Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 85. Kinh Gửi Hoàng Tử Bodhi

(Bodhirājakumāra Sutta)

[91] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn đang trú tại xứ Bhagga, ở Sumsumāragira, trong rừng Bhesakaḷa, Vườn Nai.

2. Vào lúc ấy, một cung điện tên là Kokanada vừa mới được xây xong cho Hoàng tử Bodhi, và chưa có ai ở, dù là vị ẩn sĩ (recluse - người tu hành sống ẩn dật), bà-la-môn (brahmin - tu sĩ hoặc người thuộc giai cấp Bà-la-môn Ấn Độ) hay bất kỳ người nào khác. [^816]

3. Khi ấy, Hoàng tử Bodhi nói với người học trò Bà-la-môn tên là Sañjikāputta rằng: “Này, Sañjikāputta thân mến, hãy đến gặp Đức Thế Tôn, thay mặt ta đảnh lễ dưới chân Ngài và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực và an trú thoải mái không, rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Hoàng tử Bodhi xin đảnh lễ dưới chân Ngài và hỏi thăm Ngài có ít bệnh… và an trú thoải mái không.’ Rồi thưa tiếp: ‘Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn cùng với Tăng đoàn tỳ kheo (Sangha of bhikkhus - cộng đồng các nhà sư Phật giáo) nhận lời mời dùng bữa ngày mai của Hoàng tử Bodhi.’”

“Vâng, thưa ngài,” Sañjikāputta đáp lời, rồi đi đến gặp Đức Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình, ông ngồi xuống một bên và thưa: “Tôn giả Gotama, Hoàng tử Bodhi xin đảnh lễ dưới chân Tôn giả Gotama và hỏi thăm ngài có ít bệnh… và an trú thoải mái không. Và Hoàng tử thưa rằng: ‘Xin Tôn giả Gotama cùng với Tăng đoàn tỳ kheo nhận lời mời dùng bữa ngày mai của Hoàng tử Bodhi.’”

4. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi biết Đức Thế Tôn đã nhận lời, Sañjikāputta đứng dậy, đi đến chỗ Hoàng tử Bodhi và báo lại sự việc [92], nói thêm: “Sa môn Gotama đã nhận lời.”

5. Sau khi đêm đã qua, Hoàng tử Bodhi cho chuẩn bị nhiều loại thức ăn ngon tại tư dinh của mình, và cho trải vải trắng khắp cung điện Kokanada, xuống đến bậc thang cuối cùng. Rồi Hoàng tử nói với người học trò Bà-la-môn Sañjikāputta rằng: “Này, Sañjikāputta thân mến, hãy đến gặp Đức Thế Tôn và báo giờ rằng: ‘Đã đến giờ, bạch Thế Tôn, bữa ăn đã sẵn sàng.’”

“Vâng, thưa ngài,” Sañjikāputta đáp lời, rồi đi đến gặp Đức Thế Tôn và báo giờ rằng: “Đã đến giờ, Tôn giả Gotama, bữa ăn đã sẵn sàng.”

6. Rồi, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát và y ngoài, đi đến tư dinh của Hoàng tử Bodhi.

7. Lúc ấy, Hoàng tử Bodhi đang đứng ở cổng ngoài đợi Đức Thế Tôn. Khi thấy Đức Thế Tôn từ xa đi tới, Hoàng tử ra đón và đảnh lễ Ngài; rồi để Đức Thế Tôn đi trước, Hoàng tử đi theo sau đến cung điện Kokanada. Nhưng Đức Thế Tôn dừng lại ở bậc thang thấp nhất. Hoàng tử Bodhi thưa với Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy bước lên tấm vải, xin Đấng Thiện Thệ (Sublime One - một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, nghĩa là người đã đi đến nơi tốt đẹp) hãy bước lên tấm vải, để con được lợi ích và hạnh phúc lâu dài.” Khi được thưa như vậy, Đức Thế Tôn im lặng. [^817]

Lần thứ hai… Lần thứ ba Hoàng tử Bodhi thưa với Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy bước lên tấm vải, xin Đấng Thiện Thệ hãy bước lên tấm vải, để con được lợi ích và hạnh phúc lâu dài.”

Đức Thế Tôn nhìn Tôn giả Ānanda. [93] Tôn giả Ānanda thưa với Hoàng tử Bodhi: “Thưa Hoàng tử, xin hãy dẹp tấm vải đi. Đức Thế Tôn sẽ không bước lên dải vải; Đức Như Lai (Tathāgata - một danh hiệu của Đức Phật, nghĩa là người đã đến như vậy hoặc đi như vậy) còn nghĩ đến các thế hệ tương lai.” [^818]

8. Vậy là Hoàng tử Bodhi cho dẹp tấm vải đi và cho soạn chỗ ngồi ở lầu trên của cung điện Kokanada. Đức Thế Tôn và Tăng đoàn tỳ kheo đi lên cung điện Kokanada và ngồi vào chỗ đã soạn.

9. Rồi, Hoàng tử Bodhi tự tay phục vụ và cúng dường Tăng đoàn tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu với nhiều loại thức ăn ngon cho đến khi họ hài lòng. Khi Đức Thế Tôn dùng xong, rút tay khỏi bát, Hoàng tử Bodhi lấy một chiếc ghế thấp, ngồi xuống một bên và thưa với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chúng con có suy nghĩ thế này: ‘Không thể đạt được lạc thú (pleasure - sự vui sướng, hài lòng) bằng lạc thú; lạc thú chỉ có thể đạt được bằng khổ đau (pain - sự đau đớn, khổ sở).’” [^819]

10. “Này Hoàng tử, trước khi giác ngộ (enlightenment - sự tỉnh thức hoàn toàn, hiểu biết chân lý), khi Ta còn là một vị Bồ-tát (Bodhisatta - người đang trên đường tu tập để thành Phật) chưa giác ngộ, Ta cũng từng nghĩ như vậy: ‘Không thể đạt được lạc thú bằng lạc thú; lạc thú chỉ có thể đạt được bằng khổ đau.’”

11-14. “Sau đó, này Hoàng tử, khi còn trẻ, một thanh niên tóc đen nhánh, đầy đủ phúc lành của tuổi trẻ, trong buổi đầu của cuộc đời… (như trong Kinh 26, §§15-17)… Và Ta ngồi xuống đó, nghĩ rằng: ‘Chỗ này thích hợp cho việc tinh tấn (striving - sự nỗ lực, cố gắng tu tập).’”

15-42. “Bấy giờ, ba ví dụ tự nhiên hiện ra trong tâm Ta, chưa từng được nghe trước đây… (như trong Kinh 36, §§17-44, nhưng trong kinh này, ở §§18-23 - tương ứng với §§20-25 của Kinh 36 - câu ‘Nhưng cảm giác đau đớn như vậy khởi lên trong Ta không xâm chiếm tâm Ta và tồn tại’ không xuất hiện; và trong kinh này, ở §§37, 39 và 42 - tương ứng với §§39, 41, và 44 của Kinh 36 - câu ‘Nhưng cảm giác dễ chịu như vậy khởi lên trong Ta không xâm chiếm tâm Ta và tồn tại’ không xuất hiện)… như xảy ra ở người sống chuyên cần (diligent - siêng năng, không lười biếng), nhiệt tâm (ardent - hăng hái, sốt sắng), và quyết tâm (resolute - kiên quyết, không dao động).”

43-53. “Ta suy xét: ‘Giáo pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) mà Ta đã chứng đắc này thật sâu sắc’…(như trong Kinh 26, §§19-29) [94]… và sáu người chúng tôi sống nhờ vào những gì hai vị tỳ kheo kia khất thực mang về.”

(54). “Rồi nhóm năm vị tỳ kheo, không lâu sau khi được Ta dạy dỗ và chỉ bảo như vậy, đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (direct knowledge - sự hiểu biết trực tiếp, không qua trung gian), ngay trong hiện tại, nhập và an trú vào mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh (holy life - đời sống tu hành thanh tịnh), mục đích mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.”

(55). Khi nghe vậy, Hoàng tử Bodhi thưa với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, khi một vị tỳ kheo tìm được Đức Như Lai để được Ngài dạy dỗ, thì mất bao lâu vị ấy mới có thể tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong hiện tại, nhập và an trú vào mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình?”

“Về điều đó, này Hoàng tử, Ta sẽ hỏi lại ông một câu. Hãy trả lời tùy ý ông. Hoàng tử nghĩ sao? Ông có thành thạo nghệ thuật điều khiển voi bằng cây gậy thúc không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn, con có.”

(56). “Hoàng tử nghĩ sao? Giả sử có người đến đây nghĩ rằng: ‘Hoàng tử Bodhi biết nghệ thuật điều khiển voi bằng cây gậy thúc; ta sẽ học nghệ thuật đó từ ông ấy.’ Nếu người đó không có niềm tin (faith - sự tin tưởng vững chắc), anh ta không thể đạt được những gì người có niềm tin có thể đạt được; nếu anh ta nhiều bệnh tật, anh ta không thể đạt được những gì người không bệnh tật có thể đạt được; nếu anh ta gian trá và lừa dối, anh ta không thể đạt được những gì người trung thực và chân thành có thể đạt được; nếu anh ta lười biếng, anh ta không thể đạt được những gì người siêng năng có thể đạt được; nếu anh ta không có trí tuệ (wisdom - sự hiểu biết đúng đắn, sáng suốt), anh ta không thể đạt được những gì người có trí tuệ có thể đạt được. Hoàng tử nghĩ sao? Người đó có thể học được nghệ thuật điều khiển voi từ ông không?”

“Bạch Thế Tôn, dù chỉ có một trong những khiếm khuyết đó, anh ta cũng không thể học được từ con, huống chi là cả năm?”

57. “Hoàng tử nghĩ sao? Giả sử có người đến đây nghĩ rằng: [95] ‘Hoàng tử Bodhi biết nghệ thuật điều khiển voi bằng cây gậy thúc; ta sẽ học nghệ thuật đó từ ông ấy.’ Nếu người đó có niềm tin, anh ta có thể đạt được những gì người có niềm tin có thể đạt được; nếu anh ta không bệnh tật, anh ta có thể đạt được những gì người không bệnh tật có thể đạt được; nếu anh ta trung thực và chân thành, anh ta có thể đạt được những gì người trung thực và chân thành có thể đạt được; nếu anh ta siêng năng, anh ta có thể đạt được những gì người siêng năng có thể đạt được; nếu anh ta có trí tuệ, anh ta có thể đạt được những gì người có trí tuệ có thể đạt được. Hoàng tử nghĩ sao? Người đó có thể học được nghệ thuật điều khiển voi từ ông không?”

“Bạch Thế Tôn, dù chỉ có một trong những phẩm chất đó, anh ta cũng có thể học được từ con, huống chi là cả năm?”

58. "Cũng vậy, này Hoàng tử, có năm yếu tố của sự tinh tấn này. Năm yếu tố nào? Ở đây, vị tỳ kheo có niềm tin, đặt niềm tin vào sự giác ngộ của Đức Như Lai như sau: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán (accomplished - bậc đã hoàn thiện, xứng đáng cúng dường), Chánh Đẳng Giác (fully enlightened - bậc giác ngộ hoàn toàn), Minh Hạnh Túc (perfect in true knowledge and conduct - bậc đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ, Thế Gian Giải (knower of worlds - bậc hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (incomparable leader of persons to be tamed - bậc tối cao dẫn dắt người cần được điều phục), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans - bậc thầy của trời và người), Phật (enlightened - bậc giác ngộ), Thế Tôn (blessed - bậc được tôn kính).’

"Rồi vị ấy ít bệnh, ít não, có hệ tiêu hóa tốt, không quá lạnh cũng không quá nóng, ở mức trung bình, có thể chịu đựng được sự cố gắng tinh tấn.

"Rồi vị ấy trung thực và chân thành, thể hiện bản thân đúng như thực tế với Bậc Đạo Sư (Teacher - Đức Phật) và các bạn đồng tu trong đời sống phạm hạnh.

"Rồi vị ấy siêng năng từ bỏ các trạng thái bất thiện (unwholesome states - các tâm và hành vi xấu, có hại) và thực hành các trạng thái thiện (wholesome states - các tâm và hành vi tốt, có lợi), kiên định, nỗ lực vững chắc và bền bỉ trong việc vun bồi các trạng thái thiện.

“Rồi vị ấy có trí tuệ; sở hữu trí tuệ về sự sinh và diệt (rise and disappearance - sự hình thành và mất đi của các pháp), trí tuệ này cao thượng, có khả năng thẩm thấu và dẫn đến sự đoạn trừ hoàn toàn khổ đau (complete destruction of suffering - sự chấm dứt hoàn toàn mọi khổ não). Đó là năm yếu tố của sự tinh tấn.”

59. "Này Hoàng tử, khi một vị tỳ kheo có đủ năm yếu tố tinh tấn này tìm được Đức Như Lai để được Ngài dạy dỗ, vị ấy có thể tu tập trong bảy năm cho đến khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong hiện tại, nhập và an trú vào mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. [96]

"Đừng nói bảy năm, này Hoàng tử. Khi một vị tỳ kheo có đủ năm yếu tố tinh tấn này tìm được Đức Như Lai để được Ngài dạy dỗ, vị ấy có thể tu tập sáu năm… năm năm… bốn năm… ba năm… hai năm… một năm… Đừng nói một năm, này Hoàng tử,… vị ấy có thể tu tập bảy tháng… sáu tháng… năm tháng… bốn tháng… ba tháng… hai tháng… một tháng… nửa tháng… Đừng nói nửa tháng, này Hoàng tử,… vị ấy có thể tu tập bảy ngày đêm… sáu ngày đêm… năm ngày đêm… bốn ngày đêm… ba ngày đêm… hai ngày đêm… một ngày đêm.

“Đừng nói một ngày đêm, này Hoàng tử. Khi một vị tỳ kheo có đủ năm yếu tố tinh tấn này tìm được Đức Như Lai để được Ngài dạy dỗ, thì nếu được chỉ dạy vào buổi tối, vị ấy có thể đạt được sự chứng ngộ đặc biệt (distinction - sự thành tựu, kết quả tu tập vượt trội) vào buổi sáng; nếu được chỉ dạy vào buổi sáng, vị ấy có thể đạt được sự chứng ngộ đặc biệt vào buổi tối.”

60. Khi nghe vậy, Hoàng tử Bodhi thưa với Đức Thế Tôn: “Ôi, Đức Phật! Ôi, Giáo Pháp! Ôi, Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng biết bao! Vì người được chỉ dạy vào buổi tối có thể đạt được sự chứng ngộ đặc biệt vào buổi sáng, và người được chỉ dạy vào buổi sáng có thể đạt được sự chứng ngộ đặc biệt vào buổi tối.”

61. Khi nghe vậy, người học trò Bà-la-môn Sañjikāputta thưa với Hoàng tử Bodhi: “Tôn giả Bodhi nói: ‘Ôi, Đức Phật! Ôi, Giáo Pháp! Ôi, Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng biết bao!’ Nhưng ngài không nói: ‘Con xin quy y (go for refuge - tìm nơi nương tựa, che chở) Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn tỳ kheo.’”

“Đừng nói vậy, Sañjikāputta thân mến, đừng nói vậy. Ta đã nghe và biết điều này từ chính mẹ ta: [97] Có một lần Đức Thế Tôn đang trú tại Kosambī, trong Tịnh xá Ghosita. Khi ấy mẹ ta, đang mang thai, đã đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, bà ngồi xuống một bên và thưa: ‘Bạch Thế Tôn, hoàng tử hay công chúa trong bụng con, dù là ai đi nữa, xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn tỳ kheo. Xin Đức Thế Tôn ghi nhớ [đứa trẻ] là một người cư sĩ tại gia (lay follower - người theo đạo Phật nhưng không xuất gia) đã quy y Ngài trọn đời.’ Cũng có một lần khác, Đức Thế Tôn đang trú ở đây, tại xứ Bhagga, ở Sumsumāragira, trong rừng Bhesakaḷa, Vườn Nai. Khi ấy, vú nuôi của ta, bế ta trên hông, đã đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, bà đứng sang một bên và thưa: ‘Bạch Thế Tôn, Hoàng tử Bodhi này xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn tỳ kheo. Xin Đức Thế Tôn ghi nhớ hoàng tử là một người cư sĩ tại gia đã quy y Ngài trọn đời.’ Nay, Sañjikāputta thân mến, lần thứ ba, ta xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn tỳ kheo. Xin Đức Thế Tôn ghi nhớ ta là một người cư sĩ tại gia đã quy y Ngài trọn đời.”

85. KINH VƯƠNG TỬ BỒ ÐỀ

85. KINH VƯƠNG TỬ BỒ ÐỀ (Bodhirajàkumàra Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhagga, tại Sunsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển.

Lúc bấy giờ, vương tử Bodhi (Bồ-đề) có một ngôi lâu đài tên Kokanada dựng lên không bao lâu và chưa được một Sa-môn, một Bà-la-môn hay một hạng người nào ở cả. Rồi vương tử Bodhi gọi thanh niên Sanjikaputta và nói:

– Này Sanjikaputta, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú, và thưa: “Bạch Thế Tôn, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú, và bạch như sau: Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của vương tử Bodhi, ngày mai dùng cơm cùng với chúng Tỷ-kheo”.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Thanh niên Sanjikaputta vâng đáp vương tử Bodhi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm. Và sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thanh niên Sanjikaputta đang ngồi một bên và bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú và thưa như sau: “Mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của vương tử Bodhi, ngày mai dùng cơm cùng với chúng Tỷ-kheo”.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi thanh niên Sanjikaputta, sau khi biết được Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến vương tử Bodhi, sau khi đến, thưa với vương tử Bodhi:

– Chúng tôi đã nhân danh Tôn giả, bạch lên Thế Tôn Gotama như sau: "Thưa Tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú, và thưa như sau: “Mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của vương tử Bodhi, ngày mai dùng cơm cùng với chúng Tỷ- kheo”. Và Sa-môn Gotama đã nhận lời.

Rồi vương tử Bodhi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xá của mình cho sửa soạn các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, và cho trải vải trắng lâu đài Kokanada cho đến tầm cấp thấp nhất (pacchima), rồi gọi thanh niên Sanjikaputta:

– Này Thanh niên Sanjikaputta, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy báo giờ cho Thế Tôn được biết: “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng”.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xá của vương tử Bodhi. Lúc bấy giờ, vương tử Bodhi chờ đón Thế Tôn đến, đang đứng ở cửa ngoài. Vương tử Bodhi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền tiến đến đón, đảnh lễ Thế Tôn, đi đầu hướng dẫn đến lâu đài Kokanada. Rồi Thế Tôn đứng sát vào tầm cấp thấp nhất. Vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng. Lần thứ hai, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

Lần thứ hai, Thế Tôn im lặng. Lần thứ ba, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

Rồi Thế Tôn nhìn Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda thưa với vương tử Bodhi:

– Thưa vương tử, hãy cho cuộn lại tấm vải, Thế Tôn không có đi bộ trên vải, Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém.

Rồi vương tử Bodhi cho cuộn lại tấm vải, cho sửa soạn các chỗ ngồi tại tầng trên lầu Kokanada. Rồi Thế Tôn bước lên lâu đài Kokanada, và ngồi trên ghế đã soạn sẵn với chúng Tỷ-kheo. Rồi vương tử Bodhi tự tay mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Vương tử Bodhi, khi Thế Tôn ăn xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế thấp và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ”.

– Này Vương tử, trước khi giác ngộ, thành bậc Chánh Ðẳng Giác, khi còn là vị Bồ Tát, Ta nghĩ như sau: "Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ.

Và Ta, này Vương tử, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa với Alara Kalama: “Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Này Vương tử, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Vương tử, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Vương tử, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

Này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú”. Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú”. Này Vương tử, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta nói với Alara Kalama: “Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?” Này Vương tử, được nói vậy, Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu xứ.

Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú”.

Rồi này Vương tử, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi Này Vương tử, Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: “Này Hiền giả Kalama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” – “Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. --“Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. --“Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”

Như vậy này Vương tử, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Vương tử, rồi Ta tự suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ”. Như vậy này Vương tử, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

Rồi này Vương tử, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này. Ðược nói vậy, này Vương tử, Uddaka Ramaputta nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này Vương tử, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này Vương tử, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

Này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú”. Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú”. Này Vương tử, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?” Này Vương tử được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú”.

Rồi này Vương tử, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Vương tử, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” --“Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. – “Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy.” Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"

Như vậy, này Vương tử, Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Như vậy, này Vương tử, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

Này Vương tử, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này Vương tử, rồi Ta tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”. Và này Vương tử, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: “Thật là vừa đủ để tinh tấn”.

Nhưng này Vương tử, có ba ví dụ khởi lên nơi Ta, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe: Này Vương tử, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống và đặt trong nước. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Vương tử, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống đặt trong nước ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa thì có thể nhen lửa, khiến lửa nóng hiện ra được không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì cành cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống lại bị ngâm trong nước, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.

– Cũng vậy, này Vương tử, những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với chúng thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác, và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà- la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Vương tử, đó là ví dụ thứ nhất, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.

Này Vương tử, rồi một ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Vương tử, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra”. Này Vương tử, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến hơi nóng hiện ra được không?

– Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống, dầu được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.

– Cũng vậy, này Vương tử, những Sa-môn hay Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôm ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt. Nếu những Tôn giả Sa-môn, hay Bà-la- môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Vương tử, đó là ví dụ thứ hai, vi

diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.

Này Vương tử, rồi một ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Vương tử, ví như có một khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ nhen lửa, lửa nóng sẽ hiện ra”. Này Vương tử, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây khô, không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể nhen lửa, khiến nơi nóng hiện ra được không?

– Thưa được, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây ấy khô, không nhựa, lại được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô.

– Cũng vậy, này Vương tử, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khác vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Vương tử, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta hãy nghiến răng, dán chặt lên lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!” Này Vương tử, rồi Ta nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta. Này Vương tử, như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại người ấy. Này Vương tử, khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ nơi nách của Ta, này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thì một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Vương tử, ví như tiếng kinh khủng phát ra từ ống thổi bệ đang thổi của người thợ rèn. Cũng vậy này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi, thời một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị kích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Vương tử, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc, cũng vậy này Vương tử, khi ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau : “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu, một cách kinh khủng. Này Vương tử, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi

xiết mạnh; cũng vậy, này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu một cách kinh khủng. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Vương tử, ví như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dẫu cho niệm được an trú, không dao động nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy tu thêm Thiền nín thở”. Và này Vương tử, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Vương tử, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Vương tử, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân Ta. Này Vương tử, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú, không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.

Lại nữa, này Vương tử, chư Thiên thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama đã chết rồi”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng Sa-môn Gotama sắp sửa chết”. Một số chư Thiên nói như sau: “Sa-môn Gotama chưa chết. Sa-môn Gotama, cũng không phải sắp chết. Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán, đời sống của một A-la-hán là như vậy”.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta hãy hoàn toàn tuyệt thực”. Rồi này Vương tử, chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Này Thiện hữu, Hiền giả chớ có hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn tuyệt thực, chúng tôi sẽ đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Hiền giả, và nhờ vậy Hiền giả vẫn sống”. Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta hoàn toàn tuyệt thực và chư Thiên này đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Ta và nhờ vậy Ta vẫn sống, thời như vậy Ta tự dối Ta”. Này Vương tử, Ta bác bỏ chư Thiên ấy và nói: “Như vậy là đủ”.

Này Vương tử, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: “Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ”. Và này Vương tử, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những gọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Vương tử, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ da bụng”, thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Vương tử, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Vương tử, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện” thì Ta ngã quúp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Vương tử, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Vương tử, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Lại nữa, này Vương tử, có người thấy vậy nói như sau: “Sa-môn Gotama có da đen”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama có da màu xám”. Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám.” Một số người nói như sau: “Sa-môn Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm”. Cho đến mức độ như vậy, này Vương tử, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá ít.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có gì hơn nữa. Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?”

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”. Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: “Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Vương tử, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện?” Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện”.’

Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ: “Nay thật không dễ gì chứng đạt lạc thọ ấy, với thân thể ốm yếu kinh khủng như thế này. Ta hãy ăn thô thực ăn cơm chua”. Rồi này Vương tử, Ta ăn thô thực, ăn cơm chua. Này Vương tử, lúc bấy giờ, năm Tỷ-kheo đang hầu hạ Ta suy nghĩ: “Khi nào Sa-môn Gotama chứng pháp, vị ấy sẽ nói cho chúng ta biết”. Này Vương tử, khi thấy Ta ăn thô thực, ăn cơm chua, các vị ấy chán ghét Ta, bỏ đi và nói: “Sa-môn Gotama nay sống đầy đủ vật chất, từ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc”.

Và này Vương tử, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Vương tử, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều

hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Vương tử, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Vương tử, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát” Ta đã biết: “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”. Này Vương tử, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần.

Rồi này Vương tử, Ta suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!” Này Vương tử, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:

Sao Ta nói Chánh pháp, Ðược chứng ngộ khó khăn? Những ai còn tham sân, Khó chứng ngộ pháp này.

Ði ngược dòng, thâm diệu, Khó thấy, thật tế nhị, Kẻ ái nhiễm vô minh, Không thấy được pháp này.

Rồi này Vương tử, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.

Này Vương tử, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp”. Rồi này Vương tử, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này Vương tử, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp”. Này Vương tử, Phạm thiện Sahampati nói như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:

Xưa tại Magadha, Hiện ra pháp bất tịnh, Pháp do tâm cấu uế, Do suy tư tác thành. Hãy mỡ tung mở rộng, Cánh cửa bất tử này. Hãy để họ nghe Pháp, Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ.

Như đứng trên tảng đá, Trên đỉnh núi (tột cao) Có người đứng nhìn xuống, Ðám chúng sanh quây quần. Cũng vậy, ôi Thiện Tuệ, Bậc Biến Nhãn cùng khắp, Leo lên ngôi lâu đài, Xây dựng bằng Chánh pháp Bậc Thoát Ly sầu muộn, Nhìn xuống đám quần sanh, Bị sầu khổ áp bức, Bị sanh già chi phối,

Ðứng lên vị Anh Hùng, Bậc Chiến Thắng chiến trường. Vị trưởng đoàn lữ khách, Bậc Thoát Ly nợ nần. Hãy đi khắp thế giới, Bậc Thế Tôn Chánh Giác! Hãy thuyết vi diệu pháp, Người nghe sẽ thâm hiểu!

Này Vương tử, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này Vương tử, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới

mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này Vương tử, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này Vương tử, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:

Cửa bất tử rộng mở, Cho những ai chịu nghe. Hãy từ bỏ tín tâm, Không chính xác của mình. Tự nghĩ đến phiền toái, Ta đã không muốn giảng, Tối thượng vi diệu pháp, Giữa chúng sanh loài Người. (Ôi Phạm thiên)

Này Vương tử, rồi Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: “Ta đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp”, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng (về Ta) rồi biến mất tại chỗ.

Này Vương tử, rồi Ta tự suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Này Vương tử, rồi Ta tự nghĩ: “Nay có Alara Kalama là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Alara Kalama, vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này”. Này Vương tử, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Này Vương tử, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Alara Kalama: Nếu nghe pháp này, Alara Kalama sẽ mau thâm hiểu”.

Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Nay có Uddaka Ramaputta-là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này.” Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn Uddaka Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Uddaka Ramaputta đã mệnh chung hôm qua”. Này Vương tử, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu”.

Này Vương tử, rồi Ta suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Nhóm năm Tỷ-kheo này đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần, nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho nhóm năm Tỷ-kheo!” Rồi này Vương tử, Ta lại nghĩ: “Nay nhóm năm Tỷ-kheo ở tại đâu?” Này Vương tử, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỷ-kheo hiện ở Baranasi (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Vương tử, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi mãn ý, Ta lên đường đi đến Baranasi.

Này Vương tử, một tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đã thấy Ta khi Ta còn đi trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị ấy nói với Ta:

“-- Các căn của Hiền giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì, Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Ðạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan hỷ thọ trì pháp của ai?”

Này Vương tử, khi nghe nói vậy, Ta nói với tà mạng đạo Upaka bài kệ như sau:

"-- Ta, bậc Thắng tất cả, Ta, bậc Nhất thiết Trí. Hết thảy pháp, không nhiễm, Hết thảy pháp, xả ly. Ta sống chân giải thoát, Ðoạn tận mọi khát ái. Như vậy Ta tự giác, Còn phải y chỉ ai?

Ta không có Ðạo Sư, Bậc như Ta không có. Giữa thế giới Nhơn, Thiên, Không có ai bằng Ta. Bậc ng Cúng trên đời, Bậc Ðạo Sư vô thượng. Tự mình Chánh Ðẳng Giác, Ta an tịnh, thanh thoát.

Ðể chuyển bánh xe Pháp. Ta đến thành Kàsi. Gióng lên trống bất tử, Trong thế giới mù lòa."

"-- Như Hiền giả đã tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. "

"-- Như Ta, bậc Thắng giả, Những ai chứng lậu tận, Ác pháp, Ta nhiếp phục, Do vậy, Ta vô địch". (Này Upaka)

Này Vương tử, sau khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:

“-- Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy”.

Nói xong, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngã khác.

Này Vương tử, rồi Ta tuần tự đi đến Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển, đi đến chỗ nhóm năm Tỷ-kheo ở. Này Vương tử, nhóm năm Tỷ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận như sau: “Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hãy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi”. Này Vương tử, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỷ-kheo ấy không thể giữ đúng điều đã thỏa thuận với nhau. Có người đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước rửa chân đến. Nhưng các vị ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Avuso).

Này Vương tử khi ta nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết

pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú. "

Này Vương tử, khi nghe nói vậy, nhóm năm Tỷ-kheo nói Ta:

“-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này, Hiền giả đã không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến, thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì này làm sao Hiền giả, với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”

Này Vương tử, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

“-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này Vương tử, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú.”

Này Vương tử, lại lần thứ hai, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:

“-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này… tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”

Này Vương tử, lại lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

“-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc… các Ông sẽ an trú.”

Này Vương tử, lại lần thứ ba, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:

“-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này… tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”

Này Vương tử, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

“-- Này các Tỷ-kheo, từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng?”

"-- Bạch Thế Tôn chưa bao giờ như vậy. "

“-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú”.

Sáu người sống, với các đồ ăn mà hai Tỳ Kheo này khất thực đem về. Như vậy, này Vương tử, chúng năm vị Tỷ-kheo được Ta giáo giới như vậy, giáo huấn như vậy, không bao lâu chứng được với thượng trí ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà con cháu các lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến.

Khi được nói vậy, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:

– Ðộ bao lâu, bạch Thế Tôn, một vị Tỷ-kheo chấp nhận Như Lai là vị lãnh đạo, chứng được mục đích

tối cao… và an trú.

– Này Vương tử, ở đây, Ta sẽ hỏi Vương tử. Tùy theo Vương tử có thể kham nhẫn, Vương tử hãy trả lời. Này vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Vương tử có thiện xảo trong nghề cưỡi voi và trong kỹ thuật dùng câu móc không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con thiện xảo trong nghề cưỡi voi và kỹ thuật dùng câu móc.

– Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Ở đây có người đến và nói: “Vương tử Bodhi biết kỹ thuật cưỡi voi và dùng câu móc. Tôi sẽ học kỹ thuật cưỡi voi và dùng câu móc với Vương tử”. Nếu người ấy không có lòng tin, thời những gì lòng tin có thể đạt được, người ấy không thể đạt được. Nếu người ấy nhiều bệnh, thời những gì ít bệnh có thể đạt được, người ấy không thể đạt được. Nếu người ấy gian trá, xảo trá, thời những gì không gian trá, không xảo trá có thể đạt được, người ấy không đạt được. Nếu người ấy biếng nhác, thời những gì tinh tấn, cần mẫn có thể đạt được, người ấy không đạt được. Nếu người ấy có liệt tuệ, thời những gì trí tuệ có thể đạt được, người ấy không đạt được. Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Người ấy có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với Vương tử không?

– Bạch Thế Tôn, người ấy, dầu thành tựu chỉ một đức tánh, người ấy cũng không có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với con; huống chi (nếu người ấy thành tựu) cả năm đức tánh!

– Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Ở đây, có người đến và nói: “Vương tử Bodhi biết kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc. Tôi sẽ học kỹ thuật cưỡi voi và dùng câu móc với Vương tử”. Nếu người ấy có lòng tin, thời những gì lòng tin có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy ít bệnh, thời những gì ít bệnh có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy không gian trá, không xảo trá, thời những gì không gian trá, không xảo trá có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy tinh tấn, cần mẫn, thời những gì tinh tấn, cần mẫn có thể đạt được, người ấy đạt được. Nếu người ấy có trí tuệ, thời những gì trí tuệ có thể đạt được, người ấy đạt được. Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Người ấy có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với Vương tử không?

– Bạch Thế Tôn, người ấy, dầu cho thành tựu chỉ một đức tánh, cũng có thể học kỹ thuật cỡi voi và dùng câu móc với con; huống chi (nếu người ấy thành tựu) cả năm đức tánh.

– Cũng vậy, này Vương tử, có năm tinh tấn chi này. Thế nào là năm? Ở đây, này Vương tử, vị Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai. Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Vị ấy ít bệnh, ít não, với bộ tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng, trung bình, hợp với tinh tấn.

Vị ấy không gian trá, xảo trá, tự mình xử sự như chơn đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị có trí hay đối với các vị đồng Phạm hạnh.

Vị ấy sống tinh cần, tinh tấn từ bỏ các bất thiện pháp, làm cho khởi lên các thiện pháp, kiên cố, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp.

Vị ấy có trí tuệ thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt (của các pháp), với sự thể nhập bậc Thánh đưa đến sự chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này Vương Tử, như vậy là năm tinh cần chi.

Này Vương tử, vị Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này, chấp nhận Như Lai là bậc lãnh đạo, sau khi đã tự chứng tri với thượng trí ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này

các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và vị ấy có thể chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong bảy năm.

Này Vương tử, đừng nói chi bảy năm, một vị Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này… và an trú sáu năm… năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm. Này Vương tử, đừng nói chi một năm, một Tỷ- kheo thành tựu năm tinh cần chi này… và an trú bảy tháng. Này Vương tử, đừng nói chi bảy tháng, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này… và an trú ngay trong sáu tháng… trong năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng. Này Vương tử, đừng nói chi nửa tháng, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này… và an trú trong bảy đêm ngày. Này Vương tử, đừng nói chi bảy đêm ngày, Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này sáu đêm ngày… năm đêm ngày, bốn đêm ngày, ba đêm ngày, hai đêm ngày, một đêm ngày.

Này Vương tử, đừng nói chi một đêm ngày, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này, chấp nhận Như Lai là bậc lãnh đạo, nếu được giảng dạy buổi chiều thời chứng được sự thù thắng buổi sáng, nếu được giảng dạy buổi sáng, thời sẽ chứng được sự thù thắng buổi chiều.

Khi được nghe nói vậy, Vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:

– Ôi, thật là Phật! Ôi, thật là Pháp! Ôi, thật là khéo thuyết pháp thay! Nếu được giảng dạy buổi chiều thời chứng được sự thù thắng buổi sáng, nếu được giảng dạy buổi sáng thời chứng được sự thù thắng buổi chiều.

Khi nghe nói vậy, thanh niên Sanjikaputta thưa với Vương tử Bodhi:

– Như vậy, Tôn giả Bodhi này đã nói: "Ôi, thật là Phật! Ôi, thật là Pháp! Ôi, thật là khéo thuyết pháp thay! " Nhưng Vương tử không nói thêm: “Tôi quy y Tôn giả Gotama này, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng”.

– Này Sanjikaputta, chớ có nói như vậy! Này Sanjikaputta, chớ có nói như vậy! Này Sanjikaputta, mặt trước mặt đối diện với mẫu thân của ta, ta tự nghe như sau: "Một thời, này Sanjikaputta, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại tu viện Ghosita. Mẫu thân ta đang mang thai, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, mẫu thân ta bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đứa con này của con, dù là con trai hay con gái, cũng xin quy y với Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ- kheo. Mong Thế Tôn nhận nó làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, nó trọn đời quy ngưỡng”. Lại một thời, này Sanjikaputta, Thế Tôn trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Rồi người vú của ta, ẳm ta bên hông, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, người vú của ta bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vương tử Bodhi nay xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận vương tử này làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, xin trọn đời quy ngưỡng”. Và nay, này Sanjikaputta, lần thứ ba ta quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. “Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng”.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • ẩn sĩ / (Pali: isi/samaṇa?) / recluse: Người tu hành sống ẩn dật, xa lánh đời thường để chuyên tâm tu tập.
  • bà-la-môn / brāhmaṇa / brahmin: Tu sĩ hoặc người thuộc giai cấp Bà-la-môn trong xã hội Ấn Độ cổ đại, thường đảm nhiệm việc tế lễ và giảng dạy kinh Vệ Đà.
  • Tăng đoàn tỳ kheo / bhikkhu-saṅgha / Sangha of bhikkhus: Cộng đồng các nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc (tỳ kheo), sống hòa hợp và tuân theo giới luật do Đức Phật chế định.
  • Đấng Thiện Thệ / Sugata / Sublime One: Một trong mười danh hiệu tôn kính của Đức Phật, nghĩa là người đã đi đến nơi tốt đẹp (Niết Bàn) hoặc người nói lời chân thật, lợi ích, khéo nói.
  • Đức Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Một trong mười danh hiệu quan trọng nhất của Đức Phật, có nhiều nghĩa như “Người đã đến như vậy” (đến với chân lý như thật), “Người đã đi như vậy” (đi đến Niết Bàn), chỉ sự chứng ngộ và thể nhập chân lý tuyệt đối.
  • lạc thú / sukha / pleasure: Sự vui sướng, hài lòng, cảm giác dễ chịu về thân hoặc tâm. Trong ngữ cảnh này, thường chỉ những lạc thú thế gian tạm thời, đối lập với hạnh phúc giải thoát.
  • khổ đau / dukkha / pain: Sự đau đớn, khổ sở, bất toại nguyện. Trong Phật giáo, Dukkha là một khái niệm trung tâm (Khổ đế), bao gồm cả khổ về thân (sinh, già, bệnh, chết) và khổ về tâm (buồn, lo, không được như ý…).
  • giác ngộ / bodhi / enlightenment: Sự tỉnh thức hoàn toàn, sự hiểu biết trọn vẹn về bản chất của thực tại (Tứ Diệu Đế, Vô thường, Khổ, Vô ngã), chấm dứt vô minh và khổ đau, đạt đến Niết Bàn.
  • Bồ-tát / bodhisatta / Bodhisatta: (Trong ngữ cảnh Theravada) Chỉ Đức Phật trong các kiếp trước khi Ngài thành đạo, hoặc chỉ một người đang thực hành Ba-la-mật để hướng tới quả vị Phật Chánh Đẳng Giác.
  • tinh tấn / vīriya / striving: Một trong năm yếu tố quan trọng của tu tập (Ngũ Lực, Ngũ Căn), là sự nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ trong việc từ bỏ điều ác, làm điều thiện, và thanh lọc tâm ý.
  • chuyên cần / appamāda / diligent: Sự không dể duôi, luôn tỉnh giác, siêng năng, chú tâm vào việc tu tập và các thiện pháp, không lười biếng hay sao lãng.
  • nhiệt tâm / ātāpī / ardent: Sự hăng hái, sốt sắng, nỗ lực hết mình, dùng năng lực tinh thần để thiêu đốt phiền não trong quá trình tu tập.
  • quyết tâm / adhiṭṭhāna / resolute: Sự kiên quyết, ý chí vững chắc, sự cam kết mạnh mẽ không dao động trước khó khăn trên con đường tu tập.
  • Giáo pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật về chân lý và con đường thực hành để đạt đến giải thoát; cũng có nghĩa là chân lý, quy luật tự nhiên, các hiện tượng tâm-vật lý.
  • thắng trí / abhiññā / direct knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt, sâu sắc về thực tại, đạt được thông qua tu tập thiền định và trí tuệ, vượt lên trên kiến thức thông thường. Thường bao gồm các năng lực như thiên nhãn, thiên nhĩ, túc mạng minh, tha tâm minh, lậu tận minh.
  • đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống thanh tịnh, cao thượng, đặc biệt là đời sống xuất gia, nhằm mục đích tu tập giải thoát, đoạn trừ ái dục và phiền não.
  • niềm tin / saddhā / faith: Sự tin tưởng trong sáng, vững chắc vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), vào Nghiệp và quả của Nghiệp, và vào khả năng giác ngộ của bản thân. Đây là bước khởi đầu và là động lực quan trọng cho sự tu tập.
  • trí tuệ / paññā / wisdom: Sự hiểu biết đúng đắn, sáng suốt về bản chất vô thường, khổ, vô ngã của các pháp (hiện tượng), đặc biệt là sự thấu hiểu Tứ Diệu Đế. Đây là yếu tố then chốt để đoạn trừ vô minh và giải thoát.
  • A-la-hán / arahant / accomplished: Bậc Thánh đã đoạn trừ hoàn toàn mọi phiền não và lậu hoặc, chấm dứt sinh tử luân hồi, đạt Niết Bàn, xứng đáng được tôn kính và cúng dường.
  • Chánh Đẳng Giác / sammāsambuddha / fully enlightened: Bậc giác ngộ hoàn toàn một cách chân chính, tự mình tìm ra chân lý và có khả năng giảng dạy, dẫn dắt chúng sinh đến giải thoát (chỉ Đức Phật).
  • Minh Hạnh Túc / vijjācaraṇasampanna / perfect in true knowledge and conduct: Một danh hiệu của Đức Phật, chỉ Ngài là bậc đầy đủ trí tuệ (minh) và đức hạnh, giới hạnh (hạnh).
  • Thế Gian Giải / lokavidū / knower of worlds: Một danh hiệu của Đức Phật, chỉ Ngài là bậc hiểu biết rõ về các cõi thế gian, chúng sinh và sự vận hành của thế giới.
  • Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu / anuttaro purisadammasārathi / incomparable leader of persons to be tamed: Một danh hiệu của Đức Phật, chỉ Ngài là bậc tối cao không ai sánh bằng trong việc dẫn dắt, điều phục những chúng sinh cần được giáo hóa.
  • Thiên Nhân Sư / satthā devamanussānaṃ / teacher of gods and humans: Một danh hiệu của Đức Phật, chỉ Ngài là bậc thầy của cả chư thiên và loài người.
  • Phật / Buddha / enlightened: Bậc đã giác ngộ hoàn toàn chân lý.
  • Thế Tôn / Bhagavā / blessed: Một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, chỉ Ngài là bậc có đầy đủ phước đức, uy nghi, được tôn kính bởi trời và người.
  • Bậc Đạo Sư / Satthā / Teacher: Người thầy chỉ đường giác ngộ, ở đây chỉ Đức Phật.
  • trạng thái bất thiện / akusala dhamma / unwholesome states: Các tâm và hành vi xấu, có hại, bắt nguồn từ tham, sân, si, dẫn đến khổ đau và tái sinh trong cảnh giới xấu.
  • trạng thái thiện / kusala dhamma / wholesome states: Các tâm và hành vi tốt, có lợi, bắt nguồn từ vô tham, vô sân, vô si (hoặc có trí tuệ), dẫn đến an lạc, hạnh phúc và tái sinh trong cảnh giới tốt đẹp.
  • sự sinh và diệt / udayabbaya / rise and disappearance: Sự sinh khởi và hoại diệt, sự hình thành và mất đi của tất cả các pháp hữu vi (các hiện tượng vật chất và tâm lý có điều kiện). Quán chiếu về sự sinh diệt là một phần quan trọng của thiền Vipassanā.
  • sự đoạn trừ hoàn toàn khổ đau / dukkhanirodha / complete destruction of suffering: Sự chấm dứt hoàn toàn mọi khổ não, phiền não, đồng nghĩa với việc chứng ngộ Niết Bàn, mục tiêu cuối cùng của Phật giáo.
  • sự chứng ngộ đặc biệt / visesa / distinction: Sự thành tựu, kết quả tu tập vượt trội, sự chứng đắc các tầng thiền hoặc các quả vị Thánh, cao hơn mức độ thông thường.
  • quy y / saraṇaṃ gacchati / go for refuge: Hành động tìm nơi nương tựa, che chở nơi Tam Bảo (Phật - bậc giác ngộ, Pháp - lời dạy của Ngài, Tăng - cộng đồng những người thực hành lời dạy), thể hiện sự tin tưởng và cam kết đi theo con đường giải thoát do Đức Phật chỉ dạy.
  • cư sĩ tại gia / upāsaka (nam), upāsikā (nữ) / lay follower: Người Phật tử sống tại gia, không xuất gia, giữ gìn năm giới hoặc các giới khác và thực hành theo lời Phật dạy trong đời sống hàng ngày.