Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 67. Tại Cātumā

(Kinh Cātumā)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Cātumā, trong rừng cây A-ma-la (myrobalan).

2. Lúc bấy giờ, có năm trăm vị tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư) do Đại đức Xá Lợi Phất và Đại đức Đại Mục Kiền Liên dẫn đầu đã đến Cātumā để yết kiến Đức Thế Tôn. Trong khi các vị tỳ kheo khách đang chào hỏi các vị tỳ kheo chủ nhà, chuẩn bị chỗ nghỉ và cất y bát, họ đã rất ồn ào, náo nhiệt.

3. Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi Đại đức A Nan: “Này A Nan, ai mà ồn ào, náo nhiệt thế kia? Cứ như là những người đánh cá đang rao bán cá vậy.” [^682]

“Bạch Thế Tôn, đó là năm trăm vị tỳ kheo do Đại đức Xá Lợi Phất và Đại đức Mục Kiền Liên dẫn đầu đã đến Cātumā để yết kiến Đức Thế Tôn. Và trong khi các vị tỳ kheo khách chào hỏi các vị tỳ kheo chủ nhà, chuẩn bị chỗ nghỉ và cất y bát, họ đã rất ồn ào, náo nhiệt.”

4. “Vậy thì, A Nan, nhân danh Ta, hãy nói với các tỳ kheo ấy rằng Bậc Đạo Sư cho gọi các Đại đức.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Đại đức A Nan đáp, rồi đi đến các vị tỳ kheo ấy và nói: “Bậc Đạo Sư cho gọi các Đại đức.”

“Thưa vâng, hiền giả,” [457] họ đáp, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên. Khi họ đã ngồi yên, Đức Thế Tôn hỏi: “Này các tỳ kheo, tại sao các ông lại ồn ào, náo nhiệt như vậy? Cứ như là những người đánh cá đang rao bán cá vậy.”

“Bạch Thế Tôn, chúng con là năm trăm vị tỳ kheo do Đại đức Xá Lợi Phất và Đại đức Mục Kiền Liên dẫn đầu đã đến Cātumā để yết kiến Đức Thế Tôn. Và chính trong khi chúng con, những tỳ kheo khách, chào hỏi các vị tỳ kheo chủ nhà, chuẩn bị chỗ nghỉ và cất y bát, chúng con đã rất ồn ào, náo nhiệt.”

5. “Này các tỳ kheo, hãy đi đi. Ta khai trừ các ngươi. Các ngươi không thể sống cùng Ta.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, giữ Ngài ở bên phải mình, họ thu dọn chỗ nghỉ, mang y bát rồi rời đi.

6. Lúc bấy giờ, những người Thích Ca ở Cātumā đang tụ họp trong phòng hội họp để bàn việc gì đó. Thấy các vị tỳ kheo từ xa đi tới, họ đến gần và hỏi: “Thưa các Đại đức, quý vị đi đâu vậy?”

“Thưa các hiền giả, Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng tu sĩ) các tỳ kheo đã bị Đức Thế Tôn khai trừ.”

“Vậy xin các Đại đức hãy ngồi lại một lát. Có lẽ chúng tôi có thể làm cho Ngài chấp nhận lại.”

“Thưa vâng, các hiền giả,” họ đáp.

7. Sau đó, những người Thích Ca ở Cātumā đi đến chỗ Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên và thưa:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy hoan hỷ với Tăng đoàn các tỳ kheo; bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy chào đón Tăng đoàn các tỳ kheo; bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy thể hiện lòng bi mẫn đối với Tăng đoàn các tỳ kheo như Ngài đã từng thể hiện lòng bi mẫn trong quá khứ. Bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia (gone forth - từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà), mới đến với Giáo pháp và Giới luật (Dhamma and Discipline - giáo lý và các quy tắc đạo đức) này. Nếu họ không có cơ hội được gặp Đức Thế Tôn, có thể sẽ có sự thay đổi hay biến chất nào đó xảy ra nơi họ. Bạch Thế Tôn, cũng như những cây non không được tưới nước, có thể sẽ có sự thay đổi hay biến chất nào đó xảy ra nơi chúng, cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có [458] những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này. Nếu họ không có cơ hội được gặp Đức Thế Tôn, có thể sẽ có sự thay đổi hay biến chất nào đó xảy ra nơi họ. Bạch Thế Tôn, cũng như con bê con không thấy mẹ, có thể sẽ có sự thay đổi hay biến chất nào đó xảy ra nơi nó, cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này. Nếu họ không có cơ hội được gặp Đức Thế Tôn, có thể sẽ có sự thay đổi hay biến chất nào đó xảy ra nơi họ. Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy hoan hỷ với Tăng đoàn các tỳ kheo; bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy chào đón Tăng đoàn các tỳ kheo; bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy thể hiện lòng bi mẫn đối với Tăng đoàn các tỳ kheo như Ngài đã từng thể hiện lòng bi mẫn trong quá khứ.”

8. Bấy giờ, Phạm thiên Sahampati [^683] biết được ý nghĩ trong tâm Đức Thế Tôn, nên nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước Đức Thế Tôn. Rồi vị ấy đắp y lệch một bên vai, chắp tay cung kính hướng về Đức Thế Tôn và thưa:

9. “Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy hoan hỷ với Tăng đoàn các tỳ kheo; bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn hãy chào đón Tăng đoàn các tỳ kheo;…(như trong §7)…[459] như Ngài đã từng thể hiện lòng bi mẫn trong quá khứ.”

10. Những người Thích Ca ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati đã có thể làm cho Đức Thế Tôn chấp nhận lại bằng các ví dụ về cây non và bê con.

11. Bấy giờ, Đại đức Đại Mục Kiền Liên nói với các tỳ kheo: “Hãy đứng dậy, các hiền giả, mang y bát của mình đi. Đức Thế Tôn đã chấp nhận lại nhờ những người Thích Ca ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati với các ví dụ về cây non và bê con.”

12. “Thưa vâng, hiền giả,” họ đáp, rồi mang y bát của mình, đi đến chỗ Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên. Khi họ đã ngồi yên, Đức Thế Tôn hỏi Đại đức Xá Lợi Phất: “Này Xá Lợi Phất, ông đã nghĩ gì khi Tăng đoàn các tỳ kheo bị Ta khai trừ?”

“Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ thế này: ‘Tăng đoàn các tỳ kheo đã bị Đức Thế Tôn khai trừ. Đức Thế Tôn giờ đây sẽ an trú trong sự tĩnh lặng, chuyên tâm vào sự an lạc hiện tại; và chúng ta cũng sẽ an trú trong sự tĩnh lặng, chuyên tâm vào sự an lạc hiện tại.’”

“Dừng lại, Xá Lợi Phất, dừng lại! Ông không nên có suy nghĩ như vậy nữa.” [^684]

13. Sau đó, Đức Thế Tôn hỏi Đại đức Đại Mục Kiền Liên: “Này Mục Kiền Liên, ông đã nghĩ gì khi Tăng đoàn các tỳ kheo bị Ta khai trừ?”

“Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ thế này: ‘Tăng đoàn các tỳ kheo đã bị Đức Thế Tôn khai trừ. Đức Thế Tôn giờ đây sẽ an trú trong sự tĩnh lặng, chuyên tâm vào sự an lạc hiện tại. Bây giờ Đại đức Xá Lợi Phất và tôi sẽ lãnh đạo Tăng đoàn các tỳ kheo.’” “Tốt lắm, tốt lắm, Mục Kiền Liên! Hoặc là Ta sẽ lãnh đạo Tăng đoàn các tỳ kheo, hoặc là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên sẽ lãnh đạo Tăng đoàn.”

14. Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, có bốn loại sợ hãi này mà những người đi xuống nước phải dè chừng. [^685] Bốn loại đó là gì? Đó là: sợ sóng, sợ cá sấu, sợ xoáy nước, và sợ cá mập. Đó là bốn loại sợ hãi mà những người đi xuống nước phải dè chừng.

67. KINH CÀTUMÀ

67. KINH CÀTUMÀ (Càtumà Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Catuma trong rừng cây Kha-lưu-lạc (Myrobalan).

Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỷ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỷ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.

– "Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỷ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỷ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.

– "Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỷ-kheo ấy: “Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo ấy như sau:

– Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?

– Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỷ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỷ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.

– Hãy đi đi này các Tỷ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp lại sàng tọa, cầm lấy y bát rồi ra đi.

Lúc bấy giờ, các Thích tử trú ở Catuma đang hội họp tại giảng đường vì một vài công cụ. Các Thích tử trú ở Catuma thấy các Tỷ-kheo ấy từ xa đi đến, sau khi thấy liền đến gặp các Tỷ-kheo, sau khi đến bèn nói như sau:

– Nay chư Tôn giả đi đâu?

– Chư Huynh, chúng Tỷ-kheo bị Thế Tôn đuổi đi.

– Chư Tôn giả hãy ngồi lại một lát. Chúng tôi có thể làm cho Thế Tôn vui lòng.

– Thưa vâng, chư Huynh.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp các Thích tử (bộ tộc Thích ca) trú ở Catuma. Rồi các Thích tử trú ở Catuma đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Thích tử trú ở Catuma bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ở đây, có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, các hạt giống cây nếu không được nước, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, con bê nếu không được thấy con bò mẹ, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo.

Rồi Phạm thiên Sahampati (Ta bà Chủ) với tâm của mình biết được tâm Thế Tôn. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng như vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ở đây, có những tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, các hạt giống cây nếu không được nước, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây, có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, con bê, nếu không được thấy con bò mẹ, nó có thể đổi khác, nó có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây, có những tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo.

Các Thích tử ở Catuma và Phạm thiên Sahampati đã có thể làm Thế Tôn vui lòng với ví dụ hột giống và ví dụ con bê con. Rồi Tôn giả Mahamoggallana bảo các Tỷ-kheo:

– Chư Hiền, hãy đứng dậy! Hãy cầm lấy y và bình bát! Thế Tôn đã được các Thích tử trú ở Catuma và Phạm thiên Sahampati làm cho vui lòng với ví dụ hột giống và ví dụ con bê con.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahamoggallana, từ chỗ ngồi đứng dậy, cầm lấy y bát, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sariputta đang ngồi một bên:

– Này Sariputta, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỷ-kheo bị Ta đuổi?

– Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỷ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Chúng con nay cũng được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc.

– Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, chớ có để tư tưởng như vậy khởi lên Ông nữa.

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahamoggallana:

– Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỷ-kheo bị Ta đuổi?

– Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỷ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và từ nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỷ-kheo.

– Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỷ-kheo được.

Rồi Thế Tôn cho gọi các Tỷ-kheo:

15. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, có bốn loại sợ hãi mà một số người đã xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà trong Giáo pháp và Giới luật này phải dè chừng. [460] Bốn loại đó là gì? Đó là: sợ sóng, sợ cá sấu, sợ xoáy nước, và sợ cá mập.

16. "Này các tỳ kheo, thế nào là sợ sóng? Ở đây, có người thiện nam xuất gia vì đức tin từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà, suy xét rằng: ‘Ta là nạn nhân của sinh, già, chết, của sầu, bi, khổ, ưu, não; ta là nạn nhân của khổ đau, bị khổ đau chi phối. Chắc chắn có thể biết được sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau này.’ Rồi, sau khi đã xuất gia như vậy, các bạn đồng tu khuyên bảo và hướng dẫn vị ấy: ‘Ông nên đi tới đi lui như thế này; ông nên nhìn tới nhìn lui như thế này; ông nên co duỗi chân tay như thế này; ông nên mặc y phấn tảo, mang bát và y như thế này.’ Bấy giờ vị ấy nghĩ: ‘Trước kia, khi còn ở nhà, chúng ta đã khuyên bảo và hướng dẫn người khác, còn bây giờ những [tỳ kheo] này, trông như con cháu chúng ta, lại nghĩ rằng họ có thể khuyên bảo và hướng dẫn chúng ta.’ Và thế là vị ấy từ bỏ sự tu học (training - quá trình rèn luyện và học tập theo giới luật) và hoàn tục (reverts to the low life - trở về đời sống thế tục thấp kém). Vị ấy được gọi là người đã từ bỏ sự tu học và hoàn tục vì sợ hãi nỗi sợ sóng. Này các tỳ kheo, ‘sóng’ là một thuật ngữ chỉ sự tức giận và tuyệt vọng (angry despair - sự giận dữ và thất vọng).

17. "Này các tỳ kheo, thế nào là sợ cá sấu? Ở đây, có người thiện nam xuất gia vì đức tin… (như trên)… Chắc chắn có thể biết được sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau này.’ Rồi, sau khi đã xuất gia như vậy, các bạn đồng tu khuyên bảo và hướng dẫn vị ấy: 'Cái này ông có thể dùng, cái này ông không thể dùng; cái này ông có thể ăn, cái này ông không thể ăn; cái này ông có thể nếm, cái này ông không thể nếm; cái này ông có thể uống, cái này ông không thể uống. [^686] Ông có thể dùng những gì được phép, ông không thể dùng những gì không được phép; ông có thể ăn những gì được phép, ông không thể ăn những gì không được phép; ông có thể nếm những gì được phép, ông không thể nếm những gì không được phép; ông có thể uống những gì được phép, ông không thể uống những gì không được phép. Ông có thể dùng thức ăn đúng giờ, ông không thể dùng thức ăn sai giờ; ông có thể ăn đúng giờ, ông không thể ăn sai giờ; ông có thể nếm thức ăn đúng giờ, ông không thể nếm thức ăn sai giờ; ông có thể uống đúng giờ, ông không thể uống sai giờ. [^1687] [461]

"Bấy giờ vị ấy nghĩ: ‘Trước kia, khi còn ở nhà, chúng ta muốn dùng gì thì dùng, không muốn dùng gì thì không dùng; muốn ăn gì thì ăn, không muốn ăn gì thì không ăn; muốn nếm gì thì nếm, không muốn nếm gì thì không nếm; muốn uống gì thì uống, không muốn uống gì thì không uống. Chúng ta dùng cả những thứ được phép và không được phép; ăn cả những thứ được phép và không được phép; nếm cả những thứ được phép và không được phép; uống cả những thứ được phép và không được phép. Chúng ta dùng thức ăn cả đúng giờ và sai giờ; ăn cả đúng giờ và sai giờ; nếm thức ăn cả đúng giờ và sai giờ; uống cả đúng giờ và sai giờ. Bây giờ, khi các tín chủ cúng dường đồ ăn ngon đủ loại vào ban ngày nhưng sai giờ quy định, dường như những [tỳ kheo] này đang bịt miệng chúng ta lại.’ Và thế là vị ấy từ bỏ sự tu học và hoàn tục. Vị ấy được gọi là người đã từ bỏ sự tu học và hoàn tục vì sợ hãi nỗi sợ cá sấu. Này các tỳ kheo, ‘cá sấu’ là một thuật ngữ chỉ sự tham ăn (gluttony - ham muốn ăn uống quá độ).

18. "Này các tỳ kheo, thế nào là sợ xoáy nước? Ở đây, có người thiện nam xuất gia vì đức tin… (như trên)… Chắc chắn có thể biết được sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau này.’ Rồi, sau khi đã xuất gia như vậy, vào buổi sáng, vị ấy đắp y, mang bát và đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực với thân không được bảo vệ, lời nói không được bảo vệ, chánh niệm (mindfulness - sự tỉnh thức, chú tâm vào hiện tại) không được thiết lập, và các căn không được chế ngự (sense faculties unrestrained - các giác quan không được kiểm soát). Vị ấy thấy một gia chủ hay con trai gia chủ nào đó đang đầy đủ và được cung phụng năm dây dục lạc (five cords of sensual pleasure - năm loại đối tượng gây ham muốn qua các giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc), đang tận hưởng chúng. Vị ấy suy nghĩ: ‘Trước kia, khi còn ở nhà, chúng ta cũng được đầy đủ và được cung phụng năm dây dục lạc và chúng ta đã tận hưởng chúng. Gia đình ta có của cải; ta vừa có thể hưởng thụ của cải vừa có thể tạo phước (make merit - làm việc tốt lành để tích lũy công đức).’ Và thế là vị ấy từ bỏ sự tu học và hoàn tục. Vị ấy được gọi là người đã từ bỏ sự tu học và hoàn tục vì sợ hãi nỗi sợ xoáy nước. Này các tỳ kheo, ‘xoáy nước’ là một thuật ngữ chỉ năm dây dục lạc.

19. "Này các tỳ kheo, thế nào là sợ cá mập? Ở đây, [462] có người thiện nam xuất gia vì đức tin… (như trên)… Chắc chắn có thể biết được sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau này.’ Rồi, sau khi đã xuất gia như vậy, vào buổi sáng, vị ấy đắp y, mang bát và đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực với thân không được bảo vệ, lời nói không được bảo vệ, chánh niệm không được thiết lập, và các căn không được chế ngự. Vị ấy thấy một người phụ nữ ăn mặc hở hang. Khi thấy người phụ nữ như vậy, dục vọng (lust - ham muốn tình dục) xâm chiếm tâm trí ông. Vì tâm trí bị dục vọng xâm chiếm, vị ấy từ bỏ sự tu học và hoàn tục. Vị ấy được gọi là người đã từ bỏ sự tu học và hoàn tục vì sợ hãi nỗi sợ cá mập. Này các tỳ kheo, ‘cá mập’ là một thuật ngữ chỉ phụ nữ.

20. “Này các tỳ kheo, đó là bốn loại sợ hãi mà một số người đã xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà trong Giáo pháp và Giới luật này phải dè chừng.”

Đó là những lời Đức Thế Tôn đã dạy. Các tỳ kheo đã hoan hỷ và tín thọ lời Đức Thế Tôn dạy.

– Này các Tỷ-kheo, có bốn điều đáng sợ hãi chờ đợi những ai lội xuống nước. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ. Này các Tỷ-kheo, bốn điều đáng sợ hãi này chờ đợi những ai lội xuống nước. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn điều đáng sợ hãi này, ở đây, chờ đợi những người xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình trong Pháp Luật này. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về sóng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin, xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyến giáo: “Ông cần phải đi ra như vậy, Ông cần phải đi về như vậy; Ông cần phải ngó tới như vậy, Ông cần phải ngó quanh như vậy; Ông cần phải co tay như vậy, Ông cần phải duỗi tay như vậy; Ông cần phải mang y sanghati (tăng-già-lê), mang y bát như vậy”. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, chúng ta chưa xuất gia, chính chúng ta giảng dạy, khuyến giáo người khác. Những người này giống như con chúng ta, giống như cháu chúng ta, lại nghĩ rằng cần phải giảng dạy chúng ta, cần phải khuyến giáo chúng ta”. Vị ấy từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này từ bỏ sự học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về sóng. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về sóng là đồng nghĩa với phẫn não.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá sấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyến

giáo: “Ông nên nhai cái này, Ông không nên nhai cái này; Ông nên ăn cái này, Ông không nên ăn cái này; Ông nên nếm cái này, Ông không nên nếm cái này; Ông nên uống cái này, Ông không nên uống cái này. Cái gì được phép, Ông nên nhai; cái gì không được phép, Ông không nên nhai. Cái gì được phép, Ông nên ăn; cái gì không được phép, Ông không nên ăn. Cái gì được phép, Ông nên nếm; cái gì không được phép, Ông không nên nếm. Cái gì được phép, Ông nên uống; cái gì không được phép, Ông không nên uống. Ðúng thời, Ông nên nhai, không đúng thời, Ông không nên nhai. Ðúng thời, Ông nên ăn; không đúng thời, Ông không nên ăn. Ðúng thời, ông nên nếm; không đúng thời, Ông không nên nếm. Ðúng thời, Ông nên uống; không đúng thời, Ông không nên uống”.

Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia chúng ta chưa xuất gia, cái gì chúng ta muốn, chúng ta nhai, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nhai; cái gì chúng ta muốn, chúng ta ăn; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không ăn; cái gì chúng ta muốn, chúng ta nếm, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nếm; cái gì chúng ta muốn, chúng ta uống; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không uống. Cái gì được phép, chúng ta nhai; cái gì không được phép, chúng ta cũng nhai. Cái gì được phép, chúng ta ăn; cái gì không được phép, chúng ta cũng ăn. Cái gì được phép, chúng ta nếm; cái gì không được phép, chúng ta cũng nếm. Cái gì được phép, chúng ta uống; cái gì không được phép, chúng ta cũng uống. Cái gì đúng thời, chúng ta nhai; cái gì phi thời, chúng ta cũng nhai. Cái gì đúng thời, chúng ta ăn; cái gì phi thời chúng ta cũng ăn. Cái gì đúng thời, chúng ta nếm; cái gì phi thời chúng ta cũng nếm. Cái gì đúng thời, chúng ta uống; cái gì phi thời chúng ta cũng uống. Khi các gia chủ có tín tâm cúng dường chúng ta những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, hình như các món ăn ấy đang bị chận đứng lại trên miệng”. Vị ấy từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá sấu. Sợ hãi về cá sấu, này các Tỷ- kheo, là đồng nghĩa với tham ăn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về nước xoáy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Ở đây, vị này thấy gia chủ hay con người gia chủ hưởng thụ một cách đầy đủ, năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Chúng ta xưa kia chưa xuất gia đã hưởng thọ một cách đầy đủ năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vì nhà ta có tài sản, ta có thể vừa hưởng thọ tài sản, vừa làm công đức”, vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ- kheo, vị này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về nước xoáy. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về nước xoáy là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá dữ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Vị này thấy ở đây các phụ nữ y phục không đoan chánh, hay y phục mặc lộ liễu. Khi thấy các phụ nữ y phục không đoan chính hay y phục lộ liễu, dục tình phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị dục tình phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá dữ. Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi về cá dữ là đồng nghĩa với phụ nữ.

Này các Tỷ-kheo, những điều này là bốn điều đáng sợ hãi ở đây, chờ đợi những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nhà sư Phật giáo Theravada đã thọ giới cụ túc (giới cao nhất).
  • Giáo pháp và Giới luật / Dhamma and Discipline / Dhamma and Discipline: Toàn bộ lời dạy của Đức Phật (Giáo pháp) và các quy tắc đạo đức, kỷ luật cho tu sĩ và cư sĩ (Giới luật).
  • Tăng đoàn / Sangha / Sangha: Cộng đồng những người tu theo giáo pháp của Đức Phật, thường chỉ cộng đồng tu sĩ (tỳ kheo và tỳ kheo ni).
  • xuất gia / pabbajjā / going forth: Từ bỏ đời sống gia đình, thế tục để sống đời sống không nhà, tu hành theo giáo pháp.
  • sự tu học / sikkhā / training: Quá trình rèn luyện, học tập và thực hành theo giới luật và giáo pháp của Đức Phật.
  • hoàn tục / vibbhama / reverting to the low life: Từ bỏ đời sống tu sĩ để trở lại đời sống thế tục, thường được xem là thấp kém hơn về mặt tinh thần.
  • sự tức giận và tuyệt vọng / upāyāsavinighāta / angry despair: Trạng thái tâm lý tiêu cực bao gồm sự giận dữ, bực bội và thất vọng, chán nản. (Trong kinh này, ẩn dụ cho sự khó chịu khi bị người khác khuyên bảo, chỉ dạy về oai nghi).
  • sự tham ăn / odarika / gluttony: Sự ham muốn ăn uống quá độ, không kiểm soát. (Trong kinh này, ẩn dụ cho sự khó chịu với các giới luật về ăn uống).
  • năm dây dục lạc / pañca kāmaguṇā / five cords of sensual pleasure: Năm loại đối tượng của ham muốn thông qua năm giác quan: hình ảnh đẹp (sắc), âm thanh hay (thanh), mùi thơm (hương), vị ngon (vị), và cảm giác dễ chịu qua xúc chạm (xúc). (Trong kinh này, ẩn dụ cho sự quyến rũ của đời sống thế tục giàu sang).
  • dục vọng / rāga / lust: Sự ham muốn mạnh mẽ, đặc biệt là ham muốn tình dục hoặc sự tham ái nói chung. (Trong kinh này, ẩn dụ cho sự quyến rũ của phụ nữ).
  • chánh niệm / sati / mindfulness: Sự tỉnh thức, nhận biết rõ ràng và không phán xét những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại (thân, tâm, cảm thọ, pháp).
  • các căn không được chế ngự / indriyesu aguttadvāratā / sense faculties unrestrained: Tình trạng các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) không được kiểm soát, dễ dàng bị cuốn theo các đối tượng bên ngoài, dẫn đến phiền não.
  • tạo phước / puññaṃ karoti / make merit: Thực hiện các hành động tốt lành (như bố thí, giữ giới, thiền định) để tích lũy công đức, nghiệp tốt, mang lại kết quả an vui.
  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, có nghĩa là Bậc Tôn Quý, Bậc có đầy đủ phước đức và trí tuệ, Bậc đã chiến thắng ma quân và phiền não.