Quý vị nghĩ sao, này các gia chủ? Chẳng phải các sa môn và Bà la môn này có những học thuyết hoàn toàn đối lập nhau sao?" - “Vâng, thưa Tôn giả.”

7. (A.i) "Này các gia chủ, đối với những sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Không có bố thí… không có các sa môn và Bà la môn tốt lành, đức hạnh trên thế gian, những người đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi tuyên thuyết về đời này và đời sau,’ có thể thấy rằng họ sẽ không thực hành ba pháp thiện này, đó là: thân hành tốt, khẩu hành tốt, và ý hành tốt, và họ sẽ chấp nhận và thực hành ba pháp bất thiện này, đó là: thân hành xấu, khẩu hành xấu, và ý hành xấu. Tại sao vậy? Bởi vì những vị sa môn và Bà la môn đó không thấy được sự nguy hiểm, sự thấp kém, và sự ô nhiễm (defilement - kilesa - các trạng thái tâm tiêu cực làm vẩn đục tâm trí, như tham, sân, si; còn gọi là phiền não) trong các pháp bất thiện, cũng như không thấy được lợi ích của sự từ bỏ, khía cạnh thanh lọc trong các pháp thiện.

8. (A.ii) "Vì thực sự có đời sau, người giữ quan điểm ‘không có đời sau’ là có tà kiến (wrong view - micchā diṭṭhi - quan điểm sai lầm, không phù hợp với sự thật). Vì thực sự có đời sau, người có ý định ‘không có đời sau’ là có tà tư duy (wrong intention - micchā saṅkappa - suy nghĩ, ý định sai lầm). Vì thực sự có đời sau, người tuyên bố ‘không có đời sau’ là có tà ngữ (wrong speech - micchā vācā - lời nói sai lầm, không đúng sự thật). Vì thực sự có đời sau, người nói ‘không có đời sau’ là chống đối các bậc A-la-hán, những người biết về đời sau. Vì thực sự có đời sau, người thuyết phục người khác ‘không có đời sau’ là thuyết phục họ chấp nhận một Pháp không chân thật; và vì thuyết phục người khác chấp nhận một Pháp không chân thật, người đó tự khen mình và chê bai người khác. Như vậy, bất kỳ đức hạnh trong sạch nào mà người đó từng có trước đây đều bị từ bỏ và thay vào đó là hành vi xấu xa. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự chống đối các bậc thánh, việc thuyết phục người khác chấp nhận Pháp không chân thật, và việc tự khen mình chê người - những pháp xấu ác, bất thiện này do vậy mà phát sinh với tà kiến làm điều kiện. [403]

9. (A.iii) "Về điều này, người trí suy sẽ xét như sau: ‘Nếu không có đời sau, thì khi thân hoại mạng chung, người này có thể được an toàn. Nhưng nếu có đời sau, thì người đó sẽ tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới không vui, đọa xứ, thậm chí là địa ngục. Bây giờ, dù lời của những vị sa môn và Bà la môn (khẳng định có đời sau) đó có thật hay không, thì người (theo thuyết hư vô) này vẫn bị người trí ở đời này chỉ trích là người vô đạo đức, người có tà kiến theo thuyết hư vô (doctrine of nihilism - natthikavāda - học thuyết phủ nhận sự tồn tại của quả báo nghiệp, đời sau, v.v.). Nhưng mặt khác, nếu có đời sau, thì người này đã thua thiệt cả hai mặt: vì bị người trí chỉ trích ở đời này, và vì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới không vui, đọa xứ, thậm chí là địa ngục. Người đó đã chấp nhận và thực hành sai lầm giáo lý chắc chắn này theo cách chỉ nghiêng về một phía và loại trừ lựa chọn thiện lành.’

(I. Thuyết hư vô)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những lập thuyết như sau, có những quan điểm như sau: “Không có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) lễ hy sinh, không có (kết quả của) tế tự, không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã tự chứng ngộ với thắng trí”.

Nhưng này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói đối nghịch với các vị Sa-môn, Bà-la-môn kia, những vị này nói như sau: “Có (kết quả của) bố thí, có (kết quả của) lễ hy sinh, có (kết quả của) tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào, có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy nói những lời đối nghịch với nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) lễ hy sinh, không có (kết quả của) tế tự, không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Ðối với những vị này sự kiện này sẽ chờ đợi xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng không có đời sau, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có đời sau, nếu có ai suy tư rằng không có đời sau, thời đó là tà tư duy. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì rằng có đời sau, nếu có ai thuyết phục người khác là không có đời sau, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy các ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại bị những người có trí quở trách: “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương hư vô luận”. Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt đều gặp bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạn xứ, địa ngục. Như vậy pháp “không gì chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ phía thiện pháp.

10. (B.i) "Này các gia chủ, đối với những sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Có bố thí… có các sa môn và Bà la môn tốt lành, đức hạnh trên thế gian, những người đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi tuyên thuyết về đời này và đời sau,’ có thể thấy rằng họ sẽ tránh được ba pháp bất thiện này, đó là: thân hành xấu, khẩu hành xấu, và ý hành xấu, và họ sẽ chấp nhận và thực hành ba pháp thiện này, đó là: thân hành tốt, khẩu hành tốt, và ý hành tốt. Tại sao vậy? Bởi vì những vị sa môn và Bà la môn tốt lành đó thấy được sự nguy hiểm, sự thấp kém, và sự ô nhiễm trong các pháp bất thiện, và họ thấy được lợi ích của sự từ bỏ, khía cạnh thanh lọc trong các pháp thiện.

11. (B.ii) "Vì thực sự có đời sau, người giữ quan điểm ‘có đời sau’ là có chánh kiến (right view - sammā diṭṭhi - quan điểm đúng đắn, phù hợp với sự thật). Vì thực sự có đời sau, người có ý định ‘có đời sau’ là có chánh tư duy (right intention - sammā saṅkappa - suy nghĩ, ý định đúng đắn). Vì thực sự có đời sau, người tuyên bố ‘có đời sau’ là có chánh ngữ (right speech - sammā vācā - lời nói đúng đắn, chân thật). Vì thực sự có đời sau, người nói ‘có đời sau’ là không chống đối các bậc A-la-hán, những người biết về đời sau. Vì thực sự có đời sau, người thuyết phục người khác ‘có đời sau’ [404] là thuyết phục họ chấp nhận Pháp chân thật; và vì thuyết phục người khác chấp nhận Pháp chân thật, người đó không tự khen mình và chê bai người khác. Như vậy, bất kỳ hành vi xấu xa nào mà người đó từng có trước đây đều bị từ bỏ và thay vào đó là đức hạnh trong sạch. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không chống đối các bậc thánh, việc thuyết phục người khác chấp nhận Pháp chân thật, và việc tránh tự khen mình chê người - những pháp thiện lành này do vậy mà phát sinh với chánh kiến làm điều kiện.

12. (B.iii) "Về điều này, người trí suy xét như sau: ‘Nếu có đời sau, thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người tốt này sẽ tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời. Bây giờ, dù lời của những vị sa môn và Bà la môn (phủ nhận đời sau) đó có thật hay không, cứ cho là không có đời sau đi: thì người tốt này vẫn được người trí ở đời này khen ngợi là người đức hạnh, người có chánh kiến theo thuyết khẳng định (doctrine of affirmation - atthikavāda - học thuyết khẳng định sự tồn tại của quả báo nghiệp, đời sau, v.v.). Và mặt khác, nếu có đời sau, thì người tốt này đã được lợi cả hai mặt: vì được người trí khen ngợi ở đời này, và vì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời. Người đó đã chấp nhận và thực hành đúng đắn giáo lý chắc chắn này theo cách bao gồm cả hai phía và loại trừ lựa chọn bất thiện.’

Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có (kết quả của) bố thí, có (kết quả của) lễ hy sinh, có (kết quả của) tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có những vị Sa- môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Ðối với những vị này, sự kiện này sẽ chờ xẩy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những vị Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng có đời sau, thời đó là một chánh kiến. Vì rằng có đời sau, nếu có ai suy tư rằng có đời sau, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng có đời sau thời đó là chánh ngữ. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng có đời sau, thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì rằng có đời sau, nếu có ai thuyết phục người khác là có đời sau, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn cho đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương hữu luận”. Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán thán; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, “pháp không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn bởi vị này chấp nhận cả hai phía, bỏ qua hai phía bất thiện pháp.

(II. THUYẾT VÔ HÀNH ĐỘNG)

13. (A) "Này các gia chủ, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Khi một người hành động hay khiến người khác hành động, khi một người cắt xẻo hay khiến người khác cắt xẻo, khi một người tra tấn hay khiến người khác tra tấn, khi một người gây đau khổ hay khiến người khác gây đau khổ, khi một người đàn áp hay khiến người khác đàn áp, khi một người hăm dọa hay khiến người khác hăm dọa, khi một người giết hại chúng sinh, lấy của không cho, phá nhà, cướp của, trộm cắp, phục kích trên đường, quyến rũ vợ người khác, nói dối - người làm không tạo ra điều ác. Nếu dùng một bánh xe có vành sắc bén biến chúng sinh trên trái đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì vì điều đó cũng không có tội ác và không có kết quả xấu ác. Nếu đi dọc bờ nam sông Hằng giết chóc và tàn sát, cắt xẻo và khiến người khác cắt xẻo, tra tấn và khiến người khác tra tấn, thì vì điều đó cũng không có tội ác và không có kết quả xấu ác. Nếu đi dọc bờ bắc sông Hằng bố thí và khiến người khác bố thí, cúng dường và khiến người khác cúng dường, thì vì điều đó cũng không có phước báu và không có kết quả tốt lành. Bằng cách bố thí, tự điều phục, tự chế, nói lời chân thật, cũng không có phước báu và không có kết quả tốt lành.’

14. (B) "Này, có một số sa môn và Bà la môn [405] có học thuyết hoàn toàn đối lập với các sa môn và Bà la môn kia, và họ nói như sau: ‘Khi một người hành động hay khiến người khác hành động, khi một người cắt xẻo hay khiến người khác cắt xẻo… nói dối - người làm đã tạo ra điều ác. Nếu dùng một bánh xe có vành sắc bén biến chúng sinh trên trái đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì vì điều đó sẽ có tội ác và kết quả xấu ác. Nếu đi dọc bờ nam sông Hằng giết chóc và tàn sát, cắt xẻo và khiến người khác cắt xẻo, tra tấn và khiến người khác tra tấn, thì vì điều đó sẽ có tội ác và kết quả xấu ác. Nếu đi dọc bờ bắc sông Hằng bố thí và khiến người khác bố thí, cúng dường và khiến người khác cúng dường, thì vì điều đó sẽ có phước báu và kết quả tốt lành. Bằng cách bố thí, tự điều phục, tự chế, nói lời chân thật, sẽ có phước báu và kết quả tốt lành.’

Quý vị nghĩ sao, này các gia chủ? Chẳng phải các sa môn và Bà la môn này có những học thuyết hoàn toàn đối lập nhau sao?" - “Vâng, thưa Tôn giả.”

(II. Thuyết vô tác dụng)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây ra sợ hãi, hay khiến người gây ra sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo”.

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói những lời đối nghịch với các Sa-môn, Bà-la-môn kia. Các vị này nói như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây ác não hay khiến người gây ác não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy có tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu khiến người đốt nấu, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng, bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, thì do nhân duyên này, có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo. Bố thí, điều phục, tự chế, nói thật, đều có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo”.

Vì sao vậy? này các Gia chủ, có phải những Sa-môn, Bà-la-môn này nói lời đối nghịch với nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

15. (A.i) "Này các gia chủ, đối với những sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Khi một người hành động hay khiến người khác hành động… không có phước báu và không có kết quả tốt lành,’ có thể thấy rằng họ sẽ không làm ba pháp thiện này, đó là: thân hành tốt, khẩu hành tốt và ý hành tốt, và họ sẽ chấp nhận và thực hành ba pháp bất thiện này, đó là: thân hành xấu, khẩu hành xấu, và ý hành xấu. Tại sao vậy? Bởi vì những vị sa môn và Bà la môn (được cho là) tốt lành đó không thấy được sự nguy hiểm, sự thấp kém, và sự ô nhiễm trong các pháp bất thiện, cũng như không thấy được lợi ích của sự từ bỏ, khía cạnh thanh lọc trong các pháp thiện.

16. (A.ii) "Vì thực sự có hành động (có tạo tác nghiệp), người giữ quan điểm ‘không có hành động (không tạo tác nghiệp)’ là có tà kiến. Vì thực sự có hành động, người có ý định ‘không có hành động’ là có tà tư duy. Vì thực sự có hành động, người tuyên bố ‘không có hành động’ là có tà ngữ. Vì thực sự có hành động, người nói ‘không có hành động’ là chống đối các bậc A-la-hán, những người chủ trương có hành động (có tạo tác nghiệp). Vì thực sự có hành động, người thuyết phục người khác ‘không có hành động’ là thuyết phục họ chấp nhận một Pháp không chân thật; và vì thuyết phục người khác chấp nhận một Pháp không chân thật, người đó tự khen mình và chê bai người khác. Như vậy, bất kỳ đức hạnh trong sạch nào mà người đó từng có trước đây đều bị từ bỏ và thay vào đó là hành vi xấu xa. [406] Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự chống đối các bậc thánh, việc thuyết phục người khác chấp nhận Pháp không chân thật, và việc tự khen mình chê người - những pháp xấu ác, bất thiện này do vậy mà phát sinh với tà kiến làm điều kiện.

17. (A.iii) "Về điều này, người trí suy xét như sau: ‘Nếu hành động mà không tạo nghiệp, thì khi thân hoại mạng chung, người này sẽ có thể là mình đã an toàn. Nhưng nếu hành động có tạo nghiệp, thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người đó sẽ tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới không vui, đọa xứ, thậm chí là địa ngục. Bây giờ, dù lời của những vị sa môn và Bà la môn đó có thật hay không, cứ cho là không tạo nghiệp đi: thì người (theo thuyết vô nghiệp) này vẫn bị người trí ở đời này chỉ trích là người vô đạo đức, người có tà kiến theo thuyết vô nghiệp (doctrine of non-doing - akiriyavāda - học thuyết phủ nhận hành động có tạo ra kết quả đạo đức, tức nghiệp báo). Nhưng mặt khác, nếu hành động có tạo nghiệp, thì người này đã thua thiệt cả hai mặt: vì bị người trí chỉ trích ở đời này, và vì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới không vui, đọa xứ, thậm chí là địa ngục. Người đó đã chấp nhận và thực hành sai lầm giáo lý chắc chắn này theo cách chỉ nghiêng về một phía và loại trừ lựa chọn thiện lành.’

18. (B.i) "Này các gia chủ, đối với những sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Khi một người hành động hay khiến người khác hành động… có phước báu và kết quả tốt lành,’ có thể thấy rằng họ sẽ tránh được ba pháp bất thiện này, đó là: thân hành xấu, khẩu hành xấu, và ý hành xấu, và họ sẽ chấp nhận và thực hành ba pháp thiện này, đó là: thân hành tốt, khẩu hành tốt, và ý hành tốt. Tại sao vậy? Bởi vì những vị sa môn và Bà la môn tốt lành đó thấy được sự nguy hiểm, sự thấp kém, và sự ô nhiễm trong các pháp bất thiện, và họ thấy được lợi ích của sự từ bỏ, khía cạnh thanh lọc trong các pháp thiện.

19. (B.ii) "Vì thực sự hành động có tạo nghiệp, người giữ quan điểm ‘có nghiệp’ là có chánh kiến. Vì thực sự hành động có tạo nghiệp, là có chánh tư duy. Vì thực sự hành động có tạo nghiệp, người tuyên bố ‘có tạo nghiệp’ là có chánh ngữ, là không chống đối các bậc A-la-hán và những người chủ trương hành động có tạo nghiệp. Vì thực sự hành động có tạo nghiệp, người thuyết phục người khác ‘hành động có tạo nghiệp’ là thuyết phục họ chấp nhận Pháp chân thật; [407] và vì thuyết phục người khác chấp nhận Pháp chân thật, người đó không tự khen mình và chê bai người khác. Như vậy, bất kỳ hành vi xấu xa nào mà người đó từng có trước đây đều bị từ bỏ và thay vào đó là đức hạnh trong sạch. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không chống đối các bậc thánh, việc thuyết phục người khác chấp nhận Pháp chân thật, và việc tránh tự khen mình chê người - những pháp thiện lành này do vậy mà phát sinh với chánh kiến làm điều kiện.

20. (B.iii) "Về điều này, người trí suy xét như sau: ‘Nếu hành động có tạo nghiệp, thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người tốt này sẽ tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời. Bây giờ, dù lời của những vị sa môn và Bà la môn đó có thật hay không, cứ cho là ‘hành động không tạo nghiệp’: thì người tốt này vẫn được người trí ở đời này khen ngợi là người đức hạnh, người có chánh kiến theo thuyết hữu hành động (doctrine of doing - kiriyavāda - học thuyết khẳng định hành động có tạo ra kết quả đạo đức, tức nghiệp báo). Và mặt khác, nếu có tạo nghiệp, thì người tốt này đã được lợi cả hai mặt: vì được người trí khen ngợi ở đời này, và vì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời. Người đó đã chấp nhận và thực hành đúng đắn giáo lý chắc chắn này theo cách bao gồm cả hai phía và loại trừ lựa chọn bất thiện.’

– Ở đây, này các Gia chủ, có những Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm,… (như trên)… không đưa đến phước báo”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có tác dụng, nếu có quan điểm nào nói rằng không có tác dụng, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có tác dụng, nếu ai có suy tư rằng không có tác dụng, thời đó là tà tư duy. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng không có tác dụng, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng không có tác dụng, thời tự mẫu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai thuyết phục người khác là không có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự

thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, người có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có tác dụng, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn không có tác dụng đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách: “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương không tác dụng”. Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy pháp “không gì chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ qua phía thiện pháp.

Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm… (như trên)… có đưa đến phước báo”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thật hành theo. Vì sao vậy ? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có tác dụng, nếu có quan điểm nào nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh kiến. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai suy tư rằng có tác dụng, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh ngữ, vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng có tác dụng thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai thuyết phục người khác là có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn tác dụng không có đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương có tác dụng”. Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán thán; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, pháp “không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía, và bỏ qua phía bất thiện pháp.

(III. THUYẾT VÔ NHÂN DUYÊN)

21. (A) "Này các gia chủ, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Không có nguyên nhân hay điều kiện cho sự ô nhiễm của chúng sinh; chúng sinh bị ô nhiễm không do nguyên nhân hay điều kiện nào. Không có nguyên nhân hay điều kiện cho sự thanh tịnh (purification - visuddhi - sự trong sạch, thoát khỏi ô nhiễm phiền não) của chúng sinh; chúng sinh được thanh tịnh không do nguyên nhân hay điều kiện nào. Không có sức mạnh, không có nghị lực, không có năng lực của nam nhân, không có sự bền bỉ của nam nhân. Tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, tất cả tạo vật, tất cả linh hồn đều không có quyền làm chủ, sức mạnh và nghị lực; bị nhào nặn bởi định mệnh, hoàn cảnh và bản chất, họ trải nghiệm khổ và vui trong sáu loại.’

22. (B) “Này, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết hoàn toàn đối lập với các sa môn và Bà la môn kia, và họ nói như sau: ‘Có nguyên nhân và điều kiện cho sự ô nhiễm của chúng sinh; chúng sinh bị ô nhiễm là do có nguyên nhân và điều kiện. Có nguyên nhân và điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; chúng sinh được thanh tịnh là do có nguyên nhân và điều kiện. Có sức mạnh, nghị lực, năng lực của nam nhân, sự bền bỉ của nam nhân. Không phải tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, tất cả tạo vật, tất cả linh hồn đều không có quyền làm chủ, sức mạnh và nghị lực, hay bị nhào nặn bởi định mệnh, hoàn cảnh và bản chất, mà trải nghiệm khổ và vui trong sáu loại.’ Quý vị nghĩ sao, này các gia chủ? [408] Chẳng phải các sa môn và Bà la môn này có những học thuyết hoàn toàn đối lập nhau sao?” - “Vâng, thưa Tôn giả.”

(III. Thuyết vô nhân duyên)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Các chúng sanh ấy bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi sự tình cờ, bởi bản tánh của họ. Các chúng sanh ấy hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của họ”.

Này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với những Sa-môn, Bà-

la-môn ấy. Những vị này đã nói như sau: “Có nhân có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; không có nhân, không có duyên các loài hữu tình bị nhiễm ô. Có nhân, có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Có lực, có tinh tấn, có nhân lực, có sự cố gắng của người. Tất cả loài chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng đều không phải không tự tại, không có lực, không có tinh tấn. (Không phải) các chúng sanh ấy bị dẫn dắt, chi phối bởi định mệnh bởi sự tình cờ, bởi bản tánh của họ. (Không phải) họ hưởng thọ khổ lạc y theo sáu loại thác sanh của họ”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói lên những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

23. (A.i) "Này các gia chủ, đối với những sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Không có nguyên nhân hay điều kiện cho sự ô nhiễm của chúng sinh… họ trải nghiệm khổ và vui trong sáu loại,’ có thể thấy rằng họ sẽ tránh ba pháp thiện này, đó là: thân hành tốt, khẩu hành tốt, và ý hành tốt, và họ sẽ chấp nhận và thực hành ba pháp bất thiện này, đó là: thân hành xấu, khẩu hành xấu, và ý hành xấu. Tại sao vậy? Bởi vì những vị sa môn và Bà la môn (được cho là) tốt lành đó không thấy được sự nguy hiểm, sự thấp kém, và sự ô nhiễm trong các pháp bất thiện, cũng như không thấy được lợi ích của sự từ bỏ, khía cạnh thanh lọc trong các pháp thiện.

24. (A.ii) "Vì thực sự có nhân quả, người giữ quan điểm ‘không có nhân quả’ là có tà kiến. Vì thực sự có nhân quả, người có ý định ‘không có nhân quả’ là có tà tư duy. Vì thực sự có nhân quả, người tuyên bố ‘không có nhân quả’ là có tà ngữ. Vì thực sự có nhân quả, người nói ‘không có nhân quả’ là chống đối các bậc A-la-hán, những người chủ trương có nhân quả. Vì thực sự có nhân quả, người thuyết phục người khác ‘không có nhân quả’ là thuyết phục họ chấp nhận một Pháp không chân thật; và vì thuyết phục người khác chấp nhận một Pháp không chân thật, người đó tự khen mình và chê bai người khác. Như vậy, bất kỳ đức hạnh trong sạch nào mà người đó từng có trước đây đều bị từ bỏ và thay vào đó là hành vi xấu xa. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự chống đối các bậc thánh, việc thuyết phục người khác chấp nhận Pháp không chân thật, và việc tự khen mình chê người - những pháp xấu ác, bất thiện này do vậy mà phát sinh với tà kiến làm điều kiện.

25. (A.iii) "Về điều này, người trí suy xét như sau: ‘Nếu không có nhân quả, thì khi thân hoại mạng chung, người theo quan điểm này sẽ tự cho là mình đã an toàn. Nhưng nếu có nhân quả, thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người đó sẽ tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới không vui, đọa xứ, thậm chí là địa ngục. Bây giờ, dù lời của những vị sa môn và Bà la môn (khẳng định không có nhân quả) đó có thật hay không, cứ cho là không có nhân quả đi: thì người (theo thuyết vô nhân) này vẫn bị người trí ở đời này chỉ trích là người vô đạo đức, người có tà kiến theo thuyết vô nhân (doctrine of non-causality - ahetukavāda - học thuyết phủ nhận nguyên nhân và điều kiện cho sự ô nhiễm hay thanh tịnh của chúng sinh). Nhưng mặt khác, nếu có nhân quả, thì người này đã thua thiệt cả hai mặt: [409] vì bị người trí chỉ trích ở đời này, và vì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi khổ, cảnh giới không vui, đọa xứ, thậm chí là địa ngục. Người đó đã chấp nhận và thực hành sai lầm giáo lý chắc chắn này theo cách chỉ nghiêng về một phía và loại trừ lựa chọn thiện lành.’

26. (B.i) "Này các gia chủ, đối với những sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Có nguyên nhân và điều kiện cho sự ô nhiễm của chúng sinh… họ trải nghiệm khổ và vui trong sáu loại,’ có thể thấy rằng họ sẽ tránh ba pháp bất thiện này, đó là: thân hành xấu, khẩu hành xấu, và ý hành xấu, và họ sẽ chấp nhận và thực hành ba pháp thiện này, đó là: thân hành tốt, khẩu hành tốt, và ý hành tốt. Tại sao vậy? Bởi vì những vị sa môn và Bà la môn tốt lành đó thấy được sự nguy hiểm, sự thấp kém, và sự ô nhiễm trong các pháp bất thiện, và họ thấy được lợi ích của sự từ bỏ, khía cạnh thanh lọc trong các pháp thiện.

27. (B.ii) "Vì thực sự có nhân quả, người giữ quan điểm ‘có nhân quả’ là có chánh kiến. Vì thực sự có nhân quả, người có ý định ‘có nhân quả’ là có chánh tư duy. Vì thực sự có nhân quả, người tuyên bố ‘có nhân quả’ là có chánh ngữ. Vì thực sự có nhân quả, người nói ‘có nhân quả’ là không chống đối các bậc A-la-hán, những người chủ trương có nhân quả. Vì thực sự có nhân quả, người thuyết phục người khác ‘có nhân quả’ là thuyết phục họ chấp nhận Pháp chân thật; và vì thuyết phục người khác chấp nhận Pháp chân thật, người đó không tự khen mình và chê bai người khác. Như vậy, bất kỳ hành vi xấu xa nào mà người đó từng có trước đây đều bị từ bỏ và thay vào đó là đức hạnh trong sạch. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không chống đối các bậc thánh, việc thuyết phục người khác chấp nhận Pháp chân thật, và việc tránh tự khen mình chê người - những pháp thiện lành này do vậy mà phát sinh với chánh kiến làm điều kiện.

28. (B.iii) "Về điều này, người trí suy xét như sau: ‘Nếu có nhân quả, thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người tốt này sẽ tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời. Bây giờ, dù lời của những vị sa môn và Bà la môn ấy có thật hay không, thì người tốt này vẫn được người trí ở đời này khen ngợi là người đức hạnh, người có chánh kiến theo thuyết hữu nhân (doctrine of causality - hetukavāda - học thuyết khẳng định có nguyên nhân và điều kiện cho sự ô nhiễm hay thanh tịnh của chúng sinh). Và mặt khác, nếu có [410] nhân quả, thì người tốt này đã được lợi cả hai mặt: vì được người trí khen ngợi ở đời này, và vì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời. Người đó đã chấp nhận và thực hành đúng đắn giáo lý chắc chắn này theo cách bao gồm cả hai phía và loại trừ lựa chọn bất thiện.’

– Ở đây này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có nhân, không có duyên… (như trên)… họ cảm thọ khổ lạc…”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này sẽ thực hành theo. Vì sao vậy? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có nhân, nếu có quan điểm nào nói rằng không có nhân, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có nhân, nếu có ai suy tư rằng không có nhân thời đó là tư duy. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời tự mâu thuẫn, đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng có nhân, nếu có ai thuyết phục người khác là không có nhân, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, người có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có nhân, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, tự cảm thấy an toàn. Nếu có nhân thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà- la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách. “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương không nhân”. Còn nếu có nhân, thời vị này, cả hai mặt đều gặp sự bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, pháp “không có chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ qua phía thiện pháp.

Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có nhân, có duyên… (như trên)… họ cảm thọ hưởng lạc”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có nhân, nếu có quan điểm nào nói rằng có nhân, thời đó là chánh kiến. Vì rằng có nhân, nếu có ai suy tư rằng có nhân, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời đó là chánh ngữ. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời không tự mẫu thuẫn, đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng có nhân, nếu có ai thuyết phục người khác là có nhân, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh

kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có nhân, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn; Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương có nhân”. Còn nếu có nhân thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người có trí tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Như vậy, pháp “không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía và bỏ qua phía bất thiện pháp.

(IV. KHÔNG CÓ CÁC CÕI VÔ SẮC)

29. "Này các gia chủ, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Chắc chắn không có các cõi vô sắc (immaterial realms - arūpa loka - các cõi giới tồn tại không dựa trên vật chất, chỉ có tâm thức, cao hơn cõi sắc giới).’

30. “Này, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết hoàn toàn đối lập với các sa môn và Bà la môn kia, và họ nói như sau: ‘Chắc chắn có các cõi vô sắc.’ Quý vị nghĩ sao, này các gia chủ? Chẳng phải các sa môn và Bà la môn này có những học thuyết hoàn toàn đối lập nhau sao?” - “Vâng, thưa Tôn giả.”

31. "Về điều này, người trí suy xét như sau: ‘Những vị sa môn và Bà la môn tốt lành này giữ học thuyết và quan điểm “không có các cõi vô sắc,” nhưng điều đó tôi chưa từng thấy. Và những vị sa môn và Bà la môn tốt lành khác này giữ học thuyết và quan điểm “có các cõi vô sắc,” nhưng điều đó tôi chưa từng biết. Nếu không biết và không thấy, tôi lại chọn một phe và tuyên bố: “Chỉ có điều này là thật, mọi thứ khác là sai,” thì điều đó không phù hợp với tôi. Bây giờ, đối với các sa môn và Bà la môn giữ học thuyết và quan điểm “không có các cõi vô sắc,” nếu lời của họ là thật thì chắc chắn vẫn có khả năng tôi có thể tái sinh [sau khi chết] vào hàng ngũ chư thiên ở cõi sắc giới (fine-material realms - rūpa loka - các cõi giới tồn tại dựa trên vật chất vi tế, nơi chúng sinh có thân thể vật chất nhưng thanh cao hơn cõi dục, đạt được qua thiền định sắc giới), những vị được tạo thành bởi tâm. Nhưng đối với các sa môn và Bà la môn giữ học thuyết và quan điểm “có các cõi vô sắc,” nếu lời của họ là thật thì có khả năng tôi có thể tái sinh vào hàng ngũ chư thiên ở cõi vô sắc, những vị được tạo thành bởi tưởng. Việc cầm gậy và vũ khí, cãi vã, ẩu đả, tranh chấp, khiển trách, ác ý và lời nói dối được thấy xảy ra dựa trên sắc pháp (vật chất), nhưng điều này hoàn toàn không tồn tại ở các cõi vô sắc.’ Sau khi suy xét như vậy, người đó thực hành con đường dẫn đến sự ly tham đối với các sắc pháp, đến sự phai nhạt và chấm dứt các sắc pháp.

(IV. Thuyết Không có cõi vô sắc)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”.

Lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn, đối nghịch với các Sa-môn, Ba la môn ấy. Các vị này đã nói như sau: “Chắc chắn có cõi vô sắc”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau ?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan niệm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”, ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối có cõi vô sắc”, ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: “Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm,” thời như vậy không xứng đáng với ta. Những Sa-môn, Bà-la- môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”, nếu lời nói của những Sa-môn, Ba la môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên có sắc do ý sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối có cõi vô sắc”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên vô sắc, do tưởng sở thành. Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Nhưng sẽ không có những sự việc này trong cõi vô sắc”. Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự ly tham, sự diệt tận các sắc pháp.

(V. KHÔNG CÓ SỰ CHẤM DỨT CỦA VÒNG TỒN TẠI)

32. "Này các gia chủ, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết và quan điểm như sau: ‘Không thể có sự chấm dứt của vòng tồn tại (cessation of being - bhavanirodha - sự diệt tận của tiến trình trở thành, tức là chấm dứt tái sinh).’

33. “Này, có một số sa môn và Bà la môn có học thuyết hoàn toàn đối lập với các sa môn và Bà la môn kia, và họ nói như sau: ‘Chắc chắn [411] có thể chấm dứt của vòng tồn tại.’ Quý vị nghĩ sao, này các gia chủ? Chẳng phải các sa môn và Bà la môn này có những học thuyết hoàn toàn đối lập nhau sao?” - “Vâng, thưa Tôn giả.”

34. "Về điều này, người trí suy xét như sau: 'Những vị sa môn và Bà la môn tốt lành này giữ học thuyết và quan điểm “Không thể có sự chấm dứt của vòng tồn tại,” nhưng điều đó tôi chưa từng thấy. Và những vị sa môn và Bà la môn tốt lành khác này giữ học thuyết và quan điểm “có thể sự có sự chấm dứt của sự tồn tại,” nhưng điều đó tôi chưa từng biết. Nếu không biết và không thấy, tôi lại chọn một phe và tuyên bố: “Chỉ có điều này là thật, mọi thứ khác là sai,” thì điều đó không phù hợp với tôi. Bây giờ, đối với các sa môn và Bà la môn giữ học thuyết và quan điểm “Không thể có sự chấm dứt của vòng tồn tại,” nếu lời của họ là thật thì chắc chắn vẫn có khả năng tôi có thể tái sinh [sau khi chết] vào hàng ngũ chư thiên ở cõi vô sắc, những vị được tạo thành bởi tưởng. Nhưng đối với các sa môn và Bà la môn giữ học thuyết và quan điểm “có thể có sự chấm dứt của vòng tồn tại,” nếu lời của họ là thật thì có khả năng tôi có thể ngay trong đời này đạt được Niết bàn cuối cùng (final Nibbāna - parinibbāna - sự tịch diệt hoàn toàn sau khi thân xác của một vị Phật hoặc A-la-hán tan rã, không còn tái sinh). Quan điểm của những vị sa môn và Bà la môn tốt lành giữ học thuyết và quan điểm “Không thể có sự chấm dứt của vòng tồn tại” thì gần với tham ái, gần với trói buộc, gần với thích thú, gần với nắm giữ, gần với chấp thủ (clinging - upādāna - sự bám víu, dính mắc mạnh mẽ vào các đối tượng, kinh nghiệm hoặc quan điểm, xem chúng là ‘tôi’ hoặc ‘của tôi’); nhưng quan điểm của những vị sa môn và Bà la môn tốt lành giữ học thuyết và quan điểm “chắc chắn có sự chấm dứt của sự tồn tại” thì gần với không tham ái, gần với không trói buộc, gần với không thích thú, gần với không nắm giữ, gần với không chấp thủ. Sau khi suy xét như vậy, người đó thực hành con đường dẫn đến sự ly tham đối với sự tồn tại, đến sự phai nhạt và chấm dứt của sự tồn tại.

(V. Thuyết Không có Ðoạn diệt)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn. Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt (Bhavanirodha) toàn diện”.

Này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với các Sa-môn, Bà-la- môn. Các vị này đã nói như sau: “Có thể có một sự hữu diệt toàn diện”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn đối nghịch nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có sự hữu diệt toàn diện”, ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có một sự hữu diệt

toàn diện", ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: “Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm”, thời như vậy không xứng đáng với ta. Những Sa- môn, Bà-la-môn nào, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt toàn diện”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh chỗ các chư Thiên vô sắc do tưởng sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có thể có một sự hữu diệt toàn diện”, nếu lời nói của những Sa- môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ nhập Niết-bàn ngay trong hiện tại. Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt toàn diện”, thời quan điểm này của các vị ấy gần với tham ái, gần với kiết sử, gần với ái lạc, gần với chấp trước, gần với chấp thủ. Còn những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có thể có sự hữu diệt toàn diện”, thời quan điểm này của những vị ấy là gần với ly tham, gần với không kiết phược, gần với không ái lạc, gần với không chấp trước, gần với không chấp thủ". Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự vô tham, sự diệt tận đối với các hữu.

(BỐN LOẠI NGƯỜI)

35. "Này các gia chủ, có bốn loại người hiện hữu trên thế gian. Bốn loại nào? Ở đây, có loại người tự hành hạ mình và theo đuổi việc tự hành hạ mình. Ở đây, có loại người hành hạ người khác và theo đuổi việc hành hạ người khác. Ở đây, có loại người tự hành hạ mình và theo đuổi việc tự hành hạ mình, và cũng hành hạ người khác và theo đuổi việc hành hạ người khác. Ở đây, có loại người không tự hành hạ mình hay theo đuổi việc tự hành hạ mình, và không hành hạ người khác hay theo đuổi việc hành hạ người khác. [412] Vì không hành hạ mình cũng không hành hạ người khác, người đó ngay trong đời này không còn đói khát (phiền não), đã tịch diệt và mát lạnh, và an trú hưởng hạnh phúc, tự thân trở nên thánh thiện.

36. "Loại người nào, này các gia chủ, tự hành hạ mình và theo đuổi việc tự hành hạ mình? Ở đây, có người đi lõa thể, từ bỏ các quy ước…(như Kinh 51, §8)… Như vậy, bằng nhiều cách khác nhau, người đó sống theo đuổi việc hành hạ và làm khổ thân xác. Đây được gọi là loại người tự hành hạ mình và theo đuổi việc tự hành hạ mình.

37. "Loại người nào, này các gia chủ, hành hạ người khác và theo đuổi việc hành hạ người khác? Ở đây, có người là đồ tể giết cừu…(như Kinh 51, §9)…hoặc người theo bất kỳ nghề nghiệp đẫm máu nào khác tương tự. Đây được gọi là loại người hành hạ người khác và theo đuổi việc hành hạ người khác.

38. "Loại người nào, này các gia chủ, tự hành hạ mình và theo đuổi việc tự hành hạ mình và cũng hành hạ người khác và theo đuổi việc hành hạ người khác? Ở đây, có người là vua thuộc dòng dõi quý tộc đã làm lễ đăng quang hoặc là một Bà la môn giàu có…(như Kinh 51, §10)… Và rồi nô lệ, người đưa tin, và người hầu của ông ta chuẩn bị, khóc lóc với khuôn mặt đẫm lệ, bị thúc ép bởi những lời đe dọa trừng phạt và bởi sự sợ hãi. Đây được gọi là loại người tự hành hạ mình và theo đuổi việc tự hành hạ mình và cũng hành hạ người khác và theo đuổi việc hành hạ người khác.

39. "Loại người nào, này các gia chủ, không tự hành hạ mình hay theo đuổi việc tự hành hạ mình và không hành hạ người khác hay theo đuổi việc hành hạ người khác - người mà, vì không hành hạ mình cũng không hành hạ người khác, ngay trong đời này không còn đói khát (phiền não), đã tịch diệt và mát lạnh, và an trú hưởng hạnh phúc, tự thân trở nên thánh thiện?

(Bốn hạng người)

Này các Gia chủ, có bốn hạng người này có mặt ở trong đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Gia chủ, có người tự hành khổ mình chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này các Gia chủ, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Gia chủ, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Gia chủ, có người vừa tự không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Vị này không hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.

Và này các Gia chủ, thế nào là người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình ? Ở đây, này các Gia chủ, có người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ nhận ăn hai miếng… hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát,… nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa,… bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tirita làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chõ hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chõ hỏ, một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình.

Và này các Gia chủ, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này các Gia chủ, có người là người đồ tể giết trâu bò, là người đồ tể giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề ác độc khác. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

Và này các Gia chủ, thế nào là người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người ? Ở đây, này các Gia chủ, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lị, hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây dựng một giảng đường mới về phía Ðông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một mầu sắc; bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế lửa. Còn con nghé con thì sống với đồ còn lại. Vị vua nói như sau: "Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy chặt một số cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabbha để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người vừa tự hạnh khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

Và này các Gia chủ, thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay trong hiện tại không có tham dục, không có khao khát, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, thân trú vào Phạm thể?

40-55. "Ở đây, này các gia chủ, một Như Lai (Tathāgata - danh hiệu của Đức Phật, nghĩa là ‘Người đã đến như vậy’ hoặc ‘Người đã đi như vậy’) xuất hiện trên thế gian…(như Kinh 51, §§12-27) [413]… Vị ấy hiểu rõ: ‘Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nào nữa.’

56. “Đây, này các gia chủ, được gọi là loại người không tự hành hạ mình hay theo đuổi việc tự hành hạ mình và không hành hạ người khác hay theo đuổi việc hành hạ người khác - người mà, vì không hành hạ mình cũng không hành hạ người khác, ngay trong đời này không còn đói khát (phiền não), đã tịch diệt và mát lạnh, và an trú hưởng hạnh phúc, tự thân trở nên thánh thiện.”

57. Khi nghe những lời này, các gia chủ Bà la môn ở Sālā bạch Đức Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách, như thể lật ngửa những gì bị úp, phơi bày những gì bị che giấu, chỉ đường cho người lạc lối, hay giơ cao ngọn đèn trong bóng tối cho những ai có mắt để thấy các hình sắc. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn tỳ kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama chấp nhận chúng con là những người cư sĩ đã quy y Ngài trọn đời.”

Ở đây, này các Gia chủ, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.

Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ- kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.

Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ.

Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.

Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cũng với các nét đại cương và các chi tiết.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.

Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay trong hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.

Khi được nói vậy, các Bà-la-môn, gia chủ trú ở Sala bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả

Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận cho chúng con làm những người cư sĩ. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư nam đã xuất gia trong Phật giáo, sống theo giới luật và thực hành giáo pháp để đạt đến giải thoát.
  • thắng trí / abhiññā / direct knowledge: Sự hiểu biết siêu việt, trực tiếp không qua suy luận hay trung gian, thường đạt được qua thiền định cao cấp, bao gồm các năng lực như thiên nhãn, thiên nhĩ, biết tâm người khác, nhớ lại tiền kiếp, và lậu tận trí (trí tuệ đoạn trừ phiền não).
  • Pháp / Dhamma / Buddha’s teaching, reality: Giáo lý của Đức Phật; cũng có nghĩa là sự thật, thực tại, quy luật tự nhiên, hay các hiện tượng tâm-vật lý.
  • A-la-hán / arahant / enlightened being: Bậc thánh đã giác ngộ hoàn toàn, đã tiêu diệt mọi phiền não (tham, sân, si) và không còn tái sinh trong vòng luân hồi (saṃsāra). Đây là mục tiêu cuối cùng của tu tập trong Phật giáo Theravada.
  • chúng sinh hóa sinh / opapātika / spontaneously reborn beings: Các chúng sinh được sinh ra một cách tức thời, trọn vẹn mà không cần qua giai đoạn phôi thai hay trứng, ví dụ như chư thiên, chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ, và các Phạm thiên.
  • ô nhiễm / kilesa / defilement: Các trạng thái tâm tiêu cực làm vẩn đục, che mờ tâm trí, là gốc rễ của khổ đau và luân hồi, bao gồm tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, tà kiến, nghi ngờ, buồn ngủ, trạo cử, vô liêm, vô quý. Còn được gọi là phiền não.
  • tà kiến / micchā diṭṭhi / wrong view: Quan điểm, nhận thức sai lầm về thực tại, đặc biệt là phủ nhận luật nhân quả, nghiệp báo, sự tồn tại của đời sau, sự giác ngộ của các bậc thánh. Đây là một trong những yếu tố dẫn đến khổ đau và tái sinh trong các cõi dữ.
  • tà tư duy / micchā saṅkappa / wrong intention: Suy nghĩ, ý định sai lầm, bất thiện, bao gồm ý định tham lam, ý định sân hận, và ý định hãm hại.
  • tà ngữ / micchā vācā / wrong speech: Lời nói sai lầm, bất thiện, bao gồm nói dối, nói lời đâm thọc chia rẽ, nói lời thô ác, và nói lời vô ích.
  • thuyết hư vô / natthikavāda / doctrine of nihilism: Học thuyết phủ nhận sự tồn tại của những điều căn bản như quả báo của nghiệp thiện ác, sự tồn tại của đời sau, cha mẹ (về mặt ảnh hưởng đạo đức), chúng sinh hóa sinh, và các bậc thánh đã chứng ngộ.
  • chánh kiến / sammā diṭṭhi / right view: Quan điểm, nhận thức đúng đắn về thực tại, phù hợp với sự thật, đặc biệt là hiểu rõ về Tứ Diệu Đế, luật nhân quả, nghiệp báo. Đây là yếu tố đầu tiên trong Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo).
  • chánh tư duy / sammā saṅkappa / right intention: Suy nghĩ, ý định đúng đắn, thiện lành, bao gồm ý định từ bỏ (ly tham), ý định không sân hận (từ bi), và ý định không hãm hại (bất hại).
  • chánh ngữ / sammā vācā / right speech: Lời nói đúng đắn, thiện lành, bao gồm không nói dối, không nói lời đâm thọc chia rẽ, không nói lời thô ác, và không nói lời vô ích.
  • thuyết khẳng định / atthikavāda / doctrine of affirmation: Học thuyết khẳng định sự tồn tại của những điều căn bản như quả báo của nghiệp thiện ác, sự tồn tại của đời sau, cha mẹ, chúng sinh hóa sinh, và các bậc thánh đã chứng ngộ. Đối lập với thuyết hư vô.
  • thuyết vô hành động / akiriyavāda / doctrine of non-doing: Học thuyết phủ nhận rằng hành động (nghiệp) có tạo ra kết quả đạo đức hay ảnh hưởng đến tương lai. Cho rằng hành động không thực sự tạo ra tội hay phước.
  • thuyết hữu hành động / kiriyavāda / doctrine of doing: Học thuyết khẳng định rằng hành động (nghiệp) có tạo ra kết quả đạo đức, có ảnh hưởng đến tương lai. Khẳng định sự tồn tại của nghiệp báo.
  • thanh tịnh / visuddhi / purification: Sự trong sạch, sự thoát khỏi các ô nhiễm, phiền não. Trong Phật giáo, thanh tịnh thường đạt được qua việc thực hành giới, định, tuệ.
  • thuyết vô nhân / ahetukavāda / doctrine of non-causality: Học thuyết phủ nhận sự tồn tại của nguyên nhân và điều kiện đối với sự ô nhiễm hay thanh tịnh của chúng sinh. Cho rằng mọi thứ xảy ra một cách ngẫu nhiên hoặc do định mệnh, không liên quan đến hành động hay nỗ lực của cá nhân.
  • thuyết hữu nhân / hetukavāda / doctrine of causality: Học thuyết khẳng định sự tồn tại của nguyên nhân và điều kiện đối với mọi hiện tượng, bao gồm cả sự ô nhiễm và thanh tịnh của chúng sinh. Đây là nền tảng của luật nhân quả và duyên khởi trong Phật giáo.
  • cõi vô sắc / arūpa loka / immaterial realms: Bốn cõi giới cao nhất trong ba cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), nơi chúng sinh không còn thân thể vật chất mà chỉ tồn tại dưới dạng tâm thức thuần túy. Các cõi này đạt được qua việc tu tập các tầng thiền vô sắc.
  • cõi sắc giới / rūpa loka / fine-material realms: Các cõi giới nằm giữa Dục giới và Vô sắc giới, nơi chúng sinh có thân thể vật chất vi tế, thanh cao hơn cõi Dục. Các cõi này đạt được qua việc tu tập các tầng thiền sắc giới (sơ thiền đến tứ thiền).
  • sự chấm dứt của sự tồn tại / bhavanirodha / cessation of being: Sự diệt tận hoàn toàn của tiến trình “trở thành” (bhava), tức là chấm dứt mọi khuynh hướng dẫn đến tái sinh trong tương lai. Đây là một cách gọi khác của Niết bàn.
  • Niết bàn cuối cùng / parinibbāna / final Nibbāna: Sự tịch diệt hoàn toàn, không còn dư sót (vô dư y Niết bàn) xảy ra khi một vị Phật hoặc A-la-hán qua đời, chấm dứt hoàn toàn mọi tiến trình sinh tử luân hồi.
  • chấp thủ / upādāna / clinging, attachment: Sự bám víu, dính mắc, nắm giữ mạnh mẽ vào các đối tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), các kinh nghiệm, quan điểm, hoặc vào ý niệm về “cái tôi” và “cái của tôi”. Chấp thủ là một trong 12 nhân duyên, là nguyên nhân trực tiếp của sự “trở thành” (bhava) và tái sinh.
  • Như Lai / Tathāgata / Thus Come One, Thus Gone One: Một trong những danh hiệu cao quý nhất của Đức Phật. Có nhiều cách giải thích, thường được hiểu là “Người đã đến như vậy” (đến với chân lý) hoặc “Người đã đi như vậy” (đi đến Niết bàn), hoặc người nói và làm như nhau, nói điều chân thật.