Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 97. Kinh Gửi Dhānañjāni

(Dhānañjāni Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại thành Vương Xá (Rājagaha), trong Rừng Trúc, Khu Nuôi Sóc (Veluvana Kalandakanivāpa).

2. Khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) đang du hành ở vùng Đồi Phương Nam cùng với một Tăng đoàn đông đảo các tỳ kheo (bhikkhus - các vị sư nam đã thọ giới cụ túc). Lúc đó, một vị tỳ kheo [185] đã an cư mùa mưa tại thành Vương Xá, tìm đến Tôn giả Xá Lợi Phất ở vùng Đồi Phương Nam và chào hỏi ngài. Sau khi thăm hỏi xã giao thân tình xong, vị ấy ngồi xuống một bên và Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi vị ấy: “Này hiền giả, Thế Tôn vẫn khỏe mạnh chứ?”

“Thưa Tôn giả, Thế Tôn vẫn khỏe mạnh.”

“Tăng đoàn các tỳ kheo vẫn khỏe mạnh chứ, hiền giả?”

“Thưa Tôn giả, Tăng đoàn các tỳ kheo cũng vẫn khỏe mạnh.”

“Này hiền giả, có một vị Bà-la-môn tên là Dhānañjāni sống ở thành Vương Xá, tại cổng Tandulapāla. Vị Bà-la-môn Dhānañjāni đó vẫn khỏe mạnh chứ?”

“Thưa Tôn giả, vị Bà-la-môn Dhānañjāni đó cũng vẫn khỏe mạnh.”

“Này hiền giả, ông ấy có tinh tấn không?”

“Làm sao ông ấy có thể tinh tấn được, thưa Tôn giả? Ông ấy lợi dụng danh nghĩa nhà vua để bóc lột các gia chủ Bà-la-môn, và lợi dụng danh nghĩa các gia chủ Bà-la-môn để bóc lột nhà vua. Người vợ có đức tin (faith - niềm tin vào Tam Bảo và nghiệp báo) và xuất thân từ gia tộc có đức tin của ông ấy đã qua đời, và ông ấy đã cưới một người vợ khác, một phụ nữ không có đức tin, xuất thân từ gia tộc không có đức tin.”

“Đây quả là tin xấu mà chúng ta nghe được, hiền giả. Thật là tin xấu khi nghe rằng Bà-la-môn Dhānañjāni đã trở nên phóng dật (negligent - sự lơ là, không chú tâm vào việc thiện). Có lẽ một lúc nào đó chúng ta có thể gặp Bà-la-môn Dhānañjāni và trò chuyện với ông ấy.”

3. Sau đó, sau khi lưu lại vùng Đồi Phương Nam tùy ý, Tôn giả Xá Lợi Phất lên đường du hành về hướng thành Vương Xá. Du hành qua nhiều chặng, cuối cùng ngài cũng đến thành Vương Xá và trú tại Rừng Trúc, Khu Nuôi Sóc.

4. Rồi vào buổi sáng, Tôn giả Xá Lợi Phất đắp y, mang bát, vào thành Vương Xá để khất thực. [186] Lúc đó, Bà-la-môn Dhānañjāni đang cho vắt sữa bò trong chuồng bò bên ngoài thành. Sau khi Tôn giả Xá Lợi Phất đi khất thực trong thành Vương Xá về, sau bữa ăn, ngài đến gặp Bà-la-môn Dhānañjāni. Bà-la-môn Dhānañjāni thấy Tôn giả Xá Lợi Phất từ xa đi tới, liền đến gặp ngài và nói: “Kính mời Tôn giả Xá Lợi Phất dùng chút sữa tươi này, bây giờ vẫn còn giờ dùng bữa.”

“Thôi đủ rồi, này Bà-la-môn, hôm nay tôi đã dùng bữa xong. Tôi sẽ ở lại gốc cây kia để nghỉ ngơi ban ngày. Ông có thể đến đó.”

“Vâng, thưa ngài,” ông ấy đáp.

5. Rồi sau khi dùng bữa sáng xong, Bà-la-môn Dhānañjāni đến gặp Tôn giả Xá Lợi Phất và chào hỏi ngài. Sau khi thăm hỏi xã giao thân tình xong, ông ngồi xuống một bên và Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi ông: “Này Dhānañjāni, ông có tinh tấn không?”

“Làm sao chúng tôi có thể tinh tấn được, thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, khi chúng tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ, vợ con, nô tỳ, người làm công; khi phải làm bổn phận với bạn bè, thân quyến, khách khứa, tổ tiên đã khuất, chư thiên, và nhà vua; và khi tấm thân này cũng cần được bồi bổ, nuôi dưỡng?”

6. “Này Dhānañjāni, ông nghĩ sao? Giả sử có người ở đây hành xử trái Pháp (contrary to the Dhamma - đi ngược lại lời dạy của Đức Phật, làm điều sai trái), phi pháp (unrighteously - không đúng đắn, bất chính) vì cha mẹ mình, rồi vì hành vi đó mà bị các quản ngục địa ngục lôi xuống địa ngục. Liệu người đó có thể [tự cứu mình bằng cách van xin]: ‘Tôi đã hành xử trái Pháp, phi pháp là vì cha mẹ tôi, xin các quản ngục địa ngục đừng [lôi tôi] xuống địa ngục’ không? [187] Hay cha mẹ người đó có thể [cứu con mình bằng cách van xin]: ‘Nó đã hành xử trái Pháp, phi pháp là vì chúng tôi, xin các quản ngục địa ngục đừng [lôi nó] xuống địa ngục’ không?”

“Không, thưa Tôn giả Xá Lợi Phất. Dù người đó có kêu la, các quản ngục địa ngục vẫn sẽ quăng người đó vào địa ngục.”

7-15. “Này Dhānañjāni, ông nghĩ sao? Giả sử có người ở đây hành xử trái Pháp, phi pháp vì vợ con… vì nô tỳ, người làm công… vì bạn bè… vì thân quyến… vì khách khứa… [188] vì tổ tiên đã khuất… vì chư thiên… vì nhà vua… vì bồi bổ, nuôi dưỡng thân này, và vì hành vi đó mà bị các quản ngục địa ngục lôi xuống địa ngục. Liệu người đó có thể [tự cứu mình bằng cách van xin]: ‘Tôi đã hành xử trái Pháp, phi pháp là vì bồi bổ, nuôi dưỡng thân này, xin các quản ngục địa ngục đừng [lôi tôi] xuống địa ngục’ không? Hay những người khác có thể [cứu người đó bằng cách van xin]: ‘Nó đã hành xử trái Pháp, phi pháp là vì bồi bổ, nuôi dưỡng thân này, xin các quản ngục địa ngục đừng [lôi nó] xuống địa ngục’ không?”

“Không, thưa Tôn giả Xá Lợi Phất. Dù người đó có kêu la, các quản ngục địa ngục vẫn sẽ quăng người đó vào địa ngục.”

16. “Này Dhānañjāni, ông nghĩ sao? Giữa người vì cha mẹ mà hành xử trái Pháp, phi pháp, và người vì cha mẹ mà hành xử đúng Pháp (according to the Dhamma - thuận theo lời dạy của Đức Phật, làm điều đúng đắn), đúng đắn (righteously - chân chính, hợp lẽ phải), ai tốt hơn?”

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người vì cha mẹ mà hành xử trái Pháp, phi pháp, không tốt hơn; người vì cha mẹ mà hành xử đúng Pháp, đúng đắn, mới là người tốt hơn.”

“Này Dhānañjāni, có những công việc khác, vừa có lợi ích vừa phù hợp với Pháp, nhờ đó người ta có thể nuôi dưỡng cha mẹ, đồng thời tránh làm điều ác và thực hành điều thiện (practise merit - làm các việc tốt lành, tạo công đức).”

17-25. “Này Dhānañjāni, ông nghĩ sao? Ai tốt hơn, người vì vợ con… [189]… vì nô tỳ, người làm công… vì bạn bè… [190]… vì thân quyến… vì khách khứa… vì tổ tiên đã khuất… vì chư thiên… [191]… vì nhà vua… vì bồi bổ và nuôi dưỡng thân này mà hành xử trái Pháp, phi pháp, hay người vì bồi bổ và nuôi dưỡng thân này mà hành xử đúng Pháp, đúng đắn?”

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người vì bồi bổ và nuôi dưỡng thân này mà hành xử trái Pháp, phi pháp, không tốt hơn; người vì bồi bổ và nuôi dưỡng thân này mà hành xử đúng Pháp, đúng đắn, mới là người tốt hơn.”

“Này Dhānañjāni, có những công việc khác, vừa có lợi ích vừa phù hợp với Pháp, nhờ đó người ta có thể bồi bổ và nuôi dưỡng thân này, đồng thời tránh làm điều ác và thực hành điều thiện.”

26. Lúc đó, Bà-la-môn Dhānañjāni, sau khi hoan hỷ và vui mừng với lời dạy của Tôn giả Xá Lợi Phất, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.

27. Vào một dịp khác, Bà-la-môn Dhānañjāni bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Ông liền bảo một người: “Này bạn, [192] hãy đến gặp Thế Tôn, nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài và thưa: ‘Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhānañjāni đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh; ông ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Rồi hãy đến gặp Tôn giả Xá Lợi Phất, nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài và thưa: ‘Bạch Tôn giả, Bà-la-môn Dhānañjāni đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh; ông ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả.’ Rồi thưa tiếp: ‘Kính mong Tôn giả, vì lòng bi mẫn (compassion - lòng thương xót chúng sinh đang đau khổ), đến thăm nhà Bà-la-môn Dhānañjāni thì tốt biết mấy.’”

“Vâng, thưa ngài,” người đó đáp, rồi đi đến gặp Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn, người đó ngồi xuống một bên và truyền lại lời nhắn. Sau đó, người đó đến gặp Tôn giả Xá Lợi Phất, sau khi đảnh lễ Tôn giả Xá Lợi Phất, người đó truyền lại lời nhắn và thưa: “Kính mong Tôn giả, vì lòng bi mẫn, đến thăm nhà Bà-la-môn Dhānañjāni thì tốt biết mấy.” Tôn giả Xá Lợi Phất im lặng nhận lời.

28. Sau đó, Tôn giả Xá Lợi Phất đắp y, mang bát, đến nhà Bà-la-môn Dhānañjāni, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và nói với Bà-la-môn Dhānañjāni: “Này Bà-la-môn, tôi mong ông khỏe hơn, dễ chịu hơn. Mong rằng các cảm giác đau đớn của ông đang giảm bớt chứ không tăng lên, và sự giảm bớt ấy, chứ không phải sự tăng lên, là rõ ràng.”

29. “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, tôi không khỏe hơn, không dễ chịu hơn. Cảm giác đau đớn của tôi đang tăng lên, không giảm bớt; sự tăng lên của chúng, chứ không phải sự giảm bớt, là rõ ràng. Ví như [193] một người lực sĩ dùng gươm sắc bổ vào đầu tôi, cũng vậy, những cơn gió dữ dội cắt xuyên qua đầu tôi. Tôi không khỏe hơn… Ví như một người lực sĩ dùng dây da cứng siết chặt quanh đầu tôi như một vòng đeo đầu, cũng vậy, đầu tôi đau đớn dữ dội. Tôi không khỏe hơn… Ví như một người đồ tể lành nghề hay phụ việc của ông ta dùng dao mổ sắc bén rạch bụng bò, cũng vậy, những cơn gió dữ dội đang cắt xé bụng tôi. Tôi không khỏe hơn… Ví như hai người lực sĩ nắm hai tay một người yếu hơn mà nướng trên hố than hồng, cũng vậy, thân tôi nóng bỏng dữ dội. Tôi không khỏe hơn, không dễ chịu hơn. Cảm giác đau đớn của tôi đang tăng lên, không giảm bớt; sự tăng lên của chúng, chứ không phải sự giảm bớt, là rõ ràng.”

30. “Này Dhānañjāni, ông nghĩ sao? Cõi nào tốt hơn – địa ngục hay cõi súc sinh?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, cõi súc sinh tốt hơn.” “Cõi nào tốt hơn – cõi súc sinh hay cõi ngạ quỷ?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, cõi ngạ quỷ tốt hơn.” - “Cõi nào tốt hơn – cõi ngạ quỷ hay cõi người?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, cõi người tốt hơn.” [194] “Cõi nào tốt hơn – cõi người hay chư thiên ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, chư thiên ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương tốt hơn.” - “Cõi nào tốt hơn – chư thiên ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương hay chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa)?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba tốt hơn.” - “Cõi nào tốt hơn – chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba hay chư thiên Dạ Ma (Yāma)?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, chư thiên Dạ Ma tốt hơn.” “Cõi nào tốt hơn – chư thiên Dạ Ma hay chư thiên ở cõi trời Đâu Suất (Tusita)?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, chư thiên ở cõi trời Đâu Suất tốt hơn.” “Cõi nào tốt hơn – chư thiên ở cõi trời Đâu Suất hay chư thiên Hóa Lạc Thiên (Nimmānaratī)?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, chư thiên Hóa Lạc Thiên tốt hơn.” - “Cõi nào tốt hơn – chư thiên Hóa Lạc Thiên hay chư thiên Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paranimmitavasavattī)?” - “Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, chư thiên Tha Hóa Tự Tại Thiên tốt hơn.”

31. “Này Dhānañjāni, ông nghĩ sao? Cõi nào tốt hơn – chư thiên Tha Hóa Tự Tại Thiên hay cõi Phạm Thiên (Brahma-world - cõi trời của các vị Phạm Thiên, cảnh giới cao hơn các cõi trời dục giới)?” - “Tôn giả Xá Lợi Phất nói ‘cõi Phạm Thiên’. Tôn giả Xá Lợi Phất nói ‘cõi Phạm Thiên’.”

Lúc đó, Tôn giả Xá Lợi Phất nghĩ: “Các vị Bà-la-môn này rất hướng về cõi Phạm Thiên. Vậy ta hãy chỉ cho Bà-la-môn Dhānañjāni con đường để được sinh về cõi Phạm Thiên.” [Và ngài nói:] “Này Dhānañjāni, tôi sẽ chỉ cho ông con đường để được sinh về cõi Phạm Thiên. Hãy lắng nghe và chú ý kỹ những gì tôi sắp nói.” - “Vâng, thưa ngài,” ông ấy đáp. [195] Tôn giả Xá Lợi Phất nói như sau:

32. "Con đường để được sinh về cõi Phạm Thiên là gì? Này Dhānañjāni, ở đây, một vị tỳ kheo an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ (loving-kindness/mettā - tâm mong muốn cho tất cả chúng sinh được an lạc, hạnh phúc), cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư; như thế, cùng khắp thế giới, trên, dưới, ngang, khắp nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú, biến mãn thế giới với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không oán hận, không sân độc. Đây là con đường để được sinh về cõi Phạm Thiên.

33-35. “Lại nữa, này Dhānañjāni, một vị tỳ kheo an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng bi (compassion/karuṇā - tâm mong muốn cho tất cả chúng sinh thoát khỏi đau khổ)… với tâm thấm nhuần lòng hỷ (appreciative joy/muditā - tâm vui mừng với hạnh phúc, thành công của chúng sinh khác)… với tâm thấm nhuần lòng xả (equanimity/upekkhā - tâm giữ được sự bình thản, không thiên vị, không bám chấp hay ghét bỏ trước các trạng thái của chúng sinh), cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư; như thế, cùng khắp thế giới, trên, dưới, ngang, khắp nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú, biến mãn thế giới với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không oán hận, không sân độc. Đây cũng là con đường để được sinh về cõi Phạm Thiên.”

36. (Đánh số lại từ 33) “Vậy thì, thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, xin hãy nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và thưa: ‘Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhānañjāni đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh; ông ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’”

37. (Đánh số lại từ 33) Lúc đó, Tôn giả Xá Lợi Phất, sau khi đã giúp Bà-la-môn Dhānañjāni hướng tâm đến cõi Phạm Thiên thấp (inferior Brahma-world - cõi Phạm Thiên thuộc Sắc giới, nhưng chưa phải là cảnh giới giải thoát cuối cùng), đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi khi vẫn còn những điều cao hơn có thể giảng dạy. [^898] Không lâu sau khi Tôn giả Xá Lợi Phất rời đi, Bà-la-môn Dhānañjāni qua đời và tái sinh vào cõi Phạm Thiên.

38. (Đánh số lại từ 34) Lúc đó, Thế Tôn bảo các vị tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, Xá Lợi Phất, sau khi đã giúp Bà-la-môn Dhānañjāni hướng tâm đến cõi Phạm Thiên thấp, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi khi vẫn còn những điều cao hơn có thể giảng dạy.”

39. (Đánh số lại từ 38) Sau đó, Tôn giả Xá Lợi Phất đến gặp Thế Tôn, sau khi đảnh lễ ngài, liền ngồi xuống một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhānañjāni đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh; ông ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.”

“Này Xá Lợi Phất, sau khi đã giúp Bà-la-môn Dhānañjāni [196] hướng tâm đến cõi Phạm Thiên thấp, tại sao con lại từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi khi vẫn còn những điều cao hơn có thể giảng dạy?”

“Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ rằng: ‘Các vị Bà-la-môn này rất hướng về cõi Phạm Thiên. Vậy con hãy chỉ cho Bà-la-môn Dhānañjāni con đường để được sinh về cõi Phạm Thiên.’”

“Này Xá Lợi Phất, Bà-la-môn Dhānañjāni đã qua đời và đã tái sinh vào cõi Phạm Thiên.”[^899]

97. KINH DHÀNANJÀNI

97. KINH DHÀNANJÀNI (Dhànanjàni Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta đang du hành tại Dakkhinagiri (Nam Sơn) cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Một vị Tỷ-kheo sau khi an cư mùa mưa ở Rajagaha (Vương Xá) đi đến Dakkhinagiri đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sariputta, những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Sariputta nói với vị Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:

– Này Hiền giả, Thế Tôn có được không bệnh, mạnh khỏe không?

– Thưa Hiền giả, Thế Tôn không bệnh và được mạnh khỏe.

– Thưa Hiền giả, còn chúng Tỷ-kheo có được không bệnh và mạnh khỏe không?

– Thưa Hiền giả, chúng Tỷ-kheo cũng không bệnh và được mạnh khỏe.

– Ở đây, này Hiền giả, có Bà-la-môn tên là Dhananjani ở tại Tandulapala. Này Hiền giả, Bà-la-môn Dhananjani có được không bệnh và mạnh khỏe không?

– Thưa Hiền giả, Bà-la-môn Dhananjani cũng không bệnh và được mạnh khỏe.

– Này Hiền giả, Bà-la-môn Dhanajani có được không phóng dật không?

– Thưa Hiền giả, làm sao Bà-la-môn Dhannajani có thể không phóng dật được! Thưa Hiền giả, Bà-la- môn Dhananjani ỷ thế vua, bóc lột các Bà-la-môn gia chủ, ỷ thế các Bà-la-môn gia chủ, bóc lột vua. Người vợ trước của Bà-la-môn có thành tín, cưới từ một gia đình có thành tín đã từ trần. Người vợ sau không có thành tín và cưới từ một gia đình không có thành tín.

– Này Hiền giả, thật là một tin không tốt lành! Này Hiền giả, thật là một tin không tốt lành khi chúng ta được nghe Bà-la-môn Dhananjani phóng dật. Rất có thể chúng ta có dịp gặp Bà-la-môn Dhananjani, rất có thể sẽ có một cuộc đàm thoại.

Rồi Tôn giả Sariputta sau khi ở tại Dakkhinagiri cho đến khi vừa ý, liền khởi hành đi Rajagaha (Vương Xá), tuần tự du hành và đến tại Vương Xá. Ở đây, Tôn giả Sariputta trú ở Rajagaha, Veluvana, tại Kalandakanivapa.

Rồi Tôn giả Sariputta đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực. Lúc bấy giờ Bà-la- môn Dhananjani đang cho vắt sữa bò ở ngoài thành. Tôn giả Sariputta sau khi khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Bà-la-môn Dhananjani. Bà-la-môn Dhananjani thấy Tôn giả Sariputta từ xa đi tới, sau khi thấy, liền đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến liền thưa với Tôn giả Sariputta:

– Hãy uống sữa này và chờ cho đến giờ ăn cơm.

– Thôi vừa rồi, Bà-la-môn. Hôm nay ta đã ăn xong. Ta sẽ ngồi nghĩ trưa ở một góc cây. Ông có thể đến đó.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Dhananjani vâng đáp Tôn giả Sariputta. Rồi Bà-la-môn Dhananjani sau khi ăn sáng xong, liền đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sariputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Sariputta nói với Bà-la-môn Dhananjani đang ngồi một bên:

– Này Dhananjani, ông có không phóng dật không?

– Thưa Tôn giả Sariputta, làm sao chúng tôi có thể không phóng dật được, khi chúng tôi còn cha mẹ phải phụng dưỡng, còn vợ con phải nuôi dưỡng, còn đầy tớ, lao công phải nuôi dưỡng, còn có những trách nhiệm bạn bè thân hữu phải làm đối với bạn bè thân hữu, còn có những trách nhiệm bà con huyết thống phải làm đối với bà con huyết thống, còn có những trách nhiệm tân khách phải làm đối với tân khách, còn có những trách nhiệm tổ tiên phải làm đối với tổ tiên, còn có những trách nhiệm chư Thiên phải làm đối với chư Thiên, còn có những trách nhiệm vua chúa phải làm đối với vua chúa, lại còn thân này cần phải làm cho thỏa mãn và trưởng dưỡng!

– Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khi nói".Tôi vì cha mẹ đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục"? Hay cha mẹ của người ấy làm được gì khi nói: “Con chúng tôi vì cha mẹ đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo nó đến địa ngục”?

– Thưa không được, Tôn giả Sariputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.

– Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì vợ con làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khi nói: “Tôi vì vợ con đã làm các điều phi pháp, đã làm điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục”? Hay vợ con người ấy có làm được gì khi nói: " (Chồng, cha tôi) vì chúng tôi đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo (chồng, cha tôi) đến địa ngục"?

– Thưa không được, Tôn giả Sariputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.

– Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì đầy tớ lao công làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khó nói: “Tôi vì các đầy tớ lao công đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục”? Hay các đầy tớ lao công có làm được gì khi nói: " (Chủ chúng tôi) vì chúng tôi đã làm các điều phi pháp, đã làm các điều bất chánh. Chớ có để các địa ngục quân kéo (chủ chúng tôi) đến địa ngục"?

– Thưa không được, Tôn giả Sariputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.

– Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì bạn bè thân hữu… dầu người ấy có khóc than.

Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì các tân khách… dầu người ấy có khóc than.

Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vi tổ tiên… dầu người ấy có khóc than.

Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì chư Thiên … dầu người ấy có khóc than.

Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì vua chúa… dầu người ấy có khóc than.

Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì làm cho thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh. Do nhân duyên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh này, các địa ngục quân kéo người ấy đến địa ngục. Người ấy làm được gì khi người ấy nói: “Vì làm cho thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân, tôi đã làm các điều phi pháp, đã làm ra các điều bất chánh này. Chớ có để các địa ngục quân kéo tôi đến địa ngục”? Hay các người khác có làm được gì khi họ nói: “Vì làm cho thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân, người này làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh này. Chớ có để các địa ngục quân kéo nó đến địa ngục”?

– Thưa không được, Tôn giả Sariputta. Các địa ngục quân vẫn quăng người ấy xuống địa ngục, dầu người ấy có khóc than.

– Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể phụng dưỡng cha mẹ, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì vợ con làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì vợ con, làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, một người vì vợ con làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, một người vì vợ con làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi dưỡng vợ con, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì đầy tớ lao công làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì đầy tớ lao công làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì đầy tớ lao công làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì đầy tớ lao công làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi

dưỡng đầy tớ lao công, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì bạn bè thân hữu làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay là người vì bạn bè thân hữu làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vị bạn bè thân hữu làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì bạn bè thân hữu làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi dưỡng bạn bè thân hữu, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì bà con huyết thống làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì bà con huyết thống làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì bà con huyết thống làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì bà con huyết thống làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác, có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể nuôi dưỡng bà con huyết thống, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì tân khách làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay một người vì tân khách làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì tân khách làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì tân khách làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm các bổn phận tân khách đối với tân khách, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì tổ tiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay người vì tổ tiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì tổ tiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì tổ tiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm được những trách nhiệm tổ tiên phải làm đối với các tổ tiên, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Một người vì chư Thiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay người vì chư Thiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì chư Thiên làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì chư Thiên làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm

được các trách nhiệm chư Thiên, phải làm đối với chư Thiên, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Người vì vua chúa làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay người vì vua chúa làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì vua chúa làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì vua chúa làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, có thể làm các trách nhiệm vua chúa phải làm đối với vua chúa, không làm các điều ác, làm được các thiện hành. Này Dhananjani, Ông nghĩ thế nào? Người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay là người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân, làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, ai tốt đẹp hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp hơn. Và thưa Tôn giả Sariputta, người vì làm thỏa mãn, vì trưởng dưỡng cái thân làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sariputta, hành trì đúng pháp, hành trì chơn chánh tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh.

– Này Dhananjani, có những hành động khác có nhân, đúng pháp, với những hành động này có thể làm thỏa mãn, trưởng dưỡng cái thân, không làm các điều ác, làm được các thiện hành.

Bà-la-môn Dhananjani hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Bà-la-môn Dhananjani sau một thời gian bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Bà-la-môn Dhananjani cho gọi một người khác:

– Ông hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị bạo bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn”. Rồi Ông đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta, và thưa: "Thưa Tôn giả Sariputta, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa: “Tôn giả, lành thay nếu Tôn giả Sariputta đi đến trú xá của Bà-la-môn Dhananjani”.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Người ấy vâng theo lời Bà-la-môn Dhananjani, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Rồi đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sariputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sariputta:

– Thưa Tôn giả, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa: “Thưa tôn giả, lành thay nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ bi thương xót, đi đến trú xá của Bà-la-môn Dhananjani”.

Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát đi đến trú xá Bà-la-môn Dhananjani, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta hỏi Bà-la-môn Dhananjani:

– Ta mong, này Dhananjani, Ông có thể kham nhẫn; ta mong Ông có thể chịu đựng; ta mong khổ thọ được giảm thiểu, không có gia tăng, và sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng!

– Thưa Tôn giả Sariputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu. Và sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Tôn giả Sariputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, tôi bị cảm đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sariputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của tôi. Thưa Tôn giả Sariputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những thống khổ của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tổn giả Sariputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Thưa Tôn giả Sariputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Những khổ thống của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, sự gia tăng được rõ rệt, không có giảm thiểu.

– Này Dhananjani, địa ngục hay bàng sanh, chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, bàng sanh tốt hơn địa ngục.

– Này Dhananjani, bàng sanh hay cảnh ngạ quỷ, chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, cảnh ngạ quỷ tốt hơn bàng sanh.

– Này Dhananjani, cảnh giới ngạ quỷ hay loài Người, chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, loài Người tốt hơn cảnh giới ngạ quỷ.

– Này Dhananjani, loài Người hay Tứ thiên vương thiên, chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, Tứ thiên vương thiên tốt hơn loài Người.

– Này Dhananjani, Tứ thiên vương thiên hay Tam thập tam thiên, chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, Tam thập tam thiên tốt hơn Tứ thiên vương thiên.

– Này Dhananjani, Tam thập tam thiên hay Dạ-ma Thiên, chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, Dạ-ma thiên tốt hơn Tam thập tam thiên.

– Này Dhananjani, Dạ-ma thiên hay Ðâu-suất-đà thiên (Tusita), chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, Ðâu-Suất-đà thiên tốt hơn Dạ-ma thiên.

– Này Dhananjani, Ðâu-suất-đà thiên hay Hóa lạc thiên (Nimmanarati), chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, Hóa lạc thiên tốt hơn Ðâu-suất-đà thiên.

– Này Dhananjani, Hóa lạc thiên hay Tha hóa tự tại thiên, chỗ nào tốt hơn?

– Thưa Tôn giả Sariputta, Tha hóa tự tại thiên tốt hơn Hóa lạc thiên.

– Này Dhananjani, Tha hóa tự tại thiên hay Phạm thiên giới, chỗ nào tốt hơn?

– Tôn giả Sariputta đã nói: “Phạm thiên giới”. Tôn giả Sariputta đã nói: “Phạm thiên giới”.

Rồi Tôn giả Sariputta suy nghĩ: “Các vị Bà-la-môn này rất ái luyến Phạm thiên giới. Vậy ta hãy thuyết giảng con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên”.

– Này Dhananjani, ta sẽ thuyết giảng cho Ông con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên. Hãy nghe khéo tác ý, ta sẽ giảng.

– Thưa vâng.

Bà-la-môn Dhananjani vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta thuyết như sau:

– Này Dhananjani, thế nào là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên? Ở đây, này Dhananjani, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này Dhananjani, như vậy là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên.

Lại nữa, này Dhananjani, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi… an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ… an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận không sân. Này Dhananjani, như vậy là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên.

– Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn Bà- la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn”.

Rồi Tôn giả Sariputta, dầu cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, sau khi an trú Bà-la- môn vào Phạm thiên giới thấp kém, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Và Bà-la-môn Dhananjani, sau khi Tôn giả Sariputta ra đi không bao lâu, liền mệnh chung và được sanh lên Phạm thiên giới.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, dầu cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, Sariputta sau khi an trú Bà-la-môn Dhananjani vào Phạm thiên giới thấp kém, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Rồi Tôn giả Sariputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống

một bên, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhananjani bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

– Này Sariputta, vì sao, dầu cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, Ông sau khi an trú Bà-la-môn Dhananjani vào Phạm thiên giới thấp kém, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi?

– Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Những vì Bà-la-môn này rất luyến ái Phạm thiên giới”. Do vậy con mới thuyết giảng con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên.

– Và này Sariputta, Bà-la-môn Dhananjani đã mệnh chung và sanh lên Phạm thiên giới.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Vị sư nam đã thọ giới cụ túc trong Phật giáo Theravada, sống đời sống xuất gia, tuân thủ giới luật.
  • đức tin / saddhā / faith: Niềm tin trong sạch, vững chắc vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và luật nhân quả (nghiệp báo), là nền tảng cho sự thực hành tâm linh.
  • phóng dật / pamāda / negligent: Sự lơ là, dễ duôi, không chú tâm vào việc tu tập thiện pháp, trái ngược với tinh tấn, không phóng dật (appamāda).
  • trái Pháp / adhammacariyā / contrary to the Dhamma: Hành vi, cách cư xử đi ngược lại với Chánh Pháp, tức là lời dạy của Đức Phật về đạo đức và chân lý, làm điều sai trái, bất thiện.
  • phi pháp / adhammacariyā / unrighteously: Hành động không đúng đắn, bất chính, không phù hợp với lẽ phải, đạo đức. Thường đi đôi với “trái Pháp”.
  • đúng Pháp / dhammacariyā / according to the Dhamma: Hành vi, cách cư xử thuận theo Chánh Pháp, tức là lời dạy của Đức Phật, làm điều đúng đắn, thiện lành.
  • đúng đắn / dhammacariyā / righteously: Hành động chân chính, hợp lẽ phải, phù hợp với đạo đức. Thường đi đôi với “đúng Pháp”.
  • thực hành điều thiện / puññakiriyā / practise merit: Làm các việc tốt lành, tạo công đức, phước báu thông qua các hành động thiện lành về thân, khẩu, ý như bố thí, trì giới, tu thiền.
  • bi mẫn / karuṇā / compassion: Lòng thương xót đối với chúng sinh đang đau khổ và mong muốn cho họ thoát khỏi khổ đau. Đây là một trong Tứ Vô Lượng Tâm.
  • cõi Phạm Thiên / Brahmaloka / Brahma-world: Cõi trời của các vị Phạm Thiên (Brahmā), thuộc Sắc giới và Vô sắc giới trong vũ trụ quan Phật giáo. Đây là cảnh giới tái sinh cao hơn các cõi trời Dục giới, đạt được nhờ tu tập thiền định và các thiện pháp tương ứng, nhưng vẫn nằm trong vòng luân hồi (saṃsāra).
  • lòng từ / mettā / loving-kindness: Tâm mong muốn cho tất cả chúng sinh được an lạc, hạnh phúc, không phân biệt. Đây là một trong Tứ Vô Lượng Tâm.
  • lòng bi / karuṇā / compassion: (Đã giải thích ở “bi mẫn”) Tâm mong muốn cho tất cả chúng sinh thoát khỏi đau khổ. Đây là một trong Tứ Vô Lượng Tâm.
  • lòng hỷ / muditā / appreciative joy: Tâm vui mừng, hoan hỷ trước hạnh phúc, thành công và sự an lạc của chúng sinh khác, không ganh tị. Đây là một trong Tứ Vô Lượng Tâm.
  • lòng xả / upekkhā / equanimity: Tâm giữ được sự bình thản, quân bình, không thiên vị, không bám chấp hay ghét bỏ trước các trạng thái được mất, khen chê, khổ vui của bản thân và chúng sinh. Đây là một trong Tứ Vô Lượng Tâm.
  • cõi Phạm Thiên thấp / inferior Brahma-world: Các cõi Phạm Thiên thuộc Sắc giới (Rūpaloka), thấp hơn các cõi Vô sắc giới (Arūpaloka) và chưa phải là Niết Bàn (Nibbāna), cảnh giới giải thoát cuối cùng. Tái sinh vào đây là kết quả của việc tu tập thiền định và Tứ Vô Lượng Tâm ở mức độ nhất định.