Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 61. Lời khuyên dạy La Hầu La tại Ambalaṭṭhikā

(Kinh Ambalaṭṭhikārāhulovāda)

[414] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong Rừng Trúc, nơi nuôi sóc.

2. Lúc bấy giờ, Đại đức La Hầu La đang trú tại Ambalaṭṭhikā. [^637] Rồi vào buổi chiều, Đức Thế Tôn xuất khỏi thiền định (meditation - trạng thái tập trung tâm ý) và đi đến chỗ Đại đức La Hầu La ở Ambalaṭṭhikā. Đại đức La Hầu La thấy Đức Thế Tôn từ xa đi tới, bèn soạn chỗ ngồi và đặt nước rửa chân. Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn và rửa chân. Đại đức La Hầu La đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.

3. Rồi Đức Thế Tôn để lại một ít nước trong thùng và hỏi Đại đức La Hầu La: “Này La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong thùng này không?” - “Bạch vâng, thưa Đại đức.” - “Này La Hầu La, đời sống tu sĩ (recluseship - đời sống của người xuất gia tìm cầu giải thoát) của những người không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng ít ỏi như vậy đó.”

4. Rồi Đức Thế Tôn đổ bỏ chút nước còn lại đó và hỏi Đại đức La Hầu La: “Này La Hầu La, con có thấy chút nước vừa bị đổ bỏ không?” - “Bạch vâng, thưa Đại đức.” - “Này La Hầu La, những người không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng đã vứt bỏ đời sống tu sĩ của mình như vậy đó.”

5. Rồi Đức Thế Tôn lật úp thùng nước lại và hỏi Đại đức La Hầu La: “Này La Hầu La, con có thấy thùng nước bị lật úp này không?” - “Bạch vâng, thưa Đại đức.” - “Này La Hầu La, những người không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng đã đảo lộn đời sống tu sĩ của mình như vậy đó.”

6. Rồi Đức Thế Tôn lật ngửa thùng nước lại và hỏi Đại đức La Hầu La: “Này La Hầu La, con có thấy thùng nước rỗng không này không?” - “Bạch vâng, thưa Đại đức.” - “Này La Hầu La, đời sống tu sĩ của những người không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng rỗng tuếch như vậy đó.”

7. “Này La Hầu La, ví như có con voi chiến của nhà vua, ngà dài như gọng xe, thân hình vạm vỡ, dòng dõi cao quý, quen trận mạc. Khi lâm trận, nó dùng chân trước, chân sau, thân trước, thân sau, đầu, tai, ngà và đuôi để chiến đấu, [415] nhưng nó vẫn giữ lại cái vòi. Người quản tượng sẽ nghĩ: ‘Con voi chiến của nhà vua này, ngà dài như gọng xe… chiến đấu bằng chân trước, chân sau… nhưng vẫn giữ lại cái vòi. Nó vẫn chưa liều mạng.’ Nhưng khi con voi chiến của nhà vua… chiến đấu bằng chân trước, chân sau, thân trước, thân sau, đầu, tai, ngà, đuôi, và cả bằng vòi nữa, thì người quản tượng sẽ nghĩ: ‘Con voi chiến của nhà vua này, ngà dài như gọng xe… chiến đấu bằng chân trước, chân sau… và cả bằng vòi nữa. Nó đã liều mạng rồi. Giờ thì không có gì mà con voi chiến này không dám làm.’ Cũng vậy, này La Hầu La, khi một người không biết xấu hổ khi cố ý nói dối, Ta nói rằng không có điều ác nào mà người đó không dám làm. Vì vậy, này La Hầu La, con nên rèn luyện như sau: ‘Ta sẽ không nói lời sai sự thật, dù chỉ là nói đùa.’”

8. "‘Này La Hầu La, con nghĩ sao? Cái gương dùng để làm gì?’

‘Bạch Đại đức, để soi ạ.’

‘Cũng vậy, này La Hầu La, một hành động qua thân (bodily action - thân hành) cần được thực hiện sau khi suy xét kỹ lưỡng; một hành động qua lời nói (verbal action - khẩu hành) cần được thực hiện sau khi suy xét kỹ lưỡng; một hành động qua ý nghĩ (mental action - ý hành) cần được thực hiện sau khi suy xét kỹ lưỡng.’"

9. “‘Này La Hầu La, khi con muốn làm một hành động qua thân, con nên suy xét về chính hành động đó như vầy: ‘Hành động qua thân mà ta muốn làm này có đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai không? Đây có phải là một thân hành bất thiện (unwholesome bodily action - hành động xấu ác qua thân thể) với hậu quả đau khổ, kết quả đau khổ không?’ Khi suy xét, nếu con biết rằng: ‘Hành động qua thân mà ta muốn làm này sẽ đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai; đây là một thân hành bất thiện với hậu quả đau khổ, kết quả đau khổ,’ thì con nhất định không nên làm hành động đó qua thân. [416] Nhưng khi suy xét, nếu con biết rằng: ‘Hành động qua thân mà ta muốn làm này sẽ không đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai; đây là một thân hành thiện (wholesome bodily action - hành động tốt đẹp qua thân thể) với hậu quả vui vẻ, kết quả vui vẻ,’ thì con có thể làm hành động đó qua thân.’”

10. “‘Này La Hầu La, trong khi con đang làm một hành động qua thân, con nên suy xét về chính hành động đó như vầy: ‘Hành động qua thân mà ta đang làm này có đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai không? Đây có phải là một thân hành bất thiện với hậu quả đau khổ, kết quả đau khổ không?’ Khi suy xét, nếu con biết rằng: ‘Hành động qua thân mà ta đang làm này đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai; đây là một thân hành bất thiện với hậu quả đau khổ, kết quả đau khổ,’ thì con nên dừng ngay thân hành đó lại. Nhưng khi suy xét, nếu con biết rằng: ‘Hành động qua thân mà ta đang làm này không đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai; đây là một thân hành thiện với hậu quả vui vẻ, kết quả vui vẻ,’ thì con có thể tiếp tục thân hành đó.’”

11. “‘Này La Hầu La, sau khi con đã làm một hành động qua thân, con nên suy xét về chính hành động đó như vầy: ‘Hành động qua thân mà ta đã làm này có đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai không? Đó có phải là một thân hành bất thiện với hậu quả đau khổ, kết quả đau khổ không?’ Khi suy xét, nếu con biết rằng: ‘Hành động qua thân mà ta đã làm này đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai; đó là một thân hành bất thiện với hậu quả đau khổ, kết quả đau khổ,’ thì con nên thú nhận thân hành đó, trình bày nó, và phơi bày nó với Bậc Đạo Sư hoặc với các vị đồng tu thông thái trong đời sống phạm hạnh. Sau khi đã thú nhận, trình bày và phơi bày, [417] con nên thực hành sự thu thúc (restraint - sự kiểm soát, gìn giữ các giác quan và hành vi) trong tương lai. [^638] Nhưng khi suy xét, nếu con biết rằng: ‘Hành động qua thân mà ta đã làm này không đưa đến tổn hại cho mình, tổn hại cho người, hay tổn hại cho cả hai; đó là một thân hành thiện với hậu quả vui vẻ, kết quả vui vẻ,’ con có thể an trú trong hoan hỷ và vui mừng, ngày đêm rèn luyện trong các trạng thái thiện lành.’”

12. “'Này La Hầu La, khi con muốn làm một hành động qua lời nói…(hoàn chỉnh như §9, thay “thân” bằng “lời nói” và “thân hành” bằng “khẩu hành”)…con có thể làm hành động đó qua lời nói.”

13. “'Này La Hầu La, trong khi con đang làm một hành động qua lời nói…(hoàn chỉnh như §10, thay “thân” bằng “lời nói” và “thân hành” bằng “khẩu hành”) [418]…con có thể tiếp tục khẩu hành đó.”

14. “'Này La Hầu La, sau khi con đã làm một hành động qua lời nói…(hoàn chỉnh như §11, thay “thân” bằng “lời nói” và “thân hành” bằng “khẩu hành”)…con có thể an trú trong hoan hỷ và vui mừng, ngày đêm rèn luyện trong các trạng thái thiện lành.”

15. “'Này La Hầu La, khi con muốn làm một hành động qua ý nghĩ…(hoàn chỉnh như §9, thay “thân” bằng “ý nghĩ” và “thân hành” bằng “ý hành”) [419]…con có thể làm hành động đó qua ý nghĩ.”

16. “'Này La Hầu La, trong khi con đang làm một hành động qua ý nghĩ…(hoàn chỉnh như §10, thay “thân” bằng “ý nghĩ” và “thân hành” bằng “ý hành”)…con có thể tiếp tục ý hành đó.”

17. "'Này La Hầu La, sau khi con đã làm một hành động qua ý nghĩ…(hoàn chỉnh như §11, thay “thân” bằng “ý nghĩ” và “thân hành” bằng “ý hành"639)…con có thể an trú trong hoan hỷ và vui mừng, ngày đêm rèn luyện trong các trạng thái thiện lành. [420]”

18. “'Này La Hầu La, tất cả các vị sa môn (recluses - samaṇa - người xuất gia, tu sĩ nói chung) và bà la môn (brahmins - brāhmaṇa - tu sĩ Bà la môn giáo, người thuộc giai cấp tu sĩ Ấn Độ cổ) trong quá khứ đã thanh lọc (purified - làm cho trong sạch, loại bỏ ô nhiễm) thân hành, khẩu hành và ý hành của mình, đều đã làm như vậy bằng cách suy xét kỹ lưỡng. Tất cả các vị sa môn và bà la môn trong tương lai sẽ thanh lọc thân hành, khẩu hành và ý hành của mình, cũng sẽ làm như vậy bằng cách suy xét kỹ lưỡng. Tất cả các vị sa môn và bà la môn trong hiện tại đang thanh lọc thân hành, khẩu hành và ý hành của mình, cũng đang làm như vậy bằng cách suy xét kỹ lưỡng. Vì vậy, này La Hầu La, con nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ thanh lọc thân hành, khẩu hành và ý hành của mình bằng cách suy xét kỹ lưỡng chúng.’”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Đại đức La Hầu La hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của Đức Thế Tôn.

61. KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA Ở RỪNG AMBALA

61. KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA Ở RỪNG AMBALA (Ambalatthikà Ràhulovàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Rahula (La-hầu-la) ở tại Ambalatthika (rừng Ambala). Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Ambalatthika, chỗ Tôn giả Rahula ở. Tôn giả Rahula thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Rahula đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Rồi Thế Tôn, sau khi để một ít nước còn lại trong chậu nước, bảo Tôn giả Rahula:

– Này Rahula, Ông có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng ít vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn, sau khi đổ đi chút ít nước còn lại ấy rồi bảo Rahula:

– Này Rahula, Ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng đổ đi vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula.

– Này Rahula, Ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng lật úp vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula:

– Này Rahula, Ông có thấy chậu nước này trống không không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng trống không vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Này Rahula, ví như một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: "Con voi của vua này có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở

chiến trường. Khi lâm trận con voi này thường dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Con voi của vua (như vậy) không quăng bỏ mạng sống (của mình)". Này Rahula, nhưng khi con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường, khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: “Con voi của vua này, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường… (như trên)… dùng đuôi, dùng vòi. Con voi của vua (như vậy) đã quăng bỏ mạng sống (của mình), và nay con voi của vua không có việc gì mà không làm”. Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi”, này Rahula, Ông phải học tập như vậy.

Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?

– Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.

– Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp.

Này Rahula, khi Ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Thân nghiệp này, ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nhất định chớ có làm. Này Rahula, nếu sau khi phản tỉnh, ông biết: “Thân nghiệp này ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm.

Này Rahula, khi Ông đang làm một thân nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: "Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ; đem đến quả báo đau khổ. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy. Nhưng nếu, này Rahula, trong khi phản tỉnh ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.

Sau khi Ông làm xong một thân nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula Ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.

Này Rahula, khi Ông muốn làm một khẩu nghiệp gì, hãy phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai, khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta muốn làm. Khẩu nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một khẩu nghiệp như vậy này Rahula, nhất định chớ có làm. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta muốn làm. Khẩu nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm.

Này Rahula, khi Ông đang làm một khẩu nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy. Nhưng nếu này Rahula, khi phản tỉnh, Ông biết như sau: “Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Khẩu nghiệp như vậy này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.

Sau khi Ông làm xong một khẩu nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai, nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.

Này Rahula, như Ông muốn làm một ý nghiệp gì, hãy phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai, ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Ý nghiệp này ta muốn làm. Ý nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Một ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nhất định chớ có làm. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, ông biết: “Ý nghiệp này ta muốn làm. Ý nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm.

Này Rahula, khi Ông đang làm một ý nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem lại quả báo đau khổ”. Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một ý nghiệp như vậy. Nhưng nếu, này Rahula, khi phản tỉnh Ông biết như sau: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông phải tiếp tục làm.

Sau khi Ông làm xong một ý nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem lại quả báo đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Một ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai. Còn nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.

Này Rahula, trong thời quá khứ, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tịnh hóa thân nghiệp, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, đã tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần đã tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời vị lai, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sẽ tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, sẽ tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời hiện tại, những Sa-môn hay Bà-la- môn nào tịnh hóa thân nghiệp, tịnh hóa khẩu nghiệp, tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa khẩu nghiệp; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa ý nghiệp. Do vậy, này Rahula: “Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp”. Như vậy, này Rahula, Ông cần phải tu học.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rahula, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn giảng.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Thiền định / samādhi/jhāna / meditation: Trạng thái tâm trí tập trung cao độ vào một đối tượng duy nhất, vắng lặng các suy nghĩ phân tán, giúp tâm trí trở nên định tĩnh và sáng suốt.
  • Đời sống tu sĩ / brahmacariya / recluseship: Cuộc sống của người xuất gia, thực hành giới luật và thiền định để đạt giải thoát khỏi khổ đau; cũng có nghĩa là đời sống phạm hạnh, trong sạch, không tà dâm.
  • Hành động qua thân (Thân hành) / kāyakamma / bodily action: Hành động được thực hiện thông qua cơ thể, ví dụ như đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc tay chân.
  • Hành động qua lời nói (Khẩu hành) / vacīkamma / verbal action: Hành động được thực hiện thông qua lời nói, ví dụ như nói thật, nói dối, nói lời hòa giải, nói lời chia rẽ.
  • Hành động qua ý nghĩ (Ý hành) / manokamma / mental action: Hành động được thực hiện thông qua suy nghĩ, ý định trong tâm trí, ví dụ như tham lam, sân hận, tà kiến, hoặc ngược lại là không tham, không sân, chánh kiến.
  • Bất thiện / akusala / unwholesome: Các hành động, lời nói, ý nghĩ có hại, gây đau khổ cho mình và người khác, thường bắt nguồn từ tham lam, sân hận và si mê (vô minh).
  • Thiện / kusala / wholesome: Các hành động, lời nói, ý nghĩ có lợi, mang lại an vui, hạnh phúc cho mình và người khác, thường bắt nguồn từ không tham, không sân, không si (hoặc trí tuệ).
  • Thu thúc / saṃvara / restraint: Sự kiểm soát, gìn giữ, không để các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) bị lôi cuốn bởi các đối tượng bên ngoài một cách bất thiện, dẫn đến hành vi sai trái. Đây là một phần quan trọng của việc thực hành giới luật.
  • Sa môn / samaṇa / recluse: Thuật ngữ chỉ chung cho những người xuất gia tu hành theo các truyền thống tôn giáo khác nhau ở Ấn Độ cổ, bao gồm cả Phật giáo, những người từ bỏ đời sống thế tục để tìm cầu chân lý hoặc giải thoát tâm linh.
  • Bà la môn / brāhmaṇa / brahmin: Thành viên của giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ theo đạo Bà la môn (Ấn Độ giáo sơ kỳ), thường thực hiện các nghi lễ tế tự và duy trì các kinh điển Vệ Đà.
  • Thanh lọc / visuddhi / purified/purification: Quá trình làm cho trong sạch, loại bỏ các ô nhiễm, phiền não (như tham, sân, si, tà kiến) trong tâm trí hoặc trong hành vi (thân, khẩu, ý) thông qua việc thực hành giới, định, tuệ.