Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 125. Cấp Độ Của Sự Thuần Hóa

(Kinh Dantabhūmi - Dantabhūmi Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Vương Xá (Rājagaha), trong Vườn Trúc, nơi nuôi sóc (Trúc Lâm Tịnh Xá Kalandakanivāpa).

2. Vào lúc đó, sa di Aciravata đang sống trong một túp lều trong rừng. Khi ấy, Hoàng tử Jayasena, trong lúc đi dạo và rảo bước tập thể dục, đã đến chỗ sa di Aciravata và chào hỏi vị ấy. [^1174] Sau khi cuộc trò chuyện lịch sự và thân mật kết thúc, hoàng tử ngồi xuống một bên và nói với sa di Aciravata: “Thưa Tôn giả Aggivessana, tôi nghe nói rằng một vị tỳ kheo (bhikkhu - nhà sư Phật giáo nam) sống ở đây tinh cần, nhiệt tâm và quyết tâm có thể đạt được nhất tâm (unification of mind - sự tập trung tâm trí vào một điểm).”

“Đúng vậy, thưa hoàng tử, đúng vậy. Một vị tỳ kheo sống ở đây tinh cần, nhiệt tâm và quyết tâm có thể đạt được nhất tâm.”

3. “Thật tốt nếu Tôn giả Aggivessana có thể giảng Pháp (Dhamma - giáo lý của Đức Phật) cho tôi như ngài đã nghe và thông thạo.”

“Tôi không thể giảng Pháp cho hoàng tử như tôi đã nghe và thông thạo. Bởi vì nếu tôi giảng Pháp cho hoàng tử như tôi đã nghe và thông thạo, hoàng tử sẽ không hiểu được ý nghĩa lời tôi nói, và điều đó sẽ gây mệt mỏi và phiền phức cho tôi.” [129]

4. “Xin Tôn giả Aggivessana hãy giảng Pháp cho tôi như ngài đã nghe và thông thạo. Có lẽ tôi có thể hiểu được ý nghĩa lời ngài nói.”

“Tôi sẽ giảng Pháp cho hoàng tử như tôi đã nghe và thông thạo. Nếu hoàng tử có thể hiểu được ý nghĩa lời tôi nói, điều đó thật tốt. Nhưng nếu hoàng tử không thể hiểu được ý nghĩa, thì hãy dừng lại ở đó và đừng hỏi tôi thêm về điều đó nữa.”

“Xin Tôn giả Aggivessana hãy giảng Pháp cho tôi như ngài đã nghe và thông thạo. Nếu tôi có thể hiểu được ý nghĩa lời ngài nói, điều đó thật tốt. Nếu tôi không thể hiểu được ý nghĩa, thì tôi sẽ dừng lại ở đó và tôi sẽ không hỏi ngài thêm về điều đó nữa.”

5. Sau đó, sa di Aciravata đã giảng Pháp cho Hoàng tử Jayasena như vị ấy đã nghe và thông thạo. Sau khi vị ấy nói xong, Hoàng tử Jayasena nhận xét: “Thật không thể, thưa Tôn giả Aggivessana, không thể xảy ra chuyện một vị tỳ kheo sống tinh cần, nhiệt tâm và quyết tâm lại có thể đạt được nhất tâm.” Rồi, sau khi tuyên bố với sa di Aciravata rằng điều này là không thể và không thể xảy ra, Hoàng tử Jayasena đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

6. Ngay sau khi Hoàng tử Jayasena rời đi, sa di Aciravata đến gặp Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, vị ấy ngồi xuống một bên và kể lại toàn bộ cuộc trò chuyện của mình với Hoàng tử Jayasena cho Đức Thế Tôn nghe. Khi vị ấy kể xong, Đức Thế Tôn nói với vị ấy:

7. "Này Aggivessana, làm sao có thể Hoàng tử Jayasena, sống giữa dục lạc (sensual pleasures - niềm vui thích qua năm giác quan), hưởng thụ dục lạc, bị nuốt chửng bởi những suy nghĩ về dục lạc, bị thiêu đốt bởi cơn sốt dục lạc, chỉ chăm chăm tìm kiếm dục lạc, [130] lại có thể biết, thấy, hoặc chứng ngộ được điều phải được biết thông qua xuất ly (renunciation - sự từ bỏ đời sống thế tục, từ bỏ dục lạc), thấy thông qua xuất ly, đạt được thông qua xuất ly, chứng ngộ thông qua xuất ly? Điều đó là không thể.

8. “Giả sử, [^1175] này Aggivessana, có hai con voi, ngựa, hoặc bò có thể thuần hóa đã được thuần hóa tốt và kỷ luật tốt, và hai con voi, ngựa, hoặc bò có thể thuần hóa nhưng chưa được thuần hóa và chưa có kỷ luật. Này Aggivessana, con nghĩ sao? Liệu hai con voi, ngựa, hoặc bò có thể thuần hóa đã được thuần hóa tốt và kỷ luật tốt, khi được thuần hóa, có học được cách cư xử của loài đã được thuần hóa, có đạt đến cấp độ của sự thuần hóa không?” - “Bạch Thế Tôn, có ạ.” - “Nhưng liệu hai con voi, ngựa, hoặc bò có thể thuần hóa nhưng chưa được thuần hóa và chưa có kỷ luật, khi chưa được thuần hóa, có học được cách cư xử của loài đã được thuần hóa, có đạt đến cấp độ của sự thuần hóa, giống như hai con voi, ngựa, hoặc bò đã được thuần hóa tốt và kỷ luật tốt không?” - “Bạch Thế Tôn, không ạ.” - "Cũng vậy, này Aggivessana, không thể nào Hoàng tử Jayasena, sống giữa dục lạc,… lại có thể biết, thấy, hoặc chứng ngộ được điều phải được biết thông qua xuất ly, thấy thông qua xuất ly, đạt được thông qua xuất ly, chứng ngộ thông qua xuất ly.

9. "Giả sử, này Aggivessana, có một ngọn núi cao không xa một ngôi làng hay thị trấn, và hai người bạn tay trong tay rời làng hoặc thị trấn đến gần ngọn núi. Khi đến nơi, một người bạn ở lại dưới chân núi trong khi người kia leo lên đỉnh. Rồi người bạn ở lại dưới chân núi nói với người bạn đang đứng trên đỉnh: ‘Này bạn, đứng trên đỉnh núi, bạn thấy gì?’ Và người kia trả lời: ‘Này bạn, đứng trên đỉnh núi, tôi thấy những công viên đáng yêu, những khu rừng đáng yêu, những đồng cỏ đáng yêu và những hồ nước đáng yêu.’ Khi đó, người bạn đầu tiên sẽ nói: ‘Không thể nào, [131] bạn ơi, không thể xảy ra chuyện đứng trên đỉnh núi mà bạn lại thấy những công viên đáng yêu, những khu rừng đáng yêu, những đồng cỏ đáng yêu và những hồ nước đáng yêu.’

"Sau đó, người bạn kia đi xuống chân núi, nắm tay bạn mình và kéo anh ta leo lên đỉnh núi. Sau khi cho anh ta nghỉ lấy hơi vài phút, người đó hỏi: ‘Này bạn, đứng trên đỉnh núi, bạn thấy gì?’ Và bạn anh ta trả lời: ‘Này bạn, đứng trên đỉnh núi, tôi thấy những công viên đáng yêu, những khu rừng đáng yêu, những đồng cỏ đáng yêu và những hồ nước đáng yêu.’ Rồi người kia nói: ‘Bạn ơi, mới vừa rồi chúng tôi nghe bạn nói: “Không thể nào, bạn ơi, không thể xảy ra chuyện đứng trên đỉnh núi mà bạn lại thấy những công viên đáng yêu… những hồ nước đáng yêu.” Nhưng bây giờ chúng tôi lại nghe bạn nói: “Này bạn, đứng trên đỉnh núi, tôi thấy những công viên đáng yêu… những hồ nước đáng yêu.”’ Khi đó, người bạn đầu tiên trả lời: ‘Bạn ơi, vì bị ngọn núi cao này che khuất, tôi đã không thấy những gì đáng lẽ phải thấy.’

10. "Cũng vậy, này Aggivessana, Hoàng tử Jayasena bị che khuất, cản trở, ngăn chặn và bao phủ bởi một khối còn lớn hơn thế này – đó là khối vô minh (mass of ignorance - sự che lấp của si mê, không thấy rõ sự thật). Do đó, không thể nào Hoàng tử Jayasena, sống giữa dục lạc,… lại có thể biết, thấy, hoặc chứng ngộ được điều phải được biết thông qua xuất ly, thấy thông qua xuất ly, đạt được thông qua xuất ly, chứng ngộ thông qua xuất ly.

11. “Này Aggivessana, nếu hai ví dụ này đã khởi lên trong con [liên hệ] đến Hoàng tử Jayasena, thì hoàng tử đã tự nhiên có niềm tin nơi con, và khi có niềm tin, đã thể hiện niềm tin đó với con.”

“Bạch Thế Tôn, làm sao hai ví dụ này có thể khởi lên trong con [liên hệ] đến Hoàng tử Jayasena như chúng khởi lên nơi Đức Thế Tôn, vì chúng là tự nhiên phát sinh và chưa từng được nghe trước đây?” [132] 12. "Giả sử, này Aggivessana, một vị vua quý tộc đã làm lễ quán đảnh (head-anointed noble king - vị vua thuộc dòng dõi cao quý đã trải qua nghi lễ đăng quang) nói với người quản tượng trong rừng của mình như sau: ‘Này người quản tượng giỏi, hãy cưỡi voi của vua, vào rừng voi, và khi thấy một con voi rừng, hãy buộc cổ nó vào voi của vua.’ Sau khi đáp ‘Vâng, thưa đức vua,’ người quản tượng cưỡi voi của vua, vào rừng voi, và khi thấy một con voi rừng, liền buộc cổ nó vào voi của vua. Voi của vua dẫn nó ra chỗ trống trải. Đây là cách một con voi rừng đi ra chỗ trống trải; vì voi rừng quyến luyến rừng voi.

"Sau đó, người quản tượng báo cho vị vua quý tộc đã làm lễ quán đảnh: ‘Thưa đức vua, voi rừng đã ra chỗ trống trải.’ Nhà vua nói với người thuần tượng (elephant tamer - người chuyên huấn luyện voi) của mình như sau: ‘Hãy đến đây, người thuần tượng giỏi, hãy thuần hóa con voi rừng. Hãy khuất phục những thói quen rừng rú của nó, khuất phục những ký ức và ý định rừng rú của nó, khuất phục nỗi khổ, sự mệt mỏi và cơn sốt vì rời xa rừng. Hãy làm cho nó thích thú với thị trấn, khắc sâu vào nó những thói quen phù hợp với con người.’ Sau khi đáp ‘Vâng, thưa đức vua,’ người thuần tượng trồng một cây cột lớn xuống đất và buộc cổ con voi rừng vào đó để khuất phục những thói quen rừng rú của nó… và để khắc sâu vào nó những thói quen phù hợp với con người.

"Rồi người thuần tượng nói với con voi bằng những lời lẽ nhẹ nhàng, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người mong muốn và hài lòng. Khi con voi rừng [133] được nghe những lời như vậy, nó lắng nghe, chú ý và nỗ lực tâm trí để hiểu. Tiếp theo, người thuần tượng thưởng cho nó cỏ khô và nước. Khi con voi rừng chấp nhận cỏ khô và nước từ người đó, người thuần tượng biết: ‘Giờ thì voi của vua sẽ sống!’

"Sau đó, người thuần tượng huấn luyện nó thêm: ‘Nhấc lên, đặt xuống!’ Khi voi của vua tuân theo lệnh nhấc lên và đặt xuống của người thuần tượng và thực hiện các chỉ dẫn, người thuần tượng huấn luyện nó thêm: ‘Tiến lên, lùi lại!’ Khi voi của vua tuân theo lệnh tiến lên và lùi lại của người thuần tượng và thực hiện các chỉ dẫn, người thuần tượng huấn luyện nó thêm: ‘Đứng dậy, ngồi xuống!’ Khi voi của vua tuân theo lệnh đứng dậy và ngồi xuống của người thuần tượng và thực hiện các chỉ dẫn, người thuần tượng huấn luyện nó thêm về nhiệm vụ gọi là bất động (imperturbability - trạng thái tâm không dao động). Người đó buộc một tấm ván lớn vào vòi nó; một người đàn ông cầm giáo ngồi trên cổ nó; những người đàn ông cầm giáo đứng xung quanh nó tứ phía; và chính người thuần tượng đứng trước mặt nó cầm một cây sào giáo dài. Khi con voi đang được huấn luyện nhiệm vụ bất động, nó không cử động chân trước hay chân sau; nó không cử động phần thân trước hay phần thân sau; nó không cử động đầu, tai, ngà, đuôi hay vòi. Voi của vua có thể chịu đựng những cú đâm từ giáo, những nhát chém từ kiếm, những mũi tên bắn tới, những cú đánh từ các sinh vật khác, và những tiếng vang rền của trống, trống trận, kèn và trống cơm. Thoát khỏi mọi lỗi lầm và khuyết điểm, thanh lọc mọi tì vết, nó xứng đáng với nhà vua, phục vụ nhà vua, được coi là một trong những yếu tố của một vị vua. [134]

13-14. "Cũng vậy, này Aggivessana, một vị Như Lai (Tathāgata - danh hiệu của Phật, nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”) xuất hiện trên thế gian, là bậc A-la-hán (accomplished - bậc đã hoàn thiện, đã giác ngộ), Chánh Đẳng Giác (fully enlightened - bậc giác ngộ hoàn toàn, chỉ Đức Phật)… (như Kinh 51, §§12-13)… vị ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình. Đây là cách một Thánh đệ tử (noble disciple - người đệ tử đã chứng ngộ ít nhất tầng thánh đầu tiên) đi ra chỗ trống trải; vì chư thiên và loài người còn quyến luyến năm dây dục lạc (five cords of sensual pleasure - năm đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc).

15. "Sau đó, Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Hãy đến đây, tỳ kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy thu thúc trong sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha (restraint of the Pātimokkha - sự kiểm soát hành vi theo các quy tắc trong giới luật của tỳ kheo/tỳ kheo ni), hãy hoàn thiện trong hạnh kiểm và nơi hành xử, thấy sợ hãi trong lỗi nhỏ nhặt nhất, hãy rèn luyện bằng cách thực hành các học giới.’

16. "Khi, này Aggivessana, vị Thánh đệ tử có giới hạnh… thấy sợ hãi trong lỗi nhỏ nhặt nhất, rèn luyện bằng cách thực hành các học giới, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Hãy đến đây, tỳ kheo, hãy bảo vệ các cửa của các căn (sense faculties - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của con. Khi mắt thấy sắc, đừng nắm bắt tướng chung và tướng riêng (signs and features - các đặc điểm tổng quát và chi tiết của đối tượng). Vì nếu con để mặc căn mắt không được bảo vệ, các trạng thái tâm bất thiện xấu ác (evil unwholesome states - tham, sân, si và các biến thể) như tham ái và ưu bi (covetousness and grief - sự thèm muốn và buồn khổ liên quan đến thế gian) có thể xâm chiếm con, hãy thực hành con đường chế ngự nó, bảo vệ căn mắt, thực hiện sự chế ngự căn mắt. Khi tai nghe tiếng… Khi mũi ngửi mùi… Khi lưỡi nếm vị… Khi thân chạm xúc… Khi ý nhận biết pháp, đừng nắm bắt tướng chung và tướng riêng. Vì nếu con để mặc căn ý không được bảo vệ, các trạng thái tâm bất thiện xấu ác như tham ái và ưu bi có thể xâm chiếm con, hãy thực hành con đường chế ngự nó, bảo vệ căn ý, thực hiện sự chế ngự căn ý.’

17. "Khi, này Aggivessana, vị Thánh đệ tử bảo vệ các cửa của các căn, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Hãy đến đây, tỳ kheo, hãy tiết độ trong ăn uống (moderate in eating - ăn uống có chừng mực). Quán xét một cách khôn ngoan, con nên dùng thức ăn không phải để vui đùa, không phải để say sưa, không phải vì vẻ đẹp thể chất và sự hấp dẫn, mà chỉ để duy trì và bảo tồn thân này, để chấm dứt sự khó chịu, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh (holy life - đời sống thanh tịnh, hướng đến giải thoát), suy xét rằng: “Như vậy, ta sẽ chấm dứt các cảm thọ cũ mà không làm phát sinh các cảm thọ mới, và ta sẽ khỏe mạnh, không bị chê trách và sống thoải mái.”’

18. "Khi, [135] này Aggivessana, vị Thánh đệ tử tiết độ trong ăn uống, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Hãy đến đây, tỳ kheo, hãy chuyên tâm vào sự tỉnh thức (wakefulness - sự nỗ lực giữ tâm tỉnh táo). Ban ngày, trong khi đi kinh hành và ngồi, hãy thanh lọc tâm khỏi các pháp chướng ngại (obstructive states - những trạng thái tâm ngăn cản thiền định và trí tuệ). Trong canh đầu của đêm, trong khi đi kinh hành và ngồi, hãy thanh lọc tâm khỏi các pháp chướng ngại. Trong canh giữa của đêm, con nên nằm xuống ở phía bên phải theo tư thế sư tử, chân này gác lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác hoàn toàn, sau khi ghi nhớ trong tâm thời điểm thức dậy. Sau khi thức dậy, trong canh cuối của đêm, trong khi đi kinh hành và ngồi, hãy thanh lọc tâm khỏi các pháp chướng ngại.’

19. "Khi, này Aggivessana, vị Thánh đệ tử chuyên tâm vào sự tỉnh thức, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Hãy đến đây, tỳ kheo, hãy có chánh niệm và tỉnh giác (mindfulness and full awareness - sự ghi nhớ đối tượng hiện tại và sự hiểu biết rõ ràng về hành động của mình). Hãy hành động với tỉnh giác hoàn toàn khi đi tới và đi lui… khi nhìn về phía trước và nhìn sang bên… khi co và duỗi các chi… khi mặc y và mang y bát… khi ăn, uống, nhai, nếm… khi đại tiện và tiểu tiện… khi đi, đứng, ngồi, nằm ngủ, thức dậy, nói chuyện và giữ im lặng.’

20. "Khi, này Aggivessana, vị Thánh đệ tử có chánh niệm và tỉnh giác, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Hãy đến đây, tỳ kheo, hãy tìm đến một nơi ở ẩn dật (secluded resting place - nơi thanh vắng, ít người): khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, bụi rậm trong rừng, không gian trống trải, đống rơm.’

21. "Vị ấy tìm đến một nơi ở ẩn dật: khu rừng… đống rơm. Sau khi đi khất thực về, sau bữa ăn, vị ấy ngồi xuống, xếp chân theo thế kiết già, giữ thân thẳng đứng, và thiết lập chánh niệm trước mặt. Từ bỏ tham ái đối với thế gian, vị ấy trú với tâm thoát khỏi tham ái; vị ấy thanh lọc tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận và ác ý, vị ấy trú với tâm thoát khỏi sân hận, có lòng bi mẫn vì lợi ích của tất cả chúng sinh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi sân hận và ác ý. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy trú thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, nhận biết ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác hoàn toàn; vị ấy thanh lọc tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy trú không dao động với tâm an tĩnh nội tại; vị ấy thanh lọc tâm khỏi trạo cử và hối quá. [136] Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy trú vượt qua nghi ngờ, không còn phân vân về các pháp thiện; vị ấy thanh lọc tâm khỏi nghi ngờ.

22. "Sau khi từ bỏ năm triền cái (five hindrances - tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi ngờ) này, những phiền não của tâm làm suy yếu trí tuệ, vị ấy trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác hoàn toàn và chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và ưu bi đối với thế gian. Vị ấy trú quán thọ trên các cảm thọ… tâm trên tâm… pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác hoàn toàn và chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và ưu bi đối với thế gian. [^1176]

23. "Cũng như, này Aggivessana, người thuần tượng trồng một cây cột lớn xuống đất và buộc cổ con voi rừng vào đó để khuất phục những thói quen rừng rú của nó… và để khắc sâu vào nó những thói quen phù hợp với con người, thì bốn nền tảng của chánh niệm (foundations of mindfulness - bốn lĩnh vực quán chiếu: thân, thọ, tâm, pháp, còn gọi là Tứ Niệm Xứ) này là những sợi dây ràng buộc tâm của vị Thánh đệ tử để khuất phục những thói quen dựa trên đời sống gia đình, để khuất phục những ký ức và ý định dựa trên đời sống gia đình, để khuất phục nỗi khổ, sự mệt mỏi và cơn sốt dựa trên đời sống gia đình, và để vị ấy có thể đạt được con đường chân chính và chứng ngộ Niết bàn (Nibbāna - sự chấm dứt khổ đau, trạng thái giải thoát cuối cùng).

24. "Sau đó, Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Hãy đến đây, tỳ kheo, hãy trú quán thân trên thân nhưng đừng suy nghĩ những tư tưởng liên quan đến thân; hãy trú quán thọ trên các cảm thọ nhưng đừng suy nghĩ những tư tưởng liên quan đến cảm thọ; hãy trú quán tâm trên tâm nhưng đừng suy nghĩ những tư tưởng liên quan đến tâm; hãy trú quán pháp trên các pháp nhưng đừng suy nghĩ những tư tưởng liên quan đến pháp.’

25. "Với sự lắng dịu của tầm và tứ (applied and sustained thought - sự hướng tâm đến đối tượng và sự duy trì tâm trên đối tượng), vị ấy nhập và trú trong tầng thiền na (jhāna - các tầng thiền định) thứ hai [^1177]… tầng thiền na thứ ba… tầng thiền na thứ tư.

26-29. "Khi tâm định tĩnh của vị ấy được thanh lọc như vậy… (như Kinh 51, §§24-27)… Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái tồn tại nào nữa.’

30. "Vị tỳ kheo đó có thể chịu đựng lạnh và nóng, đói và khát, và sự tiếp xúc của ruồi trâu, muỗi, gió, mặt trời và các loài bò sát; vị ấy có thể chịu đựng những lời nói ác ý, không mong muốn và những cảm giác [137] đau đớn, dữ dội, nhói buốt, xuyên thấu, khó chịu, khổ sở và đe dọa tính mạng phát sinh trên thân. Thoát khỏi mọi tham, sân và si, thanh lọc mọi tì vết, vị ấy xứng đáng nhận vật cúng dường, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận lễ vật, xứng đáng được đảnh lễ kính trọng, là ruộng phước vô thượng cho đời (unsurpassed field of merit - nơi xứng đáng để gieo trồng phước báu).

31. "Nếu, này Aggivessana, voi của vua chết khi về già mà chưa được thuần hóa và chưa có kỷ luật, thì nó được coi là một con voi già đã chết cái chết chưa thuần hóa. Nếu voi của vua chết khi trung niên mà chưa được thuần hóa và chưa có kỷ luật, thì nó được coi là một con voi trung niên đã chết cái chết chưa thuần hóa. Nếu voi của vua chết khi còn non mà chưa được thuần hóa và chưa có kỷ luật, thì nó được coi là một con voi non đã chết cái chết chưa thuần hóa. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu một vị tỳ kheo trưởng lão chết mà các lậu hoặc (taints - những ô nhiễm tiềm ẩn làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa được đoạn trừ, thì vị ấy được coi là một vị tỳ kheo trưởng lão đã chết cái chết chưa thuần hóa. Nếu một vị tỳ kheo trung niên chết mà các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, thì vị ấy được coi là một vị tỳ kheo trung niên đã chết cái chết chưa thuần hóa. Nếu một vị tỳ kheo mới tu chết mà các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, thì vị ấy được coi là một vị tỳ kheo mới tu đã chết cái chết chưa thuần hóa.

32. “Nếu, này Aggivessana, voi của vua chết khi về già đã được thuần hóa tốt và kỷ luật tốt, thì nó được coi là một con voi già đã chết cái chết thuần hóa. Nếu voi của vua chết khi trung niên đã được thuần hóa tốt và kỷ luật tốt, thì nó được coi là một con voi trung niên đã chết cái chết thuần hóa. Nếu voi của vua chết khi còn non đã được thuần hóa tốt và kỷ luật tốt, thì nó được coi là một con voi non đã chết cái chết thuần hóa. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu một vị tỳ kheo trưởng lão chết mà các lậu hoặc đã được đoạn trừ, thì vị ấy được coi là một vị tỳ kheo trưởng lão đã chết cái chết thuần hóa. Nếu một vị tỳ kheo trung niên chết mà các lậu hoặc đã được đoạn trừ, thì vị ấy được coi là một vị tỳ kheo trung niên đã chết cái chết thuần hóa. Nếu một vị tỳ kheo mới tu chết mà các lậu hoặc đã được đoạn trừ, thì vị ấy được coi là một vị tỳ kheo mới tu đã chết cái chết thuần hóa.”

Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Sa di Aciravata hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

125. KINH ÐIỂU NGỰ ÐỊA

125. KINH ÐIỂU NGỰ ÐỊA (Dantabhùmi Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá). Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).

Lúc bấy giờ, Sa-di Aciravata (Tân Học Sa-môn) đang ở tại am thất Aranna. Rồi vương tử Jayasena trong khi tản bộ du hành, đi đến Sa-di Aciravata, sau khi đến nói lên với Sa-di Aciravata những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vương tử Jayasena nói với Sa-di Aciravata:

– Tôn giả Aggivessana, tôi có nghe như sau: “Ở đây Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ được nhứt tâm”.

– Sự việc là vậy, này Vương tử! Sự việc là vậy, này Vương tử! Ở đây, Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần sẽ chứng được nhứt tâm.

– Thật là tốt lành nếu Tôn giả Aggivessana thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã được học.

– Này Vương tử, tôi không có thể thuyết pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã được học. Nếu nay tôi thuyết pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã được học, và nếu Vương tử không hiểu lời tôi nói, như vậy sẽ làm tôi mệt mỏi, làm tôi phiền muộn.

– Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã được học! Rất có thể, tôi sẽ hiểu ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana.

– Này Vương tử, tôi sẽ thuyết pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã được học. Nếu Vương tử có thể hiểu ý nghĩa lời nói của tôi, như vậy là tốt đẹp. Nếu Vương tử không thể hiểu lời nói của tôi, hãy dừng lại trên sự trạng của mình, chớ có hỏi tôi thêm nữa!

– Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã được học! Nếu tôi có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana, như vậy là tốt đẹp. Nếu tôi không có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana, tôi sẽ dừng lại trên sự trạng của tôi, ở đây, tôi sẽ không hỏi Tôn giả Aggivessana thêm nữa.

Rồi Sa-di Aciravata thuyết pháp cho vương tử Jayasena như đã được nghe, như đã được học. Khi được nghe vậy, Vương tử nói với Sa-di Aciravata như sau:

– Sự việc không phải là như vậy, Tôn giả Aggivessana; trường hợp không phải là như vậy, rằng Tỷ- kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần lại có thể chứng đắc nhất tâm.

Rồi Vương tử Jayasena sau khi nói lên với Sa-di Aciravata sự việc không phải như vậy và trường hợp không phải như vậy, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Rồi Sa-di Aciravata, sau khi vương tử Jayasena ra đi không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Sa-di Aciravata kể lại cho Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vương tử Jayasena.

Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Sa-di Aciravata:

– Như vậy, này Aggivessana, nào có lợi ích gì? Vương tử Jayasenna sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được. Chỉ có ly dục mới đạt được, hay chỉ có ly dục mới chứng được; sự kiện như vậy không xảy ra.

Này Aggivessana, ví như giữa các con voi, con ngựa hay con bò được dạy điều phục có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được dạy điều phục, được khéo huấn luyện; và có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò không được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò, được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, các con ấy có thể đi đến khả năng điều phục (dantakaranam), có thể đạt đến điều phục địa không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Còn hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được dạy điều phục, nhưng không được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện, các con ấy không được điều phục, có thể đi đến khả năng điều phục, không được điều phục có thể đạt đến điều phục địa, như hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được khéo điều phục, được khéo huấn luyện kia không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Aggivessana, vương tử Jayasena sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được, chỉ có ly dục mới đạt được, chỉ có ly dục mới chứng được, sự kiện như vậy không xảy ra.

Ví như, này Aggivessana, một hòn núi lớn không xa làng hay thị trấn. Và có hai người bạn, tay trong tay đi ra khỏi làng hay thị trấn ấy, và đi đến hòn núi kia. Sau khi đến, một người bạn đứng dưới chân núi, còn người bạn kia leo lên đỉnh núi. Người bạn đứng dưới chân núi ấy có thể nói với người bạn đứng trên đỉnh núi: “Này Bạn thân, Bạn đứng trên đỉnh núi, Bạn thấy những gì?” Người kia nói: “Này Bạn thân, đứng trên đỉnh núi tôi thấy các vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái”. Người kia nói: “Không có sự kiện này, này Bạn thân, không có trường hợp này, Bạn đứng trên đỉnh núi lại có thể thấy các khu vườn khả ái, khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái”.

Rồi người bạn đã đứng trên đỉnh núi, sau khi đi xuống chân núi, nắm tay bạn, khiến bạn trèo lên đỉnh núi, để bạn nghỉ thở một thời gian, rồi nói: “Này Bạn thân, nay Bạn có thể thấy gì, khi Bạn đứng trên đỉnh núi?” Và người bạn ấy có thể nói: “Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh núi, tôi thấy các khu vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái”. Người kia có thể nói như sau: "Vừa rồi, này Bạn thân, chúng tôi hiểu Bạn nói: “Không thể có sự kiện này, này Bạn thân, không thể có trường hợp này, Bạn đứng trên đỉnh núi lại có thể thấy các khu vườn khả ái… các ao hồ khả ái”. Nhưng nay chúng tôi hiểu Bạn nói: “Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh núi, tôi thấy các khu vườn khả ái… các ao hồ khả ái”. Người kia nói như sau: “Này Bạn thân, vì tôi bị che khuất bởi sườn núi này, nên không thấy được những điều đáng thấy”.

Cũng vậy, nhưng to lớn hơn, này Aggivessana, là Vương tử Jayasena, bị che khuất, bị chận đứng, bị chướng ngại, bị bao vây bởi vô minh uẩn này. Vương tử Jayasena sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được, chỉ có ly dục mới đạt được, chỉ có ly dục mới chứng được; sự kiện như vậy không xảy ra.

Nếu hai ví dụ này được Ông đề cập cho Vương tử Jayasena, thời Vương tử Jayasena tự nhiên tin tưởng Ông và khi đã tin tưởng, sẽ hành động đúng theo cung cách một người đã tin tưởng Ông.

– Nhưng làm sao, bạch Thế Tôn, hai ví dụ này khởi đến từ nơi con cho Vương tử Jayasena, khởi lên một cách tự nhiên, từ trước chưa từng được nghe, như Thế Tôn được?

– Ví như, này Aggivessana, một vị vua Sát-đế-lỵ đã quán đảnh bảo người nài voi: “Này Tượng sư, hãy cưỡi con vương tượng, đi vào rừng vó voi; khi Ông thấy con voi rừng, hãy cột nó lại vào cổ con vương tượng”. – “Thưa vâng, Ðại vương”. Này Aggivessana, người tượng sư vâng theo lời vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, cỡi con vương tượng, vào trong rừng có voi, thấy con voi rừng, cột (con voi rừng ấy) vào cổ con vương tượng. Con vương tượng kéo nó ra chỗ ngoài trời. Cho đến như vậy, này Aggivessana, con voi rừng được đi đến chỗ ngoài trời. Nhưng này Aggivessana, con voi rừng còn có sự tham luyến tức là đối với rừng có voi.

Người tượng sư tâu với vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh về con voi rừng ấy. “Tâu Ðại vương, con voi rừng đã ra chỗ ngoài trời”. Rồi vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh bảo người điều phục voi: “Hãy đến, này người Ðiều phục voi, hãy điều phục con voi rừng này bằng cách điều phục nếp sống rừng của nó, bằng cách điều phục tâm tư rừng núi, bằng cách điều phục sự ưu tư, mệt nhọc, nhiệt não đối với rừng núi của nó bằng cách làm cho nó thích thú với thôn làng, và bằng cách làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài người”. – “Thưa vâng, tâu Ðại vương”. Này Aggivessana, người điều phục voi vâng theo lời vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đóng một cọc trụ lớn vào đất, cột cổ con voi rừng, để điều phục nếp sống rừng của nó, để điều phục tâm tư rừng núi, để điều phục sự suy tư, mệt nhọc, nhiệt não của rừng núi, để làm cho nó thích thú với thôn làng và làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài người.

Rồi người điều phục voi lại nói với nó bằng những lời nhẹ nhàng, đẹp tai, thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều người vui thích, khiến nhiều người hoan hỷ. Và này Aggivessana, con voi rừng khi được nói với những lời nhẹ nhàng, đẹp tai, thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều người vui thích, khiến nhiều người hoan hỷ, liền nghe, lóng tai, trú tâm vào học hỏi (anna). Tiếp đến người điều phục voi đem cỏ và nước cho con voi rừng. Này Aggivessana, khi con voi rừng nhận cỏ và nước, người điều phục voi mới nghĩ: “Nay con voi rừng sẽ sống”.

Rồi người điều phục voi khiến (con voi rừng) làm thêm một động tác khác: “Này Bạn, nhặt lên! Này Bạn, đặt xuống!” Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy nhặt lên, đặt xuống rồi, người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác: “Này Bạn, đi tới! Này Bạn đi lui!” Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy đi tới, đi lui rồi, người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác: “Này Bạn, đứng dậy! Này Bạn, ngồi xuống!” Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy, đứng dậy, ngồi xuống rồi, người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác tên gọi “bất động”. Nó cột cái khiên bằng gỗ vào cái vòi của con vật to lớn, và một người tay cầm ngọn giáo ngồi trên cổ, và xung quanh một số người tay cầm ngọn giáo đứng bao vây. Và người điều phục voi, tay cầm một ngọn giáo với cán cây dài, đứng ở phía trước. Con voi ấy làm động tác bất động, không có di động chân trước, không có di động chân sau, không có di động thân trước, không có di động thân sau, không di động đầu, không có di động tai, không có di động ngà, không có di động vòi. Con vương tượng là con voi có thể nhẫn chịu đao, kiếm, tên, búa chém bắn, nhẫn chịu tiếng vang động của trống lớn, trống nhỏ, tù và, (như là) vàng ròng tẩy sạch các tỳ vết nhơ bẩn, xứng đáng vua (dùng), một sở hữu của vua, một biểu tượng của vua.

Cũng vậy, này Aggivessana, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ.

Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Cho đến đây, này Aggivessana, là vị Thánh đệ tử đi đến chỗ ngoài trời. Nhưng này Aggivessana, các vị Thiên, Nhân có tham ái này, tức là năm dục công đức.

Rồi Như Lai huấn luyện thêm cho (vị đệ tử) ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong học pháp!” Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong học pháp, Như Lai lại huấn luyện thêm cho đệ tử ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy bảo hộ các căn! Khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thiệt hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thiệt hành sự hộ trì ý căn”.

Này Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã hộ trì các căn, Như Lai huấn luyện thêm vị Thánh đệ tử ấy: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.

Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã tiết độ trong ăn uống, Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy. Ban đêm canh cuối, khi đã thức dậy trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.

Này Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã chú tâm cảnh giác, Như Lai huấn luyện thêm vị ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác! Khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn uống nhai nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi đứng ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.

Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã thành tựu chánh niệm tỉnh giác, Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy lựa một trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, chỗ hoang vu, hang núi, bãi tha ma, khóm rừng, ngoài trời, đống rơm!”

Vị ấy lựa chọn một trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, chỗ hoang vu, hang núi, bãi tha ma, khóm rừng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy sau khi ăn xong, trên đường khất thực trở về, ngồi xuống, kiết- già, giữ lưng cho thẳng, trú niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống với tâm thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Vị ấy sau khi đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để điều phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để điều phục tham ưu ở đời.

Ví như, này Aggivessana, một người điều phục voi đóng một cọc trụ lớn vào đất, cột cổ con voi rừng để điều phục nếp sống rừng của nó, để điều phục tâm tư rừng núi của nó, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt não của rừng núi, để làm cho nó thích thú với thôn làng và làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài người; cũng vậy, này Aggivessana, bốn niệm xứ này là những dây cột tâm tư để điều phục tánh cư sĩ, để điều phục tâm tư cư sĩ, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt não của các cư sĩ, để đạt được chánh lý (naya), để chứng ngộ Niết-bàn.

Rồi Như Lai huấn luyện thêm vị ấy:

– Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy trú quán thân trên thân, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến thân; hãy trú quán thọ trên các cảm thọ, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến cảm thọ; hãy trú quán tâm trên tâm, chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến tâm; hãy trú quán pháp trên các pháp, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến các pháp.

Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà

kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này". Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.

Tỷ-kheo kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của muỗi, ruồi, gió, mặt trời và các loài bò sát, các ác ngữ, các lời nói chửi mắng, vị ấy sống quen kham nhẫn với những cảm thọ về thân, thống khổ, đau nhói, đau đớn, kịch liệt, bất khoái, không thích ý, đau đớn đến chết, được gột sạch về uế nhiễm tham, sân, si. Vị ấy xứng đáng được cúng dường, cung kính, tôn trọng, chấp tay, là vô thượng phước điền trên đời.

Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già chết đi, không được điều phục, không được huấn luyện, thời con vương tượng tuổi già được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi bậc trung; nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi trẻ chết đi, không được điều phục, không được huấn luyện, thời con vương tượng tuổi trẻ được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu vị Trưởng lão Tỷ-kheo chết với lậu hoặc chưa đoạn tận, thời Trưởng lão Tỷ-kheo được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một Tỷ-kheo trung niên; nếu, này Aggivessana, một Tỷ-kheo thiếu niên chết với lậu hoặc chưa đoạn tân, thời Tỷ-kheo thiếu niên được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục.

Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già khéo điều phục, khéo huấn luyện chết đi, thời con vương tượng tuổi già được gọi là đã chết với cái chết được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi bậc trung, nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi trẻ khéo điều phục, khéo huấn luyện chết đi, thời con vương tượng tuổi trẻ được gọi là đã chết với cái chết đã được điều phục. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu một Trưởng lão Tỷ-kheo với lậu hoặc đã đoạn tận chết đi, thời Trưởng lão Tỷ-kheo được gọi là đã chết, với cái chết được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một trung niên Tỷ- kheo; nếu, này Aggivessana, một thiếu niên Tỷ-kheo, với lậu hoặc đã đoạn tận chết đi, thời vị thiếu niên Tỷ-kheo được gọi là đã chết, với cái chết đã được điều phục.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sa-di Aciravata hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • bốn sự thật cao quý / cattāri ariya saccāni / four noble truths: Bốn sự thật mà Đức Phật đã giác ngộ, nền tảng của Phật giáo.
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư Phật giáo nam đã thọ giới cụ túc.
  • nhất tâm / samādhi / unification of mind: Trạng thái tâm tập trung cao độ vào một đối tượng duy nhất, một yếu tố quan trọng trong thiền định.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Giáo lý, lời dạy của Đức Phật; cũng có nghĩa là sự thật, quy luật tự nhiên, các hiện tượng.
  • dục lạc / kāma / sensual pleasures: Sự hưởng thụ, niềm vui thích phát sinh từ năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tiếp xúc với các đối tượng tương ứng (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
  • xuất ly / nekkhamma / renunciation: Sự từ bỏ đời sống thế tục, từ bỏ các thú vui dục lạc để theo đuổi con đường tâm linh, giải thoát.
  • khối vô minh / avijjākkhandha / mass of ignorance: Sự tích tụ dày đặc của vô minh (avijjā), tức là sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, về bản chất thực sự của các pháp, là gốc rễ của khổ đau và luân hồi.
  • vua quý tộc đã làm lễ quán đảnh / khattiya muddhāvasitta / head-anointed noble king: Vị vua thuộc dòng dõi chiến binh (Sát-đế-lỵ) đã chính thức đăng quang thông qua nghi lễ rưới nước lên đầu.
  • người thuần tượng / hatthidamaka / elephant tamer: Người chuyên huấn luyện, thuần hóa voi.
  • bất động / āneñja / imperturbability: Trạng thái tâm vững chắc, không dao động, không lay chuyển trước bất kỳ hoàn cảnh nào, thường liên quan đến các tầng thiền định cao.
  • Như Lai / Tathāgata / Thus Gone One/Thus Come One: Một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, có nhiều cách giải thích, thường hiểu là “Người đã đến như vậy” (đến với chân lý) hoặc “Người đã đi như vậy” (đi đến Niết bàn).
  • A-la-hán / arahant / accomplished one: Bậc Thánh đã đoạn trừ hoàn toàn các lậu hoặc, chấm dứt sanh tử luân hồi, đạt được Niết bàn.
  • Chánh Đẳng Giác / sammāsambuddha / fully enlightened one: Bậc giác ngộ hoàn toàn và viên mãn, tự mình tìm ra chân lý và giảng dạy cho chúng sinh, chỉ Đức Phật.
  • Thánh đệ tử / ariyasāvaka / noble disciple: Người đệ tử của Đức Phật đã chứng ngộ ít nhất tầng Thánh đầu tiên (Tu-đà-hoàn - sotāpanna) trên con đường giải thoát.
  • năm dây dục lạc / pañca kāmaguṇa / five cords of sensual pleasure: Năm loại đối tượng của giác quan mang lại khoái lạc và trói buộc chúng sinh: sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái.
  • sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha / pātimokkhasaṃvara / restraint of the Pātimokkha: Sự kiểm soát, chế ngự hành vi thân và khẩu theo các điều giới được quy định trong Pātimokkha, bộ giới luật cốt lõi của Tăng đoàn.
  • các căn / indriya / sense faculties: Các cơ quan cảm giác làm cửa ngõ tiếp nhận thông tin từ thế giới bên ngoài và bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý (tâm).
  • tướng chung và tướng riêng / nimitta, anubyañjana / signs and features: Nimitta là đặc điểm tổng quát, ấn tượng chung về một đối tượng; anubyañjana là các đặc điểm chi tiết, cụ thể của đối tượng đó. Việc nắm bắt chúng có thể dẫn đến phiền não.
  • các trạng thái tâm bất thiện xấu ác / pāpakā akusalā dhammā / evil unwholesome states: Các tâm sở tiêu cực, có hại, đi ngược lại con đường giải thoát, chủ yếu là tham, sân, si và các biến thể của chúng.
  • tham ái và ưu bi / abhijjhādomanassa / covetousness and grief: Abhijjhā là lòng tham lam, thèm muốn chiếm hữu; domanassa là sự buồn khổ, bất mãn, đau đớn về tinh thần. Đây là hai trạng thái bất thiện thường phát sinh khi các căn không được bảo vệ.
  • tiết độ trong ăn uống / bhojane mattaññutā / moderation in eating: Sự biết đủ, có chừng mực trong việc ăn uống, ăn để duy trì sức khỏe tu tập chứ không vì tham đắm vị ngon hay vẻ đẹp.
  • đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống thanh tịnh, cao thượng, đặc biệt là đời sống xuất gia, nhằm mục đích đoạn trừ phiền não và đạt đến giải thoát.
  • sự tỉnh thức / jāgariyā / wakefulness: Sự nỗ lực duy trì tâm tỉnh táo, không rơi vào ngủ nghỉ, hôn trầm, đặc biệt là trong việc thực hành thiền định và chánh niệm.
  • các pháp chướng ngại / nīvaraṇa / obstructive states: Những trạng thái tâm ngăn cản sự phát triển của thiền định (samatha) và trí tuệ (vipassanā), bao gồm năm triền cái.
  • chánh niệm và tỉnh giác / sati sampajañña / mindfulness and full awareness: Sati là sự ghi nhớ, chú tâm vào đối tượng hiện tại; sampajañña là sự hiểu biết rõ ràng, nhận thức đầy đủ về hành động, ý nghĩa và mục đích của hành động đó.
  • nơi ở ẩn dật / vivitta senāsana / secluded resting place: Nơi thanh vắng, xa lánh sự ồn ào, thích hợp cho việc tu tập thiền định và phát triển tâm linh.
  • năm triền cái / pañca nīvaraṇāni / five hindrances: Năm trạng thái tâm che lấp, ngăn cản sự định tĩnh và trí tuệ: tham dục (kāmacchanda), sân hận (vyāpāda), hôn trầm thụy miên (thīna-middha), trạo cử hối quá (uddhacca-kukkucca), nghi ngờ (vicikicchā).
  • nền tảng của chánh niệm / satipaṭṭhāna / foundations of mindfulness: Bốn lĩnh vực thực hành quán chiếu để phát triển chánh niệm và trí tuệ: quán thân (kāyānupassanā), quán thọ (vedanānupassanā), quán tâm (cittānupassanā), quán pháp (dhammānupassanā). Thường được gọi là Tứ Niệm Xứ.
  • Niết bàn / Nibbāna / Nibbāna: Mục tiêu cuối cùng của Phật giáo, trạng thái chấm dứt hoàn toàn khổ đau, phiền não và vòng luân hồi sanh tử; sự tịch diệt, an lạc tuyệt đối.
  • tầm và tứ / vitakka vicāra / applied and sustained thought: Hai yếu tố của tâm trong thiền định. Tầm (vitakka) là sự hướng tâm đến đối tượng thiền. Tứ (vicāra) là sự duy trì, khảo sát tâm trên đối tượng đó. Chúng có mặt trong tầng thiền thứ nhất và vắng mặt ở các tầng thiền cao hơn.
  • thiền na / jhāna / jhāna: Các trạng thái tâm định tĩnh sâu sắc đạt được qua thực hành thiền định, đặc trưng bởi sự vắng mặt của các triền cái và sự có mặt của các yếu tố thiền (thiền chi).
  • lậu hoặc / āsava / taints/cankers/defilements: Những ô nhiễm tinh thần sâu kín, tiềm ẩn, làm chúng sinh trôi lăn trong vòng luân hồi. Thường được kể là ba: dục lậu (kāmāsava - lậu hoặc do dục vọng), hữu lậu (bhavāsava - lậu hoặc do tham ái sự tồn tại), vô minh lậu (avijjāsava - lậu hoặc do vô minh). Đôi khi có thêm kiến lậu (diṭṭhāsava - lậu hoặc do tà kiến).
  • ruộng phước vô thượng / anuttaraṃ puññakkhettaṃ / unsurpassed field of merit: Chỉ Tăng đoàn hoặc các bậc Thánh, những người xứng đáng để chúng sinh gieo trồng phước báu bằng cách cúng dường, hỗ trợ, vì sự thanh tịnh và công đức của các vị ấy sẽ mang lại kết quả lớn lao.