Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 91. Kinh Brahmāyu

(Brahmāyu Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn du hành ở xứ Videha cùng với đại chúng tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư), khoảng năm trăm vị.

2. Lúc bấy giờ, bà la môn Brahmāyu sống tại thành Mithilā. Ông đã già, tuổi cao, nhiều năm trôi qua, cuộc đời đã đến giai đoạn cuối; ông đã một trăm hai mươi tuổi. Ông tinh thông Ba Kinh Vệ Đà cùng với từ vựng, nghi lễ, ngữ âm, từ nguyên, và lịch sử là phần thứ năm; ông giỏi về ngữ văn và văn phạm, thông suốt triết học tự nhiên và các tướng của bậc Đại Nhân. [^850]

3. Bà la môn Brahmāyu nghe rằng: “Sa môn Gotama, người con của dòng họ Thích Ca, xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đang du hành ở xứ Videha cùng với đại chúng tỳ kheo, khoảng năm trăm vị. Tiếng lành về Tôn giả Gotama đã được đồn xa như sau: ‘Thế Tôn là bậc ứng cúng (accomplished-arahant-người xứng đáng được cúng dường), chánh đẳng giác (fully enlightened-người giác ngộ hoàn toàn), minh hạnh túc (perfect in true knowledge and conduct-người hoàn hảo về trí tuệ và đức hạnh), thiện thệ (sublime-người khéo đi), thế gian giải (knower of worlds-người hiểu biết thế gian), vô thượng sĩ điều ngự trượng phu (incomparable leader of persons to be tamed-bậc tối cao dẫn dắt người cần được huấn luyện), thiên nhân sư (teacher of gods and humans-thầy của trời và người), Phật (enlightened-người giác ngộ), Thế Tôn (blessed-người được tôn kính).’ Ngài tuyên bố về thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, thế hệ này với các sa môn và bà la môn, với các hoàng tử và dân chúng, điều mà Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (direct knowledge-trí tuệ trực tiếp). Ngài giảng dạy Giáo Pháp (Dhamma-lời dạy của Đức Phật) tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, với ý nghĩa và lời lẽ đúng đắn, và Ngài trình bày một đời sống phạm hạnh (holy life-đời sống trong sạch, cao thượng) hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh. Thật tốt đẹp thay khi được gặp những bậc A la hán (arahants-những người đã đạt được giải thoát hoàn toàn) như vậy.” [134]

4. Lúc bấy giờ, bà la môn Brahmāyu có một học trò bà la môn trẻ tên là Uttara, người cũng tinh thông Ba Kinh Vệ Đà… thông suốt triết học tự nhiên và các tướng của bậc Đại Nhân. Ông bảo học trò của mình: “Này Uttara thân mến, Sa môn Gotama, người con của dòng họ Thích Ca, xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đang du hành ở xứ Videha cùng với đại chúng tỳ kheo, khoảng năm trăm vị… Thật tốt đẹp thay khi được gặp những bậc A la hán như vậy. Này Uttara thân mến, hãy đến gặp Sa môn Gotama và tìm hiểu xem tiếng đồn về ngài có đúng sự thật hay không, và Tôn giả Gotama có phải là người như vậy hay không. Như vậy, qua con, chúng ta sẽ biết về Tôn giả Gotama.”

5. “Nhưng thưa thầy, làm sao con có thể tìm hiểu được tiếng đồn về Tôn giả Gotama có đúng sự thật hay không, và Tôn giả Gotama có phải là người như vậy hay không?”

“Này Uttara thân mến, ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân đã được truyền lại trong các bài thánh ca của chúng ta, và bậc Đại Nhân nào sở hữu những tướng này chỉ có hai vận mệnh khả dĩ, không có vận mệnh nào khác. [^851] Nếu ngài sống đời tại gia, ngài sẽ trở thành một Chuyển Luân Thánh Vương, một vị vua công chính cai trị bằng Giáo Pháp, làm chủ bốn phương, toàn thắng, ổn định đất nước và sở hữu bảy báu vật. Ngài có bảy báu vật này: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, người nữ báu, gia chủ báu, và tướng quân báu là thứ bảy. [^852] Con cái của ngài, hơn một ngàn người, đều dũng cảm, anh hùng, và đè bẹp quân đội của kẻ khác; ngài cai trị khắp trái đất này cho đến tận bờ đại dương mà không cần dùng đến roi gậy, không cần dùng đến vũ khí, chỉ bằng Giáo Pháp. Nhưng nếu ngài từ bỏ đời sống tại gia, sống đời không nhà, ngài sẽ trở thành một Bậc Ứng Cúng, một Bậc Chánh Đẳng Giác, người vén lên bức màn che trong thế gian. [^853] Nhưng ta, này Uttara thân mến, là người truyền tụng các bài thánh ca; con là người tiếp nhận chúng.”

6. “Vâng, thưa thầy,” người học trò đáp. Anh đứng dậy khỏi chỗ ngồi, và sau khi đảnh lễ bà la môn Brahmāyu, giữ ông ở bên phải mình, anh lên đường đến xứ Videha, nơi Thế Tôn đang du hành. [135] Đi qua nhiều chặng đường, anh đến gặp Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi cuộc nói chuyện lịch sự và thân mật kết thúc, anh ngồi xuống một bên và tìm kiếm ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân trên thân thể Thế Tôn. Anh thấy, gần như đầy đủ, ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân trên thân thể Thế Tôn, ngoại trừ hai tướng; anh nghi ngờ và không chắc chắn về hai tướng đó, và anh không thể quyết định và xác định được chúng: về bộ phận sinh dục nam được bao bọc trong vỏ và về lưỡi rộng lớn.

Lúc đó, Thế Tôn nghĩ rằng: “Người học trò bà la môn Uttara này thấy, gần như đầy đủ, ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân trên ta, ngoại trừ hai tướng; anh ta nghi ngờ và không chắc chắn về hai tướng đó, và anh ta không thể quyết định và xác định được chúng: về bộ phận sinh dục nam được bao bọc trong vỏ và về lưỡi rộng lớn.”

7. Sau đó, Thế Tôn đã thực hiện một thần thông (supernormal power-năng lực phi thường) đến nỗi người học trò bà la môn Uttara thấy được bộ phận sinh dục nam của Thế Tôn được bao bọc trong vỏ (âm mã tàng - male organ enclosed in a sheath - bộ phận sinh dục nam được bao bọc trong vỏ). [^854] Tiếp theo, Thế Tôn đưa lưỡi ra, liên tục chạm vào cả hai lỗ tai và cả hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che phủ toàn bộ trán của mình.

8. Lúc đó, người học trò bà la môn Uttara nghĩ: “Sa môn Gotama sở hữu ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân. Hay là mình nên theo dõi Sa môn Gotama và quan sát hành vi của ngài?”

Sau đó, anh đã theo dõi Thế Tôn trong bảy tháng như hình với bóng, không bao giờ rời xa Ngài. Sau bảy tháng ở xứ Videha, anh lên đường trở về Mithilā, nơi bà la môn Brahmāyu đang ở. Khi đến nơi, anh đảnh lễ ông và ngồi xuống một bên. Lúc đó, bà la môn Brahmāyu hỏi anh: “Này Uttara thân mến, tiếng đồn về Tôn giả Gotama [136] có đúng sự thật không? Và Tôn giả Gotama có phải là người như vậy không?”

9. "Thưa thầy, tiếng đồn về Tôn giả Gotama là đúng sự thật, không sai khác; và Tôn giả Gotama đúng là người như vậy, không sai khác. Ngài sở hữu ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân.

Tôn giả Gotama đặt bàn chân xuống bằng phẳng - đây là một tướng của bậc Đại Nhân ở Tôn giả Gotama.

Trên lòng bàn chân của ngài có hình bánh xe với ngàn căm, vành và trục đầy đủ…

Ngài có gót chân nhô ra…

Ngài có ngón tay và ngón chân dài…

Tay chân ngài mềm mại…

Ngài có tay chân có màng lưới…

Mu bàn chân ngài cong…

Ngài có chân như chân nai…

Khi ngài đứng thẳng không cúi, lòng bàn tay của cả hai tay chạm và xoa được đầu gối…

Bộ phận sinh dục nam của ngài được bao bọc trong vỏ…

Ngài có màu da như vàng, da ngài có ánh vàng…

Ngài có da mịn màng, và vì da mịn màng nên bụi bẩn không bám vào thân ngài…

Lông trên thân ngài mọc riêng lẻ, mỗi sợi lông mọc một mình trong một lỗ chân lông…

Đầu lông trên thân ngài hướng lên trên; lông hướng lên có màu xanh đen, màu thuốc vẽ mắt, xoăn và xoay về bên phải…

Ngài có thân thể thẳng như Phạm thiên…

Ngài có bảy chỗ đầy đặn… [^855]

Ngài có thân trên như sư tử…

Chỗ lõm giữa hai vai ngài đầy đặn…

Ngài có thân cân đối như cây bàng; sải tay bằng chiều cao thân, và chiều cao thân bằng sải tay…

Cổ và vai ngài cân đối…

Khả năng nếm vị của ngài cực kỳ nhạy bén… [^856]

Ngài có hàm như sư tử…[137]

Ngài có bốn mươi cái răng…

Răng ngài đều…

Răng ngài không có kẽ hở…

Răng ngài rất trắng…

Ngài có lưỡi rộng lớn…

Ngài có giọng nói như Phạm âm, như tiếng chim Ca Lăng Tần Già…

Mắt ngài màu xanh đậm…

Ngài có lông mi như lông mi bò…

Ngài có lông mọc giữa hai chân mày, màu trắng và óng ánh như bông gòn mềm…

Đầu ngài có hình như chiếc khăn xếp - đây là một tướng của bậc Đại Nhân ở Tôn giả Gotama. [^857]

Tôn giả Gotama sở hữu ba mươi hai tướng này của bậc Đại Nhân.

10. "Khi đi, ngài bước chân phải trước. Ngài không bước chân quá xa hay đặt chân xuống quá gần. Ngài đi không quá nhanh cũng không quá chậm. Ngài đi mà hai đầu gối không chạm vào nhau. Ngài đi mà hai mắt cá chân không chạm vào nhau. Ngài đi mà không nhấc hay hạ đùi, không khép hay dạng đùi ra. Khi đi, chỉ có phần dưới của thân ngài chuyển động, và ngài đi không cần gắng sức. Khi quay lại nhìn, ngài quay cả người. Ngài không nhìn thẳng lên trời; ngài không nhìn thẳng xuống đất. Ngài không vừa đi vừa nhìn quanh. Ngài nhìn về phía trước một khoảng bằng chiều dài ách cày; xa hơn khoảng đó, ngài có tri kiến không bị cản trở.

11. "Khi vào nhà, ngài không nhấc hay hạ thân mình, không cúi về phía trước hay ngả về phía sau. [138] Ngài quay người không quá xa cũng không quá gần chỗ ngồi. Ngài không chống tay lên ghế. Ngài không thả người xuống ghế.

12. "Khi ngồi trong nhà, ngài không nghịch tay. Ngài không nghịch chân. Ngài không ngồi bắt chéo đầu gối. Ngài không ngồi bắt chéo mắt cá chân. Ngài không ngồi chống tay lên cằm. Khi ngồi trong nhà, ngài không sợ hãi, không run rẩy, không lo lắng. Vì không sợ hãi, không run rẩy hay lo lắng, lông tóc ngài không dựng đứng và ngài chú tâm vào sự ẩn dật.

13. "Khi nhận nước rửa bát, ngài không nâng hay hạ bát, không nghiêng bát về phía trước hay phía sau. Ngài nhận nước không quá ít cũng không quá nhiều. Ngài rửa bát không gây tiếng động éclab éclab. Ngài rửa bát không xoay tròn bát. Ngài không đặt bát xuống sàn để rửa tay: khi tay được rửa sạch, bát cũng được rửa sạch; và khi bát được rửa sạch, tay cũng được rửa sạch. Ngài đổ nước rửa bát không quá xa cũng không quá gần và không đổ vung vãi.

14. "Khi nhận cơm, ngài không nâng hay hạ bát, không nghiêng bát về phía trước hay phía sau. Ngài nhận cơm không quá ít cũng không quá nhiều. Ngài thêm thức ăn kèm với tỷ lệ vừa phải; ngài không dùng quá nhiều thức ăn kèm trong một miếng ăn. Ngài nhai miếng cơm hai hoặc ba lần trong miệng rồi mới nuốt, và không hạt cơm nào vào cơ thể mà chưa được nhai kỹ, và không hạt cơm nào còn sót lại trong miệng; sau đó ngài mới dùng miếng khác. Ngài dùng thức ăn, cảm nhận vị ngon, nhưng không tham đắm (attachment-sự dính mắc, ham muốn) vị ngon đó. Thức ăn ngài dùng có tám yếu tố: không phải để vui đùa, không phải để say sưa, không phải vì vẻ đẹp thể chất và sự hấp dẫn, mà chỉ để duy trì và bảo tồn cơ thể này, để chấm dứt sự khó chịu, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh; [139] ngài quán xét: ‘Như vậy, ta sẽ chấm dứt cảm giác cũ mà không khởi lên cảm giác mới, và ta sẽ khỏe mạnh, không bị chê trách và sống thoải mái.’ [^1858]

15. "Khi đã ăn xong và nhận nước rửa bát, ngài không nâng hay hạ bát, không nghiêng bát về phía trước hay phía sau. Ngài nhận nước không quá ít cũng không quá nhiều. Ngài rửa bát không gây tiếng động éclab éclab. Ngài rửa bát không xoay tròn bát. Ngài không đặt bát xuống sàn để rửa tay: khi tay được rửa sạch, bát cũng được rửa sạch; và khi bát được rửa sạch, tay cũng được rửa sạch. Ngài đổ nước rửa bát không quá xa cũng không quá gần và không đổ vung vãi.

16. "Khi đã ăn xong, ngài đặt bát xuống sàn không quá xa cũng không quá gần; và ngài không bất cẩn với cái bát cũng không quá lo lắng về nó.

17. "Khi đã ăn xong, ngài ngồi im lặng một lúc, nhưng không để lỡ thời gian chúc phúc (tùy hỷ công đức). [^839] Khi đã ăn xong và chúc phúc, ngài không làm vậy để chỉ trích bữa ăn hay mong đợi một bữa ăn khác; ngài hướng dẫn, khuyến khích, làm phấn chấn, và làm vui lòng thính chúng bằng bài pháp thuần túy về Giáo Pháp. Sau khi làm vậy, ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

18. "Ngài đi không quá nhanh cũng không quá chậm, và ngài không đi như người muốn trốn đi.

19. "Y của ngài được mặc không quá cao cũng không quá thấp trên thân, không quá bó sát vào thân, cũng không quá rộng thùng thình, và gió không thổi bay y khỏi thân ngài. Bụi bẩn không làm bẩn thân ngài.

20. "Khi đến tu viện, ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống xong, ngài rửa chân, mặc dù ngài không bận tâm đến việc chăm sóc đôi chân. Rửa chân xong, ngài ngồi xếp bằng, giữ thân thẳng đứng, và an trú chánh niệm (mindfulness-sự chú tâm, tỉnh giác) trước mặt. Ngài không để tâm đến việc tự hành hạ bản thân, hay hành hạ người khác, hay hành hạ cả hai; ngài ngồi với tâm hướng đến hạnh phúc của chính mình, hạnh phúc của người khác, và hạnh phúc của cả hai, thậm chí là hạnh phúc của toàn thế giới. [140]

21. "Khi đến tu viện, ngài giảng Giáo Pháp cho thính chúng. Ngài không tâng bốc cũng không khiển trách thính chúng đó; ngài hướng dẫn, khuyến khích, làm phấn chấn, và làm vui lòng họ bằng bài pháp thuần túy về Giáo Pháp. Lời nói phát ra từ miệng ngài có tám phẩm chất: rõ ràng, dễ hiểu, du dương, dễ nghe, vang vọng, êm ái, sâu lắng, và hùng hồn. Nhưng trong khi giọng nói của ngài có thể nghe rõ trong phạm vi thính chúng, lời nói của ngài không vượt ra ngoài phạm vi đó. Khi mọi người đã được ngài hướng dẫn, khuyến khích, làm phấn chấn, và làm vui lòng, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi, chỉ nhìn theo ngài và không bận tâm đến điều gì khác.

22. “Thưa thầy, chúng con đã thấy Tôn giả Gotama đi, chúng con đã thấy ngài đứng, chúng con đã thấy ngài vào nhà, chúng con đã thấy ngài ngồi im lặng trong nhà sau khi ăn, chúng con đã thấy ngài chúc phúc sau khi ăn, chúng con đã thấy ngài đi đến tu viện trong im lặng, chúng con đã thấy ngài ở tu viện giảng Giáo Pháp cho thính chúng. Tôn giả Gotama là như vậy; ngài là như thế, và còn hơn thế nữa.” [^860]

23. Khi nghe vậy, bà la môn Brahmāyu đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay kính lễ hướng về Thế Tôn và thốt lên ba lần: “Kính lễ Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác! Kính lễ Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác! Kính lễ Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác! Mong rằng một lúc nào đó chúng ta có thể gặp được Tôn giả Gotama, mong rằng chúng ta có thể trò chuyện đôi lời với ngài.”

24. Sau đó, trong quá trình du hành, Thế Tôn cuối cùng đã đến Mithilā. Tại đó, Thế Tôn trú tại Vườn Xoài Makhādeva. Các gia chủ bà la môn ở Mithilā nghe tin: [141] “Sa môn Gotama, người con của dòng họ Thích Ca, xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đã du hành ở xứ Videha cùng với đại chúng tỳ kheo, khoảng năm trăm vị, và nay đã đến Mithilā và đang trú tại Vườn Xoài Makhādeva. Tiếng lành về Tôn giả Gotama đã được đồn xa như sau…(như trong §3 ở trên)…Thật tốt đẹp thay khi được gặp những bậc A la hán như vậy.”

25. Sau đó, các gia chủ bà la môn ở Mithilā đến gặp Thế Tôn. Một số người đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên; một số người chào hỏi Ngài, và sau khi cuộc nói chuyện lịch sự và thân mật kết thúc, ngồi xuống một bên; một số người chắp tay kính lễ hướng về Ngài và ngồi xuống một bên; một số người xưng tên và dòng họ trước sự hiện diện của Thế Tôn và ngồi xuống một bên; một số người giữ im lặng và ngồi xuống một bên.

26. Bà la môn Brahmāyu nghe tin: “Sa môn Gotama, người con của dòng họ Thích Ca, xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đã đến Mithilā và đang trú tại Vườn Xoài Makhādeva ở Mithilā.”

Sau đó, bà la môn Brahmāyu cùng với một số học trò bà la môn đến Vườn Xoài Makhādeva. Khi đến Vườn Xoài, ông nghĩ: “Thật không phải phép nếu ta đến gặp Sa môn Gotama mà không báo trước.” Rồi ông nói với một học trò bà la môn: “Này con, học trò bà la môn, hãy đến gặp Sa môn Gotama và nhân danh ta hỏi thăm xem Sa môn Gotama có được khỏe mạnh, ít bệnh tật, mạnh khỏe, và an trú thoải mái không, hãy nói rằng: ‘Thưa Tôn giả Gotama, bà la môn Brahmāyu hỏi thăm Tôn giả Gotama có được khỏe mạnh… an trú thoải mái không,’ và nói thêm điều này: ‘Thưa Tôn giả Gotama, bà la môn Brahmāyu đã già, tuổi cao, nhiều năm trôi qua, cuộc đời đã đến giai đoạn cuối; ông đã một trăm hai mươi tuổi. Ông tinh thông Ba Kinh Vệ Đà cùng với từ vựng, nghi lễ, ngữ âm, từ nguyên, và lịch sử là phần thứ năm; ông giỏi về ngữ văn và văn phạm, thông suốt triết học tự nhiên và các tướng của bậc Đại Nhân. Trong tất cả các gia chủ bà la môn sống ở Mithilā, bà la môn Brahmāyu được xem là người đứng đầu về tài sản, về kiến thức thánh ca, về tuổi tác và danh tiếng. [142] Ông ấy muốn được gặp Tôn giả Gotama.’”

“Vâng, thưa thầy,” người học trò bà la môn đáp. Anh đến gặp Thế Tôn và chào hỏi Ngài, và sau khi cuộc nói chuyện lịch sự và thân mật kết thúc, anh đứng sang một bên và truyền đạt lời nhắn. [Thế Tôn nói:]

“Bây giờ là lúc bà la môn Brahmāyu có thể làm những gì ông ấy thấy phù hợp.”

27. Sau đó, người học trò bà la môn đến gặp bà la môn Brahmāyu và nói: “Sa môn Gotama đã cho phép. Thưa thầy, bây giờ là lúc thầy có thể làm những gì thầy thấy phù hợp.”

Vì vậy, bà la môn Brahmāyu đến gặp Thế Tôn. Hội chúng thấy ông từ xa đi tới, và họ lập tức nhường đường cho ông như đối với một người nổi tiếng và có danh vọng. Sau đó, bà la môn Brahmāyu nói với hội chúng: “Đủ rồi, thưa quý vị, xin mỗi người hãy ngồi vào chỗ của mình. Tôi sẽ ngồi đây bên cạnh Sa môn Gotama.”

28. Sau đó, ông đến gặp Thế Tôn và chào hỏi Ngài, và sau khi cuộc nói chuyện lịch sự và thân mật kết thúc, ông ngồi xuống một bên và tìm kiếm ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân trên thân thể Thế Tôn. [143] Ông thấy, gần như đầy đủ, ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân trên thân thể Thế Tôn, ngoại trừ hai tướng; ông nghi ngờ về hai tướng đó, và ông không thể quyết định và xác định được chúng: về bộ phận sinh dục nam được bao bọc trong vỏ và về lưỡi rộng lớn.

29. Sau đó, bà la môn Brahmāyu nói kệ với Thế Tôn:

"Ba mươi hai tướng con từng học, Là dấu hiệu của bậc Đại Nhân – Con vẫn chưa thấy rõ hai tướng Trên thân Ngài đó, Gotama.

Phải chăng vật cần che bằng vải Ẩn trong vỏ bọc, hỡi Đấng Tối Cao? Dù gọi bằng từ giống cái, [^861] Lưỡi Ngài có lẽ là lưỡi hùng anh?

Lưỡi Ngài có lẽ cũng rộng lớn, Theo như điều chúng con được dạy? Xin Ngài hãy le lưỡi ra một chút Để giải tan nghi hoặc, hỡi Bậc Tiên Tri.

Vì lợi lạc ngay trong đời này Và hạnh phúc trong các đời sau. Và giờ chúng con xin phép hỏi Điều mà chúng con hằng mong biết."

30. Lúc đó, Thế Tôn nghĩ rằng: “Bà la môn Brahmāyu này thấy, gần như đầy đủ, ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân trên ta, ngoại trừ hai tướng; ông ta nghi ngờ và không chắc chắn về hai tướng đó, và ông ta không thể quyết định và xác định được chúng: về bộ phận sinh dục nam được bao bọc trong vỏ và về lưỡi rộng lớn.”

Sau đó, Thế Tôn đã thực hiện một thần thông đến nỗi bà la môn Brahmāyu thấy được bộ phận sinh dục nam của Thế Tôn được bao bọc trong vỏ. Tiếp theo, Thế Tôn đưa lưỡi ra, liên tục chạm vào cả hai lỗ tai và cả hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che phủ toàn bộ trán của mình.

31. Sau đó, Thế Tôn nói những câu kệ này để đáp lại bà la môn Brahmāyu: "Ba mươi hai tướng ông từng học, Là dấu hiệu của bậc Đại Nhân – Tất cả đều có trên thân Ta: Vậy, bà la môn, đừng nghi nữa.

Điều cần biết đã được thắng tri, Điều cần tu đã được tu tập, Điều cần bỏ đã được đoạn trừ, Vì thế, bà la môn, Ta là Phật. [^862] [144]

Vì lợi lạc ngay trong đời này Và hạnh phúc trong các đời sau, Vì đã được phép, xin ông hỏi Bất cứ điều gì ông mong biết."

32. Lúc đó, bà la môn Brahmāyu nghĩ: “Sa môn Gotama đã cho phép ta. Ta nên hỏi ngài về điều gì: điều tốt đẹp trong đời này hay điều tốt đẹp trong các đời sau?” Rồi ông nghĩ: “Ta giỏi về điều tốt đẹp trong đời này, và những người khác cũng hỏi ta về điều tốt đẹp trong đời này. Tại sao ta không chỉ hỏi ngài về điều tốt đẹp trong các đời sau?” Sau đó, ông nói kệ với Thế Tôn:

"Làm sao để trở thành bà la môn? Và làm sao để đạt được tri kiến? [^863] Làm sao để có được tam minh? Và làm sao để trở thành bậc thánh học?

Làm sao để trở thành A la hán? Và làm sao để đạt được viên mãn (completeness-sự hoàn hảo, trọn vẹn)? Làm sao là bậc ẩn sĩ trầm lặng (muni)? Và làm sao có thể được gọi là Phật?"864

33. Sau đó, Thế Tôn nói những câu kệ này để đáp lại:

"Người biết rõ các kiếp quá khứ, Thấy thiên đường và các cõi khổ (states of deprivation-những cảnh giới đau khổ, thiếu thốn), Và đã đạt đến sự đoạn tận sinh tử (birth’s destruction-sự chấm dứt hoàn toàn việc sinh ra và chết đi) – Một bậc trí tuệ biết bằng thắng trí, Biết tâm mình đã được thanh tịnh (purified-làm cho trong sạch), Hoàn toàn giải thoát khỏi mọi tham ái (lust-sự ham muốn dục lạc mãnh liệt), Đã từ bỏ sinh và tử, Đã viên mãn trong đời sống phạm hạnh, Đã siêu việt (transcended-vượt lên trên) mọi thứ – Người như vậy được gọi là Phật."865

34. Khi nghe vậy, bà la môn Brahmāyu đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt thượng y qua một bên vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và ông hôn lên chân Thế Tôn, vuốt ve chân Ngài bằng tay, và xưng tên mình: “Con là bà la môn Brahmāyu, thưa Tôn giả Gotama; con là bà la môn Brahmāyu, thưa Tôn giả Gotama.”

35. Những người trong hội chúng kinh ngạc và thán phục, họ nói: “Thật kỳ diệu, thưa quý vị, thật phi thường, Sa môn Gotama có năng lực và uy đức vĩ đại biết bao, khiến cho bà la môn Brahmāyu nổi tiếng và danh vọng lại thể hiện sự khiêm nhường đến thế!”

Sau đó, Thế Tôn nói với bà la môn Brahmāyu: [145] “Đủ rồi, bà la môn, hãy đứng dậy; hãy ngồi vào chỗ của ông vì tâm ông đã có niềm tin nơi Ta.”

Bà la môn Brahmāyu liền đứng dậy và ngồi vào chỗ của mình.

36. Thế Tôn sau đó đã thuyết pháp tuần tự (progressive instruction-sự hướng dẫn theo trình tự từ thấp đến cao) cho ông, tức là, thuyết về bố thí, thuyết về giới hạnh, thuyết về các cõi trời; Ngài giải thích sự nguy hiểm, thấp kém, và ô nhiễm của các dục lạc và lợi ích của sự từ bỏ (renunciation-sự khước từ, xuất ly). Khi Ngài biết tâm của bà la môn Brahmāyu đã sẵn sàng, dễ tiếp thu, không còn chướng ngại (hindrances-nīvaraṇa-những trạng thái tâm ngăn cản thiền định và trí tuệ), phấn khởi, và tràn đầy niềm tin, Ngài đã trình bày cho ông giáo lý đặc biệt của chư Phật: khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ. Giống như một tấm vải sạch đã loại bỏ hết vết bẩn sẽ thấm đều thuốc nhuộm, cũng vậy, ngay khi bà la môn Brahmāyu ngồi đó, pháp nhãn (vision of the Dhamma-con mắt thấy Pháp) trong sạch, không tỳ vết khởi lên trong ông: “Tất cả những gì có tính sinh khởi đều có tính đoạn diệt.” Sau đó, bà la môn Brahmāyu thấy Giáo Pháp, đạt được Giáo Pháp, hiểu Giáo Pháp, thâm nhập Giáo Pháp; ông vượt qua nghi ngờ (doubt-vicikicchā-sự hoài nghi, phân vân), hết phân vân, đạt được sự vững tin, và trở nên độc lập không phụ thuộc vào người khác trong Giáo Pháp của Bậc Đạo Sư.

37. Sau đó, ông nói với Thế Tôn: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách, như thể Ngài dựng đứng lại những gì bị đổ ngã, tiết lộ những gì bị che giấu, chỉ đường cho người bị lạc, hay giơ cao ngọn đèn trong bóng tối cho những người có mắt để thấy các hình sắc. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo Pháp và quy y chúng Tăng tỳ kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhớ con là một cư sĩ tại gia (upāsaka-nam Phật tử tại gia) đã quy y Ngài trọn đời. Xin Thế Tôn cùng với chúng Tăng tỳ kheo nhận lời mời dùng bữa ngày mai của con.”

Thế Tôn im lặng nhận lời. Sau đó, biết rằng Thế Tôn đã nhận lời, bà la môn Brahmāyu đứng dậy khỏi chỗ ngồi, và sau khi đảnh lễ Thế Tôn, giữ Ngài ở bên phải mình, ông rời đi.

38. Sau đó, khi đêm đã tàn, bà la môn Brahmāyu cho chuẩn bị nhiều loại thức ăn ngon tại nhà mình, và ông cho người báo thời gian đến Thế Tôn: “Đã đến giờ, thưa Tôn giả Gotama, bữa ăn đã sẵn sàng.” [146]

Rồi, vào buổi sáng, Thế Tôn mặc y, mang bát và thượng y, cùng với chúng Tăng tỳ kheo đến nhà của bà la môn Brahmāyu và ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, trong một tuần lễ, bà la môn Brahmāyu đã tự tay phục vụ và làm hài lòng chúng Tăng tỳ kheo do Đức Phật dẫn đầu bằng nhiều loại thức ăn ngon.

39. Cuối tuần lễ đó, Thế Tôn lên đường du hành ở xứ Videha. Không lâu sau khi Ngài đi, bà la môn Brahmāyu qua đời. Sau đó, một số tỳ kheo đến gặp Thế Tôn, và sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên và nói: “Bạch Thế Tôn, bà la môn Brahmāyu đã qua đời. Đích đến của ông ấy là gì? Tương lai của ông ấy sẽ ra sao?”

“Này các tỳ kheo, bà la môn Brahmāyu là người có trí tuệ, ông ấy đã đi vào con đường của Giáo Pháp, và ông ấy đã không làm phiền Ta trong việc giải thích Giáo Pháp. Với sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (five lower fetters-năm trói buộc đầu tiên khiến chúng sinh tái sinh trong cõi dục), ông ấy đã hóa sinh (reappeared spontaneously-tái sinh không qua thai bào) [trong các Cõi Tịnh Cư (Pure Abodes-các cõi trời dành cho bậc Bất Lai)] và sẽ đạt được Niết Bàn cuối cùng (final Nibbāna-sự giải thoát hoàn toàn khỏi vòng sinh tử) tại đó, không bao giờ trở lại thế giới này nữa.”

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Các tỳ kheo hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của Thế Tôn.

91. KINH BRAHMÀYU

91. KINH BRAHMÀYU (Brahmàyu Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Brahmayu trú tại Mithila (Di-tát-la) già yếu, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, tuổi đã đến một trăm hai mươi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng.

Bà-la-môn Brahmayu có nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”.

Lúc bấy giờ đệ tử của Bà-la-môn Brahmayu là thanh niên Uttara, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Rồi Bà-la-môn Brahmayu bảo thanh niên Uttara:

– Này Uttara thân mến, Sa-môn Gotama này là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị"… Tốt đẹp thay được yết kiến một vị A-la-hán như vậy. Uttara thân mến, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy tìm hiểu Sa-môn Gotama, có phải là Tôn giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải, hay là Tôn giả Gotama như thế này, hay là không phải như thế này. Chính nhờ Ông mà chúng ta sẽ biết về Tôn giả Gotama.

– Thưa Tôn giả, làm sao tôi biết Tôn giả Gotama có phải là Tôn giả Gotama như tiếng đã đồn, hay là không phải, hay là Tôn giả Gotama như thế này, hay là không phải như thế này?

– Này Uttara thân mến, theo Thánh điển của chúng ta được truyền lại về ba mươi hai Ðại nhân tướng, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn một trong hai con đường, không có con đường nào khác: nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với Chánh pháp, không dùng gậy, không dùng đao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la- hán, Chánh Ðẳng Giác quét sạch mê lầm ở đời. Này Uttara thân mến, ta đã cho con chú thuật, con đã nhận những chú thuật ấy.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Thanh niên Uttara vâng đáp Bà-la-môn Brahmayu, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Bà-la-môn Brahmayu, giữ thân hướng về phía hữu, rồi ra đi du hành đến Thế Tôn ở Videha, tuần tự du hành đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi

thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Uttara tìm xem ba mươi hai Ðại nhân tướng trên thân Thế Tôn. Thanh niên Uttara thấy trên thân Thế Tôn phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng, trừ hai tướng. Ðối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.

Rồi Thế Tôn nghĩ rằng: “Thanh niên Uttara này thấy ở nơi Ta phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng, trừ hai tướng. Ðối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”.

Thế Tôn liền dùng thần thông khiến thanh niên Uttara thấy được tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai; rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vùng trán.

Rồi thanh niên Uttara suy nghĩ: “Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai Ðại nhân tướng. Vậy ta hãy theo sát Sa-môn Gotama để dò xem các uy nghi (của Ngài)”. Rồi thanh niên Uttara trong bảy tháng theo sát Thế Tôn như bóng không bao giờ rời hình.

Rồi thanh niên Uttara, sau bảy tháng, khởi hành đi đến Mithila ở Videha, tuần tự du hành đi đến Mithila, rồi đi đến Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đến, đảnh lễ Bà-la-môn Brahmayu rồi ngồi xuống một bên. Bà- la-môn Brahmayu nói với thanh niên Uttara đang ngồi một bên:

– Này Uttara thân mến, có phải tiếng đồn về Tôn giả Gotama là đúng như vậy, không phải khác, có phải Tôn giả Gotama là như vậy, không phải khác ?

– Tiếng đồn về Tôn giả Gotama là đúng như vậy, không phải khác, Tôn giả Gotama là như vậy, không phải khác. Và Tôn giả Gotama ấy có đầy đủ ba mươi hai Ðại nhân tướng. Tôn giả Gotama có lòng bàn chân bằng phẳng. Ðây là Ðại nhân tướng của Ðại nhân Tôn giả Gotama. Dưới hai bàn chân Tôn giả Gotama, có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ. Tôn giả Gotama có gót chân thon dài. Tôn giả Gotama có ngón tay, ngón chân dài. Tôn giả Gotama có tay chân mềm mại. Tôn giả Gotama tay chân có màn da lưới. Tôn giả Gotama có mắt cá tròn như con sò. Tôn giả Gotama có ống chân to như con dê rừng. Tôn giả Gotama đứng thẳng, không cong lưng xuống có thể rờ đầu gối với hai bàn tay. Tôn giả Gotama có tướng mã âm tàng. Tôn giả Gotama có màu da như đồng, màu sắc như vàng. Tôn giả Gotama có da trơn mướt khiến bụi không có thể bám dính vào. Tôn giả Gotama có lông da mọc từng lỗ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông. Tôn giả Gotama có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt. Tôn giả Gotama có thân hình cao thẳng. Tôn giả Gotama có bảy chỗ tròn đầy. Tôn giả Gotama có nửa thân trước như thân con sư tử. Tôn giả Gotama không có lõm khuyết xuống giữa hai vai. Tôn giả Gotama có thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao thân ngang bằng bề dài hai tay sải rộng, bề dài hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân. Tôn giả Gotama có bán thân trên vuông tròn. Tôn giả Gotama có vị giác hết sức sắc bén. Tôn giả Gotama có quai hàm như con sư tử. Tôn giả Gotama có bốn mươi răng. Tôn giả Gotama có răng đều đặn. Tôn giả Gotama có răng không khuyết hở. Tôn giả Gotama có răng cửa trơn láng. Tôn giả Gotama có tướng lưỡi rộng dài. Tôn giả Gotama có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim ca-lăng- tần-già (karavika). Tôn giả Gotama có hai mắt màu xanh đậm. Tôn giả Gotama có lông mi con bò cái. Tôn giả Gotama, giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên mịn màng như bông nhẹ. Tôn giả Gotama có nhục kế trên đầu. Ðây là Ðại nhân tướng của Ðại nhân Tôn giả Gotama.

Khi Tôn giả Gotama đi, Ngài bước chân mặt trước, không đặt chân xuống quá xa, không rút chân lên quá gần, không bước quá mau, không bước quá chậm, khi đi đầu gối không va chạm đầu gối, khi đi mắt cá không va chạm mắt cá; Ngài đi không co bắp vế lên, không duỗi bắp vế xuống, không đưa bắp vế vào

trong, không đưa bắp vế ra ngoài. Khi đi Tôn giả Gotama chỉ di động phần thân ở dưới, và không dùng toàn thân lực. Khi ngó quanh, Tôn giả Gotama ngó quanh với toàn thân. Khi đi không có ngưỡng mặt lên, không cúi mặt xuống, không có ngó quanh, và chỉ ngó xuống khoảng một tầm (yugamattam, bề dài một cái cày). Xa hơn, tri kiến được mở rộng (anavatam: không bị che đậy).

Khi đi vào nhà, (Tôn giả Gotama) không ngửa thân về phía sau, không cúi thân về phía trước, không đưa thân về phía trong, không đưa thân về phía ngoài; vị ấy quay lưng không quá xa ghế ngồi, không quá gần ghế ngồi; ngồi trên ghế, không nắm chặt thành ghế, không gieo thân ngồi xuống ghế.

Khi ngồi trong nhà. Ngài không rung tay, không rung chân, không ngồi tréo đầu gối với nhau, tréo mắt cá với nhau, không ngồi tay chống cằm. Khi ngồi trong nhà, không có sợ hãi, không có run rẩy, không có dao động, không có hoảng hốt. Như vậy Tôn giả Gotama ngồi, không sợ hãi, không run sợ, không dao động, không hoảng hốt, lông tóc không dựng ngược, Thiền tịnh độc cư.

Khi nhận nước để rửa bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát, không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát, không đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bát cũng rửa xong, khi bát rửa xong, tay cũng rửa xong. Ngài đổ nước bình bát không quá xa, không quá gần, và không vẩy nước cùng khắp.

Khi Ngài nhận cơm, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm không quá ít, không quá nhiều. Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị. Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn”.

Ngài ăn xong lấy nước rửa bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát, không có đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bình bát cũng rửa xong, khi bình bát rửa xong, hai tay cũng rửa xong. Ngài đổ nước bình bát, không quá xa, không quá gần, không vẩy nước cùng khắp.

Khi ăn xong, Ngài đặt bình bát xuống đất, không quá xa, không quá gần, không phải không nghĩ đến bình bát, cũng không quá lo cho bình bát.

Khi ăn xong, Ngài ngồi im lặng một lát nhưng không để quá thì giờ nói lời tùy hỷ (công đức). Ngài nói lời tùy hỷ (công đức), không chỉ trích bữa ăn ấy, không mong bữa ăn khác; trái lại, Ngài với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ngài sau khi với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Ngài đi không quá mau, không quá chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng ấy.

Tôn giả Gotama đắp y không kéo lên quá cao trên thân, không kéo xuống quá thấp, không dính sát vào thân, không có lơi ra khỏi thân, gió thổi không thoát y khỏi thân Tôn giả Gotama; bụi nhớp không dính trên thân Tôn giả Gotama.

Ði đến tu viện, Ngài ngồi trên ghế đã soạn sẵn, sau khi ngồi liền rửa chân, và Tôn giả Gotama không sống chú tâm vào công việc làm đẹp hai chân. Ngài ngồi kiết già, lưng thẳng, và đặt niệm trước mặt. Ngài không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai. Tôn giả Gotama ngồi, tâm hướng đến lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới.

Ði đến tu viện, Ngài thuyết pháp cho hội chúng, không tán dương hội chúng ấy, không chỉ trích hội chúng ấy, trái lại với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Tiếng nói thoát ra từ miệng Tôn giả Gotama có tám đức tánh; lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Khi Tôn giả Gotama giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi hội chúng. Hội chúng sau khi được Tôn giả Gotama khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho thích thú, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi vẫn quay nhìn lại, không muốn rời bỏ.

Chúng con thấy Tôn giả Gotama đi. Chúng con thấy (Tôn giả) đứng. Chúng con thấy (Tôn giả) ngồi im lặng trong nhà. Chúng con thấy (Tôn giả) ăn trong nhà. Chúng con thấy (Tôn giả) sau khi ăn xong, ngồi im lặng. Chúng con thấy (Tôn giả) sau khi ăn xong, nói lời tùy hỷ (công đức). Chúng con thấy (Tôn giả) đi trở về tu viện. Chúng con thấy (Tôn giả) đi đến tu viện ngồi im lặng. Chúng con thấy (Tôn giả) đi đến tu viện thuyết pháp cho hội chúng. Như vậy, và như vậy là Tôn giả Gotama ấy và lại còn nhiều hơn như vậy nữa.

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Brahmayu từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và ba lần nói lời cảm hứng sau đây:

– Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác! Có thể tại một chỗ nào, thời gian nào, chúng tôi sẽ đi đến gặp Tôn giả Gotama ấy. Có lẽ sẽ có một cuộc nói chuyện.

Rồi Thế Tôn, tuần tự du hành ở Videha và đi đến Mithila. Ở đấy, Thế Tôn trú tại rừng xoài Makhadeva ở Mithila. Các Bà-la-môn, Gia chủ ở Mithila nghe nói: "Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị đã đến Mithila và hiện trú ở rừng xoài Makhadeva, tại Mithila. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài tuyên dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”.

Rồi các Bà-la-môn, Gia chủ ở Mithila đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên những lời chào đón hỏi thăm Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một số chắp tay hướng vái Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số xưng danh họ rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng rồi ngồi xuống một bên.

Bà-la-môn Brahmayu nghe như sau: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đã đến Mithila và trú ở Mithila tại rừng xoài Makhadeva”. Rồi Bà-la-môn Brahmayu đi đến rừng xoài Makhadeva cùng với một số đông thanh niên Bà-la-môn. Khi đến không xa rừng xoài bao nhiêu, Bà-la- môn Brahmayu khởi lên ý nghĩ: “Thật không thích đáng cho ta đến yết kiến Sa-môn Gotama mà không báo trước”. Rồi Bà-la-môn Brahmayu bảo một người thanh niên:

– Này Thanh niên, hãy đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy nhân danh ta hỏi thăm Sa-môn Gotama có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú: "Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Brahmayu hỏi thăm Tôn giả Gotama có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú và thưa như sau: “Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Brahmayu già yếu, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, tuổi đã đến một trăm hai mươi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Thưa Tôn giả, đối với các Bà-la-môn, Gia chủ sống tại Mithila, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện tài sản, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện chú thuật (manta), Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện tuổi tác và danh vọng. Vị ấy muốn yết kiến Tôn giả Gotama”.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Thanh niên ấy vâng đáp Bà-la-môn Brahmayu, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên. Ðứng một bên, thanh niên ấy bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Brahmayu hỏi thăm Tôn giả Gotama có ít bệnh, ít não, khinh an, có mạnh khỏe, lạc trú: “Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Brahmayu già yếu… và Ðại nhân tướng. Thưa Tôn giả, đối với các Bà-la-môn, Gia chủ sống ở Mithila, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện tài sản, Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện chú thuật (manta), Bà-la-môn Brahmayu được xem là tối thượng về phương diện tuổi tác và danh vọng. Vị ấy muốn yết kiến Tôn giả Gotama”.

– Này Thanh niên, nay Bà-la-môn Brahmayu hãy làm những gì vị ấy nghĩ là hợp thời.

Rồi vị thanh niên ấy đi đến Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đến, liền thưa với Bà-la-môn Brahmayu:

– Tôn giả đã được Sa-môn Gotama chấp nhận. Nay Tôn giả hãy làm những gì Tôn giả nghĩ là hợp thời.

Rồi Bà-la-môn Brahmayu đi đến Thế Tôn. Hội chúng ấy thấy Bà-la-môn Brahmayu từ xa đi đến, sau khi thấy liền tránh chỗ hai bên vì vị này được nhiều người biết đến và có danh vọng. Bà-la-môn Brahmayu nói với hội chúng ấy:

– Thôi vừa rồi, các Tôn giả, hãy ngồi trên chỗ ngồi của mình. Ở đây, tôi sẽ ngồi gần Sa-môn Gotama.

Rồi Bà-la-môn Brahmayu đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà- la-môn Brahmayu tìm xem ba mươi hai Ðại nhân tướng trên thân Thế Tôn. Bà-la-môn Brahmayu thấy phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng, đối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài. Rồi Bà-la-môn Brahmayu nói với Thế Tôn những bài kệ sau đây:

Tôn giả Gotama! Ba hai Ðại nhân tướng, Con được nghe nói đến, Hai tướng con không thấy Trên thân của Tôn giả, Tôn giả, mã âm tàng, Bậc tối thượng loài Người,

Ngài có hay không có? Hay là tướng nữ nhân? Hay lưỡi Ngài quá ngắn? Hay lưỡi Ngài rộng dài? Ðể con như thật biết. Hãy đưa lưỡi Ngài ra, Mong bậc Ðại Tiên Nhân, Trừ nghi cho chúng con, Vì an lạc hiện tại, Vì hạnh phúc tương lai, Chúng con xin được phép, Hỏi điều muốn được biết.

Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Bà-la-môn Brahmayu này thấy trên thân Ta phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng, trừ hai tướng, đối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là mã tướng âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”. Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn Brahmayu thấy được tướng mã âm tàng của Thế Tôn, và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai; rờ đến liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vùng trán.

Rồi Thế Tôn trả lời Bà-la-môn Brahmayu với bài kệ:

Ba hai Ðại nhân tướng, Ông đã được nghe đến, Ðều có trên thân Ta, Hiền giả, chớ có nghi !

Ðiều cần biết, đã biết, Ðiều cần tu, đã tu, Ðiều cần trừ, đã trừ, Do vậy, Ta là Phật. (Này Bà-la-môn ! )

Vì an lạc hiện tại, Vì hạnh phúc tương lai, Ông được phép vấn hỏi, Những điều Ông muốn biết.

Rồi Bà-la-môn Brahmayu suy nghĩ như sau: “Nay Sa-môn Gotama đã cho phép ta. Vậy ta nên hỏi Sa- môn Gotama về mục đích hiện tại hay tương lai”. Rồi Bà-la-môn Brahmayu suy nghĩ: “Ta đã thiện xảo về mục đích hiện tại và các người khác hỏi ta về mục đích hiện tại. Vậy ta hãy hỏi Sa-môn Gotama về mục đích tương lai”. Rồi Bà-la-môn Brahmayu dùng bài kệ thưa Thế Tôn:

Thế nào (là) Bà-la-môn? Thế nào thông Vệ-đà? Thế nào là ba minh? Thế nào gọi cát tường? Thế nào là ứng cúng? Thế nào bậc Viên mãn? Thế nào bậc Mâu-ni? Thế nào gọi Phật-đà?

Rồi Thế Tôn dùng bài kệ trả lời Bà-la-môn Brahmayu:

Ai biết được đời trước, Thấy thiện thú, ác thú, Ðoạn tận được tái sanh, Thắng trí được viên thành, Vị ấy gọi Mâu-ni.

Ai biết tâm thanh tịnh, Giải thoát gọi tham dục, Sanh tử đều đoạn tận, Phạm hạnh được viên thành, Thông đạt nhứt thiết pháp, Vị ấy xưng Phật-đà.

Khi được nghe vậy, Bà-la-môn Brahmayu từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu xuống dưới chân Thế Tôn, dùng miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, lấy tay rờ xung quanh và tự xưng danh:

– Thưa Tôn giả Gotama, con là Bà-la-môn Brahmayu.

Và hội chúng ấy tâm tư trở thành kinh dị, vi diệu: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay, đại uy lực, đại thần lực của vị Sa-môn đã khiến cho Bà-la-môn Brahmayu này, với danh tiếng, danh vọng như vậy, lại hạ mình tối đa như vậy”. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Brahmayu:

– Thôi vừa rồi, Bà-la-môn, hãy đứng dậy. Ông hãy ngồi trên ghế của Ông vì tâm của Ông đã hoan hỷ đối với Ta.

Rồi Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đứng dậy, liền ngồi trên ghế của mình. Rồi Thế Tôn thứ lớp thuyết pháp cho Bà-la-môn Brahmayu, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi Trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la- môn Brahmayu đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Brahmayu: “Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt”. Bà-la-môn Brahmayu thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tin, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Brahmayu liền bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng! Mong Tôn giả Gotama ngày mai nhận lời mời của con đến dùng cơm với chúng Tỷ- kheo!

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Bà-la-môn Brahmayu khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Bà-la-môn Brahmayu sau khi đêm ấy đã mãn, sau khi đã sửa soạn tại trú xá của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, liền báo thì giờ cho Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, nay đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng”. Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, lấy y bát, đi đến trú xá của Bà-la-môn Brahmayu, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn với chúng Tỷ-kheo. Bà-la-môn Brahmayu tự tay làm cho chúng Tỷ- kheo với đức Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn bằng những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

Rồi Thế Tôn sau bảy ngày liền khởi sự du hành ở Videha. Sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, Bà-la- môn Brahmayu mệnh chung. Một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bà-la-môn Brahmayu đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì, tương lai tái sanh thế nào?

– Này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu là bậc hiền triết. Vị ấy theo Pháp đúng với Chánh pháp, không có phiền nhiễu Ta với những kiện cáo về Chánh pháp (Dhammadhikaranam). Này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không có trở lui đời này nữa.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc, thành viên của Tăng đoàn.
  • ứng cúng / arahant / accomplished one: Bậc giác ngộ đã đoạn trừ mọi phiền não, xứng đáng được cúng dường. Thường được dịch là A la hán.
  • chánh đẳng giác / sammāsambuddha / fully enlightened one: Bậc giác ngộ hoàn toàn, tự mình tìm ra chân lý và dạy cho chúng sinh, như Đức Phật Gotama.
  • minh hạnh túc / vijjācaraṇasampanna / perfect in true knowledge and conduct: Người hoàn hảo về trí tuệ (minh) và đức hạnh (hạnh).
  • thiện thệ / sugata / sublime, well-gone: Người đã đi một cách tốt đẹp đến Niết Bàn, hoặc người nói lời chân thật, hữu ích.
  • thế gian giải / lokavidū / knower of worlds: Người hiểu biết rõ về các thế giới (chúng sinh, cảnh giới).
  • vô thượng sĩ điều ngự trượng phu / anuttaro purisadammasārathi / incomparable leader of persons to be tamed: Bậc tối cao không ai sánh bằng trong việc dẫn dắt, huấn luyện những người cần được điều phục.
  • thiên nhân sư / satthā devamanussānaṃ / teacher of gods and humans: Bậc thầy của cả trời và người.
  • Phật / Buddha / enlightened one: Bậc Giác Ngộ, người đã tỉnh thức hoàn toàn.
  • Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Bậc được tôn kính, một danh hiệu tôn trọng dành cho Đức Phật.
  • thắng trí / abhiññā / direct knowledge: Trí tuệ trực tiếp, siêu việt, có được qua tu tập thiền định và tuệ quán.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý phổ quát.
  • đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống trong sạch, cao thượng, thường liên quan đến việc tu tập giải thoát, đặc biệt là đời sống xuất gia.
  • A la hán / arahant / arahant: Bậc giác ngộ đã giải thoát hoàn toàn khỏi vòng sinh tử, đã đoạn trừ mọi phiền não.
  • thần thông / iddhi / supernormal power: Năng lực phi thường, vượt ngoài khả năng thông thường, có được qua tu tập thiền định.
  • âm mã tàng / kosohita-vatthaguyha / male organ enclosed in a sheath: Một trong 32 tướng tốt của bậc Đại Nhân, chỉ bộ phận sinh dục nam được bao bọc trong một lớp vỏ.
  • tham đắm / taṇhā (trong ngữ cảnh này, liên quan đến vị giác) / attachment (to taste), craving: Sự dính mắc, ham muốn, đặc biệt là sự ham thích vị ngon của thức ăn.
  • chánh niệm / sati / mindfulness: Sự chú tâm, tỉnh giác, nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại mà không phán xét.
  • thuyết pháp tuần tự / anupubbikathā / progressive instruction: Phương pháp giảng dạy của Đức Phật, bắt đầu từ những điều cơ bản (bố thí, trì giới, cõi trời) rồi đến những giáo lý cao hơn (Tứ Diệu Đế).
  • từ bỏ / nekkhamma / renunciation: Sự khước từ, từ bỏ đời sống thế tục hoặc từ bỏ các dục lạc để tu tập.
  • chướng ngại / nīvaraṇa / hindrances: Năm trạng thái tâm tiêu cực (tham dục, sân hận, hôn trầm-thụy miên, trạo cử-hối quá, nghi ngờ) ngăn cản sự tiến bộ trong thiền định và trí tuệ.
  • pháp nhãn / dhammacakkhu / vision of the Dhamma, Dhamma-eye: Con mắt trí tuệ thấy được Giáo Pháp, đặc biệt là thấy được chân lý về sự sinh diệt của vạn vật, đánh dấu sự chứng ngộ dòng Thánh (Nhập Lưu).
  • nghi ngờ / vicikicchā / doubt, perplexity: Sự hoài nghi, phân vân, thiếu niềm tin vững chắc vào Tam Bảo và con đường tu tập, một trong năm chướng ngại và một trong ba kiết sử đầu tiên bị đoạn trừ khi chứng quả Nhập Lưu.
  • cư sĩ tại gia / upāsaka / lay follower (male): Nam Phật tử tại gia, người đã quy y Tam Bảo nhưng không xuất gia.
  • năm hạ phần kiết sử / pañca orambhāgiyāni saṃyojanāni / five lower fetters: Năm trói buộc đầu tiên (thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận) khiến chúng sinh tái sinh trong cõi Dục. Đoạn trừ năm kiết sử này sẽ chứng quả Bất Lai (Anāgāmī).
  • hóa sinh / opapātika / spontaneous reappearance: Hình thức tái sinh không qua thai bào, thường xảy ra ở các cõi trời hoặc địa ngục.
  • Cõi Tịnh Cư / Suddhāvāsa / Pure Abodes: Năm cõi trời cao nhất trong Sắc giới, chỉ dành riêng cho các bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmī) tái sinh vào đó và đạt Niết Bàn tại đó.
  • Niết Bàn cuối cùng / Parinibbāna / final Nibbāna: Sự tịch diệt hoàn toàn, sự chấm dứt cuối cùng của mọi khổ đau và vòng sinh tử, xảy ra khi một vị Phật hoặc A la hán qua đời.
  • viên mãn / kevala (trong ngữ cảnh này) / completeness, perfection: Sự hoàn hảo, trọn vẹn, thường chỉ sự hoàn thành đời sống phạm hạnh, đạt đến giải thoát cuối cùng.
  • cõi khổ / apāya / states of deprivation, woeful states: Các cảnh giới đau khổ, bất hạnh bao gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, và a-tu-la.
  • sự đoạn tận sinh tử / jātikkhaya / destruction of birth: Sự chấm dứt hoàn toàn việc tái sinh trong vòng luân hồi, đồng nghĩa với việc đạt được Niết Bàn.
  • thanh tịnh / visuddha / purified, pure: Sự trong sạch, không còn ô nhiễm bởi phiền não.
  • siêu việt / atīta (trong ngữ cảnh này) / transcended, gone beyond: Vượt lên trên, vượt qua khỏi phạm vi của thế gian, phiền não.
  • bốn sự thật cao quý / cattāri ariya saccāni / four noble truths: Bốn sự thật mà Đức Phật đã giác ngộ, nền tảng của Phật giáo: Khổ (dukkha), Nguồn gốc của khổ (samudāya), Sự diệt khổ (nirodha), Con đường đưa đến sự diệt khổ (magga).