Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 90. Tại Kannakatthala

(Kinh Kannakatthala)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Ujuñña, trong Vườn Nai Kannakatthala.

2. Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala đi đến Ujuñña vì một công việc nào đó. Rồi vua bảo một người: “Này người kia, hãy đến chỗ Đức Thế Tôn, thay mặt ta đảnh lễ dưới chân Ngài, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, mạnh khỏe, và sống thoải mái không, thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi xứ Kosala xin đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, và xin hỏi thăm Đức Thế Tôn có ít bệnh… và sống thoải mái không.’ Và thưa thêm thế này: ‘Bạch Thế Tôn, hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala sẽ đến yết kiến Đức Thế Tôn sau bữa điểm tâm.’”

Người ấy đáp: “Vâng, tâu đại vương,” rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, người ấy ngồi xuống một bên và trình lại lời nhắn.

3. Hai chị em Somā và Sakulā [^845] nghe được rằng: “Hôm nay [126] vua Pasenadi xứ Kosala sẽ đến yết kiến Đức Thế Tôn sau bữa điểm tâm.”

Rồi, trong khi bữa ăn đang được dọn ra, hai chị em đến gặp vua và thưa: “Tâu đại vương, xin thay mặt chúng thần đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh… và sống thoải mái không, thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, hai chị em Somā và Sakulā xin đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, và xin hỏi thăm Đức Thế Tôn có ít bệnh… và sống thoải mái không.’”

4. Sau đó, khi đã dùng xong bữa điểm tâm, vua Pasenadi xứ Kosala đi đến chỗ Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, vua ngồi xuống một bên và trình lại lời nhắn của hai chị em Somā và Sakulā. “Nhưng, đại vương, hai chị em Somā và Sakulā không tìm được người đưa tin nào khác sao?”

“Bạch Thế Tôn, hai chị em Somā và Sakulā nghe được rằng: ‘Hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala sẽ đến yết kiến Đức Thế Tôn sau bữa điểm tâm.’ Rồi, trong khi bữa ăn đang được dọn ra, hai chị em Somā và Sakulā đến gặp thần và thưa: ‘Tâu đại vương, xin thay mặt chúng thần đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh… và sống thoải mái không.’”

“Mong rằng hai chị em Somā và Sakulā được hạnh phúc, đại vương.”

5. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, thần có nghe điều này: ‘Sa môn Gotama nói rằng: “Không có sa môn (samana - người tu hành khổ hạnh hoặc tu sĩ nói chung) hay bà la môn (brahmin - thành viên của giai cấp tu sĩ và học giả Ấn Độ cổ) nào là bậc toàn tri và toàn kiến (omniscient and all-seeing - biết tất cả và thấy tất cả), người có thể tuyên bố có tri kiến toàn hảo (complete knowledge and vision - sự hiểu biết và thấy biết đầy đủ, hoàn chỉnh); điều đó là không thể.”’ Bạch Thế Tôn, những người nói như vậy [127] có nói đúng lời Đức Thế Tôn dạy không, và không xuyên tạc Ngài bằng điều không đúng sự thật chứ? Họ có giải thích đúng theo Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) theo cách mà không có gì có thể bị suy diễn một cách hợp lý thành cớ để khiển trách từ những lời khẳng định của họ không?”

“Đại vương, những người nói như vậy không nói đúng lời ta dạy, mà xuyên tạc ta bằng điều không thật và trái với sự thật.”

6. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala hỏi Tướng quân Viḍūḍabha: “Tướng quân, ai đã đưa câu chuyện này vào cung?”

“Tâu đại vương, đó là Sañjaya, vị bà la môn thuộc dòng dõi Ākāsa.”

7. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala bảo một người: “Này người kia, hãy thay mặt ta nói với Sañjaya, vị bà la môn thuộc dòng dõi Ākāsa: ‘Thưa tôn giả, vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi ngài.’”

Người ấy đáp: “Vâng, tâu đại vương.” Người ấy đi đến chỗ Sañjaya, vị bà la môn thuộc dòng dõi Ākāsa, và nói với ông ta: “Thưa tôn giả, vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi ngài.”

8. Trong khi đó, vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có thể nào Đức Thế Tôn đã nói một điều gì khác liên quan đến việc đó, và người kia đã hiểu sai không? Đức Thế Tôn nhớ lại mình đã nói lời đó như thế nào?”

“Ta nhớ là đã thực sự nói như thế này, đại vương: ‘Không có sa môn hay bà la môn nào biết tất cả, thấy tất cả, một cách đồng thời; điều đó là không thể.’”[^846]

“Điều Đức Thế Tôn nói có vẻ hợp lý, điều Đức Thế Tôn nói có vẻ có cơ sở lý luận: ‘Không có sa môn hay bà la môn nào [128] biết tất cả, thấy tất cả, một cách đồng thời; điều đó là không thể.’”

9. “Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp (castes - các tầng lớp xã hội ở Ấn Độ cổ) này: Sát-đế-lỵ (Khattiya - giai cấp quý tộc, vua chúa, chiến binh), Bà-la-môn (Brahmana - giai cấp tu sĩ, học giả), Phệ-xá (Vessa - giai cấp thương nhân, nông dân), và Thủ-đà-la (Sudda - giai cấp lao động, tôi tớ). Có sự phân biệt hay khác biệt nào giữa họ không?”

“Đại vương, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, và Thủ-đà-la. Hai giai cấp trong số đó, tức là Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn, được xem là cao quý hơn vì người ta đảnh lễ họ, đứng dậy chào họ, và dành cho họ sự kính trọng và phục vụ lịch sự.”

10. “Bạch Thế Tôn, thần không hỏi về đời này; thần hỏi về đời sau. [^847] Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, và Thủ-đà-la. Có sự phân biệt hay khác biệt nào giữa họ không?”

"Đại vương, có năm yếu tố nỗ lực (factors of striving - các yếu tố cần thiết cho sự tinh tấn tu tập) này. [^848] Năm yếu tố đó là gì? Ở đây, một vị tỳ kheo (bhikkhu - vị sư nam đã thọ giới cụ túc) có đức tin, vị ấy đặt niềm tin vào sự giác ngộ (bodhi - sự tỉnh thức hoàn toàn, hiểu biết chân lý) của Như Lai (Tathāgata - một danh hiệu của Đức Phật, nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”) như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc ứng cúng (arahant - xứng đáng được cúng dường), chánh biến tri (sammāsambuddha - tự mình giác ngộ hoàn toàn), minh hạnh túc (vijjācaraṇasampanna - đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), thiện thệ (sugata - người đã đi một cách tốt đẹp), thế gian giải (lokavidū - người hiểu biết thế gian), vô thượng sĩ điều ngự trượng phu (anuttaro purisadammasārathi - bậc tối cao dìu dắt chúng sinh), thiên nhân sư (satthā devamanussānaṃ - thầy của trời và người), Phật (buddha - bậc giác ngộ), Thế Tôn (bhagavā - bậc được tôn kính).’ Rồi vị ấy ít bệnh, ít não, có hệ tiêu hóa tốt, không quá lạnh cũng không quá nóng mà điều hòa và có thể chịu đựng sự căng thẳng của việc nỗ lực. Rồi vị ấy chân thật và thẳng thắn, thể hiện bản thân đúng như thực tế với thầy và các bạn đồng tu trong đời sống phạm hạnh (brahmacariya - đời sống trong sạch, thanh tịnh, thường chỉ đời sống tu sĩ). Rồi vị ấy tinh tấn từ bỏ các pháp bất thiện (akusala dhamma - những trạng thái tâm tiêu cực, có hại) và thực hành các pháp thiện (kusala dhamma - những trạng thái tâm tích cực, có lợi), kiên định, nỗ lực vững chắc và bền bỉ trong việc vun bồi các pháp thiện. Rồi vị ấy có trí tuệ; vị ấy sở hữu trí tuệ về sự sinh diệt (udayabbaya-ñāṇa - trí tuệ thấy rõ sự sinh khởi và hoại diệt của các pháp), một trí tuệ cao thượng, thâm nhập và dẫn đến sự đoạn tận khổ đau (dukkhakkhaya - sự chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau, Niết Bàn). Đó là năm yếu tố nỗ lực.

“Đại vương, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, và Thủ-đà-la. Nếu họ sở hữu năm yếu tố nỗ lực này, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.”

11. “Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, [129] và Thủ-đà-la. Nếu họ sở hữu năm yếu tố nỗ lực này, liệu có sự khác biệt nào giữa họ về phương diện đó không?” “Ở đây, đại vương, ta nói rằng sự khác biệt giữa họ nằm ở sự đa dạng trong nỗ lực của họ. Giả sử có hai con voi có thể thuần hóa, hoặc hai con ngựa có thể thuần hóa, hoặc hai con bò có thể thuần hóa đã được thuần hóa tốt và huấn luyện tốt, và hai con voi có thể thuần hóa, hoặc hai con ngựa có thể thuần hóa, hoặc hai con bò có thể thuần hóa chưa được thuần hóa và chưa được huấn luyện. Đại vương nghĩ sao? Hai con voi, ngựa, hay bò có thể thuần hóa đã được thuần hóa tốt và huấn luyện tốt, khi được thuần hóa, chúng có học được cách cư xử của loài đã được thuần hóa, chúng có đạt đến cấp độ của loài đã được thuần hóa không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Và hai con voi, ngựa, hay bò có thể thuần hóa chưa được thuần hóa và chưa được huấn luyện, khi chưa được thuần hóa, chúng có học được cách cư xử của loài đã được thuần hóa, chúng có đạt đến cấp độ của loài đã được thuần hóa, giống như hai con voi, ngựa, hay bò đã được thuần hóa tốt và huấn luyện tốt không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy, đại vương, không thể nào điều mà một người có đức tin, ít bệnh, chân thật và thẳng thắn, tinh tấn, và có trí tuệ có thể đạt được, lại có thể đạt được bởi một người không có đức tin, nhiều bệnh, gian trá và lừa lọc, lười biếng, và không có trí tuệ.”

12. "Điều Đức Thế Tôn nói có vẻ hợp lý, điều Đức Thế Tôn nói có vẻ có cơ sở lý luận.

“Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, và Thủ-đà-la. Nếu họ sở hữu năm yếu tố nỗ lực này, và nếu sự nỗ lực của họ là đúng đắn, liệu có sự khác biệt nào giữa họ về phương diện đó không?”

“Ở đây, đại vương, về phương diện này, ta nói rằng giữa họ không có sự khác biệt nào, tức là, giữa sự giải thoát (vimutti - sự giải thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi) của người này và sự giải thoát của người kia. Giả sử một người lấy củi khô từ cây sāka, nhóm lửa và tạo ra nhiệt; rồi một người khác lấy củi khô từ cây sāla, nhóm lửa và tạo ra nhiệt; [130] rồi một người khác lấy củi khô từ cây xoài, nhóm lửa và tạo ra nhiệt; rồi một người khác lấy củi khô từ cây sung, nhóm lửa và tạo ra nhiệt. Đại vương nghĩ sao? Liệu có sự khác biệt nào giữa những ngọn lửa này được nhóm từ các loại củi khác nhau không, tức là, giữa ngọn lửa của cái này và ngọn lửa của những cái khác, hoặc giữa màu sắc của cái này và màu sắc của những cái khác, hoặc giữa ánh sáng của cái này và ánh sáng của những cái khác không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy, đại vương, khi ngọn lửa được thắp lên bởi năng lượng, được nhóm lên bởi sự nỗ lực, ta nói rằng không có sự khác biệt nào, tức là, giữa sự giải thoát của người này và sự giải thoát của người kia.”

13. “Điều Đức Thế Tôn nói có vẻ hợp lý, điều Đức Thế Tôn nói có vẻ có cơ sở lý luận. Nhưng, bạch Thế Tôn, vấn đề là thế này: có chư thiên (deva - các vị trời trong các cõi trời dục giới và sắc giới) không?”

“Tại sao đại vương lại hỏi vậy?”

“Bạch Thế Tôn, thần muốn hỏi liệu những vị trời đó có trở lại trạng thái [con người] này hay không.”

“Đại vương, những vị trời nào còn phiền não (sa-upādisesa - vẫn còn chịu sự chi phối của phiền não, nghiệp và tái sinh) thì sẽ trở lại trạng thái [con người] này, những vị trời nào không còn phiền não (anupādisesa - không còn chịu sự chi phối của phiền não, nghiệp và tái sinh) thì sẽ không trở lại trạng thái [con người] này.” [^849]

14. Khi nghe vậy, Tướng quân Viḍūḍabha hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, liệu những vị trời còn phiền não và sẽ trở lại trạng thái [con người] này có thể lật đổ hoặc trục xuất khỏi nơi đó những vị trời không còn phiền não và không trở lại trạng thái [con người] này không?”

Lúc đó, Tôn giả Ānanda nghĩ: “Tướng quân Viḍūḍabha này là con của vua Pasenadi xứ Kosala, còn ta là con của Đức Thế Tôn. Đây là lúc để một người con nói chuyện với người con kia.” Ngài nói với Tướng quân Viḍūḍabha: “Thưa Tướng quân, tôi sẽ hỏi ngài một câu hỏi ngược lại. Xin ngài trả lời tùy ý. Thưa Tướng quân, ngài nghĩ sao? Trong toàn bộ lãnh thổ của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi [131] vua thực thi quyền làm chủ và cai trị; vậy vua Pasenadi xứ Kosala có thể lật đổ hoặc trục xuất khỏi nơi đó bất kỳ sa môn hay bà la môn nào, bất kể sa môn hay bà la môn đó có công đức hay không và có sống đời sống phạm hạnh hay không?”

“Ngài có thể làm vậy, thưa ngài.”

“Ngài nghĩ sao, thưa Tướng quân? Trong toàn bộ lãnh thổ không thuộc về vua Pasenadi xứ Kosala, nơi vua không thực thi quyền làm chủ và cai trị; vậy vua Pasenadi xứ Kosala có thể lật đổ hoặc trục xuất khỏi nơi đó bất kỳ sa môn hay bà la môn nào, bất kể sa môn hay bà la môn đó có công đức hay không và có sống đời sống phạm hạnh hay không?”

“Ngài không thể làm vậy, thưa ngài.”

“Thưa Tướng quân, ngài nghĩ sao? Ngài có nghe nói về Chư thiên cõi Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa - cõi trời thứ hai trong Dục giới, nơi Đế Thích làm vua) không?” “Vâng, thưa ngài, tôi có nghe nói về họ. Và vua Pasenadi xứ Kosala cũng đã nghe nói về họ.”

“Thưa Tướng quân, ngài nghĩ sao? Vua Pasenadi xứ Kosala có thể lật đổ Chư thiên cõi Ba Mươi Ba hoặc trục xuất họ khỏi nơi đó không?”

“Thưa ngài, vua Pasenadi xứ Kosala thậm chí không thể nhìn thấy Chư thiên cõi Ba Mươi Ba, vậy làm sao ngài có thể lật đổ hoặc trục xuất họ khỏi nơi đó?”

“Cũng vậy, thưa Tướng quân, những vị trời còn phiền não và sẽ trở lại trạng thái [con người] này thậm chí không thể nhìn thấy những vị trời không còn phiền não và không trở lại trạng thái [con người] này; vậy làm sao họ có thể lật đổ hoặc trục xuất họ khỏi nơi đó?”

15. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vị tỳ kheo này tên là gì?”

“Tên ngài ấy là Ānanda, đại vương.”

“Quả thật ngài ấy là Ānanda [niềm vui], bạch Thế Tôn, và ngài ấy có vẻ là Ānanda. Điều [132] Tôn giả Ānanda nói có vẻ hợp lý, điều ngài ấy nói có vẻ có cơ sở lý luận. Nhưng, bạch Thế Tôn, vấn đề là thế này: có các vị Phạm thiên (Brahmā - các vị trời ở cõi trời sắc giới và vô sắc giới, cao hơn chư thiên dục giới) không?”

“Tại sao đại vương lại hỏi vậy?”

“Bạch Thế Tôn, thần muốn hỏi liệu những vị Phạm thiên đó có trở lại trạng thái [con người] này hay không.”

“Đại vương, bất kỳ Phạm thiên nào còn phiền não thì sẽ trở lại trạng thái [con người] này, bất kỳ Phạm thiên nào không còn phiền não thì sẽ không trở lại trạng thái [con người] này.”

16. Rồi một người báo cho vua Pasenadi xứ Kosala: “Tâu đại vương, Sañjaya, vị bà la môn thuộc dòng dõi Ākāsa, đã đến.”

Vua Pasenadi xứ Kosala hỏi Sañjaya, vị bà la môn thuộc dòng dõi Ākāsa: “Này Bà la môn, ai đã đưa câu chuyện này vào cung?”

“Tâu đại vương, đó là Tướng quân Viḍūḍabha.”

Tướng quân Viḍūḍabha nói: “Tâu đại vương, đó là Sañjaya, vị bà la môn thuộc dòng dõi Ākāsa.”

17. Rồi một người báo cho vua Pasenadi xứ Kosala: “Tâu đại vương, đã đến giờ khởi hành.”

Vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chúng thần đã hỏi Đức Thế Tôn về sự toàn tri (sabbaññutā - khả năng biết tất cả mọi thứ), và Đức Thế Tôn đã trả lời về sự toàn tri; chúng thần chấp thuận và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng thần hài lòng. Chúng thần đã hỏi Đức Thế Tôn về sự thanh tịnh (visuddhi - sự trong sạch, không còn ô nhiễm) trong bốn giai cấp, và Đức Thế Tôn đã trả lời về sự thanh tịnh trong bốn giai cấp; chúng thần chấp thuận và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng thần hài lòng. Chúng thần đã hỏi Đức Thế Tôn về chư thiên, và Đức Thế Tôn đã trả lời về chư thiên; chúng thần chấp thuận và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng thần hài lòng. Chúng thần đã hỏi Đức Thế Tôn về các vị Phạm thiên, và Đức Thế Tôn đã trả lời về các vị Phạm thiên; chúng thần chấp thuận và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng thần hài lòng. Bất cứ điều gì chúng thần hỏi Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn đều đã trả lời; chúng thần chấp thuận và chấp nhận những câu trả lời đó, và vì vậy chúng thần hài lòng. [133] Và bây giờ, bạch Thế Tôn, chúng thần xin cáo từ. Chúng thần bận rộn và có nhiều việc phải làm.”

“Bây giờ là lúc, đại vương, hãy làm những gì ngài thấy là phù hợp.”

18. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala, sau khi hoan hỷ và vui mừng trước lời dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, và sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra về.

90. KINH KANNAKATTHALA

90. KINH KANNAKATTHALA (Kannakatthala Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại Ujunna, gần vườn Lộc Uyển ở Kannakatthala.

Lúc bấy giờ vua Pasenadi nước Kosala đi đến Ujunna có công việc. Rồi vua Pasenadi nước Kosala bảo một người:

– Ðến đây, này Người kia. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú và thưa như sau: "Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, hôm nay vua Pasenadi nước Kosala, sau buổi ăn sáng, sẽ đến yết kiến Thế Tôn”.

– Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, hôm nay vua Pasenadi nước Kosala, sau buổi ăn sáng, sẽ đến yết kiến Thế Tôn”.

Hai chị em Soma và Sakula được nghe: “Hôm nay vua Pasenadi nước Kosala sau buổi ăn sáng, sẽ đến yết kiến Thế Tôn”. Rồi hai chị em Soma và Sakula đi đến vua Pasenadi nước Kosala tại phòng ăn, và thưa như sau:

– Tâu Ðại vương, hãy nhân danh chúng thiếp cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có được ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa giúp: “Bạch Thế Tôn, chị em Soma và Sakula cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có được ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không”.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau buổi ăn sáng đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi, ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, hai chị em Soma và Sakula cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có được ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không.

– Thưa Ðại vương, vì sao hai chị em Soma và Sakula lại không có thể nhờ một vị đưa tin khác?

– Bạch Thế Tôn, hai chị em Soma và Sakula có nghe: “Hôm nay vua Pasenadi nước Kosala sau buổi ăn sáng, sẽ yết kiến Thế Tôn”. Rồi hai chị em Soma và Sakula đi đến con tại phòng ăn và thưa như sau: "Tâu Ðại vương, hãy nhân danh chúng thiếp cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có được ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không và thưa: “Bạch Thế Tôn, hai chị Soma và Sakula cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm (Thế Tôn), có được ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú không”.

– Thưa Ðại vương, mong rằng hai chị em Soma và Sakula được hạnh phúc!

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con có nghe như sau: "Sa-môn Gotama có nói: “Không có một Sa-môn hay một Bà-la- môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể tự cho là chứng được tri kiến viên mãn; sự tình như vậy không thể xảy ra”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama có nói: “Không có một Sa-môn hay Bà- la-môn nào toàn tri, toàn kiến có thể cho là chứng được tri kiến viên mãn; sự tình như vậy không thể xảy ra”, bạch Thế Tôn, có phải những vị ấy nói lời Thế Tôn nói, họ không xuyên tạc Thế Tôn, không đúng như thật; họ giải thích pháp đúng pháp và những ai nói hợp pháp, đúng pháp sẽ không có cơ hội để chỉ trích hay không?

– Thưa Ðại vương, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama có nói: “Không có một Sa-môn hay Bà-la- môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể cho là chứng được tri kiến viên mãn; sự tình như vậy không thể xảy ra”, những vị nói như vậy không nói đúng lời Ta nói, và họ xuyên tạc Ta một cách hư ngụy, không đúng sự thật.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với tướng quân Vidudabha:

– Này Tướng quân, ai đã đem vấn đề này vào trong nội cung?

– Tâu Ðại vương, Bà-la-môn Sanjaya, thuộc dòng họ Akasa.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala cho gọi một người:

– Ðến đây, này Người kia, hãy nhân danh ta, bảo với Bà-la-môn Sanjaya thuộc dòng họ Akasa: “Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala cho gọi Tôn giả”.

– Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi đến Bà-la-môn Sanjaya thuộc dòng họ Akasa, sau khi đến, liền thưa với Bà-la-môn Sanjaya, thuộc dòng họ Akasa: “Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala cho gọi Tôn giả”.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, rất có thể những điều Thế Tôn nói về một vấn đề khác, được người ta gán vào một vấn đề khác. Bạch Thế Tôn, liên hệ vấn đề gì Thế Tôn tự xem là nói những lời nói ấy?

– Thưa Ðại vương, Ta tự xem là đã nói những lời như sau: “Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể trong một lúc, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn, không thể có sự tình như vậy”.

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết có nhân duyên (heturupam). Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết liên hệ đến nhân duyên (saheturupam) và nói như sau: “Không có một Sa-môn nào hay Bà-la-môn nào có thể trong một lúc, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn, không thể có sự tình như vậy”. Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà. Bạch Thế Tôn, giữa bốn giai cấp này có những khác biệt nào, sai biệt nào?

– Thưa Ðại vương, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà. Thưa Ðại vương, giữa bốn giai cấp này, hai giai cấp Sát-đế-lị và Bà-la-môn được xem là tối thượng về xưng hô; hai giai cấp kia từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay và giúp đỡ họ các công việc.

– Bạch Thế Tôn, con không hỏi về hiện tại. Bạch Thế Tôn, con hỏi về tương lai. Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà. Bạch Thế Tôn, trong bốn giai cấp này, có những khác biệt nào, sai biệt nào?

– Thưa Ðại vương, có năm tinh cần chi này. Thế nào là năm? Ở đây, thưa Ðại vương, Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Vị ấy không gian trá, không xảo trá, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các đồng Phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, kiên cố, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, với sự thể nhập của các bậc Thánh, đưa đến chơn chánh đoạn diệt các khổ đau”.

Thưa Ðại vương có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Và nếu các giai cấp này thành tựu năm tinh cần chi này, như vậy sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho họ.

– Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Nếu những vị này thành tựu năm tinh cần chi này, bạch Thế Tôn, ở đây có sự khác biệt gì, có sự sai biệt gì?

– Thưa Ðại vương, ở đây, Ta nói đến sự sai biệt trong tinh cần. Ví như, thưa Ðại vương, giữa những con voi đáng được điều phục, hay những con ngựa đáng được điều phục, hay những con bò đáng được điều phục, có hai con voi, hai con ngựa, hay hai con bò được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, và có hai con voi, hai con ngựa, hay hai con bò không được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện. Thưa Ðại Vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Hai con voi, hai con ngựa, hay hai con bò được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, có phải chúng được điều phục, đạt được khả năng điều phục (dantakaranam), chúng được điều phục, đạt được vị trí điều phục (dantabhumi)?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Còn hai con voi, hai con ngựa, hay hai con bò không được khéo điều phục kia, không được khéo huấn luyện kia, không được điều phục mà chúng đạt được khả năng điều phục, không được điều phục mà chúng đạt được vị trí điều phục như hai con voi, hai con ngựa, hay hai con bò được khéo điều phục kia, được khéo huấn luyện kia?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, thưa Ðại vương, những gì đạt được do lòng tin, do ít bệnh tật, do không gian trá, không dối trá, do tinh cần tinh tấn, do trí tuệ, cũng sẽ do bất tín, do nhiều bệnh tật, do xảo trá, do dối trá đạt được, sự tình như vậy không thể xảy ra.

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết có nhân duyên (heturupam), Thế Tôn thuyết liên hệ đến nhân duyên. Bạch Thế Tôn, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Và nếu các vị này thành tựu năm tinh cần chi này, nếu họ chân chánh tinh cần, thì bạch Thế Tôn, có thể có sự khác biệt nào, có thể có sự sai biệt nào giữa các vị này không?

– Thưa Ðại vương, ta nói không có sự khác biệt gì về phương diện giải thoát đối với giải thoát. Ví như, thưa Ðại vương, một người đem củi khô từ cây sala lại và nhen lửa, lửa sẽ hiện ra. Và một người khác đem củi khô từ cây sala lại và nhen lửa, lửa sẽ hiện ra. Rồi có một người khác đem củi khô từ cây xoài lại và nhen lửa, lửa sẽ hiện ra. Rồi có một người khác đem củi khô từ cây udumbara lại và nhen lửa,

lửa sẽ hiện ra. Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Vì rằng các loại củi dùng để nhen lửa sai khác, vậy có những sai khác gì, giữa ngọn lửa với ngọn lửa, giữa màu sắc với màu sắc, giữa ánh sáng với ánh sáng?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, thưa Ðại vương, với sức nóng do tinh tấn tạo nên, do tinh cần nhen nhúm lên, ở đây, Ta nói không có một sự sai biệt gì về giải thoát đối với giải thoát.

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết có nhân duyên, Thế Tôn thuyết liên hệ đến nhân duyên. Bạch Thế Tôn, nhưng có chư Thiên không?

– Thưa Ðại vương, sao Ðại vương có thể nói: “Bạch Thế Tôn, nhưng có chư Thiên không?”

– Bạch Thế Tôn, không biết chư Thiên ấy có sanh lại tại đây không hay không sanh lại tại đây?

– Thưa Ðại vương, chư Thiên nào có não hại tâm, sanh lại tại đây; chư Thiên nào không có não hại tâm, không sanh lại tại đây.

Khi được nghe nói vậy, tướng quân Vidudabha bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, chư Thiên có não hại tâm, sanh lại tại đây có thể đánh đuổi hay trục xuất chư Thiên không có não hại tâm, không sanh lại tại đây không?

Tôn giả Ananda khởi lên ý nghĩ như sau: “Tướng quân Vidudabha này là con vua Pasenadi nước Kosala, ta là con Thế Tôn. Nay đã đến thời người con nói chuyện với người con”. Rồi Tôn giả Ananda nói với tướng quân Vidudabha:

– Này Tướng quân, nay ở đây, tôi sẽ hỏi lại Tướng quân vấn đề này. Nếu có thể được, Tướng quân hãy trả lời. Này Tướng quân, Tướng quân nghĩ thế nào? Xa rộng cho đến lãnh thổ của vua Pasenadi nước Kosala, và tại chỗ của vua Pasenadi nước Kosala ngự trị, trị vì; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất vị Sa-môn hay Bà-la-môn có công đức tu hành hay không có công đức tu hành, có sống Phạm hạnh hay không sống Phạm hạnh ra khỏi chỗ ấy không?

– Thưa Tôn giả, xa rộng cho đến lãnh thổ của vua Pasenadi nước Kosala và chỗ nào vua Pasenadi nước Kosala ngự trị, trị vì; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất vị Sa-môn hay Bà-la-môn có công đức tu hành, hay không có công đức tu hành, có sống Phạm hạnh hay không sống Phạm hạnh ra khỏi chỗ ấy.

– Thưa Tướng quân, Tướng quân nghĩ thế nào? Xa rộng ra ngoài lãnh thổ của vua Pasenadi nước Kosala, và tại chỗ của vua Pasenadi nước Kosala không ngự trị, không trị vì; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất vị Sa-môn hay Bà-la-môn có công đức tu hành hay không có công đức tu hành, có sống Phạm hạnh hay không sống Phạm hạnh ra khỏi chỗ ấy không?

– Thưa Tôn giả, xa rộng ra ngoài lãnh thổ của vua Pasenadi nước Kosala, và tại chỗ của vua Pasenadi nước Kosala không ngự trị, không trị vì; tại chỗ ấy, vua Pasenadi nước Kosala không có thể đánh đuổi… ra khỏi chỗ ấy.

– Thưa Tướng quân, Tướng quân có nghe nói đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba không?

– Thưa vâng, Tôn giả. Chúng tôi có nghe nói đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Và ở đây, vua Pasenadi nước Kosala cũng nghe có nói đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba.

– Này Tướng quân, Ông nghĩ thế nào? Vua Pasenadi nước Kosala có thể đánh đuổi hay trục xuất chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba ra khỏi chỗ ấy được không?

– Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala không thể thấy chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba, làm sao vua lại có thể đánh đuổi hay trục xuất chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba ra khỏi chỗ ấy?

– Cũng vậy, này Tướng quân, chư Thiên có não hại tâm, sanh lại tại đây, không có thể thấy được chư Thiên không có não hại tâm, không sanh lại tại đây, làm sao lại có thể đánh đuổi hay tẩn xuất chư Thiên không có não hại tâm, không sanh lại tại đây ra khỏi chỗ ấy được?

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy tên gọi là gì?

– Thưa Ðại vương, tên là Ananda!

– Thật hân hoan thay! Thật hoan hỷ thay! Tôn giả Ananda thuyết có nhân duyên, Ananda thuyết liên hệ đến nhân duyên. Bạch Thế Tôn, có Phạm thiên không?

– Thưa Ðại vương, sao Ðại vương có thể nói như vậy: “Bạch Thế Tôn, có Phạm thiên không?”.

– Bạch Thế Tôn, Phạm thiên có sanh lại tại đây hay không sanh lại tại đây?

– Thưa Ðại vương, nếu Phạm thiên có não hại tâm thì Phạm thiên ấy có sanh lại tại đây. Nếu không có não hại tâm, thời Phạm thiên ấy không sanh lại tại đây.

Rồi một người khác tâu với vua Pasenadi nước Kosala:

– Tâu Ðại vương, Bà-la-môn Sanjaya, thuộc dòng họ Akasa đã đến.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Bà-la-môn Sanjaya, thuộc dòng họ Akasa:

– Này Bà-la-môn, ai phổ biến câu chuyện này trong nội cung?

– Tâu Ðại vương, tướng quân Vidudabha.

Tướng quân Vidudabha lại nói:

– Tâu Ðại vương, chính Bà-la-môn Sanjaya, thuộc dòng họ Akasa.

Rồi có một người tâu với vua Pasenadi nước Kosala:

– Tâu Ðại vương, nay đã đến thời dùng xe.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, chúng con đã hỏi Thế Tôn về nhất thiết trí. Thế Tôn đã trả lời về nhất thiết trí. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận, nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chúng con đã hỏi Thế Tôn về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Thế Tôn đã trả lời cho chúng con về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận, nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chúng con hỏi Thế Tôn về chư Thiên (Adhideve) và Thế Tôn đã trả lời về chư Thiên. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chúng con hỏi Thế Tôn về Phạm thiên và Thế Tôn đã trả lời về Phạm thiên. Câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận nên làm chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, và những điều gì chúng con hỏi Thế Tôn, vấn đề ấy Thế Tôn đã trả lời, và câu trả lời ấy làm cho chúng con thoải mái, được chúng con chấp nhận nên chúng con hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi. Chúng con có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.

– Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

-ooOoo

Từ ngữ:

  • sa môn / samana / recluse: Người tu hành khổ hạnh hoặc tu sĩ nói chung trong các truyền thống tôn giáo Ấn Độ cổ, không nhất thiết là Phật giáo.
  • bà la môn / brahmin / brahmin: Thành viên của giai cấp tu sĩ và học giả trong hệ thống bốn giai cấp xã hội Ấn Độ cổ.
  • toàn tri và toàn kiến / omniscient and all-seeing: Biết tất cả và thấy tất cả. Trong kinh này, Đức Phật phủ nhận khả năng biết và thấy tất cả mọi thứ đồng thời.
  • tri kiến toàn hảo / complete knowledge and vision: Sự hiểu biết và thấy biết đầy đủ, hoàn chỉnh. Thường liên quan đến trí tuệ giác ngộ.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý phổ quát, quy luật tự nhiên.
  • giai cấp / castes: Các tầng lớp xã hội phân chia theo dòng dõi và nghề nghiệp ở Ấn Độ cổ. Kinh này đề cập bốn giai cấp chính: Sát-đế-lỵ (Khattiya - quý tộc/chiến binh), Bà-la-môn (Brahmana - tu sĩ/học giả), Phệ-xá (Vessa - thương nhân/nông dân), Thủ-đà-la (Sudda - lao động/tôi tớ).
  • yếu tố nỗ lực / factors of striving: Các yếu tố cần thiết cho sự tinh tấn, nỗ lực tu tập để đạt giải thoát. Kinh này liệt kê năm yếu tố: đức tin, sức khỏe, chân thật, tinh tấn, trí tuệ.
  • tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Vị sư nam đã thọ giới cụ túc (giới cao nhất) trong Phật giáo Theravada.
  • giác ngộ / bodhi / enlightenment: Sự tỉnh thức hoàn toàn, sự hiểu biết thấu suốt về bản chất của thực tại, chấm dứt khổ đau.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, có thể hiểu là “Người đã đến như vậy” (đến với chân lý) hoặc “Người đã đi như vậy” (đi đến Niết Bàn).
  • ứng cúng / arahant / accomplished: Bậc xứng đáng được cúng dường, một trong 9 ân đức của Phật. Cũng là danh hiệu chỉ người đã đạt Niết Bàn.
  • chánh biến tri / sammāsambuddha / fully enlightened: Bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn mọi pháp, một trong 9 ân đức của Phật.
  • minh hạnh túc / vijjācaraṇasampanna / perfect in true knowledge and conduct: Bậc đầy đủ trí tuệ (minh) và đức hạnh (hạnh), một trong 9 ân đức của Phật.
  • thiện thệ / sugata / sublime (well-gone): Bậc đã đi một cách tốt đẹp đến Niết Bàn, một trong 9 ân đức của Phật.
  • thế gian giải / lokavidū / knower of worlds: Bậc hiểu biết rõ về thế gian (chúng sinh và môi trường), một trong 9 ân đức của Phật.
  • vô thượng sĩ điều ngự trượng phu / anuttaro purisadammasārathi / incomparable leader of persons to be tamed: Bậc tối cao có khả năng giáo hóa, dẫn dắt những người cần được điều phục, một trong 9 ân đức của Phật.
  • thiên nhân sư / satthā devamanussānaṃ / teacher of gods and humans: Bậc thầy của cả trời và người, một trong 9 ân đức của Phật.
  • Phật / buddha / enlightened: Bậc đã giác ngộ, một trong 9 ân đức của Phật.
  • Thế Tôn / bhagavā / blessed: Bậc được tôn kính, đấng có đầy đủ phước đức và trí tuệ, một trong 9 ân đức của Phật.
  • đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống trong sạch, thanh tịnh, không dâm dục, thường chỉ đời sống của tu sĩ hoặc người thực hành Bát quan trai giới.
  • pháp bất thiện / akusala dhamma / unwholesome states: Những trạng thái tâm tiêu cực, có hại, dẫn đến khổ đau (tham, sân, si…).
  • pháp thiện / kusala dhamma / wholesome states: Những trạng thái tâm tích cực, có lợi, dẫn đến an vui (vô tham, vô sân, vô si, tín, tấn, niệm, định, tuệ…).
  • trí tuệ về sự sinh diệt / udayabbaya-ñāṇa / wisdom regarding rise and disappearance: Trí tuệ thiền quán thấy rõ sự sinh khởi và hoại diệt liên tục của các pháp hữu vi (thân và tâm).
  • đoạn tận khổ đau / dukkhakkhaya / complete destruction of suffering: Sự chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau, đồng nghĩa với Niết Bàn.
  • giải thoát / vimutti / deliverance: Sự giải thoát khỏi mọi ràng buộc của phiền não, nghiệp và vòng luân hồi sinh tử.
  • chư thiên / deva / gods: Các vị trời sống ở các cõi trời Dục giới và Sắc giới, có phước báo và tuổi thọ dài hơn con người nhưng vẫn trong vòng luân hồi.
  • còn phiền não / sa-upādisesa / subject to affliction: Trạng thái vẫn còn chịu sự chi phối của phiền não (tham, sân, si…), nghiệp và do đó vẫn còn tái sinh trong luân hồi.
  • không còn phiền não / anupādisesa / no longer subject to affliction: Trạng thái đã đoạn trừ hoàn toàn phiền não, không còn tái sinh. Thường chỉ trạng thái Niết Bàn của bậc A-la-hán sau khi chết (vô dư y Niết Bàn).
  • Chư thiên cõi Ba Mươi Ba / Tāvatiṃsa / gods of the Thirty-three: Cõi trời thứ hai trong sáu cõi trời Dục giới, nằm trên đỉnh núi Tu-di (Sumeru), do trời Đế Thích (Sakka) cai quản.
  • Phạm thiên / Brahmā / Brahmās: Các vị trời ở các cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới, cao hơn các cõi trời Dục giới, có thiền định sâu sắc và tuổi thọ rất dài, nhưng vẫn có thể còn trong vòng luân hồi nếu chưa đoạn tận phiền não.
  • sự toàn tri / sabbaññutā / omniscience: Khả năng biết tất cả mọi thứ. Đức Phật khẳng định mình có trí tuệ biết rõ những gì cần biết để giải thoát, nhưng không phải biết tất cả mọi thứ cùng một lúc.
  • sự thanh tịnh / visuddhi / purification: Sự trong sạch, không còn ô nhiễm bởi phiền não. Trong Phật giáo, thanh tịnh là quá trình và kết quả của tu tập giới-định-tuệ.