Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 87. Sanh Khởi Từ Người Thân

(Kinh Piyajātika - Trung Bộ 87)

[106] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), trong Vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc (Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park).

2. Bấy giờ, có một người gia chủ kia có đứa con trai duy nhất rất thân thương và yêu quý vừa mới qua đời. Sau khi con mất, ông không còn thiết tha làm việc hay ăn uống gì nữa. Ông cứ đi ra bãi tha ma mà khóc than rằng: “Con ơi, con ở đâu rồi? Đứa con duy nhất của ta, con ở đâu rồi?”

3. Rồi người gia chủ ấy đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, liền ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn bảo ông: “Này gia chủ, tâm trí ông không còn bình thường. Tâm trí ông đang rối loạn.”

“Bạch Thế Tôn, làm sao tâm trí con lại không rối loạn cho được? Đứa con trai duy nhất thân thương và yêu quý của con vừa mới qua đời. Từ khi con mất, con không còn thiết tha làm việc hay ăn uống gì nữa. Con cứ đi ra bãi tha ma mà khóc than: ‘Con ơi, con ở đâu rồi? Đứa con duy nhất của ta, con ở đâu rồi?’”

“Này gia chủ, đúng vậy đó, đúng vậy đó! Sầu, bi, khổ, ưu, não (sorrow, lamentation, pain, grief, and despair - năm loại khổ đau tâm lý chính: buồn rầu, than khóc, đau đớn, phiền muộn, tuyệt vọng) đều sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.”

“Bạch Thế Tôn, ai lại nghĩ rằng sầu, bi, khổ, ưu, não lại sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân chứ? Bạch Thế Tôn, hạnh phúc và hoan hỷ mới sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.” Rồi người gia chủ, không hài lòng và không tán thành lời dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi.

4. Lúc bấy giờ, có mấy kẻ cờ bạc đang chơi súc sắc cách chỗ Đức Thế Tôn không xa. Người gia chủ liền đi đến chỗ những kẻ cờ bạc ấy và nói: “Thưa các ông, vừa rồi [107] tôi có đến gặp Sa-môn Cồ-đàm (recluse Gotama - tên gọi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi thành đạo, đôi khi được người ngoại đạo sử dụng), sau khi đảnh lễ ngài, tôi ngồi xuống một bên. Khi tôi đã ngồi yên, Sa-môn Cồ-đàm bảo tôi: ‘Này gia chủ, tâm trí ông không còn bình thường…’ (lặp lại toàn bộ cuộc đối thoại như trên)… ‘Bạch Thế Tôn, hạnh phúc và hoan hỷ mới sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.’ Rồi, vì không hài lòng và không tán thành lời dạy của Sa-môn Cồ-đàm, tôi từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi.”

“Đúng vậy đó, gia chủ, đúng vậy đó! Hạnh phúc và hoan hỷ sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.”

Người gia chủ nghe vậy liền bỏ đi, nghĩ rằng: “Ta đồng ý với mấy người cờ bạc này.”

5. Câu chuyện này dần dần lan đến hoàng cung. Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala (Kiều-tát-la) nói với Hoàng hậu Mallikā (Mạt-lợi): “Này Mallikā, Sa-môn Cồ-đàm đã nói thế này: ‘Sầu, bi, khổ, ưu, não đều sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.’”

“Nếu điều đó do Đức Thế Tôn nói, thưa đại vương, thì chắc chắn là vậy.”

“Bất kể Sa-môn Cồ-đàm nói gì, Mallikā cũng tán thưởng như thế: ‘Nếu điều đó do Đức Thế Tôn nói, thưa đại vương, thì chắc chắn là vậy.’ Cũng như người học trò luôn tán đồng mọi lời thầy dạy, nói rằng: ‘Thưa thầy, đúng vậy ạ, đúng vậy ạ!’; thì cũng thế, này Mallikā, bất kể Sa-môn Cồ-đàm nói gì, nàng cũng tán thưởng như vậy: ‘Nếu điều đó [108] do Đức Thế Tôn nói, thưa đại vương, thì chắc chắn là vậy.’ Thôi đi, Mallikā! Nàng đi đi!”

6. Sau đó, Hoàng hậu Mallikā cho gọi Bà-la-môn Nālijangha đến và dặn: “Này Bà-la-môn, hãy đến gặp Đức Thế Tôn, thay mặt ta đảnh lễ dưới chân Ngài, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít khổ, khỏe mạnh, an lạc không, thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Hoàng hậu Mallikā xin đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và xin hỏi thăm Đức Thế Tôn có ít bệnh… và đang an lạc không.’ Rồi hãy thưa tiếp: ‘Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đã nói những lời này: “Sầu, bi, khổ, ưu, não đều sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân” không?’ Hãy ghi nhớ kỹ câu trả lời của Đức Thế Tôn rồi về báo lại cho ta; vì các bậc Như Lai (Tathāgatas - bậc đã đến và đi như vậy, một danh hiệu chỉ Đức Phật, người đã đạt đến chân lý tối thượng) không bao giờ nói lời sai sự thật.”

“Thưa phu nhân, vâng ạ,” vị Bà-la-môn đáp, rồi đi đến gặp Đức Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi thăm hỏi xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và thưa: “Thưa Tôn giả Gotama, Hoàng hậu Mallikā xin đảnh lễ dưới chân Tôn giả Gotama và hỏi thăm ngài có ít bệnh… và đang an lạc không. Hoàng hậu cũng thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đã nói những lời này: “Sầu, bi, khổ, ưu, não đều sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân” không?’”

7. "Này Bà-la-môn, đúng vậy đó, đúng vậy đó! Sầu, bi, khổ, ưu, não đều sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.

8. "Này Bà-la-môn, có thể hiểu được vì sao sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân qua câu chuyện này: Xưa kia, cũng tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ bị mất mẹ. Do mẹ mất, bà trở nên điên loạn, mất trí, đi lang thang từ phố này sang phố khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, miệng luôn hỏi: ‘Có ai thấy mẹ tôi không? Có ai thấy mẹ tôi không?’ [109]

9-14. "Và cũng có thể hiểu được vì sao sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân qua những câu chuyện này: Xưa kia, cũng tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ bị mất cha… bị mất anh trai… bị mất chị gái… bị mất con trai… bị mất con gái… bị mất chồng. Do chồng mất, bà trở nên điên loạn, mất trí, đi lang thang từ phố này sang phố khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, miệng luôn hỏi: ‘Có ai thấy chồng tôi không? Có ai thấy chồng tôi không?’

15-21. "Và cũng có thể hiểu được vì sao sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân qua những câu chuyện này: Xưa kia, cũng tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông bị mất mẹ… bị mất cha… bị mất anh trai… bị mất chị gái… bị mất con trai… bị mất con gái… bị mất vợ. Do vợ mất, ông trở nên điên loạn, mất trí, đi lang thang từ phố này sang phố khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, miệng luôn hỏi: ‘Có ai thấy vợ tôi không? Có ai thấy vợ tôi không?’

22. “Và cũng có thể hiểu được vì sao sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân qua câu chuyện này: Xưa kia, cũng tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ đến ở nhà họ hàng. Họ hàng của bà muốn chia lìa bà khỏi chồng và gả bà cho một người khác mà bà không hề muốn. Người phụ nữ ấy nói với chồng: ‘Chàng ơi, họ hàng của thiếp muốn chia lìa thiếp khỏi chàng và gả thiếp cho người khác mà thiếp không muốn.’ Nghe vậy, người chồng liền chặt người phụ nữ làm hai rồi [110] tự sát, nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ được ở bên nhau ở đời sau.’ Qua câu chuyện này cũng có thể hiểu được vì sao sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.”

23. Bấy giờ, Bà-la-môn Nālijangha hoan hỷ và vui mừng trước lời dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến gặp Hoàng hậu Mallikā và thuật lại toàn bộ cuộc đối thoại của mình với Đức Thế Tôn.

24. Sau đó, Hoàng hậu Mallikā đến gặp Vua Pasenadi nước Kosala và hỏi: “Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao? Công chúa Vajīrī có thân thương với đại vương không?”

“Có chứ, Mallikā, Công chúa Vajīrī rất thân thương với trẫm.”

“Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao? Nếu có sự thay đổi và biến hoại (change and alteration - sự thay đổi và không còn như cũ, ám chỉ sự mất mát, bệnh tật hoặc chết) xảy ra với công chúa Vajīrī, liệu sầu, bi, khổ, ưu, não có sanh khởi trong lòng đại vương không?”

“Sự thay đổi và biến hoại của công chúa Vajīrī cũng có nghĩa là sự đổi thay trong cuộc đời trẫm. Làm sao mà sầu, bi, khổ, ưu, não lại không sanh khởi trong trẫm được?”

“Thưa đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác (accomplished and fully enlightened - A-la-hán là bậc đã hoàn thiện tu chứng, Chánh Đẳng Chánh Giác là bậc giác ngộ hoàn toàn viên mãn, tức là Phật), đã dạy rằng: ‘Sầu, bi, khổ, ưu, não đều sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.’”

25-28. “Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao? Hoàng hậu Vāsabhā có thân thương với đại vương không?.. Tướng quân Viḍūḍabha có thân thương với đại vương không?.. [111]… Thiếp đây có thân thương với đại vương không?.. Hai xứ Kāsi và Kosala có thân thương với đại vương không?”

“Có chứ, Mallikā, hai xứ Kāsi và Kosala rất thân thương với trẫm. Chúng ta dùng gỗ đàn hương xứ Kāsi, đeo vòng hoa, dùng hương liệu, dầu thơm là nhờ có Kāsi và Kosala.”

“Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao? Nếu có sự thay đổi và biến hoại xảy ra với hai xứ Kāsi và Kosala, liệu sầu, bi, khổ, ưu, não có sanh khởi trong lòng đại vương không?”

“Sự thay đổi và biến hoại của Kāsi và Kosala cũng có nghĩa là sự đổi thay trong cuộc đời trẫm. Làm sao mà sầu, bi, khổ, ưu, não lại không sanh khởi trong trẫm được?”

“Thưa đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, đã dạy rằng: ‘Sầu, bi, khổ, ưu, não đều sanh khởi từ người thân, phát xuất từ người thân.’”

29. “Thật vi diệu thay, Mallikā, thật kỳ diệu thay! [112] Đức Thế Tôn đã thâm nhập và thấy rõ bằng trí tuệ sâu xa đến mức nào! Nào, Mallikā, hãy mang nước rửa mặt đến cho trẫm.”

Rồi Vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục trang nghiêm, chắp tay hướng về phía Đức Thế Tôn và thốt lên ba lần lời cảm thán: “Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác! Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác!”

87. KINH ÁI SANH

87. KINH ÁI SANH (Piyajàtika Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp cô độc).

Lúc bấy giờ con một của một gia chủ, khả ái, đáng thương, bị mệnh chung. Sau khi nó chết, (người cha) không còn muốn làm việc, không còn muốn ăn uống, luôn luôn đi đến nghĩa địa, người ấy than khóc: “Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?” Rồi người gia chủ ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với người gia chủ đang ngồi một bên:

– Này Gia chủ, có phải Ông có các căn để an trú tự tâm ông, có phải các căn của Ông đổi khác?

– Bạch Thế Tôn, sao các căn của con có thể không đổi khác được? Bạch Thế Tôn, đứa con một khả ái, đáng thương của con đã mệnh chung. Sau khi nó chết (con) không còn muốn làm việc, con không còn muốn ăn uống, con luôn luôn đi đến nghĩa địa và than khóc: “Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?”

– Sự thật là như vậy, này Gia chủ, vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

– Nhưng đối với ai, bạch Thế Tôn, sự tình sẽ như vậy: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái?” Vì rằng, bạch Thế Tôn hỷ lạc (anandasomanassa) do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Rồi người gia chủ, không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Lúc bấy giờ, một số người đánh bạc đang chơi đổ nhứt lục không xa Thế Tôn bao nhiêu. Người gia chủ kia, đi đến những người đánh bạc ấy, sau khi đến nói với những người ấy như sau:

– Này Quý vị, ở đây tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến, đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên. Này Quý vị, Sa-môn Gotama nói với tôi đang ngồi một bên:

– “Này Gia chủ, có phải Ông có các căn để an trú tự tâm ông. Có phải các căn của Ông đổi khác?” Này Quý vị, được nghe nói vậy tôi nói với Sa-môn Gotama:

– "Bạch Thế Tôn, sao các căn của con có thể không đổi khác được? Bạch Thế Tôn, đứa con một khả ái, đáng thương của con đã mệnh chung. Sau khi nó chết, con không còn muốn làm việc, con không còn muốn ăn uống, con luôn luôn đi đến nghĩa địa và than khóc: “Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?”

– “Sự thật là như vậy, này Gia chủ. Vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu, não, do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”.

– “Nhưng đối với ai, bạch Thế Tôn, sự tình sẽ như vậy! “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Vì rằng bạch Thế Tôn, hỷ lạc do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Này Quý vị, không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, ta chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

– Sự thật là như vậy, này Gia Chủ! Sự thật là như vậy này Gia chủ! Này Gia chủ, hỷ lạc do ái sanh, hiện

hữu từ nơi ái.

Rồi người gia chủ suy nghĩ: “Có sự đồng ý giữa ta và những người đánh bạc”, rồi bỏ đi.

Và cuộc đối thoại ấy dần dần được truyền đi và truyền đến trong nội cung. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi hoàng hậu Mallika:

– Này Mallika, đây là lời Sa-môn Gotama nói với các người ấy: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”.

– Tâu Ðại vương, nếu Thế Tôn đã dạy như vậy, thì sự việc là như vậy.

– Ðiều gì Sa-môn Gotama nói, Mallika này cũng nói theo. Vì Mallika quá hoan hỷ với Sa-môn Gotama. Vì vị Ðạo sư nói gì cho đệ tử, và đệ tử quá hoan hỷ với vị Ðạo sư nên nói: “Sự thật là vậy, thưa Ðạo sư! Sự thật là như vậy, thưa Ðạo sư”. Cũng vậy, này Mallika, điều gì Sa-môn Gotama nói, Hoàng hậu quá hoan hỷ với Sa-môn Gotama nên đã nói: “Nếu Thế Tôn đã nói như vậy thời sự việc là vậy”. Hãy đi đi, Mallika, hãy đi đi!

Rồi hoàng hậu Mallika cho gọi Bà-la-môn Nalijangha và nói:

– Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú, và thưa: "Bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallika cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn lạc trú không, và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói như sau: Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Và nếu Thế Tôn trả lời Ông như thế nào, hãy khéo nắm giữ và nói lại với ta. Vì các Như Lai không nói phản lại sự thật.

– Thưa vâng, tâu Hoàng hậu.

Bà-la-môn Nalijangha vâng đáp hoàng hậu Mallika, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, Và sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Nalijangha Bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, hoàng hậu Mallika cúi đầu đảnh lễ chân Sa-môn Gotama, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú và thưa như sau: "Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói như sau: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”?

– Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này, cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, bà mẹ của một người đàn bà mệnh chung. Từ khi bà ta mệnh chung, người đàn bà này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: “Người có thấy mẹ tôi đâu không? Người có thấy mẹ tôi đâu không?”

Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này, cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, người cha của một người đàn bà mệnh chung…, người anh mệnh chung…, người chị mệnh chung…, người con trai mệnh chung…, người con gái mệnh chung…, người chồng mệnh chung. Từ khi người chồng mệnh chung, người đàn bà

này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: “Người có thấy chồng tôi đâu không? Người có thấy chồng tôi đâu không?”

Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, người mẹ của một người đàn ông mệnh chung. Từ khi bà ta mệnh chung, người đàn ông này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: “Người có thấy mẹ tôi đâu không? Người có thấy mẹ tôi đâu không?”

Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, người cha của một người đàn ông mệnh chung…, người anh mệnh chung…, người chị mệnh chung…, người con trai mệnh chung…, người con gái mệnh chung…, người vợ mệnh chung. Từ khi người vợ mệnh chung, người đàn ông này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, và nói: “Người có thấy vợ tôi đâu không? Người có thấy vợ tôi đâu không?”

Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, thuở xưa chính tại thành Savatthi này, một người đàn bà đi về thăm gia đình bà con. Những người bà con ấy của người đàn bà muốn dùng sức mạnh bắt người đàn bà ấy phải xa chồng và muốn gả cho một người đàn ông khác. Người đàn bà ấy không chịu. Rồi người đàn bà ấy nói với chồng mình: “Này Hiền phu, những người bà con này muốn dùng sức mạnh bắt tôi phải xa anh và muốn gả cho một người đàn ông khác. Nhưng tôi không muốn như vậy”. Rồi người ấy chặt người đàn bà ấy làm hai, rồi tự vận, nghĩ rằng: “Hai chúng ta sẽ gặp nhau trong đời sau”. Này Bà- la-môn, do pháp môn này cần phải được hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Rồi Bà-la-môn Nalijangha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến hoàng hậu Mallika, sau khi đến, kể lại cho hoàng hậu Mallika toàn thể cuộc đàm thoại với Thế Tôn.

Rồi hoàng hậu Mallika đi đến vua Pasenadi nước Kosala, và thưa:

– Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có thương công chúa Vajiri của thiếp không?

– Phải, này Mallika, ta thương công chúa Vajiri.

– Tâu đại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho công chúa Vajiri của Ðại vương. Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho công chúa Vajiri của ta, thì sẽ có một sự thay đổi đến đời sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta, sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nữ Sát-đế-lị Vasabha, Ðại vương có thương yêu không?

– Này Mallika, ta có thương yêu nữ Sát-đế-lị Vasabha.

– Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho nữ Sát-đế-lị Vasabha, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho nữ Sát-đế-lị Vasabha, thì sẽ có một sự

đổi khác xảy đến cho đời sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Tướng quân Vidudabha, Ðại vương có thương quý không?

– Này Mallika, ta có thương quý tướng quân Vidudabha.

– Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho tướng quân Vidudabha, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho tướng quân Vidudabha thì sẽ có sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta, sầu, bi, khổ, ưu não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có yêu thương thiếp không?

– Phải, này Mallika, ta có thương yêu Hoàng hậu.

– Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho thiếp, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho Hoàng hậu, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”. Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có yêu thương dân chúng Kasi và Kosala không?

– Phải, này Mallika, ta thương yêu dân chúng Kasi và Kosala. Này Mallika, nhờ sức mạnh của họ, chúng ta mới có được gỗ chiên-đàn từ nước Kasi và dùng các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp.

– Tâu Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho dân chúng Kasi và Kosala, Ðại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch đổi khác xảy đến cho dân chúng nước Kasi và Kosala, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: “Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái”.

– Thật vi diệu thay, này Mallika! Thật hy hữu thay, này Mallika! Thế Tôn đã thể nhập nhờ trí tuệ, đã thấy nhờ trí tuệ. Ðến đây, Mallika, hãy sửa soạn tẩy trần.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái Thế Tôn và nói lên ba lần lời cảm hứng sau đây: "Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! ".

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • sầu, bi, khổ, ưu, não / soka, parideva, dukkha, domanassa, upāyāsa / sorrow, lamentation, pain, grief, and despair: Năm loại khổ đau tâm lý chính theo Phật giáo: buồn rầu (sầu), than khóc hay kể lể (bi), đau đớn về thân hay tâm (khổ), phiền muộn hay lo lắng (ưu), và tuyệt vọng hay thống khổ cùng cực (não). Chúng thường đi liền với nhau khi đối mặt với mất mát hay nghịch cảnh.
  • Sa-môn Cồ-đàm / Samaṇa Gotama / recluse Gotama: Tên gọi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Siddhattha Gotama) sau khi xuất gia tu hành, trước khi thành đạo. Từ “Sa-môn” (Samaṇa) chỉ chung các vị tu sĩ khổ hạnh thời Ấn Độ cổ đại. Người ngoại đạo hoặc những người chưa công nhận Ngài là Phật thường dùng danh xưng này.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Một trong những danh hiệu cao quý nhất của Đức Phật. Có nhiều cách giải thích, phổ biến là “Bậc đã đến như vậy” (tathā-āgata) hoặc “Bậc đã đi như vậy” (tathā-gata), hàm ý Ngài đã đến và đi trên con đường chân lý như chư Phật quá khứ, hoặc Ngài đã đạt đến/thể nhập chân lý như thật (tatha). Danh hiệu này nhấn mạnh sự chứng ngộ chân lý và sự tương đồng với các vị Phật khác.
  • A-la-hán / Arahant / accomplished one: Bậc Thánh đã đoạn trừ hoàn toàn mọi phiền não, lậu hoặc, đạt được giải thoát cuối cùng (Niết-bàn), không còn tái sanh trong luân hồi. Đây là quả vị tu chứng cao nhất trong Phật giáo Theravada.
  • Chánh Đẳng Chánh Giác / Sammāsambuddha / fully enlightened one: Bậc Giác Ngộ hoàn toàn viên mãn, tự mình tìm ra chân lý và con đường giải thoát mà không cần thầy chỉ dạy, đồng thời có khả năng thuyết pháp độ sinh rộng rãi. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị Chánh Đẳng Chánh Giác. Danh hiệu này thường đi cùng A-la-hán để chỉ Đức Phật.
  • thay đổi và biến hoại / vipariṇāma aññathābhāva / change and alteration: Sự thay đổi, biến đổi khác đi so với trạng thái ban đầu. Trong ngữ cảnh kinh này, nó ám chỉ sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi, dẫn đến mất mát, bệnh tật, già yếu hoặc cái chết của người/vật thân yêu, là nguyên nhân trực tiếp gây ra sầu bi khổ ưu não.