Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 81. Người Thợ Gốm Ghaṭikāra

(Kinh Ghaṭikāra)

[45] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng xứ Kosala cùng với một đại Tăng đoàn tỳ kheo (bhikkhus - các vị sư).

2. Bấy giờ, tại một nơi bên cạnh con đường chính, Đức Thế Tôn mỉm cười. Đại đức Ānanda nghĩ rằng: “Do nhân gì, duyên gì mà Đức Thế Tôn mỉm cười? Các đấng Như Lai (Tathāgatas - danh hiệu chỉ một vị Phật, bậc đã đến và đi như vậy) không mỉm cười vô cớ.” Thế rồi, ngài sửa lại y trên một bên vai, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà Thế Tôn mỉm cười? Các đấng Như Lai không mỉm cười vô cớ.”

3. “Này Ānanda, xưa kia tại nơi này có một thị trấn tên là Vebhalinga, trù phú, sầm uất, đông dân cư. Khi ấy, Đức Thế Tôn Ca Diếp (Kassapa), bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác (arahant, sammāsambuddha - bậc đã hoàn thiện, giác ngộ hoàn toàn), sống gần thị trấn Vebhalinga. Chính tại nơi này, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã có tu viện của ngài; chính tại nơi này, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã cư ngụ và khuyên dạy Tăng đoàn tỳ kheo.”

4. Bấy giờ, Đại đức Ānanda gấp tư tấm y vá của mình, trải ra và bạch Đức Thế Tôn: “Vậy thì, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ngồi xuống. Như vậy, nơi này sẽ được hai bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác sử dụng.”

Đức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn và nói với Đại đức Ānanda như sau:

5. "Này Ānanda, xưa kia tại nơi này có một thị trấn tên là Vebhalinga, trù phú, sầm uất, đông dân cư. Khi ấy, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, sống gần thị trấn Vebhalinga. Chính tại nơi này, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã có tu viện của ngài; chính tại nơi này, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã cư ngụ [46] và khuyên dạy Tăng đoàn tỳ kheo.

6. "Tại Vebhalinga, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, có một người hộ trì, là người hộ trì chính yếu, tên là Ghaṭikāra, một người thợ gốm. Người thợ gốm Ghaṭikāra có một người bạn, một người bạn thân, là một sinh viên Bà la môn tên là Jotipāla. [^790]

"Một hôm, người thợ gốm Ghaṭikāra nói với sinh viên Bà la môn Jotipāla: ‘Này bạn Jotipāla thân mến, chúng ta hãy đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Tôi nghĩ rằng thật tốt đẹp được yết kiến Đức Thế Tôn ấy, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.’ Sinh viên Bà la môn Jotipāla đáp: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra thân mến, gặp ông sa môn trọc đầu ấy thì có ích gì?’

"Lần thứ hai và lần thứ ba, người thợ gốm Ghaṭikāra nói: ‘Này bạn Jotipāla thân mến, chúng ta hãy đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Tôi nghĩ rằng thật tốt đẹp được yết kiến Đức Thế Tôn ấy, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.’ Và lần thứ hai, lần thứ ba, sinh viên Bà la môn Jotipāla đáp: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra thân mến, gặp ông sa môn trọc đầu ấy thì có ích gì?’ - ‘Vậy thì, bạn Jotipāla thân mến, chúng ta hãy lấy xơ mướp và bột tắm rồi ra sông tắm.’ - ‘Được lắm,’ Jotipāla đáp.

7. "Thế là người thợ gốm Ghaṭikāra và sinh viên Bà la môn Jotipāla lấy xơ mướp và bột tắm rồi đi ra sông tắm. Bấy giờ, Ghaṭikāra nói với Jotipāla: ‘Này bạn Jotipāla thân mến, tu viện của Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, ở rất gần đây. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Tôi nghĩ rằng thật tốt đẹp được yết kiến Đức Thế Tôn ấy, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.’ Jotipāla đáp: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra thân mến, [47] gặp ông sa môn trọc đầu ấy thì có ích gì?’

"Lần thứ hai và lần thứ ba, Ghaṭikāra nói: ‘Này bạn Jotipāla thân mến, tu viện của Đức Thế Tôn Ca Diếp ở rất gần đây…’ Và lần thứ hai, lần thứ ba, sinh viên Bà la môn Jotipāla đáp: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra thân mến, gặp ông sa môn trọc đầu ấy thì có ích gì?’ [^791]

8. "Bấy giờ, người thợ gốm Ghaṭikāra nắm lấy thắt lưng của sinh viên Bà la môn Jotipāla và nói: ‘Này bạn Jotipāla thân mến, tu viện của Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, ở rất gần đây. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Tôi nghĩ rằng thật tốt đẹp được yết kiến Đức Thế Tôn ấy, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.’ Bấy giờ, sinh viên Bà la môn Jotipāla cởi thắt lưng ra và nói: ‘Thôi đi, bạn Ghaṭikāra thân mến, gặp ông sa môn trọc đầu ấy thì có ích gì?’

9. "Sau đó, khi sinh viên Bà la môn Jotipāla đã gội đầu xong, người thợ gốm Ghaṭikāra nắm lấy tóc anh ta và nói: [^792] ‘Này bạn Jotipāla thân mến, tu viện của Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, ở rất gần đây. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Tôi nghĩ rằng thật tốt đẹp được yết kiến Đức Thế Tôn ấy, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.’

'Bấy giờ, sinh viên Bà la môn Jotipāla nghĩ: ‘Thật kỳ diệu, thật phi thường! Người thợ gốm Ghaṭikāra này, thuộc giai cấp khác, lại dám nắm tóc ta khi chúng ta vừa gội đầu xong! Chắc chắn đây không phải là chuyện đơn giản.’ Và anh ta nói với người thợ gốm Ghaṭikāra: ‘Bạn làm đến mức này sao, bạn Ghaṭikāra thân mến?’ - ‘Tôi làm đến mức này, bạn Jotipāla thân mến; bởi vì tôi nghĩ rằng [48] thật tốt đẹp biết bao được yết kiến Đức Thế Tôn ấy, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác!’ - ‘Vậy thì, bạn Ghaṭikāra thân mến, hãy thả tôi ra. Chúng ta hãy đến thăm ngài.’

10. "Thế là người thợ gốm Ghaṭikāra và sinh viên Bà la môn Jotipāla đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Sau khi đảnh lễ ngài, Ghaṭikāra ngồi xuống một bên, còn Jotipāla thì chào hỏi ngài, và sau khi cuộc nói chuyện thân mật, hòa nhã kết thúc, anh ta cũng ngồi xuống một bên. Ghaṭikāra bèn bạch Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Bạch Thế Tôn, đây là sinh viên Bà la môn Jotipāla, bạn con, bạn thân của con. Xin Thế Tôn hãy thuyết Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý về thực tại) cho anh ấy.’

"Bấy giờ, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn chấn và động viên người thợ gốm Ghaṭikāra và sinh viên Bà la môn Jotipāla bằng một bài pháp thoại. Khi bài pháp thoại kết thúc, họ hoan hỷ và vui mừng trước lời dạy của Đức Thế Tôn Ca Diếp, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đi quanh ngài theo chiều bên phải rồi ra về.

11. "Bấy giờ, Jotipāla hỏi Ghaṭikāra: ‘Này bạn Ghaṭikāra thân mến, sau khi đã nghe Giáo Pháp này, tại sao bạn không xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không nhà (go forth from the home life into homelessness - từ bỏ cuộc sống tại gia để trở thành người tu hành không nhà cửa)?’ - ‘Này bạn Jotipāla thân mến, bạn không biết rằng tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa sao?’ ‘Vậy thì, bạn Ghaṭikāra thân mến, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không nhà.’

12. "Thế là người thợ gốm Ghaṭikāra và sinh viên Bà la môn Jotipāla đi đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. [49] Sau khi đảnh lễ ngài, họ ngồi xuống một bên và người thợ gốm Ghaṭikāra bạch Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Bạch Thế Tôn, đây là sinh viên Bà la môn Jotipāla, bạn con, bạn thân của con. Xin Thế Tôn hãy cho anh ấy xuất gia.’ Và sinh viên Bà la môn Jotipāla đã được Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, cho xuất gia, và anh ta đã thọ cụ túc giới (upasampadā - lễ thọ giới cao nhất để trở thành tỳ kheo). [^793]

13. "Sau đó không lâu, khi sinh viên Bà la môn Jotipāla đã thọ cụ túc giới, nửa tháng sau khi thọ cụ túc giới, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, sau khi ở Vebhalinga tùy ý thích, đã lên đường du hành về Ba La Nại (Benares). Du hành từng chặng, cuối cùng ngài đến Ba La Nại, và ở đó ngài đến sống tại Vườn Lộc Uyển ở Isipatana.

14. "Bấy giờ, vua Kikī xứ Kāsi nghe tin: ‘Hình như Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã đến Ba La Nại và đang sống tại Vườn Lộc Uyển ở Isipatana.’ Nhà vua liền cho chuẩn bị nhiều cỗ xe hoàng gia, rồi lên một cỗ xe, rời Ba La Nại với đầy đủ nghi lễ vương giả để đến yết kiến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Nhà vua đi xe đến hết đoạn đường xe đi được, rồi xuống xe và đi bộ đến chỗ Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác. Sau khi đảnh lễ ngài, nhà vua ngồi xuống một bên và Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn chấn và động viên vua Kikī xứ Kāsi bằng một bài pháp thoại.

15. "Khi bài pháp thoại kết thúc, vua Kikī xứ Kāsi bạch rằng: [50] ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn cùng Tăng đoàn tỳ kheo nhận lời dùng bữa ăn ngày mai do con cúng dường.’ Và Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã im lặng nhận lời (accepted in silence - sự đồng ý không cần lời nói, một cách thức phổ biến của Đức Phật). Bấy giờ, biết rằng Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã nhận lời, nhà vua từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ ngài, đi quanh ngài theo chiều bên phải rồi lui ra.

16. "Sau đó, khi đêm đã tàn, vua Kikī xứ Kāsi cho chuẩn bị nhiều loại thức ăn ngon tại cung điện của mình - gạo đỏ còn trong thóc đã được lựa bỏ hạt đen, cùng với nhiều loại nước sốt và cà ri - và cho người báo giờ đến Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’

17. "Bấy giờ, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đắp y, mang bát và y thượng, cùng Tăng đoàn tỳ kheo đi đến cung điện của vua Kikī xứ Kāsi và ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Rồi vua Kikī xứ Kāsi tự tay phục vụ và làm hài lòng Tăng đoàn tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu với nhiều loại thức ăn ngon. Khi Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã dùng xong và rút tay khỏi bát, vua Kikī xứ Kāsi lấy một chiếc ghế thấp, ngồi xuống một bên và bạch rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận nơi an cư mùa mưa (vassāvāsa - nơi ở cố định trong ba tháng mùa mưa) tại Ba La Nại do con cúng dường; điều đó sẽ hữu ích cho Tăng đoàn.’ - ‘Thôi đủ rồi, đại vương, nơi an cư mùa mưa của ta đã được sắp đặt rồi.’

"Lần thứ hai và lần thứ ba, vua Kikī xứ Kāsi bạch: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận nơi an cư mùa mưa tại Ba La Nại do con cúng dường; điều đó sẽ hữu ích cho Tăng đoàn.’ - ‘Thôi đủ rồi, đại vương, nơi an cư mùa mưa của ta đã được sắp đặt rồi.’

"Nhà vua nghĩ: ‘Đức Thế Tôn Ca Diếp, [51] bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, không nhận nơi an cư mùa mưa tại Ba La Nại do ta cúng dường,’ và nhà vua rất thất vọng và buồn bã.

18. "Bấy giờ, nhà vua bạch: ‘Bạch Thế Tôn, ngài có người hộ trì nào tốt hơn con không?’ - 'Có, đại vương. Có một thị trấn tên là Vebhalinga, nơi có một người thợ gốm tên là Ghaṭikāra sống. Ông ấy là người hộ trì của ta, người hộ trì chính yếu của ta. Này đại vương, ngài đã nghĩ: “Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, không nhận nơi an cư mùa mưa tại Ba La Nại do ta cúng dường,” và ngài đã rất thất vọng và buồn bã; nhưng người thợ gốm Ghaṭikāra thì không và sẽ không như vậy. Người thợ gốm Ghaṭikāra đã quy y Phật, Pháp, và Tăng (gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Sangha - tìm đến nương tựa nơi Ba Ngôi Báu). Ông ấy tránh xa việc giết hại chúng sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và rượu chè, chất say, là nền tảng của sự dễ duôi. Ông ấy có niềm tin bất động (saddhā - niềm tin vững chắc, không lay chuyển) vào Phật, Pháp, và Tăng, và ông ấy sở hữu những giới đức được bậc Thánh yêu quý (ariyakānta sīla - những phẩm hạnh đạo đức được các bậc giác ngộ quý trọng). Ông ấy thoát khỏi nghi ngờ (vicikicchā - sự hoài nghi, phân vân) về khổ, về nguồn gốc của khổ, về sự diệt khổ, và về con đường dẫn đến sự diệt khổ. Ông ấy chỉ ăn một bữa mỗi ngày (ekabhattika - thực hành ăn một bữa trước ngọ), ông ấy sống đời phạm hạnh (brahmacariya - đời sống trong sạch, không dâm dục), ông ấy có đạo đức, phẩm hạnh tốt đẹp. Ông ấy đã từ bỏ châu báu và vàng bạc. Ông ấy không tự tay dùng cuốc đào đất sét; những gì còn sót lại từ bờ kè hoặc do chuột đào lên, ông ấy mang về nhà trong một cái giỏ; khi làm xong một cái nồi, ông ấy nói: “Ai thích thì cứ đặt xuống một ít gạo đã chọn, hoặc đậu đã chọn, hoặc đậu lăng đã chọn, rồi lấy đi bất cứ thứ gì mình thích.” ${[794]} Ông ấy nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. [52] Sau khi đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (pañca orambhāgiyāni saṃyojanāni - năm trói buộc đầu tiên ràng buộc chúng sinh vào cõi dục: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận), ông ấy là người sẽ hóa sinh (opapātika - sinh ra tức thời, không qua thai bào) [trong cõi Tịnh Cư (Suddhāvāsā - các cõi trời dành cho bậc Bất Lai)] và tại đó đạt Niết Bàn cuối cùng (parinibbāna - sự tịch diệt hoàn toàn, không còn tái sinh) mà không bao giờ trở lại thế giới này nữa.

19. "'Có một lần khi ta đang ở Vebhalinga, vào buổi sáng, ta đắp y, mang bát và y thượng, đi đến nhà cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra và hỏi họ: “Xin cho hỏi, người thợ gốm đã đi đâu?” - “Bạch Thế Tôn, người hộ trì của ngài đã đi ra ngoài; nhưng xin ngài cứ lấy cơm trong nồi và canh trong xoong mà dùng.”

"Ta đã làm như vậy rồi đi. Sau đó, người thợ gốm Ghaṭikāra về nhà và hỏi cha mẹ: “Ai đã lấy cơm trong nồi và canh trong xoong, ăn rồi đi vậy?” - “Con trai à, đó là Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.”

"'Bấy giờ, người thợ gốm Ghaṭikāra nghĩ: “Thật là lợi ích cho ta, thật là lợi ích lớn lao cho ta khi Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, tin tưởng ta như vậy!” Và niềm hỷ và lạc (pīti sukha - niềm vui phấn khởi và cảm giác hạnh phúc) không rời bỏ ông ấy trong nửa tháng, và cha mẹ ông ấy trong một tuần.

20. "'Vào một dịp khác khi ta đang ở Vebhalinga, vào buổi sáng, ta đắp y, mang bát và y thượng, đi đến nhà cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra và hỏi họ: “Xin cho hỏi, người thợ gốm đã đi đâu?” - “Bạch Thế Tôn, người hộ trì của ngài đã đi ra ngoài; nhưng xin ngài cứ lấy cháo trong nồi và canh trong xoong mà dùng.”

"Ta đã làm như vậy [53] rồi đi. Sau đó, người thợ gốm Ghaṭikāra về nhà và hỏi cha mẹ: “Ai đã lấy cháo trong nồi và canh trong xoong, ăn rồi đi vậy?” - “Con trai à, đó là Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.”

"'Bấy giờ, người thợ gốm Ghaṭikāra nghĩ: “Thật là lợi ích cho ta, thật là lợi ích lớn lao cho ta khi Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, tin tưởng ta như vậy!” Và niềm hỷ và lạc không rời bỏ ông ấy trong nửa tháng, và cha mẹ ông ấy trong một tuần.

21. "'Vào một dịp khác khi ta đang ở Vebhalinga, cốc của ta bị dột. Bấy giờ ta nói với các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, hãy đi xem ở nhà người thợ gốm Ghaṭikāra có cỏ tranh không.” - “Bạch Thế Tôn, ở nhà người thợ gốm Ghaṭikāra không có cỏ tranh; chỉ có cỏ tranh lợp trên mái nhà ông ấy.” - “Này các tỳ kheo, hãy đi gỡ cỏ tranh trên mái nhà người thợ gốm Ghaṭikāra.”

"'Họ đã làm như vậy. Bấy giờ, cha mẹ của người thợ gốm Ghaṭikāra hỏi các tỳ kheo: “Ai đang gỡ cỏ tranh trên mái nhà vậy?” - “Thưa bà, cốc của Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, bị dột.” - “Xin các ngài cứ lấy đi, xin các ngài cứ lấy đi, chúc các ngài được phước!”

"'Sau đó, người thợ gốm Ghaṭikāra về nhà và hỏi cha mẹ: “Ai đã gỡ cỏ tranh trên mái nhà vậy?” - “Các tỳ kheo đó, con trai à; cốc của Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, bị dột.”

"‘Bấy giờ, người thợ gốm Ghaṭikāra nghĩ: “Thật là lợi ích cho ta, thật là lợi ích lớn lao cho ta khi Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, tin tưởng ta như vậy!” Và [54] niềm hỷ và lạc không rời bỏ ông ấy trong nửa tháng, và cha mẹ ông ấy trong một tuần. Sau đó, ngôi nhà đó suốt ba tháng trời không có mái che, chỉ thấy bầu trời, nhưng không có giọt mưa nào lọt vào. Người thợ gốm Ghaṭikāra là như vậy đó.’

"‘Thật là lợi ích cho người thợ gốm Ghaṭikāra, thật là lợi ích lớn lao cho ông ấy khi Đức Thế Tôn Ca Diếp, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, tin tưởng ông ấy như vậy.’

22. "Bấy giờ, vua Kikī xứ Kāsi gửi cho người thợ gốm Ghaṭikāra năm trăm xe gạo đỏ còn trong thóc, và cả vật liệu làm nước sốt đi kèm. Rồi người của vua đến gặp người thợ gốm Ghaṭikāra và nói với ông: ‘Thưa ngài, có năm trăm xe gạo đỏ còn trong thóc, và cả vật liệu làm nước sốt đi kèm, do vua Kikī xứ Kāsi gửi đến cho ngài; xin ngài hãy nhận lấy.’ - ‘Nhà vua rất bận rộn và có nhiều việc phải làm. Tôi đã có đủ rồi. Xin hãy để lại cho chính nhà vua dùng.’ ${[795]}$

23. “Này Ānanda, có thể ông nghĩ rằng: ‘Chắc chắn, vào lúc đó, sinh viên Bà la môn Jotipāla là một người nào khác.’ Nhưng không nên nghĩ như vậy. Chính ta là sinh viên Bà la môn Jotipāla vào lúc đó.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Đại đức Ānanda hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của Đức Thế Tôn.

81. KINH GHATÌKÀRA

81. KINH GHATÌKÀRA (Ghatìkàra Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.

Rồi Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến tại một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười. Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ananda đắp y về phía một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười.

– Thuở xưa này Ananda, tại địa điểm này là một thị trấn tên là Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sống ở đây, dựa vào thị trấn Vebhalinga. Ở đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda. Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.

Rồi Tôn giả Ananda gấp tư y sanghati (tăng-già-lê), trải ra rồi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn ngồi xuống. Chính tại địa điểm này, hai bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sẽ sử dụng.

Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Thuở xưa, này Ananda, tại địa điểm này là thị trấn tên Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã sống dựa vào thị trấn Vebhalinga. Chính tại đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.

Này Ananda, chính tại thị trấn Vebhalinga, có người thợ làm đồ gốm tên là Ghatikara, người này là người đàn tín của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị đàn tín đệ nhất. Thanh niên Jotipala là người bạn chí thân của thợ gốm Ghatikara. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

“-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.

Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”

Lần thứ hai, này Ananda… Lần thứ ba, này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

"-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác

ấy".

Lần thứ ba này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

“-- Thôi vừa rồi bạn Ghatikara yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”

“-- Vậy này bạn Jotipala, hãy cầm đồ gãi lưng và bột tắm, chúng ta hãy đi đến sông để tắm”.

“-- Thưa bạn, vâng”.

Này Ananda, thanh niên Jotipala vâng đáp thợ gốm Ghatikara như vậy.

Thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala lấy đồ gãi lưng và bột tắm, đi đến sông để tắm. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.

Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”

Lần thứ hai, này Ananda, …lần thứ ba này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:

“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.

Lần thứ ba, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”

Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nắm lấy thanh niên Jotipala ở nơi cổ tay áo và nói:

“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.

Rồi này Ananda, sau khi gỡ thoát cổ áo, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

"-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến vị Sa-môn đầu trọc ấy để làm gì?

Rồi thợ gốm Ghatikara nắm lấy tóc vừa mới tắm xong của thanh niên Jotipala và nói:

"-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala chúng ta hãy đi, chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán,

Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác".

Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường”, rồi nói với thợ gốm Ghatikara:

“-- Này bạn Ghatikara, có thật sự là cần thiết không?”

“-- Này bạn Jotipala, thật sự là cần thiết. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A- la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.

“-- Vậy bạn Ghatikara, hãy thả (tay) ra. Chúng ta sẽ đi”.

Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala cùng đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, thợ gốm Ghatikara đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipala thời nói lên những lời cháo đón hỏi thăm với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

“-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con”.

Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:

“-- Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia”?

“-- Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa”.

“-- Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.

Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la- hán, Chánh Ðẳng Giác:

“-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con”.

Và này Ananda, thanh niên Jotipala được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cho xuất gia, cho thọ đại giới. Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi thanh niên Jotipala xuất gia chưa bao lâu, sau nửa tháng, sau khi ở tại Vebhalinga lâu cho đến khi thấy tự thỏa

mãn, liền du hành đi đến Baranasi. Ngài tuần tự du hành và đến tại Baranasi (Ba-la-nại). Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chành Ðẳng Giác trú tại Baranasi, ở Isipatana, vườn Lộc Uyển.

Này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: "Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến Baranasi, trú tại Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Ananda, Kiki, vua nước Kasi cho thắng các cổ xe tối thù thắng, sau khi tự mình leo lên một cổ xe thù thắng với các cổ xe thù thắng đi ra khỏi thành Baranasi với đại uy vệ của nhà vua để yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vua đi xe cho đến chỗ nào còn đi được xe, rồi xuống xe đi bộ, đi đến chỗ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vua ngồi xuống một bên. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi đang ngồi một bên. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”.

Và này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác im lặng nhận lời. Rồi này Ananda, sau khi được biết Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Và này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xứ của mình, cho bày biện các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, cơm vàng khô, các loại cari các hột đen được gạn bỏ, và các món ăn gia vị, rồi báo thời giờ cho Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được biết:

“-- Bạch Thế Tôn giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.

Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la- hán, Chánh Ðẳng Giác:

“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.

“-- Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi”

Lần thứ hai, này Ananda,… Lần thứ ba, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A- la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con, an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.

“-- Thôi vừa rồi Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư trong mùa mưa rồi”.

Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: "Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng

Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi", vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

“-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?”

"-- Ðại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đấy có thợ gốm tên là Ghatikara. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng. Ðại vương, Ðại vương có nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi”, do vậy, Ðại vương cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatikara không có như vậy, và không sợ như vậy. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với con Ðường đưa đến khổ diệt. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: “Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn”. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.

"Một thời, này Ðại vương, Ta ở tại thị trấn Vabhalinga. Rồi này Ðại vương, Ta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatikara, sau khi đến nói với cha mẹ thợ gốm Ghatikara như sau:

“-- Người thợ làm đồ gốm đi đâu?”

“-- Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dùng”.

"Rồi ta, này Ðại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ sau khi đến, nói với cha mẹ như sau:

“-- Ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?”

“-- Này con, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi”.

"Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).

"Một thời, này Ðại Vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Ðại vương, gọi các Tỷ-kheo:

"-- Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatikara có cỏ hay không?

"Khi được nghe nói vậy, này Ðại vương, các Tỷ-kheo bạch với Ta:

“-- Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatikara không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ”.

"-- Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara.

"Rồi này Ðại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara. Này Ðại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatikara nói với các Tỷ-kheo ấy:

“-- Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?”

“-- Này Ðại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.

“-- Hãy lấy đi, chư Hiền giả! Hãy lấy đi chư Hiền giả!”

"Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến thưa với cha mẹ như sau:

“-- Những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?”

“-- Này Con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.

"Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”.

"Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần, (không rời khỏi) cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm, Ghatikara.

“-- Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho thợ gốm Ghatikara; thật khéo lợi ích thay, bạch Thế Tôn cho thợ gốm Ghatikara, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng!”

Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, cho người đưa đến thợ gốm Ghatikara, khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn. Rồi này Ananda, những người nhà vua cử đi đến thợ gốm Ghatikara và nói:

“-- Này Tôn giả, năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn này, do Kiki, vua xứ Kasi, gởi đến cho Tôn giả, mong Tôn giả hãy nhận lấy”.

“-- Nhà vua rất nhiều phận sự, rất nhiều việc cần phải làm. Thật là vừa đủ cho tôi, được nhà vua nghĩ đến như thế này”.

– Này Ananda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: “Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác”. Nhưng này Ananda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư Phật giáo Theravada đã thọ giới cụ túc, sống đời sống không nhà cửa, tuân thủ giới luật và thực hành giáo pháp để đạt đến giải thoát.
  • Như Lai / Tathāgata / Thus Gone One (or Thus Come One): Một trong mười danh hiệu của một vị Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”, chỉ bậc đã đạt chân lý tối thượng và thể nhập thực tại như nó là.
  • A La Hán, Chánh Đẳng Giác / arahant, sammāsambuddha / accomplished and fully enlightened: A La Hán là bậc đã diệt tận phiền não, đạt Niết Bàn, giải thoát khỏi vòng luân hồi. Chánh Đẳng Giác là bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn chân lý tối thượng mà không cần thầy chỉ dạy, và có khả năng thuyết giảng giáo pháp độ sinh (chỉ một vị Phật). Trong kinh này, danh hiệu này chỉ Đức Phật Ca Diếp (Kassapa Buddha).
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dharma: Chân lý phổ quát về thực tại; lời dạy của Đức Phật về chân lý đó và con đường thực hành để đạt đến giác ngộ và giải thoát.
  • Xuất gia / pabbajjā / going forth: Hành động từ bỏ đời sống thế tục, gia đình để sống đời sống không nhà cửa của một vị tu sĩ Phật giáo, nhằm mục đích tu tập trọn vẹn theo giáo pháp.
  • Cụ túc giới / upasampadā / full admission: Nghi lễ truyền giới cao nhất trong Phật giáo, chính thức công nhận một người trở thành tỳ kheo (nam tu sĩ) hoặc tỳ kheo ni (nữ tu sĩ), với đầy đủ các giới luật phải tuân giữ.
  • Im lặng nhận lời / adhivāseti tuṇhībhāvena / accepted in silence: Sự chấp nhận hay đồng ý được thể hiện bằng thái độ im lặng, thường được Đức Phật sử dụng khi nhận lời mời cúng dường hoặc thỉnh cầu.
  • Nơi an cư mùa mưa / vassāvāsa / Rains residence: Theo giới luật Phật giáo, các tỳ kheo phải ở yên một nơi trong suốt ba tháng mùa mưa (khoảng từ tháng 7 đến tháng 10 dương lịch) để tu tập và tránh làm tổn hại chúng sinh khi đi lại. Nơi ở trong thời gian này gọi là nơi an cư.
  • Quy y / saraṇagamana / going for refuge: Hành động tự nguyện tìm đến và nương tựa vào Ba Ngôi Báu (Tam Bảo) là Phật (bậc giác ngộ), Pháp (lời dạy của Ngài) và Tăng (cộng đồng những người tu tập theo lời dạy đó) làm nơi che chở, dẫn đường tâm linh.
  • Niềm tin bất động (Chánh tín) / saddhā (aveccappasāda) / perfect confidence: Niềm tin vững chắc, không lay chuyển, dựa trên sự hiểu biết và trí tuệ (không phải niềm tin mù quáng) vào sự thật của Tam Bảo, luật nhân quả, và con đường tu tập giải thoát.
  • Giới đức được bậc Thánh yêu quý / ariyakanta sīla / virtues loved by noble ones: Những phẩm hạnh đạo đức (giới) trong sạch, thanh tịnh, không bị ô nhiễm bởi tham, sân, si, được các bậc Thánh nhân (Ariya) quý trọng, thực hành và tán thán.
  • Nghi ngờ / vicikicchā / doubt: Sự hoài nghi, do dự, thiếu quyết đoán, không chắc chắn về Tam Bảo, Tứ Diệu Đế, duyên khởi, nhân quả, con đường tu tập. Đây là một trong năm triền cái (chướng ngại tâm) và một trong ba kiết sử đầu tiên cần đoạn trừ.
  • Ăn một bữa mỗi ngày / ekabhattika / eating only in one part of the day: Một trong 13 pháp tu khổ hạnh đầu đà (dhutaṅga), thực hành chỉ ăn một lần duy nhất trong ngày, trước giờ ngọ (12 giờ trưa).
  • Phạm hạnh / brahmacariya / celibacy (holy life): Đời sống trong sạch, thanh tịnh, cao thượng. Nghĩa hẹp là không có các hành vi tình dục. Nghĩa rộng là toàn bộ đời sống tu tập hướng đến giải thoát, bao gồm giữ giới, thiền định và phát triển trí tuệ.
  • Năm hạ phần kiết sử / pañca orambhāgiyāni saṃyojanāni / five lower fetters: Năm trói buộc đầu tiên ràng buộc chúng sinh vào các cõi thấp (cõi Dục), gồm: 1. Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi): chấp vào một cái tôi thường hằng, bất biến. 2. Hoài nghi (vicikicchā): nghi ngờ về Tam Bảo, Tứ Diệu Đế, nhân quả. 3. Giới cấm thủ (sīlabbata-parāmāsa): chấp thủ sai lầm vào các nghi lễ, giới luật không đưa đến giải thoát. 4. Tham dục (kāma-rāga): ham muốn các dục lạc giác quan. 5. Sân hận (vyāpāda/paṭigha): ác ý, thù ghét, chống đối. Đoạn trừ năm kiết sử này sẽ chứng quả Bất Lai (Anāgāmī).
  • Hóa sinh / opapātika / spontaneous reappearance: Một trong bốn hình thức tái sinh (tứ sanh: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh). Hóa sinh là hình thức sinh ra tức thời, hiện hữu đầy đủ mà không cần qua bào thai hay trứng, thường thấy ở các chúng sinh cõi trời, địa ngục, hoặc một số loài ngạ quỷ.
  • Cõi Tịnh Cư / Suddhāvāsā / Pure Abodes: Năm cõi trời cao nhất trong cõi Sắc giới (Rūpaloka), bao gồm Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên và Sắc Cứu Cánh Thiên. Đây là nơi tái sinh đặc biệt chỉ dành cho các bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmī), các ngài sẽ đạt Niết Bàn tại đây mà không cần quay lại cõi Dục.
  • Niết Bàn cuối cùng / parinibbāna / final Nibbāna (Nibbāna without residue): Sự tịch diệt hoàn toàn các uẩn (khandha - năm nhóm yếu tố cấu thành thân tâm), chấm dứt mọi khổ đau và vòng luân hồi tái sinh. Đây là trạng thái mà Đức Phật và các vị A La Hán đạt được khi hết壽命, không còn bất kỳ dư sót nào của sự tồn tại.
  • Hỷ và lạc / pīti sukha / rapture and happiness: Hai trạng thái tâm tích cực thường phát sinh trong quá trình tu tập thiền định (samatha). Hỷ (pīti) là niềm vui thích, phấn khởi, hứng thú mãnh liệt. Lạc (sukha) là cảm giác hạnh phúc, an lạc, dễ chịu, thư thái của thân và tâm. Chúng là các yếu tố của các tầng thiền (jhāna).