Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 89. Pháp Bảo Tháp

(Kinh Dhammacetiya)

[118] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn (Blessed One - Bậc Tôn Quý, người đã bẻ gãy vòng sinh tử) đang trú tại xứ Sakya, ở một thị trấn của người Sakya tên là Medalumpa.

2. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala đã đến Nagaraka vì một công việc nào đó. Sau đó, vua nói với Digha Kārāyaṇa: 835 “Này Kārāyaṇa thân mến, hãy chuẩn bị xe ngựa hoàng gia. Chúng ta hãy đến vườn thượng uyển để ngắm cảnh đẹp.”

“Tâu Đại vương, vâng ạ,” Digha Kārāyaṇa đáp. Khi xe ngựa hoàng gia đã chuẩn bị xong, ông báo cho vua biết: “Tâu Đại vương, xe ngựa hoàng gia đã sẵn sàng cho ngài. Bây giờ là lúc ngài làm những gì ngài thấy là hợp thời.”

3. Sau đó, vua Pasenadi lên một chiếc xe ngựa hoàng gia, cùng với các xe khác hộ tống, vua rời Nagaraka với đầy đủ nghi lễ hoàng gia và tiến về phía khu vườn. Vua đi xe xa hết mức đường xe có thể đi được, rồi xuống xe và đi bộ vào khu vườn.

4. Khi đang đi dạo và tản bộ trong vườn để rèn luyện thân thể, vua Pasenadi nhìn thấy những gốc cây trông thật an tịnh và gợi niềm kính tín, yên tĩnh, không bị tiếng ồn làm phiền, với không khí ẩn dật, xa lánh người đời, thích hợp cho việc tĩnh tu. Cảnh tượng này khiến vua nhớ đến Đức Thế Tôn như sau: “Những gốc cây này thật an tịnh và gợi niềm kính tín, yên tĩnh, không bị tiếng ồn làm phiền, với không khí ẩn dật, xa lánh người đời, thích hợp cho việc tĩnh tu, giống như những nơi chúng ta thường đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán (Arahant - Bậc thánh đã giác ngộ hoàn toàn, diệt trừ mọi phiền não, chấm dứt khổ đau và tái sinh), Chánh Đẳng Giác (Sammāsambuddha - Bậc đã tự mình giác ngộ hoàn toàn chân lý tối thượng mà không cần thầy chỉ dạy).” Rồi vua nói với Digha Kārāyaṇa về suy nghĩ của mình và hỏi: “Hiện giờ ngài đang ở đâu, [119] Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác?”

5. “Tâu Đại vương, có một thị trấn của người Sakya tên là Medalumpa. Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hiện đang trú ở đó.” “Từ Nagaraka đến Medalumpa bao xa?”

“Không xa lắm, tâu Đại vương, khoảng ba do tuần. [^836] Trời vẫn còn đủ sáng để đi đến đó.”

“Vậy thì, này Kārāyaṇa thân mến, hãy chuẩn bị xe ngựa hoàng gia. Chúng ta hãy đi yết kiến Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”

“Tâu Đại vương, vâng ạ,” ông đáp. Khi xe ngựa hoàng gia đã chuẩn bị xong, ông báo cho vua biết: “Tâu Đại vương, xe ngựa hoàng gia đã sẵn sàng cho ngài. Bây giờ là lúc ngài làm những gì ngài thấy là hợp thời.”

6. Sau đó, vua Pasenadi lên một chiếc xe ngựa hoàng gia, cùng với các xe khác hộ tống, rời Nagaraka hướng về thị trấn Medalumpa của xứ Sakya. Vua đến nơi khi trời vẫn còn sáng và tiến về phía khu vườn. Vua đi xe xa hết mức đường xe có thể đi được, rồi xuống xe và đi bộ vào khu vườn.

7. Lúc bấy giờ, có một số vị tỳ kheo (bhikkhus - các vị sư nam đã thọ giới cụ túc) đang đi kinh hành ở ngoài trời. Vua Pasenadi liền đến gần họ và hỏi: “Thưa quý ngài, hiện giờ ngài đang ở đâu, Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác? Chúng tôi muốn yết kiến Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”

8. “Kia là căn thất của ngài, Đại vương, cửa đang đóng. Hãy lặng lẽ đi đến đó, không vội vã, vào mái hiên, hắng giọng và gõ nhẹ vào cánh cửa. Đức Thế Tôn sẽ mở cửa cho ngài.” Vua Pasenadi liền trao gươm và khăn vành cho Dīgha Kārāyaṇa ngay tại đó. Lúc ấy Dīgha Kārāyaṇa nghĩ: “Vậy là bây giờ vua sẽ có cuộc gặp riêng! Còn mình thì phải đợi một mình ở đây!” [^837] Không vội vã, vua Pasenadi lặng lẽ đi đến căn thất đang đóng cửa, vào mái hiên, hắng giọng và gõ nhẹ vào cánh cửa. Đức Thế Tôn mở cửa.

9. Rồi vua Pasenadi [120] bước vào căn thất. Đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, lấy đầu mình chạm vào chân ngài, vua hôn chân ngài và xoa nhẹ chân ngài bằng tay mình, tự xưng danh: “Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi xứ Kosala; bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi xứ Kosala.”

“Nhưng, Đại vương, ngài thấy có lý do gì để thể hiện sự tôn kính tối thượng như vậy đối với thân này và để tỏ bày sự thân ái như vậy?”

10. "Bạch Thế Tôn, con suy luận theo Pháp (Dhamma - Giáo pháp, lời dạy của Đức Phật) về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng các đệ tử tu tập theo lời Phật dạy) của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’ Bạch Thế Tôn, con thấy có những vị Sa-môn và Bà-la-môn (recluses and brahmins - các tu sĩ khổ hạnh và tu sĩ thuộc giai cấp Bà-la-môn ở Ấn Độ cổ đại) sống đời sống phạm hạnh (holy life - đời sống thanh tịnh, đặc biệt là đời sống tu sĩ, hướng đến mục tiêu giải thoát) có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, hay bốn mươi năm, rồi sau đó, con lại thấy họ chải chuốt kỹ lưỡng, xức dầu thơm, tóc râu cắt tỉa gọn gàng, tận hưởng, được cung phụng đầy đủ năm sợi dây dục lạc (five cords of sensual pleasure - năm loại đối tượng của giác quan: hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, và vật chạm, mang lại sự thích thú và trói buộc). Nhưng ở đây, con thấy các vị tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh hoàn hảo và thanh tịnh cho đến trọn đời, đến hơi thở cuối cùng. Quả thực, con không thấy ở đâu khác có đời sống phạm hạnh nào hoàn hảo và thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đó là lý do vì sao con suy luận theo Pháp về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’

11. "Lại nữa, bạch Thế Tôn, vua chúa tranh chấp với vua chúa, quý tộc với quý tộc, Bà-la-môn với Bà-la-môn, gia chủ với gia chủ; mẹ tranh cãi với con, con với mẹ, cha với con, con với cha; anh em trai tranh cãi với nhau, anh trai với em gái, em gái với anh trai, bạn bè với bạn bè. [^838] Nhưng ở đây, con thấy các vị tỳ kheo sống hòa hợp, quý mến lẫn nhau, không tranh cãi, hòa hợp như nước với sữa, [121] nhìn nhau với ánh mắt từ ái. Con không thấy ở đâu khác có đoàn thể nào hòa hợp như vậy. Bạch Thế Tôn, đó cũng là lý do vì sao con suy luận theo Pháp về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’

12. "Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đã đi dạo và tản bộ từ công viên này đến khu vườn khác. Ở đó, con đã thấy một số vị Sa-môn và Bà-la-môn gầy gò, tiều tụy, xấu xí, da vàng vọt, gân xanh nổi trên tay chân, đến nỗi người ta không muốn nhìn lại lần nữa. Con đã nghĩ: ‘Chắc hẳn những vị đáng kính này đang sống đời phạm hạnh trong sự bất mãn, hoặc họ đã làm điều ác nào đó và đang che giấu, nên mới gầy gò, tiều tụy… đến nỗi người ta không muốn nhìn lại lần nữa.’ Con đã đến gặp họ và hỏi: ‘Tại sao quý vị lại gầy gò và tiều tụy… đến nỗi người ta không muốn nhìn lại lần nữa?’ Họ trả lời: ‘Đó là bệnh di truyền của gia đình chúng tôi, Đại vương.’ Nhưng ở đây, con thấy các vị tỳ kheo mỉm cười và vui vẻ, hoan hỷ chân thành, rõ ràng là đang an lạc, các căn tươi tỉnh, sống thoải mái, không dao động, sống nhờ vào vật thực người khác cúng dường, an trú với tâm thanh thoát như nai rừng. Con đã nghĩ: ‘Chắc hẳn những vị đáng kính này nhận thấy được những trạng thái cao thượng, đặc biệt nối tiếp nhau trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn, nên họ mới an trú mỉm cười và vui vẻ… với tâm thanh thoát như nai rừng.’ Bạch Thế Tôn, đó cũng là lý do vì sao con suy luận theo Pháp về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’

13. "Lại nữa, bạch Thế Tôn, là một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ đăng quang, [122] con có quyền xử tử kẻ đáng tử hình, phạt tiền kẻ đáng phạt, lưu đày kẻ đáng bị lưu đày. Tuy nhiên, khi con đang ngồi họp triều đình, họ vẫn xen vào và ngắt lời con. Mặc dù con nói: ‘Thưa quý vị, đừng xen vào và ngắt lời ta khi ta đang họp triều đình; hãy đợi đến khi ta nói xong,’ họ vẫn cứ xen vào và ngắt lời con. Nhưng ở đây, con thấy các vị tỳ kheo, trong khi Đức Thế Tôn đang giảng Pháp [^839] cho một hội chúng gồm vài trăm đệ tử, thì không hề có tiếng ho hay tiếng hắng giọng của một vị đệ tử nào. Có lần, khi Đức Thế Tôn đang giảng Pháp cho một hội chúng gồm vài trăm đệ tử, một vị đệ tử của ngài đã hắng giọng. Ngay lập tức, một vị bạn đồng tu đã huých đầu gối vị ấy để ra hiệu: ‘Xin hãy im lặng, thưa tôn giả, đừng gây tiếng động; Đức Thế Tôn, bậc Đạo Sư, đang giảng Pháp cho chúng ta.’ Con đã nghĩ: ‘Thật kỳ diệu, thật phi thường làm sao một hội chúng có thể kỷ luật tốt đến thế mà không cần dùng đến hình phạt hay vũ khí!’ Quả thực, con không thấy ở đâu khác có đoàn thể nào kỷ luật tốt như vậy. Bạch Thế Tôn, đó cũng là lý do vì sao con suy luận theo Pháp về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’

14. "Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đã thấy ở đây một số vị quý tộc học thức, thông minh, am hiểu giáo lý của các tôn giáo khác, sắc bén như những tay bắn tỉa có thể bắn trúng sợi tóc; [^840] họ đi khắp nơi, dường như dùng trí tuệ sắc bén của mình để đánh đổ các quan điểm khác. Khi nghe tin: ‘Sa-môn Gotama sẽ đến thăm làng hoặc thị trấn kia,’ họ chuẩn bị sẵn một câu hỏi như sau: ‘Chúng ta sẽ đến gặp Sa-môn Gotama và hỏi ông ấy câu này. Nếu được hỏi như thế này, ông ấy sẽ trả lời như thế này, và chúng ta sẽ bác bỏ giáo lý của ông ấy theo cách này; còn nếu được hỏi như thế kia, ông ấy sẽ trả lời như thế kia, và chúng ta sẽ bác bỏ giáo lý của ông ấy theo cách kia.’ Họ nghe tin: ‘Sa-môn Gotama đã đến thăm làng hoặc thị trấn kia.’ Họ đến gặp Đức Thế Tôn, và Đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn chấn, [123] và làm hoan hỷ họ bằng một bài Pháp thoại. Sau khi được Đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn chấn và làm hoan hỷ bằng một bài Pháp thoại, họ thậm chí còn không hỏi được câu hỏi đã chuẩn bị, huống chi là bác bỏ giáo lý của ngài? Thực tế là, họ đã trở thành đệ tử của ngài. Bạch Thế Tôn, đó cũng là lý do vì sao con suy luận theo Pháp về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’

15. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đã thấy ở đây một số vị Bà-la-môn học thức…”

16. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đã thấy ở đây một số vị gia chủ học thức…”

17. "Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đã thấy ở đây một số vị Sa-môn học thức… Họ thậm chí còn không hỏi được câu hỏi đã chuẩn bị, huống chi là bác bỏ giáo lý của ngài? Thực tế là, họ xin Đức Thế Tôn cho phép họ được xuất gia (going forth - rời bỏ đời sống gia đình để trở thành tu sĩ), sống đời không nhà (homelessness - đời sống không nhà cửa), và ngài đã cho phép họ xuất gia. Không lâu sau khi xuất gia như vậy, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và kiên định, nhờ tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (direct knowledge - sự hiểu biết trực tiếp, không qua trung gian suy luận, thường đạt được qua thiền định), họ ngay trong hiện tại chứng đạt và an trú vào mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh (supreme goal of the holy life - đích đến cuối cùng của con đường tu tập thanh tịnh, thường chỉ Niết Bàn) là mục đích mà con cháu các gia tộc chân chính xuất gia, sống đời không nhà. Họ nói như sau: ‘Chúng ta suýt nữa đã lạc lối, suýt nữa đã hư mất, vì trước đây chúng ta tự nhận mình là Sa-môn dù thực sự không phải là Sa-môn; chúng ta tự nhận mình là Bà-la-môn dù thực sự không phải là Bà-la-môn; chúng ta tự nhận mình là A-la-hán (arahants - bậc thánh đã đạt được sự giải thoát hoàn toàn, chấm dứt khổ đau và tái sinh) dù thực sự không phải là A-la-hán. Nhưng bây giờ chúng ta là Sa-môn, bây giờ chúng ta là Bà-la-môn, bây giờ chúng ta là A-la-hán.’ Bạch Thế Tôn, đó cũng là lý do vì sao con suy luận theo Pháp về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’

18. "Lại nữa, bạch Thế Tôn, Isidatta và Purāna, [^841] hai vị quan thanh tra của con, ăn thức ăn của con và dùng xe ngựa của con; con cung cấp sinh kế và mang lại danh tiếng cho họ. Tuy vậy, họ lại ít kính trọng con [124] hơn là đối với Đức Thế Tôn. Có lần, khi con dẫn quân ra ngoài và đang kiểm tra hai vị thanh tra này, Isidatta và Purāna, con tình cờ phải trú lại ở một nơi rất chật chội. Khi ấy, hai vị thanh tra Isidatta và Purāna, sau khi dành phần lớn đêm để đàm luận về Pháp, đã nằm xuống, đầu hướng về phía họ nghe nói Đức Thế Tôn đang ở, còn chân thì hướng về phía con. Con đã nghĩ: ‘Thật kỳ diệu, thật phi thường! Hai vị thanh tra này, Isidatta và Purāna, ăn thức ăn của con và dùng xe ngựa của con; con cung cấp sinh kế và mang lại danh tiếng cho họ. Tuy vậy, họ lại ít kính trọng con hơn là đối với Đức Thế Tôn. Chắc chắn những người tốt này nhận thấy được những trạng thái cao thượng, đặc biệt nối tiếp nhau trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn.’ Bạch Thế Tôn, đó cũng là lý do vì sao con suy luận theo Pháp về Đức Thế Tôn rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng, Tăng đoàn của Đức Thế Tôn đang thực hành thiện đạo.’

19. "Lại nữa, bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ và con cũng thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ; Đức Thế Tôn là người xứ Kosala và con cũng là người xứ Kosala; Đức Thế Tôn đã tám mươi tuổi và con cũng đã tám mươi tuổi. [^842] Vì lẽ đó, con nghĩ rằng việc thể hiện sự tôn kính tối thượng và sự thân ái như vậy đối với Đức Thế Tôn là điều thích đáng.

20. “Và bây giờ, bạch Thế Tôn, chúng con xin cáo từ. Chúng con bận rộn và có nhiều việc phải làm.”

“Này Đại vương, bây giờ là lúc ngài làm những gì ngài thấy là hợp thời.”

Sau đó, vua Pasenadi xứ Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi quanh ngài theo chiều bên phải (thân người bên phải hướng về phía ngài), rồi ra về. [^843]

21. Rồi ngay sau khi vua rời đi, Đức Thế Tôn bảo các vị tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, trước khi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về, vua Pasenadi này đã nói lên những Pháp Bảo Tháp (Monuments to the Dhamma - những biểu hiện, bằng chứng sống động về sự thật của Giáo Pháp). [^844] Hãy học thuộc những Pháp Bảo Tháp này, này các tỳ kheo; hãy tinh thông [125] những Pháp Bảo Tháp này; hãy ghi nhớ những Pháp Bảo Tháp này. Những Pháp Bảo Tháp này có lợi ích, này các tỳ kheo, và thuộc về những nền tảng của đời sống phạm hạnh.”

Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Các tỳ kheo hoan hỷ và vui mừng đón nhận lời dạy của Đức Thế Tôn.

89. KINH PHÁP TRANG NGHIÊM

89. KINH PHÁP TRANG NGHIÊM (Dhammacetiya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka (Thích-ca). Medalumpa là một thị trấn của dân chúng Sakka.

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala đi đến Nangaraka vì có một vài công việc. Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Digha Karayana:

– Này Karayana, hãy sửa soạn các cỗ xe thù thắng, ta muốn đi đến các thượng uyển để ngắm phong cảnh.

– Thưa vâng, Ðại vương.

Digha Karayana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, cho sửa soạn các cỗ xe thù thắng, rồi thưa với vua Pasenadi nước Kosala:

– Tâu Ðại vương, các cỗ xe thù thắng của Ðại vương đã sửa soạn xong, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, đi ra khỏi Nangaraka cùng nhiều cỗ xe thù thắng khác, với tất cả uy vệ của vua chúa, và đi đến vườn thượng uyển, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ, vào vườn thượng uyển. Trong khi đi qua đi lại trong vườn (thượng uyển), trong khi tản bộ thưởng ngoạn, vua Pasenadi nước Kosala thấy những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng. Thấy vậy, vua liền nghĩ đến Thế Tôn: “Những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng này, chính tại đây, chúng ta đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”. Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Digha Karayana:

– Này Karayana, những gốc cây khả ái… Chánh Ðẳng Giác. Này Karayana, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trú tại chỗ nào?

– Tâu Ðại vương, có một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Medalumpa. Tại đấy, Thế Tôn, bậc A-la- hán, Chánh Ðẳng Giác đang trú.

– Này Karayana, Medalumpa, thị trấn của dân chúng Sakka, cách xa Nangaraka bao nhiêu?

– Tâu Ðại vương, cách không xa, có ba yojana (do tuần). Có thể đi đến chỗ ấy trong ngày.

– Vậy này Karayana, hãy sửa soạn các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

– Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Digha Karayana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, cho sửa soạn các cỗ xe thù thắng, sau khi sửa soạn xong các cỗ xe thù thắng, liền tâu với vua Pasenadi nước Kosala:

– Tâu Ðại vương các cỗ xe thù thắng đã sửa soạn xong, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, từ Nangaraka đi đến Medulampa, thị trấn của dân chúng Sakka, đến nơi đó nội trong ngày, rồi đi đến tịnh xá. Vua đi xe cho đến chỗ nào có thể đi xe được, rồi xuống xe đi bộ vào tịnh xá. Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo ấy:

– Chư Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

– Thưa Ðại vương, Thế Tôn ở trong ngôi nhà này với các cửa khép kín. Hãy im lặng đến gần, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, sau khi đằng hắng, hãy gõ vào khóa cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Ðại vương.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, ngay tại chỗ ấy, trao kiếm và vành khăn cho Digha Karayana. Rồi Digha Karayana tự nghĩ: “Nay vua muốn đi một mình. Ở đây, ta phải dừng lại”. Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:

– Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.

– Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?

– Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử, Thế Tôn khéo tu tập, hành trì”.

Lại nữa bạch Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, Sát-đế-lị cãi lộn với Sát-đế-lị, Bà-la-môn cãi lộn với Bà-la-môn, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi lộn với con, con cãi lộn với mẹ, cha cãi lộn với con, con cãi lộn với cha, anh em cãi lộn với anh em, anh em cãi lộn với chị em, chị em cãi lộn với anh em, bạn bè cãi lộn với bạn bè. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống với nhau thuận hòa, thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra, có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đi du hành tản bộ từ công viên này đến công viên khác, từ cung uyển này đến cung uyển khác. Ở đấy, con thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Thật sự các bậc Tôn giả này sống Phạm hạnh không được hoan hỷ hay có những ác nghiệp được giấu

kín. Do vậy, các vị Tôn giả này mới gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn. Con đi đến các vị ấy và nói:

“-- Vì sao chư Tôn giả lại gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn?”.

Các vị ấy trả lời như sau:

“-- Tâu Ðại vương, chúng tôi bị bệnh gia truyền”.

Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào (sự hỷ cúng) của người khác, với tâm tư như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Thật sự các bậc Tôn giả này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự nên các bậc Tôn giả này hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào (sự hỷ cúng) của người khác, với tâm tư như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, con là một vị vua Sát-đế-lị, đã làm lễ quán đảnh, có thể hành quyết những ai đáng bị hành quyết, gia phạt những ai đáng bị gia phạt, trục xuất những ai đáng bị trục xuất. Nhưng bạch Thế Tôn, khi con ngồi xử kiện, có người đôi khi nói ngắt lời của con. Và con không có dịp để nói: “Này Quý vị, chớ có ngắt lời nói của ta, khi ta đang ngồi xử kiện. Quý vị hãy chờ cho đến khi ta nói xong”. Bạch Thế Tôn, thế mà có người vẫn ngắt lời nói của con. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ- kheo, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng nhảy mũi hay tiếng ho khởi lên. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: “Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp”. Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này có một đồ chúng nào khác được khéo huấn luyện như đồ chúng này. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này, chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này. Khi bị ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia”. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại khai thị cho các vị này, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ðược Sa-môn Gotama, với pháp thoại khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn! Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Bạch Thế Tôn, như vậy là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Bà-la-môn bác học… Gia chủ bác học, Sa-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi chỗ này chỗ kia như muốn đả phá các tà kiến… họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ xin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế Tôn cho họ được xuất gia. Ðược xuất gia như vậy,

một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần và không bao lâu sau, tự chứng với thắng trí, chứng ngộ chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của Phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Họ nói như sau: “Thật sự chúng ta gần hoại vong! Thật sự chúng ta gần hoại diệt! Xưa kia chúng ta không phải Sa- môn lại tự xem là Sa-môn, không phải Bà-la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải bậc A-la-hán lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán”. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân (đối nghịch), và muốn thử thách Isidatta và Purana, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purana, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự”. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lị, con cũng thuộc dòng Sát-đế-lị. Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng thuộc người nước Kosala. Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng được tám mươi tuổi. Vì Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lị và con cũng thuộc dòng Sát-đế-lị; vì Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng thuộc người Kosala; vì Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng được tám mươi tuổi; nên con sẵn sàng hạ mình tột bực đối với Thế Tôn, và biểu lộ tình thân ái. Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm.

– Thưa Ðại vương, Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, Thế Tôn cho gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, đấy là vua Pasenadi nước Kosala. Sau khi nói lên những pháp trang nghiêm, vua đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Này các Tỷ-kheo, hãy học các pháp trang nghiêm. Hãy thấu triệt các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, các pháp trang nghiêm này liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, có nghĩa là Bậc Tôn Quý, người đã bẻ gãy vòng sinh tử, bậc có đầy đủ phước đức và trí tuệ.
  • A-la-hán / Arahant / Accomplished One: Bậc thánh đã giác ngộ hoàn toàn, diệt trừ mọi phiền não (ô nhiễm tâm), chấm dứt khổ đau và không còn tái sinh trong vòng luân hồi (saṃsāra).
  • Chánh Đẳng Giác / Sammāsambuddha / Fully Enlightened One: Bậc đã tự mình giác ngộ hoàn toàn chân lý tối thượng mà không cần thầy chỉ dạy trong kiếp hiện tại, có khả năng thuyết giảng giáo pháp cho chúng sinh. Đức Phật Gotama là một vị Chánh Đẳng Giác.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Giáo pháp, lời dạy của Đức Phật về bản chất của thực tại, sự khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau (Niết Bàn). Bao gồm cả kinh điển và sự thực hành.
  • Tăng đoàn / Sangha / Sangha: Cộng đồng các đệ tử của Đức Phật đã chứng ngộ hoặc đang thực hành con đường giải thoát. Theo nghĩa hẹp, chỉ cộng đồng các vị tỳ kheo và tỳ kheo ni (tu sĩ nam và nữ) sống hòa hợp và thanh tịnh theo giới luật.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Bhikkhu: Tu sĩ nam trong Phật giáo đã thọ nhận giới luật đầy đủ (cụ túc giới), sống đời sống không nhà, khất thực để nuôi mạng.
  • Sa-môn / Samaṇa / Recluse: Thuật ngữ chung chỉ các vị tu sĩ khổ hạnh, những người từ bỏ đời sống thế tục để tìm cầu chân lý hoặc giải thoát trong bối cảnh Ấn Độ cổ đại, không nhất thiết theo Phật giáo.
  • Bà-la-môn / Brāhmaṇa / Brahmin: Thành viên của giai cấp tu sĩ, tư tế và học giả trong hệ thống đẳng cấp xã hội Ấn Độ cổ đại, thường thực hành các nghi lễ Vệ Đà.
  • Đời sống phạm hạnh / Brahmacariya / Holy life: Đời sống thanh tịnh, trong sạch, đặc biệt là đời sống tu sĩ, kiêng cữ tình dục và các thú vui thế tục, nhằm mục đích đạt được sự giải thoát tâm linh.
  • Năm sợi dây dục lạc / Pañca kāmaguṇā / Five cords of sensual pleasure: Năm loại đối tượng của năm giác quan (hình ảnh đẹp, âm thanh hay, mùi thơm, vị ngon, vật xúc chạm êm ái) có khả năng gây ra sự tham ái, dính mắc và trói buộc chúng sinh vào khổ đau và vòng luân hồi.
  • Xuất gia / Pabbajā / Going forth: Hành động từ bỏ đời sống gia đình, tài sản và các ràng buộc thế tục để trở thành một tu sĩ, sống đời không nhà.
  • Đời sống không nhà / Anagāriya / Homelessness: Trạng thái sống không còn ràng buộc bởi gia đình, nhà cửa và tài sản thế tục, là đặc trưng của đời sống tu sĩ Phật giáo.
  • Thắng trí / Abhiññā / Direct knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt, không qua trung gian suy luận hay khái niệm, thường đạt được qua sự phát triển thiền định sâu sắc. Bao gồm các năng lực như thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng thông, lậu tận thông.
  • Mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh / Brahmacariyapariyosāna / Supreme goal of the holy life: Đích đến cuối cùng và cao nhất của con đường tu tập thanh tịnh trong Phật giáo, chính là sự chứng ngộ Niết Bàn (Nibbāna), sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau và tái sinh.
  • Pháp Bảo Tháp / Dhammacetiya / Monuments to the Dhamma: Những biểu hiện, bằng chứng sống động, cụ thể về sự thật, giá trị và hiệu quả của Giáo Pháp (Dhamma), giống như những đài kỷ niệm hay bảo tháp tôn vinh Pháp. Trong kinh này, đó là những lý do mà vua Pasenadi đưa ra để thể hiện lòng tin vào Tam Bảo.