Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 128. Những Phiền Não Làm Ô Nhiễm Tâm

(Kinh Upakkilesa - Upakkilesa Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Kosambī, trong khu vườn của ông Ghosita (Ghosita’s Park).

2. Vào lúc ấy, các vị tỳ kheo (bhikkhus - các nhà sư nam trong Phật giáo) ở Kosambī đã sinh ra tranh cãi, bất hòa, mâu thuẫn sâu sắc, đả kích nhau bằng lời nói như dao găm. [^1186]

3. Khi ấy, một vị tỳ kheo đến gặp Thế Tôn, [153] sau khi đảnh lễ Ngài, vị ấy đứng sang một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, các vị tỳ kheo ở Kosambī này đã sinh ra tranh cãi, bất hòa, mâu thuẫn sâu sắc, đả kích nhau bằng lời nói như dao găm. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ bi mà đến gặp các vị tỳ kheo ấy.” Thế Tôn im lặng nhận lời.

4. Sau đó, Thế Tôn đến gặp các vị tỳ kheo ấy và nói: “Thôi đủ rồi, các tỳ kheo, đừng tranh cãi, bất hòa, gây gổ, hay mâu thuẫn nữa.” Khi Ngài nói vậy, một vị tỳ kheo thưa với Thế Tôn: “Xin dừng lại, bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn, bậc Pháp Vương (Lord of the Dhamma - Bậc Tôn Chủ của Giáo Pháp), hãy an trú thoải mái trong hiện tại. Chúng con sẽ chịu trách nhiệm về việc tranh cãi, bất hòa, gây gổ và mâu thuẫn này.”

Lần thứ hai… Lần thứ ba Thế Tôn nói: “Thôi đủ rồi, các tỳ kheo, đừng tranh cãi, bất hòa, gây gổ, hay mâu thuẫn nữa.” Lần thứ ba, vị tỳ kheo kia lại thưa với Thế Tôn: “Xin dừng lại, bạch Thế Tôn!.. Chúng con sẽ chịu trách nhiệm về việc tranh cãi, bất hòa, gây gổ và mâu thuẫn này.”

5. Rồi, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát, vào thành Kosambī để khất thực. Sau khi khất thực ở Kosambī và trở về, dùng bữa xong, Ngài dọn dẹp chỗ nghỉ, lấy bát và y, rồi đứng đọc những vần kệ này: [154]

6. "Khi bao tiếng nói cùng la lối Chẳng ai tự thấy mình ngu si; Dù cho Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng tu sĩ Phật giáo) đang chia rẽ Chẳng ai nghĩ mình có lỗi chi.

Họ quên lời nói chánh niệm rồi, Chỉ nói lời ám ảnh suông thôi. Miệng không kiềm chế, la hét mãi; Chẳng biết điều gì khiến làm vậy.

‘Nó mắng tôi, nó đánh tôi, [^1187] Nó thắng tôi, nó cướp của tôi’ - Người ôm giữ ý nghĩ như thế Hận thù không bao giờ nguôi ngoai.

Vì trong đời này, hận thù không Bao giờ diệt được bằng hận thù. Chỉ có không-hận thù diệt được: Đó là định luật ngàn xưa nay.

Những người kia không nhận ra rằng Ở đây ta phải tự kiềm chế. Nhưng người trí tuệ hiểu điều này Lập tức chấm dứt mọi hận thù.

Kẻ đập xương, kẻ giết người, Kẻ trộm bò, ngựa, và tài sản, Kẻ cướp phá cả vương quốc - Khi họ còn có thể hợp tác Sao các ông lại không thể làm?

Nếu tìm được bạn hiền xứng đáng, Người đức hạnh, vững vàng đồng hành, Hãy vượt qua mọi hiểm nguy Cùng đi với bạn, vui, chánh niệm.

Nhưng nếu không tìm được bạn hiền, Không người đức hạnh, vững vàng đồng hành, Như vua bỏ lại nước đã chiếm, Hãy đi một mình như voi đầu đàn trong rừng.

Thà đi một mình còn hơn, Không bầu bạn với kẻ ngu si. Đi một mình, không làm điều ác, Thảnh thơi như voi đầu đàn trong rừng."

7. Sau khi đứng đọc những vần kệ này, Thế Tôn đi đến làng Bālakaloṇakāra. Vào lúc ấy [155], Đại đức (venerable - tôn xưng các vị tỳ kheo) Bhagu đang sống tại làng Bālakaloṇakāra. Khi Đại đức Bhagu thấy Thế Tôn từ xa đi tới, ông đã chuẩn bị chỗ ngồi và đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và rửa chân. Đại đức Bhagu đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi sang một bên, và Thế Tôn hỏi ông: “Này tỳ kheo, ông vẫn khỏe chứ, ông có thoải mái không, ông có gặp khó khăn gì trong việc khất thực không?”

“Con vẫn khỏe, bạch Thế Tôn, con vẫn thoải mái, và con không gặp khó khăn gì trong việc khất thực.”

Sau đó, Thế Tôn đã giảng dạy, khích lệ, làm phấn chấn và khuyến khích Đại đức Bhagu bằng một bài pháp thoại (talk on the Dhamma - bài nói chuyện về Giáo Pháp), rồi Ngài đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi và đi đến Công viên Trúc Lâm phía Đông (Eastern Bamboo Park).

8. Vào lúc ấy, Đại đức Anuruddha, Đại đức Nandiya và Đại đức Kimbila đang sống tại Công viên Trúc Lâm phía Đông. [^1168] Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi tới liền nói với Ngài: “Này vị ẩn sĩ (recluse - người sống ẩn dật, tu hành), xin đừng vào công viên này. Có ba vị thuộc dòng dõi quý tộc đang ở đây tìm cầu lợi ích cho bản thân. Xin đừng làm phiền họ.”

9. Đại đức Anuruddha nghe người giữ vườn nói với Thế Tôn liền bảo ông ta: “Này bạn giữ vườn, đừng ngăn Thế Tôn lại. Đó là Bậc Đạo Sư (Teacher - Bậc Thầy) của chúng tôi, Thế Tôn đã đến.” Rồi Đại đức Anuruddha đến gặp Đại đức Nandiya và Đại đức Kimbila và nói: “Xin mời các Đại đức ra ngoài, mời ra ngoài! Bậc Đạo Sư của chúng ta, Thế Tôn, đã đến.”

10. Rồi cả ba vị cùng ra đón Thế Tôn. Một vị nhận lấy bát và y của Ngài, một vị chuẩn bị chỗ ngồi, và một vị đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và rửa chân. Sau đó, ba vị Đại đức ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi sang một bên, và Thế Tôn hỏi họ: “Này Anuruddha, các ông có khỏe không, có thoải mái không, có gặp khó khăn gì trong việc khất thực không?” [156]

"Chúng con vẫn khỏe, bạch Thế Tôn, chúng con vẫn thoải mái, và chúng con không gặp khó khăn gì trong việc khất thực."

11. “Này Anuruddha, Ta hy vọng các ông đang sống hòa hợp, quý mến lẫn nhau, không tranh cãi, hòa thuận như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt từ ái.”

“Chắc chắn rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đang sống hòa hợp, quý mến lẫn nhau, không tranh cãi, hòa thuận như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt từ ái.”

“Nhưng, này Anuruddha, làm thế nào các ông sống được như vậy?”

12. “Bạch Thế Tôn, về điều đó, con suy nghĩ thế này: ‘Thật là lợi ích cho con, thật là lợi ích lớn lao cho con khi được sống cùng những bạn đồng tu (companions in the holy life - những người bạn cùng thực hành đời sống phạm hạnh) như vậy.’ Con duy trì những hành động thân ái (bodily acts of loving-kindness - hành động thân thể thể hiện lòng từ ái) đối với các vị Đại đức này, cả công khai lẫn riêng tư; con duy trì những hành động khẩu ái (verbal acts of loving-kindness - lời nói thể hiện lòng từ ái) đối với họ, cả công khai lẫn riêng tư; con duy trì những hành động ý ái (mental acts of loving-kindness - ý nghĩ thể hiện lòng từ ái) đối với họ, cả công khai lẫn riêng tư. Con suy xét: ‘Tại sao mình không gác lại điều mình muốn làm và làm điều các vị Đại đức này muốn làm?’ Rồi con gác lại điều mình muốn làm và làm điều các vị Đại đức này muốn làm. Chúng con tuy thân khác nhau, bạch Thế Tôn, nhưng tâm thì là một.”

Đại đức Nandiya và Đại đức Kimbila mỗi vị cũng nói tương tự, và thêm rằng: “Đó là cách chúng con sống hòa hợp, bạch Thế Tôn, chúng con đang sống hòa hợp, quý mến lẫn nhau, không tranh cãi, hòa thuận như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt từ ái.”

13. “Tốt lắm, tốt lắm, Anuruddha. Ta hy vọng các ông luôn sống tinh tấn (diligent - siêng năng, nỗ lực), nhiệt tâm (ardent - hăng hái, sốt sắng), và quyết tâm (resolute - sự quyết tâm vững chắc, không dao động). [157]”

“Chắc chắn rồi, bạch Thế Tôn, chúng con luôn sống tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm.”

“Nhưng, này Anuruddha, làm thế nào các ông sống được như vậy?”

14. "Bạch Thế Tôn, về điều đó, ai trong chúng con đi khất thực từ làng về trước sẽ chuẩn bị chỗ ngồi, đặt sẵn nước uống và nước rửa, và đặt thùng rác vào đúng chỗ. Ai trong chúng con về sau cùng, nếu muốn, sẽ ăn phần thức ăn còn lại; nếu không thì đổ bỏ ở nơi không có cây cỏ hoặc thả xuống nước nơi không có sinh vật. Vị ấy cất dọn chỗ ngồi, nước uống và nước rửa. Vị ấy cất thùng rác đi sau khi rửa sạch, và quét dọn nhà ăn. Ai thấy các bình nước uống, nước rửa, hoặc nước trong nhà vệ sinh sắp hết hoặc đã cạn thì lo liệu.

Nếu bình quá nặng đối với một người, vị ấy ra hiệu bằng tay gọi người khác và họ cùng nhau khiêng đi, nhưng vì việc này chúng con không nói chuyện với nhau. Nhưng cứ mỗi năm ngày, chúng con lại ngồi cùng nhau suốt đêm để thảo luận về Giáo Pháp (Dhamma - Giáo Pháp của Đức Phật). Đó là cách chúng con sống tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm."

15. “Tốt lắm, tốt lắm, Anuruddha. Nhưng khi sống tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm như vậy, các ông có đạt được trạng thái siêu phàm (superhuman states - những trạng thái tâm thức vượt ngoài người thường) nào không, có sự chứng đắc đặc biệt nào về tri kiến (knowledge and vision - sự hiểu biết và thấy biết) xứng đáng với bậc thánh (noble ones - những bậc đã giác ngộ hoặc đang trên đường giác ngộ), một sự an trú thoải mái nào không?”

“Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm ở đây, chúng con nhận biết được cả ánh sáng (light - obhāsa - ánh sáng xuất hiện trong thiền định) lẫn hình ảnh các sắc tướng (vision of forms - rūpa nimitta - sự thấy các hình ảnh, đối tượng trong thiền định). [^1189] Nhưng ngay sau đó, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất, và chúng con chưa tìm ra nguyên nhân của việc đó.”

16. "Các ông nên tìm ra nguyên nhân của việc đó, [^1190] Anuruddha. Trước khi Ta giác ngộ (enlightenment - bodhi - sự chứng ngộ hoàn toàn), khi còn là một vị Bồ Tát (Bodhisatta - người đang trên đường tu tập để thành Phật) chưa giác ngộ, Ta cũng nhận biết được cả ánh sáng lẫn hình ảnh các sắc tướng.

Ngay sau đó, ánh sáng [158] và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta đã nghĩ: ‘Nguyên nhân và điều kiện nào khiến ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất?’ Rồi Ta suy xét thế này: ‘Sự nghi ngờ (doubt - vicikicchā - sự hoài nghi, không chắc chắn về pháp hành) đã khởi lên trong Ta, và vì nghi ngờ nên định lực (concentration - samādhi - sự tập trung tâm ý vào một đối tượng) của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta sẽ hành động sao cho sự nghi ngờ không khởi lên trong Ta nữa.’"

17. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, Ta nhận biết được cả ánh sáng lẫn hình ảnh các sắc tướng. Ngay sau đó, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta đã nghĩ: ‘Nguyên nhân và điều kiện nào khiến ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất?’ Rồi Ta suy xét thế này: ‘Sự không chú tâm (inattention - amanasikāra - sự thiếu chú ý, xao lãng) đã khởi lên trong Ta, và vì không chú tâm nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ lẫn sự không chú tâm không khởi lên trong Ta nữa.’”

18. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự hôn trầm và thụy miên (sloth and torpor - thīna-middha - trạng thái tâm lừ đừ, buồn ngủ, thiếu năng lực) đã khởi lên trong Ta, và vì hôn trầm và thụy miên nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm, lẫn hôn trầm và thụy miên không khởi lên trong Ta nữa.’”

19. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự sợ hãi (fear - bhaya - nỗi lo sợ, bất an) đã khởi lên trong Ta, và vì sợ hãi nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất.’ Giống như một người đang đi trên đường và bọn cướp nhảy ra từ hai bên; khi đó nỗi sợ hãi sẽ khởi lên trong người ấy vì việc đó. Cũng vậy, sự sợ hãi đã khởi lên trong Ta… ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. [Ta suy xét:] ‘Ta sẽ hành động sao cho [159] cả nghi ngờ, sự không chú tâm, hôn trầm và thụy miên, lẫn sự sợ hãi không khởi lên trong Ta nữa.’”

20. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự phấn khích quá độ (elation - uppila - sự vui mừng, hưng phấn quá mức) đã khởi lên trong Ta, và vì phấn khích quá độ nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất.’ Giống như một người đang tìm một lối vào kho báu ẩn giấu mà bất ngờ tìm thấy năm lối vào; [^1191] khi đó sự phấn khích quá độ sẽ khởi lên trong người ấy vì việc đó. Cũng vậy, sự phấn khích quá độ đã khởi lên trong Ta… ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. [Ta suy xét:] ‘Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm… lẫn sự sợ hãi, sự phấn khích quá độ không khởi lên trong Ta nữa.’”

21. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự trì trệ (inertia - chambhitatta (related concept) - sự uể oải, thiếu linh hoạt, cứng nhắc trong tâm) đã khởi lên trong Ta, và vì trì trệ nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm… lẫn sự phấn khích quá độ, sự trì trệ không khởi lên trong Ta nữa.’”

22. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự tinh tấn quá mức (excess of energy - accāraddha-viriya - sự nỗ lực quá căng thẳng, mất quân bình) đã khởi lên trong Ta, và vì tinh tấn quá mức nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất.’ Giống như một người nắm chặt con chim cút bằng cả hai tay; nó sẽ chết ngay tại đó. Cũng vậy, sự tinh tấn quá mức đã khởi lên trong Ta… ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. [Ta suy xét:] ‘Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm… lẫn sự trì trệ, sự tinh tấn quá mức không khởi lên trong Ta nữa.’”

23. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự thiếu tinh tấn (deficiency of energy - atilīna-viriya - sự nỗ lực quá yếu ớt, lười biếng) đã khởi lên trong Ta, [160] và vì thiếu tinh tấn nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất.’ Giống như một người nắm lỏng con chim cút; nó sẽ bay khỏi tay người ấy. Cũng vậy, sự thiếu tinh tấn đã khởi lên trong Ta… ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. [Ta suy xét:] ‘Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm… lẫn sự tinh tấn quá mức, sự thiếu tinh tấn không khởi lên trong Ta nữa.’”

24. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự khao khát (longing - abhijappā - sự mong muốn, ham muốn mãnh liệt) đã khởi lên trong Ta, và vì khao khát đó nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm… lẫn sự thiếu tinh tấn, sự khao khát không khởi lên trong Ta nữa.’”

25. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự nhận thức về tính đa dạng (perception of diversity - nānatta-saññā - sự chú ý đến nhiều đối tượng khác nhau thay vì một đối tượng thiền định) đã khởi lên trong Ta, [^1192] và vì nhận thức về tính đa dạng nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm… lẫn sự khao khát, sự nhận thức về tính đa dạng không khởi lên trong Ta nữa.’”

26. “Này Anuruddha, khi Ta đang sống tinh tấn… Ta suy xét thế này: ‘Sự chú tâm quá mức vào các sắc tướng (excessive meditation upon forms - atinijjhāyitattaṃ rūpānaṃ - sự tập trung quá nhiều vào các hình ảnh, đối tượng thiền định mà mất đi sự quân bình) đã khởi lên trong Ta, [^1193] và vì chú tâm quá mức vào các sắc tướng nên định lực của Ta suy giảm; khi định lực suy giảm, ánh sáng và hình ảnh các sắc tướng biến mất. Ta sẽ hành động sao cho cả nghi ngờ, sự không chú tâm… lẫn sự nhận thức về tính đa dạng, sự chú tâm quá mức vào các sắc tướng không khởi lên trong Ta nữa.’”

27. “Này Anuruddha, khi Ta hiểu rằng nghi ngờ là một sự phiền não làm ô nhiễm tâm (imperfection of the mind - upakkilesa - sự bất tịnh, cấu uế của tâm trí), [^1194] Ta đã từ bỏ nghi ngờ, một sự phiền não làm ô nhiễm tâm. Khi Ta hiểu rằng sự không chú tâm… hôn trầm và thụy miên… sợ hãi… phấn khích quá độ… trì trệ… tinh tấn quá mức… thiếu tinh tấn… khao khát… nhận thức về tính đa dạng… sự chú tâm quá mức vào các sắc tướng [161] là một sự phiền não làm ô nhiễm tâm, Ta đã từ bỏ sự chú tâm quá mức vào các sắc tướng, một sự phiền não làm ô nhiễm tâm.”

28. “Này Anuruddha, khi Ta sống tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, có lúc Ta nhận biết ánh sáng nhưng không thấy sắc tướng; có lúc Ta thấy sắc tướng nhưng không nhận biết ánh sáng, suốt cả đêm hay cả ngày, hay cả ngày lẫn đêm. Ta đã nghĩ: ‘Nguyên nhân và điều kiện nào gây ra việc này?’ Rồi Ta suy xét thế này: ‘Vào lúc Ta không chú ý đến dấu hiệu của sắc tướng (sign of forms - đặc điểm, đối tượng của sắc tướng) mà chú ý đến dấu hiệu của ánh sáng (sign of light - đặc điểm, đối tượng của ánh sáng), thì Ta nhận biết ánh sáng nhưng không thấy sắc tướng. Vào lúc Ta không chú ý đến dấu hiệu của ánh sáng mà chú ý đến dấu hiệu của sắc tướng, thì Ta thấy sắc tướng nhưng không nhận biết ánh sáng, suốt cả đêm hay cả ngày, hay cả ngày lẫn đêm.’”

29. “Này Anuruddha, khi Ta sống tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, có lúc Ta nhận biết ánh sáng giới hạn và thấy sắc tướng giới hạn; có lúc Ta nhận biết ánh sáng vô lượng (immeasurable light - appamāṇa obhāsa - ánh sáng không thể đo lường, rộng lớn) và thấy sắc tướng vô lượng (immeasurable forms - appamāṇa rūpa - sắc tướng không thể đo lường, rộng lớn), suốt cả đêm hay cả ngày, hay cả ngày lẫn đêm. Ta đã nghĩ: ‘Nguyên nhân và điều kiện nào gây ra việc này?’ Rồi Ta suy xét thế này: ‘Vào lúc định lực có giới hạn, tầm nhìn (vision - cakkhu (metaphorical) - khả năng thấy biết bằng tâm) của Ta có giới hạn, và với tầm nhìn giới hạn, Ta nhận biết ánh sáng giới hạn và sắc tướng giới hạn. Nhưng vào lúc định lực vô lượng (immeasurable concentration - appamāṇa samādhi - định lực không thể đo lường, sâu rộng), tầm nhìn của Ta vô lượng, và với tầm nhìn vô lượng, Ta nhận biết ánh sáng vô lượng và thấy sắc tướng vô lượng, suốt cả đêm hay cả ngày, hay cả ngày lẫn đêm.’”

30. “Khi, [162] Anuruddha, Ta hiểu rằng nghi ngờ là một sự phiền não làm ô nhiễm tâm và đã từ bỏ nghi ngờ, một sự phiền não làm ô nhiễm tâm; khi Ta hiểu rằng sự không chú tâm là một sự phiền não làm ô nhiễm tâm và đã từ bỏ sự không chú tâm… đã từ bỏ hôn trầm và thụy miên… đã từ bỏ sợ hãi… đã từ bỏ phấn khích quá độ… đã từ bỏ trì trệ… đã từ bỏ tinh tấn quá mức… đã từ bỏ thiếu tinh tấn… đã từ bỏ khao khát… đã từ bỏ nhận thức về tính đa dạng… đã từ bỏ sự chú tâm quá mức vào các sắc tướng, một sự phiền não làm ô nhiễm tâm; lúc đó Ta nghĩ: ‘Ta đã từ bỏ những phiền não làm ô nhiễm tâm ấy. Giờ Ta sẽ phát triển định lực theo ba cách. [^1195]’”

31. “Sau đó, Anuruddha, Ta đã phát triển định có tầm và có tứ (concentration with applied thought and sustained thought - savitakka savicāra samādhi - định có sự hướng tâm ban đầu và duy trì sự chú tâm, tương ứng Thiền thứ nhất); Ta đã phát triển định không tầm nhưng chỉ có tứ (concentration without applied thought but with sustained thought only - avitakka vicāramatta samādhi - định không có sự hướng tâm ban đầu nhưng vẫn còn sự duy trì chú tâm); Ta đã phát triển định không tầm và không tứ (concentration without applied thought and without sustained thought - avitakka avicāra samādhi - định không cần hướng tâm ban đầu và không cần duy trì sự chú tâm liên tục, tâm an trụ vững chắc, tương ứng Thiền thứ hai trở lên); Ta đã phát triển định có hỷ (concentration with rapture - pīti sahagata samādhi - định đi kèm với sự vui mừng, phấn khởi, có trong Thiền thứ nhất đến thứ ba); Ta đã phát triển định không hỷ (concentration without rapture - nippītika samādhi - định không còn sự vui mừng, phấn khởi, tương ứng Thiền thứ tư); Ta đã phát triển định đi kèm với lạc (concentration accompanied by enjoyment - sukha sahagata samādhi - định đi kèm với cảm giác dễ chịu, hạnh phúc, có trong Thiền thứ nhất đến thứ ba); Ta đã phát triển định đi kèm với xả (concentration accompanied by equanimity - upekkhā sahagata samādhi - định đi kèm với trạng thái bình thản, không dao động, có trong Thiền thứ tư). [^1196]”

32. “Này Anuruddha, khi Ta đã phát triển định có tầm và có tứ… khi Ta đã phát triển định đi kèm với xả, tri kiến khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát (deliverance - vimutti - sự thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi) của Ta là không thể lay chuyển; đây là đời sống cuối cùng của Ta; nay không còn tái sinh (renewal of being - punabbhava - sự tiếp tục tồn tại trong vòng luân hồi) nữa.’”[^1197]

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Đại đức Anuruddha hoan hỷ và tín thọ lời Thế Tôn dạy.

128. KINH TÙY PHIỀN NÃO

128. KINH TÙY PHIỀN NÃO (Upakkilesa Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tịnh xá Ghosita (Cu-sư-la).

Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ở Kosambi, sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Tốt lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn, đến các Tỷ-kheo ấy.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến liền nói với họ:

– Thôi vừa rồi, các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!

Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:

– Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau.

Lần thứ hai Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn bậc Pháp Chủ hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:

– Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!

Lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn bậc Pháp Chủ hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm vào hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát và đi vào Kosambi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambi, ăn xong, trên con đường khi khất thực trở về, sau khi dọn dẹp chỗ nằm, lấy y bát, Ngài đứng và nói bài kệ:

Giữa quần chúng la ó,

Không ai nghĩ mình ngu, Giữa Tăng chúng phân ly Có ai nghĩ hướng thượng?

Thất niệm kẻ trí nói, Ba hoa trăm thứ chuyện, Miệng há, nói thả dàn, Dẫn đi đâu, ai biết?

"Nó mắng tôi, đánh tôi! Nó hại tôi, cướp tôi!" Ai ôm oán niệm ấy, Hận thù không thể nguôi.

"Nó mắng tôi, đánh tôi! Nó hại tôi, cướp tôi!" Không ôm oán niệm ấy, Hận thù sẽ tự nguôi.

Hận thù diệt hận thù, Không đời nào diệt được, Từ bi diệt hận thù, Là định luật ngàn thu.

"Người khác không hiểu biết, Ở đây ta bị diệt", Những ai hiểu điều này, Nhờ vậy, tranh luận tiêu.

Kẻ chủ xướng hại mạng, Cướp bò, ngựa tài sản, Kẻ cướp đoạt quốc độ, Họ còn biết đoàn kết, Sao các Ông không vậy?

Nếu được bạn hiền trí, Ðồng hành, khéo an trú, Ðả thắng mọi hiểm nạn, Sống hoan hỷ chánh niệm.

Nếu không bạn hiền trí, Như vua bỏ quốc độ, Cô độc như voi rừng. Tốt hơn, sống một mình, Không bè bạn kẻ ngu, Cô độc không làm ác, Nhàn hạ, như voi rừng.

Rồi Thế Tôn đứng nói lên những câu kệ này, rồi đi đến làng Balakalonakara. Khi ấy, Tôn giả Bhagu sống ở trong làng Balakalonakara. Tôn giả Bhagu thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền sắp đặt chỗ ngồi và

nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Bhagu đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhagu đang ngồi một bên:

– Này Tỷ-kheo, có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực, có khỏi mệt nhọc không?

– Bạch Thế Tôn, con được an lành. Bạch Thế Tôn, con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.

Rồi Thế Tôn sau khi với thời thuyết pháp khích lệ Tôn giả Bhagu, làm cho hân hoan, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Pacinavamsadaya. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anurudha (A- na-luật), Tôn giả Nandiya (Nan-đề) và Tôn giả Kimbila (Kim-ty- la) trú ở Pacinavamasadaya. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, khi thấy vậy liền bạch Thế Tôn:

Này Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện gia nam tử, rất ái luyến tự ngã (attakamanipa) trú tại đây. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.

Tôn giả Anuruddha nghe người giữ khu vườn nói chuyện với Thế Tôn, liền nói với người giữ vườn:

– Này người Giữ vườn, chớ có ngăn chặn Thế Tôn! Thế Tôn bậc Ðạo sư của chúng tôi đã đến.

Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila và nói:

– Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đã đến.

Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên:

– Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?

– Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành. Bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.

– Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?

– Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.

– Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?

– Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: "Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các đồng Phạm hạnh như vậy! Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ

bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.

Rồi Tôn giả Nandiya… Rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng Phạm hạnh như vậy!” Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.

– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! và này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?

– Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

– Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?

– Ở đây, bạch Thế Tôn chúng con ai đi vào làng khất thực về trước, người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi vào làng khất thực về sau, người ấy, còn đồ ăn để lại, nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thời bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng. Người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước trống không, người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu làm không nỗi với sức bàn tay của mình, người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: “Chúng ta hãy lo liệu (nước)”. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vậy gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả một đêm chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

– Lành thay, lành thay, này các Anurudda! Này Anuruddha, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng nhân tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái an lạc không?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, chúng con nhận thấy được hào quang, cũng như sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Chúng con không được hiểu rõ tướng ấy là gì.

– Này các Anuruddha, tướng ấy các Ông cần phải hiểu rõ. Ta cũng vậy, này các Anuruddha, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì hào quang biến mất đối với Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Nghi hoặc khởi lên nơi Ta. Vì có nghi hoặc nên định của Ta bị biến diệt; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta sẽ phải làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện

khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi của các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Không tác ý khởi lên nơi Ta Vì không có tác ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc và không tác ý không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Hôn trầm, thụy miên, khởi lên nơi Ta. Vì có hôn trầm, thụy miên nên định của Ta bị biến diệt; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc, không tác ý và hôn trầm, thụy miên không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp”. Ví như, này các Anuruddha, một người đang đi trên con đường, có kẻ giết người nhảy đến (công kích) từ hai phía. Do nhân duyên từ hai phía, người ấy khởi lên sợ hãi. Cũng vậy, này các Anuruddha, sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý hôn trầm, thụy miên và sự sợ hãi không khởi lên nơi Ta nữa".

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự phấn chấn (ubbilla) khởi lên nơi Ta. Vì có sự phấn chấn, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người đi tìm cửa miệng một kho tàng, và trong một lần tìm được năm cửa miệng kho tàng, do nhân duyên này phấn chấn khởi lên. Cũng vậy, này các Anuruddha, phấn chấn khởi lên nơi Ta. Vì có phấn chấn nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào, để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi và sự phấn chấn không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Dâm ý (dutthullam) khởi lên nơi Ta. Vì có dâm ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta, và vì có tinh cần quá độ, nên định lực biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như này các Anuruddha, một người với hai tay bắt nắm quá chặt một con chim cáy khiến con chim chết liền tại chỗ. Cũng vậy, này các Anuruddha, tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá độ… cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, và tinh cần quá độ không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Tinh cần quá yếu đuối khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá yếu đuối, nên định biến diệt nơi Ta; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như này các Anuruddha, một người bắt một con chim cáy quá lỏng lẻo, con chim ấy bay khỏi hai tay của người ấy. Cũng vậy, này các Anuruddha,… cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần quá độ và tinh cần quá yếu đuối không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: "Ái dục khởi lên nơi Ta. Vì có ái dục… với sự hiện khởi các sắc pháp… Vậy Ta phải làm thế nào để nghi

hoặc, không tác ý… tinh cần quá yếu đuối và ái dục không khởi lên nơi Ta nữa".

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật… Rồi này các Anuruddha, Ta nghĩ như sau: “Sai biệt tưởng khởi lên nơi Ta… cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc… ái dục và sai biệt tưởng không khởi lên nơi Ta nữa”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và Ta nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi sắc pháp. Những hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Một trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp khởi lên nơi Ta… cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc… (như trên)… các tưởng sai biệt và trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp không khởi lên nơi Ta nữa”. Rồi này các Anuruddha, sau khi biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ nghi hoặc, phiền não của tâm; sau khi biết được không tác ý là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ không tác ý, phiền não của tâm; sau khi biết được hôn trầm, thụy miên… sau khi biết được sợ hãi… sau khi biết được phấn chấn… sau khi biết được dâm ý… sau khi biết được sự tinh cần quá độ… sau khi biết được sự tinh cần quá yếu đuối… sau khi biết được dục ái… sau khi biết được tưởng sai biệt; sau khi biết được trạng thái quá chú tâm đến sắc pháp là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ trạng thái quá chú trọng vào các sắc pháp, một phiền não của tâm.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang nhưng Ta không thấy các sắc pháp cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Ta thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta chỉ nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp: cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Ta chỉ thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Trong khi Ta không tác ý sắc tướng, nhưng có tác ý hào quang tướng, trong khi ấy ta nhận thấy hào quang, (nhưng) không thấy sắc pháp. Còn trong khi Ta không tác ý hào quang tướng (nhưng) tác ý sắc tướng; trong khi ấy Ta thấy các sắc pháp, (nhưng) không nhận thấy hào quang, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.

Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy được các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và nhận thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Khi nào định có hạn lượng, khi ấy mắt của Ta có hạn lượng; với con mắt có hạn lượng. Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy sắc pháp có hạn lượng. Nhưng khi nào định của Ta không hạn lượng, trong khi ấy mắt của Ta thành vô lượng, và với con mắt vô lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang vô lượng và thấy các sắc pháp vô lượng cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.

Này các Anuruddha, khi nào biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, thời nghi hoặc phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được không tác ý là một phiền não của tâm, thời không tác ý phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được hôn trầm, thụy miên… ; khi nào biết được sợ hãi… ; khi nào biết được phấn chấn… ; khi nào biết được dâm ý… ; khi nào biết được tinh cần quá độ… ; khi nào biết được sự tinh cần quá yếu đuối… ; khi nào biết được dục ái… ; khi nào biết được tưởng sai biệt… ; khi nào biết được trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp là một phiền não của tâm, thời trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp một phiền não của tâm được đoạn trừ. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Những phiền não tâm của Ta đã được đoạn trừ. Nay Ta tu tập ba loại định”.

Rồi này các Anuruddha, Ta tu tập định có tầm, có tứ; Ta tu tập định không có tầm, chỉ có tứ; Ta tu tập

định không tầm không tứ; Ta tu tập định có hỷ; Ta tu tập định không có hỷ; Ta tu tập định câu hữu với lạc; Ta tu tập định câu hữu với xả.

Này các Anuruddha, khi nào Ta tu tập định có tầm, có tứ; khi nào Ta tu tập định không tầm chỉ có tứ; khi nào Ta tu tập định không có tầm, không có tứ; khi nào Ta tu tập định có hỷ; khi nào Ta tu tập định không có hỷ; khi nào Ta tu tập định câu hữu với xả, thời tri kiến khởi lên nơi Ta: “Giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng của Ta, nay không còn hiện hữu”.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Các nhà sư nam đã thọ giới cụ túc trong Phật giáo.
  • bậc Pháp Vương / Dhammarājā / Lord of the Dhamma: Bậc Tôn Chủ của Giáo Pháp, một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật.
  • Tăng đoàn / Sangha / Sangha: Cộng đồng các vị tỳ kheo (nam) và tỳ kheo ni (nữ), hoặc rộng hơn là cộng đồng bốn chúng đệ tử Phật (tỳ kheo, tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ). Trong ngữ cảnh này chỉ cộng đồng tu sĩ.
  • Đại đức / Bhante / venerable: Tôn xưng dùng cho các vị tỳ kheo, thể hiện sự kính trọng.
  • bài pháp thoại / Dhammadesanā / talk on the Dhamma: Bài nói chuyện, giảng giải về Giáo Pháp của Đức Phật.
  • vị ẩn sĩ / samaṇa / recluse: Người sống đời sống không gia đình, từ bỏ thế tục để tu hành, tìm cầu giải thoát.
  • Bậc Đạo Sư / Satthā / Teacher: Bậc Thầy chỉ đường tâm linh, một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật.
  • bạn đồng tu / sabrahmacārī / companions in the holy life: Những người bạn cùng thực hành đời sống phạm hạnh, cùng tu tập theo Giáo Pháp.
  • hành động thân ái / kāyakamma mettāsahagata / bodily acts of loving-kindness: Hành động của thân thể thể hiện lòng từ ái, sự thân thiện.
  • hành động khẩu ái / vacīkamma mettāsahagata / verbal acts of loving-kindness: Lời nói thể hiện lòng từ ái, sự thân thiện.
  • hành động ý ái / manokamma mettāsahagata / mental acts of loving-kindness: Ý nghĩ thể hiện lòng từ ái, sự thân thiện.
  • tinh tấn / viriya / diligent: Sự siêng năng, nỗ lực không ngừng trong việc tu tập, thực hành thiện pháp và từ bỏ bất thiện pháp.
  • nhiệt tâm / ātāpī / ardent: Sự hăng hái, sốt sắng, nỗ lực mạnh mẽ để đốt cháy phiền não.
  • quyết tâm / adhiṭṭhāna (implied) / resolute: Sự quyết tâm vững chắc, không dao động trên con đường tu tập.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về sự vận hành của vạn vật, con đường đưa đến giải thoát khổ đau.
  • trạng thái siêu phàm / uttarimanussadhamma / superhuman states: Những trạng thái tâm thức, năng lực hoặc sự chứng đắc vượt trội hơn người bình thường, thường liên quan đến thiền định và tuệ giác.
  • tri kiến / ñāṇadassana / knowledge and vision: Sự hiểu biết và thấy biết đúng như thật, đặc biệt là sự thấy biết về bản chất của thực tại thông qua thiền định và tuệ quán.
  • bậc thánh / ariya / noble ones: Những bậc đã chứng ngộ các cấp độ giác ngộ (từ Nhập lưu đến A-la-hán) hoặc đang thực hành con đường dẫn đến giác ngộ.
  • ánh sáng / obhāsa / light: Ánh sáng xuất hiện trong tâm khi hành thiền, một trong những dấu hiệu của định tâm phát triển.
  • hình ảnh các sắc tướng / nimitta (contextually related to rūpa) / vision of forms: Sự thấy các hình ảnh, đối tượng vật chất hoặc do tâm tạo ra trong quá trình thiền định.
  • giác ngộ / bodhi / enlightenment: Sự tỉnh thức hoàn toàn, sự chứng ngộ chân lý tối hậu, chấm dứt khổ đau và luân hồi.
  • Bồ Tát / Bodhisatta / Bodhisatta: Chúng sinh đang trên con đường tu tập để đạt đến quả vị Phật Toàn Giác.
  • nghi ngờ / vicikicchā / doubt: Sự hoài nghi, do dự, không chắc chắn về Phật, Pháp, Tăng hoặc con đường tu tập, một trong năm triền cái và là một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • định lực / samādhi / concentration: Sự tập trung tâm ý một cách vững chắc vào một đối tượng duy nhất, trạng thái tâm vắng lặng, không phân tán.
  • sự không chú tâm / amanasikāra / inattention: Sự thiếu tác ý, thiếu chú ý đến đối tượng thiền định hoặc những gì cần thiết, sự xao lãng, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • hôn trầm và thụy miên / thīna-middha / sloth and torpor: Trạng thái tâm lừ đừ, uể oải, buồn ngủ, thiếu năng lực tinh thần và thể chất, một trong năm triền cái và là một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • sợ hãi / bhaya / fear: Nỗi lo sợ, kinh hãi, bất an, có thể phát sinh do nhiều nguyên nhân, làm cản trở sự bình an của tâm, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • phấn khích quá độ / uppila / elation: Sự vui mừng, hưng phấn, phấn chấn quá mức, làm mất đi sự quân bình và tĩnh lặng của tâm, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • trì trệ / chambhitatta (related concept) / inertia: Sự uể oải, thụ động, thiếu linh hoạt, cứng nhắc trong tâm, làm tâm khó thay đổi hoặc tiến bộ, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • tinh tấn quá mức / accāraddha-viriya / excess of energy: Sự nỗ lực, cố gắng quá căng thẳng, mất quân bình, dẫn đến mệt mỏi, căng thẳng thay vì định tĩnh, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • thiếu tinh tấn / atilīna-viriya / deficiency of energy: Sự nỗ lực quá yếu ớt, lười biếng, thụ động, không đủ sức duy trì sự chú tâm hay vượt qua chướng ngại, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • khao khát / abhijappā / longing: Sự mong muốn, ham muốn, thèm khát mãnh liệt đối với các đối tượng dục lạc hoặc trạng thái nào đó, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • nhận thức về tính đa dạng / nānatta-saññā / perception of diversity: Sự chú ý của tâm hướng đến nhiều đối tượng khác nhau, làm mất đi sự tập trung vào một đối tượng thiền định duy nhất, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • chú tâm quá mức vào các sắc tướng / atinijjhāyitattaṃ rūpānaṃ / excessive meditation upon forms: Sự tập trung, quán chiếu quá nhiều, quá sâu vào các hình ảnh, đối tượng sắc pháp, làm mất quân bình hoặc gây chấp thủ, một phiền não ô nhiễm tâm (upakkilesa).
  • phiền não làm ô nhiễm tâm / upakkilesa / imperfection of the mind: Những trạng thái tâm bất thiện làm ô uế, cản trở sự trong sáng và phát triển của tâm, đặc biệt là trong thiền định (bao gồm 11 loại được liệt kê trong kinh này: nghi ngờ, không chú tâm, hôn trầm thụy miên, sợ hãi, phấn khích quá độ, trì trệ, tinh tấn quá mức, thiếu tinh tấn, khao khát, nhận thức đa dạng, chú tâm quá mức vào sắc tướng).
  • dấu hiệu của sắc tướng / rūpa nimitta / sign of forms: Đặc điểm, hình ảnh, đối tượng nhận biết liên quan đến sắc pháp (vật chất) trong thiền định.
  • dấu hiệu của ánh sáng / obhāsa nimitta / sign of light: Đặc điểm, hình ảnh, đối tượng nhận biết liên quan đến ánh sáng trong thiền định.
  • ánh sáng vô lượng / appamāṇa obhāsa / immeasurable light: Ánh sáng rộng lớn, không giới hạn, không thể đo lường xuất hiện trong thiền định sâu.
  • sắc tướng vô lượng / appamāṇa rūpa / immeasurable forms: Hình ảnh, đối tượng sắc pháp rộng lớn, không giới hạn, không thể đo lường xuất hiện trong thiền định sâu.
  • tầm nhìn / cakkhu (metaphorical) / vision: Khả năng thấy biết bằng tâm, tuệ nhãn phát sinh trong thiền định.
  • định lực vô lượng / appamāṇa samādhi / immeasurable concentration: Trạng thái định tâm sâu sắc, vững chắc, rộng lớn, không giới hạn.
  • định có tầm và có tứ / savitakka savicāra samādhi / concentration with applied thought and sustained thought: Trạng thái định tương ứng với Thiền thứ nhất (First Jhana), có sự hướng tâm ban đầu (tầm - vitakka) và sự duy trì chú tâm trên đối tượng (tứ - vicāra).
  • định không tầm nhưng chỉ có tứ / avitakka vicāramatta samādhi / concentration without applied thought but with sustained thought only: Trạng thái định không còn sự hướng tâm ban đầu (tầm) nhưng vẫn còn sự duy trì chú tâm (tứ) (theo một số cách phân loại hoặc trạng thái trung gian giữa Thiền thứ nhất và thứ hai).
  • định không tầm và không tứ / avitakka avicāra samādhi / concentration without applied thought and without sustained thought: Trạng thái định tương ứng với Thiền thứ hai (Second Jhana) trở lên, không còn tầm và tứ, tâm an trụ vững chắc.
  • định có hỷ / pīti sahagata samādhi / concentration with rapture: Trạng thái định đi kèm với yếu tố hỷ (pīti - sự vui mừng, phấn khởi), có trong Thiền thứ nhất đến thứ ba.
  • định không hỷ / nippītika samādhi / concentration without rapture: Trạng thái định không còn yếu tố hỷ, tương ứng với Thiền thứ tư (Fourth Jhana).
  • định đi kèm với lạc / sukha sahagata samādhi / concentration accompanied by enjoyment: Trạng thái định đi kèm với yếu tố lạc (sukha - cảm giác dễ chịu, hạnh phúc), có trong Thiền thứ nhất đến thứ ba.
  • định đi kèm với xả / upekkhā sahagata samādhi / concentration accompanied by equanimity: Trạng thái định đi kèm với yếu tố xả (upekkhā - trạng thái bình thản, không dao động, quân bình), có trong Thiền thứ tư.
  • sự giải thoát / vimutti / deliverance: Sự thoát khỏi mọi khổ đau, phiền não và vòng luân hồi sinh tử.
  • tái sinh / punabbhava / renewal of being: Sự tiếp tục tồn tại, sự sinh trở lại trong các cõi sống khác nhau sau khi chết, do nghiệp (kamma) và phiền não (kilesa) chi phối.