Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 129. Kẻ Ngu và Người Trí

(Kinh Bālapaṇdita - Kinh Trung Bộ 129)

[163] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Vườn Jeta (Kỳ-đà), Khu vườn của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Ngài gọi các vị tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư Phật giáo Nam truyền): “Này các Tỳ kheo.” “Bạch Thế Tôn,” các vị ấy đáp lời. Đức Thế Tôn dạy như sau:

(KẺ NGU)

2. "Này các Tỳ kheo, có ba đặc điểm này của kẻ ngu (bāla - người thiếu trí tuệ, hành động bất thiện), dấu hiệu của kẻ ngu, phẩm chất của kẻ ngu. Ba điều đó là gì? Ở đây, kẻ ngu là người có ý nghĩ xấu, lời nói xấu và hành động xấu. Nếu kẻ ngu không như vậy, làm sao người trí biết được rằng: ‘Người này là kẻ ngu, một người không chân thật’? Nhưng vì kẻ ngu là người có ý nghĩ xấu, lời nói xấu và hành động xấu, nên người trí biết được rằng: ‘Người này là kẻ ngu, một người không chân thật.’

3. "Kẻ ngu cảm thấy đau khổ và sầu muộn ngay tại đây và bây giờ qua ba cách. Nếu kẻ ngu đang ngồi trong một hội chúng, hoặc dọc đường phố, hoặc tại quảng trường, và mọi người ở đó đang thảo luận về những vấn đề thích hợp và liên quan, thì, nếu kẻ ngu là người sát sinh, lấy của không cho, tà dâm trong các thú vui nhục dục, nói dối, và nghiện rượu, chất say, là cơ sở của sự dễ duôi (pamāda - sự thiếu chú tâm, buông thả trong việc tu tập và giữ giới), kẻ ấy nghĩ: ‘Những người này đang thảo luận về những vấn đề thích hợp và liên quan; những điều này được tìm thấy trong ta, và ta bị thấy đang làm những điều đó.’ Đây là loại đau khổ và sầu muộn đầu tiên mà kẻ ngu cảm thấy ngay tại đây và bây giờ.

4. "Lại nữa, khi một tên cướp phạm tội bị bắt, kẻ ngu thấy vua cho người thi hành nhiều loại tra tấn lên hắn: [^1198] [164] đánh bằng roi, đánh bằng gậy mây, đánh bằng dùi cui; bị chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân; bị cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai mũi; bị hình phạt ‘nồi cháo’, ‘cạo vỏ sò bóng’, ‘miệng Rāhu’, ‘vòng hoa lửa’, ‘bàn tay rực lửa’, ‘lưỡi dao cỏ’, ‘áo vỏ cây’, ‘con sơn dương’, ‘móc thịt’, ‘đồng xu’, ‘ngâm nước tro’, ‘trục xoay’, ‘chiếu cuốn’; và bị dội dầu sôi, bị ném cho chó ăn, bị đóng cọc xuyên người khi còn sống, và bị chặt đầu bằng gươm. Bấy giờ kẻ ngu nghĩ như sau: ‘Vì những hành động xấu xa như vậy, khi một tên cướp phạm tội bị bắt, vua cho người thi hành nhiều loại tra tấn lên hắn: họ đánh hắn bằng roi… và chặt đầu hắn bằng gươm. Những điều đó được tìm thấy trong ta, và ta bị thấy đang làm những điều đó.’ Đây là loại đau khổ và sầu muộn thứ hai mà kẻ ngu cảm thấy ngay tại đây và bây giờ.

5. "Lại nữa, khi kẻ ngu đang ở trên ghế, trên giường hoặc nằm nghỉ trên mặt đất, thì những ác nghiệp mà kẻ ấy đã làm trong quá khứ - những hành vi sai trái qua thân, khẩu và ý - bao phủ, trùm lên và bao bọc lấy kẻ ấy. Giống như bóng của một đỉnh núi lớn vào buổi chiều bao phủ, trùm lên và bao bọc mặt đất, cũng vậy, khi kẻ ngu đang ở trên ghế, trên giường hoặc nằm nghỉ trên mặt đất, [165] thì những ác nghiệp mà kẻ ấy đã làm trong quá khứ - những hành vi sai trái qua thân, khẩu và ý - bao phủ, trùm lên và bao bọc lấy kẻ ấy. Bấy giờ kẻ ngu nghĩ: ‘Ta đã không làm điều tốt, ta đã không làm điều thiện lành, ta đã không tạo cho mình nơi nương tựa khỏi khổ đau. Ta đã làm điều ác, ta đã làm điều tàn nhẫn, ta đã làm điều xấu xa. Khi ta qua đời, ta sẽ đi đến cảnh giới của những người không làm điều tốt… những người đã làm điều xấu xa.’ Kẻ ấy buồn rầu, đau khổ, than khóc, đấm ngực và trở nên quẫn trí. Đây là loại đau khổ và sầu muộn thứ ba mà kẻ ngu cảm thấy ngay tại đây và bây giờ.

6. "Kẻ ngu đã buông thả theo hành vi sai trái của thân, khẩu và ý, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh (upapajjati - sinh trở lại vào một cảnh giới khác sau khi chết) vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (apāya, duggati, vinipāta, niraya - các cảnh giới tái sinh đau khổ do nghiệp bất thiện).

(ĐỊA NGỤC)

7. “Nếu có điều gì đáng được gọi là: ‘Điều đó hoàn toàn không mong muốn, hoàn toàn không ưa thích, hoàn toàn khó chịu,’ thì chính địa ngục là điều đáng được gọi như vậy, đến nỗi khó tìm được một ví dụ so sánh cho sự đau khổ ở địa ngục.”

Khi nghe vậy, một vị tỳ kheo hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, liệu có thể đưa ra một ví dụ so sánh không?”

8. “Có thể, này Tỳ kheo,” Đức Thế Tôn nói. [^1199] “Này các Tỳ kheo, giả sử người ta bắt được một tên cướp phạm tội và dẫn đến trình vua, nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, đây là một tên cướp phạm tội. Xin hạ lệnh trừng phạt hắn theo ý ngài.’ Rồi vua nói: ‘Hãy đi và đâm người này một trăm ngọn giáo vào buổi sáng.’ Và họ đâm hắn một trăm ngọn giáo vào buổi sáng. Đến trưa, vua hỏi: ‘Người đó thế nào rồi?’ - ‘Tâu bệ hạ, hắn vẫn còn sống.’ Rồi vua nói: ‘Hãy đi và đâm người đó một trăm ngọn giáo vào buổi trưa.’ Và họ đâm hắn một trăm ngọn giáo vào buổi trưa. Đến chiều, vua hỏi: ‘Người đó thế nào rồi?’ - ‘Tâu bệ hạ, hắn vẫn còn sống.’ Rồi vua nói: ‘Hãy đi và đâm người đó một trăm ngọn giáo vào buổi chiều.’ Và họ đâm hắn một trăm ngọn giáo vào buổi chiều. [166] Các Tỳ kheo nghĩ sao? Người đó có cảm thấy đau khổ và sầu muộn vì bị đâm ba trăm ngọn giáo không?”

“Bạch Thế Tôn, người đó sẽ cảm thấy đau khổ và sầu muộn chỉ vì bị đâm một ngọn giáo, huống chi là ba trăm ngọn.”

9. Sau đó, Đức Thế Tôn lấy một hòn đá nhỏ bằng bàn tay, nói với các Tỳ kheo: “Các Tỳ kheo nghĩ sao? Cái nào lớn hơn, hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà Ta đã lấy, hay Hy Mã Lạp Sơn, vua của các loài núi?”

“Bạch Thế Tôn, hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà Đức Thế Tôn đã lấy không đáng kể gì so với Hy Mã Lạp Sơn, vua của các loài núi; nó thậm chí không bằng một phần nhỏ, không thể so sánh được.”

"Cũng vậy, này các Tỳ kheo, nỗi đau khổ và sầu muộn mà người đó phải chịu vì bị đâm ba trăm ngọn giáo không đáng kể gì so với sự đau khổ của địa ngục; nó thậm chí không bằng một phần nhỏ, không thể so sánh được.

10. "Bấy giờ, những người cai ngục địa ngục tra tấn kẻ ấy bằng hình phạt đóng năm cọc. Họ đóng một cọc sắt nung đỏ xuyên qua một bàn tay, họ đóng một cọc sắt nung đỏ xuyên qua bàn tay kia, họ đóng một cọc sắt nung đỏ xuyên qua một bàn chân, họ đóng một cọc sắt nung đỏ xuyên qua bàn chân kia, họ đóng một cọc sắt nung đỏ xuyên qua bụng. Ở đó, kẻ ấy cảm thấy những cảm giác đau đớn, dữ dội, xuyên thấu. Tuy nhiên, kẻ ấy không chết cho đến khi ác nghiệp đó chưa trả hết quả.

11. "Tiếp theo, những người cai ngục địa ngục quật ngã kẻ ấy xuống và dùng rìu để đẽo. Ở đó, kẻ ấy cảm thấy những cảm giác đau đớn, dữ dội, xuyên thấu. Tuy nhiên, kẻ ấy không chết cho đến khi ác nghiệp đó chưa trả hết quả.

12. "Tiếp theo, những người cai ngục địa ngục đặt kẻ ấy chân hướng lên, đầu chúc xuống và dùng búa để đẽo. Ở đó, kẻ ấy cảm thấy những cảm giác đau đớn, dữ dội, xuyên thấu. Tuy nhiên, kẻ ấy không chết cho đến khi ác nghiệp đó chưa trả hết quả.

13. "Tiếp theo, những người cai ngục địa ngục buộc kẻ ấy vào một cỗ xe và kéo đi kéo lại trên nền đất cháy bỏng, rực lửa và nóng hừng hực. [167] Ở đó, kẻ ấy cảm thấy những cảm giác đau đớn, dữ dội, xuyên thấu. Tuy nhiên, kẻ ấy không chết cho đến khi ác nghiệp đó chưa trả hết quả.

14. "Tiếp theo, những người cai ngục địa ngục bắt kẻ ấy leo lên leo xuống một đống than lớn đang cháy bỏng, rực lửa và nóng hừng hực. Ở đó, kẻ ấy cảm thấy những cảm giác đau đớn, dữ dội, xuyên thấu. Tuy nhiên, kẻ ấy không chết cho đến khi ác nghiệp đó chưa trả hết quả.

15. "Tiếp theo, những người cai ngục địa ngục túm chân kẻ ấy, đầu chúc xuống và nhấn chìm vào một cái vạc kim loại nung đỏ, đang cháy bỏng, rực lửa và nóng hừng hực. Kẻ ấy bị nấu ở đó trong một vòng xoáy bọt. Và khi đang bị nấu trong vòng xoáy bọt, kẻ ấy bị cuốn lúc lên, lúc xuống, lúc ngang. Ở đó, kẻ ấy cảm thấy những cảm giác đau đớn, dữ dội, xuyên thấu. Tuy nhiên, kẻ ấy không chết cho đến khi ác nghiệp đó chưa trả hết quả.

16. "Tiếp theo, những người cai ngục địa ngục ném kẻ ấy vào Đại Địa Ngục (Mahāniraya). Này các Tỳ kheo, về Đại Địa Ngục đó:

Nó có bốn góc và được xây Với bốn cửa, mỗi bên một cửa, Tường bao quanh bằng sắt khắp nơi Và mái che cũng bằng sắt nốt.

Sàn của nó cũng làm bằng sắt Nung nóng lên cho đến rực lửa. Phạm vi rộng đúng một trăm do-tuần (yojana) Bao trùm khắp mọi nơi mọi chốn.

17. "Này các Tỳ kheo, Ta có thể kể cho các ngươi nghe về địa ngục bằng nhiều cách. [^1200] Đến nỗi khó tìm được một ví dụ so sánh cho sự đau khổ ở địa ngục.

(CÕI SÚC SINH)

18. "Này các Tỳ kheo, có những loài vật ăn cỏ. Chúng ăn bằng cách gặm cỏ tươi hoặc khô bằng răng. Và những loài vật nào ăn cỏ? Voi, ngựa, bò, lừa, dê, nai và bất kỳ loài vật nào tương tự khác. Kẻ ngu trước đây ham thích vị trần (thích thú các hương vị) ở đây và làm những ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào loài vật ăn cỏ.

19. "Có những loài vật ăn phân. Chúng ngửi thấy mùi phân từ xa và chạy đến đó, nghĩ rằng: ‘Chúng ta có thể ăn, chúng ta có thể ăn!’ Giống như các vị Bà-la-môn chạy đến mùi tế lễ, nghĩ rằng: ‘Chúng ta có thể ăn, chúng ta có thể ăn!’ cũng vậy, những loài vật ăn phân này [168] ngửi thấy mùi phân từ xa và chạy đến đó, nghĩ rằng: ‘Chúng ta có thể ăn, chúng ta có thể ăn!’ Và những loài vật nào ăn phân? Gà, heo, chó, chó rừng và bất kỳ loài vật nào tương tự khác. Kẻ ngu trước đây ham thích vị trần ở đây và làm những ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào loài vật ăn phân.

20. "Có những loài vật sinh ra, già đi và chết trong bóng tối. Và những loài vật nào sinh ra, già đi và chết trong bóng tối? Bướm đêm, giòi bọ, giun đất và bất kỳ loài vật nào tương tự khác. Kẻ ngu trước đây ham thích vị trần ở đây và làm những ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào loài vật sinh ra, già đi và chết trong bóng tối.

21. "Có những loài vật sinh ra, già đi và chết trong nước. Và những loài vật nào sinh ra, già đi và chết trong nước? Cá, rùa, cá sấu và bất kỳ loài vật nào tương tự khác. Kẻ ngu trước đây ham thích vị trần ở đây và làm những ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào loài vật sinh ra, già đi và chết trong nước.

22. "Có những loài vật sinh ra, già đi và chết trong sự ô uế. Và những loài vật nào sinh ra, già đi và chết trong sự ô uế? Những loài vật sinh ra, già đi và chết trong cá thối, xác chết thối, bột thối, hố phân hoặc cống rãnh. [169] Kẻ ngu trước đây ham thích vị trần ở đây và làm những ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào loài vật sinh ra, già đi và chết trong sự ô uế.

23. "Này các Tỳ kheo, Ta có thể kể cho các ngươi nghe về cõi súc sinh (tiracchānayoni - cảnh giới của các loài vật) bằng nhiều cách, đến nỗi khó tìm được một ví dụ so sánh cho sự đau khổ trong cõi súc sinh.

24. “Giả sử một người ném xuống biển một khúc gỗ có một lỗ hổng, gió đông thổi nó về phía tây, gió tây thổi nó về phía đông, gió bắc thổi nó về phía nam, và gió nam thổi nó về phía bắc. Giả sử có một con rùa mù cứ mỗi trăm năm lại nổi lên một lần. Các Tỳ kheo nghĩ sao? Liệu con rùa mù đó có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng đó không?”

“Bạch Thế Tôn, có thể, vào một lúc nào đó sau một thời gian dài.”

"Này các Tỳ kheo, con rùa mù chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng đó còn mất ít thời gian hơn là một kẻ ngu, một khi đã rơi vào đọa xứ, có thể lấy lại được thân người, Ta nói vậy. Tại sao? Bởi vì ở đó không có sự thực hành Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý, quy luật tự nhiên), không có sự hành xử đúng đắn, không có việc làm điều thiện lành, không có sự tạo phước báu (puñña - công đức, thiện nghiệp tạo ra kết quả tốt đẹp). Ở đó chỉ có cảnh ăn thịt lẫn nhau và kẻ mạnh giết hại kẻ yếu.

25. "Nếu, vào một lúc nào đó, sau một thời gian dài, kẻ ngu đó trở lại được thân người, kẻ ấy sẽ tái sinh vào một gia đình hạ tiện - gia đình của những người cùng đinh, thợ săn, thợ đan tre, thợ đóng xe, hoặc người nhặt rác - một gia đình nghèo khó, ít đồ ăn thức uống, sống lay lắt, nơi kẻ ấy khó kiếm được thức ăn và quần áo; và kẻ ấy xấu xí, khó coi, dị dạng, ốm yếu, mù lòa, què tay, què chân hoặc bại liệt; kẻ ấy không có thức ăn, thức uống, quần áo, [170] xe cộ, vòng hoa, hương liệu và thuốc xức, giường, chỗ ở và ánh sáng; kẻ ấy có hành vi sai trái qua thân, khẩu và ý, và sau khi làm vậy, sau khi thân hoại mạng chung, kẻ ấy lại tái sinh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, thậm chí là địa ngục.

26. "Này các Tỳ kheo, giả sử một người chơi cờ bạc ngay trong ván thua đầu tiên đã mất con cái, vợ và toàn bộ tài sản, hơn nữa bản thân còn rơi vào vòng nô lệ, nhưng ván thua như vậy vẫn còn là nhỏ; một ván thua tồi tệ hơn nhiều là khi một kẻ ngu có hành vi sai trái qua thân, khẩu và ý, sau khi thân hoại mạng chung, tái sinh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, thậm chí là địa ngục. Đây là sự hoàn tất trọn vẹn cảnh giới của kẻ ngu. [^1201]

(NGƯỜI TRÍ)

27. "Này các Tỳ kheo, có ba đặc điểm này của người trí (paṇḍita - người có trí tuệ, hành động thiện lành), dấu hiệu của người trí, phẩm chất của người trí. Ba điều đó là gì? Ở đây, người trí là người có ý nghĩ tốt, lời nói tốt và hành động tốt. Nếu người trí không như vậy, làm sao người trí biết được rằng: ‘Người này là người trí, một người chân thật’? Nhưng vì người trí là người có ý nghĩ tốt, lời nói tốt và hành động tốt, nên người trí biết được rằng: ‘Người này là người trí, một người chân thật.’

28. "Người trí cảm thấy hỷ lạc và vui mừng ngay tại đây và bây giờ qua ba cách. Nếu người trí đang ngồi trong một hội chúng, hoặc dọc đường phố, hoặc tại quảng trường, và mọi người ở đó đang thảo luận về những vấn đề thích hợp và liên quan, thì, nếu người trí là người từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm trong các thú vui nhục dục, [171] từ bỏ nói dối, từ bỏ rượu, chất say, là cơ sở của sự dễ duôi, người ấy nghĩ: ‘Những người này đang thảo luận về những vấn đề thích hợp và liên quan; những điều đó không được tìm thấy trong ta, và ta không bị thấy đang làm những điều đó.’ [^1202] Đây là loại hỷ lạc và vui mừng đầu tiên mà người trí cảm thấy ngay tại đây và bây giờ.

29. "Lại nữa, khi một tên cướp phạm tội bị bắt, người trí thấy vua cho người thi hành nhiều loại tra tấn lên hắn…(như trong §4)… Bấy giờ người trí nghĩ như sau: ‘Vì những hành động xấu xa như vậy, khi một tên cướp phạm tội bị bắt, vua cho người thi hành nhiều loại tra tấn lên hắn. Những điều đó không được tìm thấy trong ta, và ta không bị thấy đang làm những điều đó.’ Đây là loại hỷ lạc và vui mừng thứ hai mà người trí cảm thấy ngay tại đây và bây giờ.

30. "Lại nữa, khi người trí đang ở trên ghế, trên giường hoặc nằm nghỉ trên mặt đất, thì những thiện nghiệp mà người ấy đã làm trong quá khứ - những hành vi tốt đẹp qua thân, khẩu và ý - bao phủ, trùm lên và bao bọc lấy người ấy. Giống như bóng của một đỉnh núi lớn vào buổi chiều bao phủ, trùm lên và bao bọc mặt đất, cũng vậy, khi người trí đang ở trên ghế, trên giường hoặc nằm nghỉ trên mặt đất, thì những thiện nghiệp mà người ấy đã làm trong quá khứ - những hành vi tốt đẹp qua thân, khẩu và ý - bao phủ, trùm lên và bao bọc lấy người ấy. Bấy giờ người trí nghĩ: ‘Ta đã không làm điều ác, ta đã không làm điều tàn nhẫn, ta đã không làm điều xấu xa. Ta đã làm điều tốt, ta đã làm điều thiện lành, ta đã tạo cho mình nơi nương tựa khỏi khổ đau. Khi ta qua đời, ta sẽ đi đến cảnh giới của những người không làm điều ác… những người đã tạo cho mình nơi nương tựa khỏi khổ đau.’ Người ấy không buồn rầu, đau khổ, than khóc, không đấm ngực và trở nên quẫn trí. Đây là loại hỷ lạc và vui mừng thứ ba mà người trí cảm thấy ngay tại đây và bây giờ.

31. "Người trí đã thực hành hạnh kiểm tốt đẹp của thân, khẩu và ý, [172] sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào cõi lành, cõi trời (sugati, sagga loka - cảnh giới tái sinh hạnh phúc do nghiệp thiện).

(CÕI TRỜI)

32. “Nếu có điều gì đáng được gọi là: ‘Điều đó hoàn toàn mong muốn, hoàn toàn ưa thích, hoàn toàn dễ chịu,’ thì chính cõi trời là điều đáng được gọi như vậy, đến nỗi khó tìm được một ví dụ so sánh cho hạnh phúc ở cõi trời.”

Khi nghe vậy, một vị tỳ kheo hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, liệu có thể đưa ra một ví dụ so sánh không?”

33. “Có thể, này Tỳ kheo,” Đức Thế Tôn nói. "Này các Tỳ kheo, giả sử một vị Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti Rāja - vị vua lý tưởng cai trị thế giới bằng Pháp) [^1203] sở hữu bảy báu vật (satta ratanāni - bảy vật quý báu đặc biệt của Chuyển Luân Thánh Vương) và bốn sự thành tựu, và nhờ đó mà cảm nghiệm được hỷ lạc và vui mừng.

34. "Bảy báu vật là gì? Ở đây, khi một vị vua Quán đảnh thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã tắm gội vào ngày Bố-tát (Uposatha - ngày sám hối và trì giới của Phật tử, thường vào ngày rằm và mồng một âm lịch) ngày rằm [^1204] và đã lên lầu thượng để thực hành Bố-tát, thì xuất hiện trước mặt vị ấy bánh xe báu thiêng liêng với ngàn căm, vành và trục, đầy đủ mọi phương diện. Khi thấy nó, vị vua Quán đảnh thuộc dòng Sát-đế-lỵ nghĩ như sau: ‘Ta đã nghe nói rằng khi một vị vua Quán đảnh thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã tắm gội vào ngày Bố-tát ngày rằm và đã lên lầu thượng để thực hành Bố-tát, và xuất hiện trước mặt vị ấy bánh xe báu thiêng liêng với ngàn căm, vành và trục, đầy đủ mọi phương diện, thì vị vua đó trở thành một Chuyển Luân Thánh Vương. Vậy ta có phải là một Chuyển Luân Thánh Vương không?’

35. "Rồi vị vua Quán đảnh thuộc dòng Sát-đế-lỵ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, tay trái cầm bình nước, tay phải rưới nước lên bánh xe báu, nói rằng: ‘Hãy lăn về phía trước, hỡi bánh xe báu tốt lành; hãy chiến thắng, hỡi bánh xe báu tốt lành!’ Bấy giờ bánh xe báu lăn về phía trước theo hướng đông và Chuyển Luân Thánh Vương đi theo cùng với bốn loại binh chủng của mình. Ở bất cứ vùng nào bánh xe báu dừng lại, Chuyển Luân Thánh Vương sẽ đóng quân ở đó cùng với bốn loại binh chủng của mình. Và [173] các vua đối địch ở phương đông đến gặp Chuyển Luân Thánh Vương và nói: ‘Xin mời đến, đại vương; chào mừng, đại vương; xin hãy ra lệnh, đại vương; xin hãy khuyên bảo, đại vương.’ Chuyển Luân Thánh Vương nói như sau: ‘Các ngươi không nên sát sinh; không nên lấy của không cho; không nên tà dâm trong các thú vui nhục dục; không nên nói dối; không nên uống rượu; hãy ăn những gì các ngươi quen ăn.’ Và các vua đối địch ở phương đông quy phục Chuyển Luân Thánh Vương.

"Rồi bánh xe báu lao xuống biển đông và lại nổi lên. Và rồi nó lăn về phía trước theo hướng nam… Và các vua đối địch ở phương nam quy phục Chuyển Luân Thánh Vương. Rồi bánh xe báu lao xuống biển nam và lại nổi lên. Và rồi nó lăn về phía trước theo hướng tây… Và các vua đối địch ở phương tây quy phục Chuyển Luân Thánh Vương. Rồi bánh xe báu lao xuống biển tây và lại nổi lên. Và rồi nó lăn về phía trước theo hướng bắc… Và các vua đối địch ở phương bắc quy phục Chuyển Luân Thánh Vương.

"Bấy giờ, khi bánh xe báu đã chinh phục khắp trái đất đến tận bờ đại dương, nó quay trở về kinh đô và dừng lại như thể được gắn chặt vào trục tại cổng nội cung của Chuyển Luân Thánh Vương, như một vật trang trí cho cổng nội cung của ngài. Đó là bánh xe báu xuất hiện cho một Chuyển Luân Thánh Vương.

36. "Lại nữa, voi báu xuất hiện cho Chuyển Luân Thánh Vương, toàn thân trắng muốt, đứng vững bảy chi, có thần thông, bay được trên không, là vua voi tên ‘Uposatha.’ Khi thấy voi, tâm của Chuyển Luân Thánh Vương tin tưởng vào nó như sau: ‘Thật tuyệt vời nếu được cưỡi voi, nếu nó chịu được huấn luyện!’ Rồi voi báu [174] chịu sự huấn luyện giống như một con voi nòi tốt được thuần hóa kỹ lưỡng trong thời gian dài. Và có lần Chuyển Luân Thánh Vương, khi thử voi báu, cưỡi nó vào buổi sáng, và sau khi đi khắp trái đất đến tận bờ đại dương, ngài trở về kinh đô để dùng bữa sáng. Đó là voi báu xuất hiện cho một Chuyển Luân Thánh Vương.

37. "Lại nữa, ngựa báu xuất hiện cho Chuyển Luân Thánh Vương, toàn thân trắng muốt, đầu đen như quạ, bờm như cỏ munja, có thần thông, bay được trên không, là vua ngựa tên ‘Valāhaka’ [‘Mây Sấm’]. Khi thấy ngựa, tâm của Chuyển Luân Thánh Vương tin tưởng vào nó như sau: ‘Thật tuyệt vời nếu được cưỡi ngựa, nếu nó chịu được huấn luyện!’ Rồi ngựa báu chịu sự huấn luyện giống như một con ngựa nòi tốt được thuần hóa kỹ lưỡng trong thời gian dài. Và có lần Chuyển Luân Thánh Vương, khi thử ngựa báu, cưỡi nó vào buổi sáng, và sau khi đi khắp trái đất đến tận bờ đại dương, ngài trở về kinh đô để dùng bữa sáng. Đó là ngựa báu xuất hiện cho một Chuyển Luân Thánh Vương.

38. "Lại nữa, ngọc báu xuất hiện cho Chuyển Luân Thánh Vương. Viên ngọc là loại ngọc lưu ly hảo hạng, nước trong nhất, tám cạnh, và được cắt gọt tinh xảo. Ánh sáng của ngọc báu tỏa ra xung quanh cả một do-tuần. Và có lần, khi Chuyển Luân Thánh Vương thử ngọc báu, ngài tập hợp bốn loại binh chủng của mình thành hàng ngũ, gắn viên ngọc lên đỉnh cờ hiệu, và tiến quân trong đêm tối mịt mù. Bấy giờ tất cả [dân chúng] các làng lân cận bắt đầu công việc nhờ ánh sáng của nó, tưởng rằng đã là ban ngày. Đó là ngọc báu xuất hiện cho một Chuyển Luân Thánh Vương.

39. "Lại nữa, nữ bảo (người vợ báu) xuất hiện cho Chuyển Luân Thánh Vương, xinh đẹp, duyên dáng và yêu kiều, sở hữu vẻ đẹp nước da tuyệt trần, không quá cao cũng không quá thấp, [175] không quá gầy cũng không quá mập, không quá đen cũng không quá trắng, vượt qua vẻ đẹp của con người mà chưa đạt đến vẻ đẹp của chư thiên. Sự tiếp xúc của nữ bảo mềm mại như một túm bông gòn hay một túm bông vải. Khi trời lạnh, thân thể nàng ấm áp; khi trời nóng, thân thể nàng mát mẻ. Từ thân nàng tỏa ra mùi hương gỗ đàn hương, và từ miệng nàng tỏa ra mùi hương hoa sen. Nàng thức dậy trước Chuyển Luân Thánh Vương và đi nghỉ sau ngài. Nàng luôn sốt sắng phục vụ, có hạnh kiểm dễ chịu và lời nói ngọt ngào. Vì nàng không bao giờ bất trung với Chuyển Luân Thánh Vương ngay cả trong ý nghĩ, huống chi là thân thể? Đó là nữ bảo xuất hiện cho một Chuyển Luân Thánh Vương.

40. "Lại nữa, gia chủ báu (người quản lý tài sản) xuất hiện cho Chuyển Luân Thánh Vương. Thiên nhãn do nghiệp quá khứ sinh ra hiển lộ nơi vị ấy, nhờ đó vị ấy thấy được các kho báu ẩn giấu cả có chủ lẫn vô chủ. Vị ấy đến gặp Chuyển Luân Thánh Vương và nói: ‘Tâu bệ hạ, xin ngài cứ an tâm nghỉ ngơi. Thần sẽ lo liệu việc tiền bạc cho ngài.’ Và có lần, khi Chuyển Luân Thánh Vương thử gia chủ báu, ngài lên thuyền, đi ra giữa dòng sông Hằng, và nói với gia chủ báu: ‘Ta cần vàng và bạc nén, này gia chủ.’ - ‘Vậy thì, tâu bệ hạ, xin cho thuyền hướng vào một bờ.’ - ‘Này gia chủ, chính tại đây ta cần vàng và bạc nén.’ Bấy giờ gia chủ báu nhúng cả hai tay xuống nước và kéo lên một cái hũ đầy vàng và bạc nén, rồi nói với Chuyển Luân Thánh Vương: ‘Như vậy đủ chưa, tâu bệ hạ? Đã làm đủ chưa, đã dâng đủ chưa?’ - ‘Đủ rồi, gia chủ, đã làm đủ, đã dâng đủ.’ Đó là gia chủ báu xuất hiện cho một Chuyển Luân Thánh Vương.

41. "Lại nữa, tướng quân báu (vị cố vấn) xuất hiện [176] cho Chuyển Luân Thánh Vương, thông thái, sắc sảo và khôn ngoan, có khả năng giúp Chuyển Luân Thánh Vương thăng chức cho người đáng được thăng chức, cách chức người đáng bị cách chức, và thiết lập những gì cần được thiết lập. Vị ấy đến gặp Chuyển Luân Thánh Vương và nói: ‘Tâu bệ hạ, xin ngài cứ an tâm nghỉ ngơi. Thần sẽ cai quản.’ Đó là tướng quân báu xuất hiện cho một Chuyển Luân Thánh Vương.

"Đó là bảy báu vật mà một Chuyển Luân Thánh Vương sở hữu.

42. "Bốn sự thành tựu là gì? Ở đây, một Chuyển Luân Thánh Vương tuấn tú, duyên dáng và yêu kiều, sở hữu vẻ đẹp nước da tuyệt trần, và ngài vượt trội hơn những người khác về phương diện đó. Đây là sự thành tựu thứ nhất mà một Chuyển Luân Thánh Vương sở hữu.

43. "Lại nữa, một Chuyển Luân Thánh Vương sống lâu và trường thọ, và ngài vượt trội hơn những người khác về phương diện đó. Đây là sự thành tựu thứ hai mà một Chuyển Luân Thánh Vương sở hữu.

44. "Lại nữa, một Chuyển Luân Thánh Vương không bệnh tật và đau yếu, có hệ tiêu hóa tốt, không quá lạnh cũng không quá nóng, và ngài vượt trội hơn những người khác về phương diện đó. Đây là sự thành tựu thứ ba mà một Chuyển Luân Thánh Vương sở hữu.

45. "Lại nữa, một Chuyển Luân Thánh Vương được các vị Bà-la-môn và gia chủ yêu mến và quý trọng. Giống như cha được con cái yêu mến và quý trọng, Chuyển Luân Thánh Vương cũng được các vị Bà-la-môn và gia chủ yêu mến và quý trọng. Các vị Bà-la-môn và gia chủ cũng yêu mến và quý trọng Chuyển Luân Thánh Vương. Giống như con cái được cha yêu mến và quý trọng, các vị Bà-la-môn và gia chủ cũng được Chuyển Luân Thánh Vương yêu mến và quý trọng. Có lần, một Chuyển Luân Thánh Vương đang lái xe trong vườn thượng uyển cùng với bốn loại binh chủng của mình. Bấy giờ các vị Bà-la-môn và gia chủ đến gặp ngài và nói: ‘Tâu bệ hạ, xin hãy lái xe chậm lại để chúng tôi được nhìn ngài lâu hơn.’ Và ngài bảo người đánh xe: [177] ‘Này người đánh xe, hãy lái chậm lại để ta được nhìn các vị Bà-la-môn và gia chủ lâu hơn.’ Đây là sự thành tựu thứ tư mà một Chuyển Luân Thánh Vương sở hữu.

"Đó là bốn sự thành tựu mà một Chuyển Luân Thánh Vương sở hữu.

46. “Các Tỳ kheo nghĩ sao? Liệu một Chuyển Luân Thánh Vương có cảm nghiệm được hỷ lạc và vui mừng nhờ sở hữu bảy báu vật này và bốn sự thành tựu này không?”

“Bạch Thế Tôn, một Chuyển Luân Thánh Vương sẽ cảm nghiệm được hỷ lạc và vui mừng chỉ nhờ sở hữu một báu vật, huống chi là bảy báu vật và bốn sự thành tựu.”

47. Sau đó, Đức Thế Tôn lấy một hòn đá nhỏ bằng bàn tay, nói với các Tỳ kheo: “Các Tỳ kheo nghĩ sao? Cái nào lớn hơn, hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà Ta đã lấy, hay Hy Mã Lạp Sơn, vua của các loài núi?”

“Bạch Thế Tôn, hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà Đức Thế Tôn đã lấy không đáng kể gì so với Hy Mã Lạp Sơn, vua của các loài núi; nó thậm chí không bằng một phần nhỏ, không thể so sánh được.”

"Cũng vậy, này các Tỳ kheo, hỷ lạc và vui mừng mà một Chuyển Luân Thánh Vương cảm nghiệm được nhờ sở hữu bảy báu vật và bốn sự thành tựu không đáng kể gì so với hạnh phúc của cõi trời; nó thậm chí không bằng một phần nhỏ, không thể so sánh được.

48. "Nếu, vào một lúc nào đó, sau một thời gian dài, người trí trở lại được thân người, người ấy sẽ tái sinh vào một gia đình cao quý - gia đình của dòng dõi quý tộc giàu có, hoặc Bà-la-môn giàu có, hoặc gia chủ giàu có - một gia đình giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, dồi dào vàng bạc, dồi dào tài sản và phương tiện, dồi dào tiền bạc và ngũ cốc. Người ấy tuấn tú, duyên dáng và yêu kiều, sở hữu vẻ đẹp nước da tuyệt trần. Người ấy có được thức ăn và thức uống, quần áo, xe cộ, vòng hoa, hương liệu và thuốc xức, giường, chỗ ở và ánh sáng. Người ấy có hạnh kiểm tốt đẹp qua thân, khẩu và ý, [178] và sau khi làm vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời.

49. “Này các Tỳ kheo, giả sử một người chơi cờ bạc ngay trong ván thắng đầu tiên đã được một gia tài lớn, nhưng ván thắng như vậy vẫn còn là nhỏ; một ván thắng lớn lao hơn nhiều là khi một người trí có hạnh kiểm tốt đẹp qua thân, khẩu và ý, sau khi thân hoại mạng chung, tái sinh vào cõi lành, thậm chí là cõi trời. [^1205] Đây là sự hoàn tất trọn vẹn cảnh giới của người trí.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Các vị tỳ kheo đã hoan hỷ và tín thọ lời Đức Thế Tôn dạy.

129. KINH HIỀN NGU

129. KINH HIỀN NGU (Bàlapandita Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà viên), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

(Người Ngu)

– Này các Tỷ-kheo, có ba đặc điểm, đặc tướng, và đặc ấn này của người ngu. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu tư duy ác tư duy, nói lời ác ngữ và hành các ác hạnh. Này các Tỷ-kheo, nếu người ngu không tư duy ác tư duy, không nói lời ác ngữ, không hành ác hạnh, thời làm sao kẻ trí biết được người ấy: “Người này là người ngu, không phải là Chân nhân”? Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, người ngu tư duy ác tư duy, nói lời ác ngữ, hành ác hạnh, do vậy, người trí biết người ấy: “Người này là người ngu, không phải là Chân nhân”.

Người ngu ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại khổ ưu. Này các Tỷ-kheo, nếu người ngu ngồi giữa hội chúng, hay ngồi bên đường có xe cộ qua lại, hay tại ngã (ba, ngã tư) đường, tại đấy (nếu) có người nghĩ đến câu chuyện thích hợp về người ấy. Nếu người ngu, này các Tỷ-kheo, sát sanh, lấy của không cho, theo tà hạnh trong dâm dục, nói láo, say rượu men, rượu nấu, thường ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu ấy suy nghĩ như sau: “Các người ấy nghĩ đến câu chuyện thích hợp về ta, vì những pháp ấy thật có nơi ta và ta có những pháp ấy”. Này các Tỷ-kheo, đây là loại khổ ưu thứ nhất, người ngu cảm thọ ngay trong hiện tại.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người ngu thấy các vua chúa sau khi bắt tên trộm cướp có phạm tội liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi; họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò) họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình, hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa), chúc thủ hình (đốt tay), khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) bì y hình (lấy vỏ cây làm áo), linh dương hình (hình phạt con dê núi), câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt), tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền), khối trấp hình, chuyển hình, cao đạp đài, họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu nghĩ như sau: "Do nhân các ác hành như vậy, các vua chúa sau khi bắt tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng những hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân… họ lấy gươm chặt đầu. Những pháp ấy có thật nơi ta và ta có những pháp ấy. Nếu các vua chúa biết về ta, các vua chúa ấy sau khi bắt ta liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn… họ lấy gươm chặt đầu. "Này các Tỷ-kheo, đây là loại khổ ưu thứ hai, người ngu cảm thọ ngay trong hiện tại.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi người ngu leo ngồi trên ghế, hay trên giường, hay nằm trên đất, lúc bấy giờ, những ác nghiệp người ấy làm từ trước, như thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, treo nằm, treo áp, treo đè lên người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, những bóng các đỉnh núi treo nằm, treo áp, treo đè trên đất; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi người ngu ngồi trên ghế, hay ngồi trên giường, hay nằm dưới đất, trong khi ấy các nghiệp quá khứ của người ấy, tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu suy nghĩ như sau: "Thật sự ta không làm điều phước, không làm điều thiện, không làm điều chống lại sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều tội lỗi. Do không làm điều phước, không làm điều thiện, không làm điều

chống lại sợ hãi, do làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều tội lỗi nên phải đi đến ác thú; ác thú ấy sau khi chết ta phải đi". Người ấy sầu muộn, than van, than khóc, đấm ngực, rên la và rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây là sự khổ ưu thứ ba, ngay trong hiện tại, người ngu (phải) cảm thọ.

Này các Tỷ-kheo, kẻ ngu kia sau khi làm thân ác hành, sau khi làm khẩu ác hành, sau khi làm ý ác hành, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

(Ðịa ngục)

Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách đúng đắn về người ấy, phải nói rằng người ấy hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý. Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Ðịa ngục, phải nói rằng Ðịa ngục, hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ cũng không dễ gì, vì rất nhiều là sự đau khổ của Ðịa ngục.

Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho con một ví dụ được không?

Thế Tôn đáp:

– Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này Tỷ-kheo, có người bắt được một tên trộm cắp, dẫn đến trước mặt vua và thưa: “Tâu Ðại vương, đây là một tên trộm cướp phạm tội cho Ngài! Hãy hình phạt nó như Ðại vương muốn”. Và vị vua ấy nói như sau về tên trộm cướp ấy: “Này các Ông hãy đi và vào buổi sáng hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo”. Và vào buổi sáng, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo. Rồi đến trưa, vua nói như sau: “Này các Ông, người ấy ra sao?” – “Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống”. Rồi vua lại nói như sau về tên trộm cướp ấy: “Này các Ông, hãy đi và vào buổi trưa, hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo”. Và vào buổi trưa, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo. Rồi đến chiều, vua nói như sau: “Này các Ông, người ấy ra sao?” – “Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống”. Rồi vua lại nói như sau về người kia: “Này các Ông, vào buổi chiều, họ đâm người này với một trăm ngọn giáo”. Và vào buổi chiều, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo.

Này các Tỷ-kheo, Ông nghĩ thế nào? Người ấy bị đâm ba trăm ngọn giáo, do nhân duyên ấy, có cảm thọ khổ ưu không?

– Bạch Thế Tôn, chỉ bị ngọn giáo đâm một lần, người kia do nhân duyên ấy cũng cảm thấy khổ ưu, còn nói gì đến ba trăm ngọn giáo!

Rồi Thế Tôn lượm lên một hòn đá nhỏ, lớn bằng bàn tay và nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì lớn hơn, hòn đá này, to bằng bàn tay do ta lượm lên, hay núi Tuyết Sơn (Himalaya), vua các loại núi?

– Thật là quá nhỏ, bạch Thế Tôn, hòn đá này lớn bằng bàn tay do Thế Tôn lượm lên. So sánh với Tuyết Sơn vua các loại núi, nó không đáng kể gì, nó không bằng một phần ngàn vạn lần (của núi Tuyết) nó không thể so sánh được!

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy bị đâm bởi ba trăm ngọn giáo, do nhân duyên ấy cảm thọ khổ ưu. Khổ ưu ấy so sánh với khổ ưu ở Ðịa ngục không đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được. Này các Tỷ-kheo, các người giữ địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là

năm cọc (pancavidhabandhanam). Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.

Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.

Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ… chưa được tiêu trừ.

Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ… chưa được tiêu trừ.

Rồi này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên kéo người ấy xuống trên một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ… chưa được tiêu trừ.

Rồi này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, ở đây bị nấu với vạc nước sôi sùng sục; khi thì nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.

Rồi này các Tỷ-kheo, những người giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ðại địa ngục ấy, có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau; xung quanh có tường sắt; mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, cháy đỏ rực; đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.

Này các Tỷ-kheo, với rất nhiều pháp môn, Ta nói về Ðịa ngục, nhưng thật khó nói cho được đầy đủ, này các Tỷ-kheo, vì đau khổ ở Ðịa ngục quá nhiều.

(Cõi thú)

Này các Tỷ-kheo, có những loại sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn cỏ. Chúng ăn những cỏ ướt và khô, với răng nhai nghiền, cỏ ấy. Này các Tỷ-kheo, những sanh vật ấy thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn cỏ là gì? Các loại ngựa, trâu, bò, lừa, dê, nai hay các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn cỏ. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp, ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn cỏ.

Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây”. Ví như các Bà- la-môn chạy đến, ngửi được mùi lễ tế sanh, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây”. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây”. Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân là gì? Các loại gà, heo, chó, chó rừng (giả can), hay tất cả các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn phân. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân

hoại mạng chung sanh ra cọng trú với các loại hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn phân.

Này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bóng tối, già trong bóng tối và chết trong bóng tối. Này các Tỷ-kheo, những sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bóng tối, già trong bóng tối và chết trong bóng tối là gì? Các loại côn trùng, con sùng, con dòi, con sâu đôm đốm và các loại sanh vật khác thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sống trong bóng tối. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy tức là các loại hữu tình sinh ra trong bóng tối, già trong bóng tối, chết trong bóng tối.

Này các Tỷ-kheo, có những sanh vật, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sinh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước. Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước là gì? Các loại cá, rùa, cá sấu, hay các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy, do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, tức là các loài hữu tình sanh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước.

Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loài bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh. Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy, các loại thuộc bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh là gì? Này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình nào sanh ra trong cá thúi hay già trong cá thúi, hay chết trong cá thúi, hay trong tử thi thúi, hay trong đồ ăn thúi, hay trong vũng nước, hay sinh ra trong đầm nước (nhớp)… già… hay chết trong đầm nước (nhớp). Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy, do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, tức là các loài hữu tình sanh ra trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh.

Này các Tỷ-kheo, với rất nhiều pháp môn, Ta nói về các loại bàng sanh, nhưng thật khó nói cho được đầy đủ, này các Tỷ-kheo, vì đau khổ ở loài bàng sanh quá nhiều.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc cây có một cái lỗ trên biển, một ngọn gió từ phương Ðông thổi nó trôi qua phía tây; một ngọn gió từ phương Tây thổi nó trôi qua phía đông; một ngọn gió từ phương Bắc thổi nó trôi qua phía nam; một ngọn gió từ phương Nam thổi nó trôi qua phía bắc. Rồi có một con rùa mù, cứ một trăm năm mới trồi đầu lên một lần. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Con rùa mù ấy có thể đút cổ nó vào trong lỗ cây này được không?

– Nếu có được chăng nữa, bạch Thế Tôn, thời chỉ được một lần, sau một thời gian rất lâu dài.

– Còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy có thể chui cổ vào khúc cây có lỗ hổng kia; nhưng này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố rằng còn khó hơn được làm người trở lại, một khi người ngu bị rơi vào đọa xứ. Vì sao vậy? Vì ở đấy, này các Tỷ-kheo, không có pháp hành, an tịnh hành, thiện hành, phước hành. Này các Tỷ-kheo, ở đây chỉ có ăn lẫn nhau và ăn thịt kẻ yếu.

Và này các Tỷ-kheo, nếu người ngu ấy sau một thời gian rất lâu dài, có được làm người trở lại, thời người ấy sẽ sanh trong gia đình thấp hèn, trong gia đình hạ cấp, trong gia đình kẻ đi săn, trong gia đình kẻ đan tre, trong gia đình người làm xe, hay trong gia đình người đổ phân, trong những gia đình nghèo khốn, không đủ để uống hay để ăn, cho đến miếng vải che lưng cũng khó tìm được. Lại nữa, người ấy thô xấu, khó nhìn, lùn thấp, hay bệnh, mù hay có tật, què hay bị bại, người ấy không có thể được các đồ ăn, đồ uống, vải xa, vòng hoa, hương liệu, giường nằm, chỗ trú xứ và ánh sáng. Người ấy hành thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; vì hành thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; sau khi thân hoại mạng

chung, sinh ra trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đánh bạc, trong canh đổ bạc đầu tiên, mất con, mất vợ, mất tất cả tài sản, lại cuối cùng phải tù tội. Nhưng này các Tỷ-kheo, còn nhỏ bé canh đổ bạc ấy, do canh đổ bạc đầu tiên này, người ấy mất con, mất vợ, mất tất cả tài sản, lại cuối cùng phải tù tội. Và canh bạc này to lớn hơn, với canh bạc ấy người ngu, do thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là địa xứ hoàn toàn viên mãn của kẻ ngu.

(Người Hiền trí)

Này các Tỷ-kheo, có ba đặc điểm, đặc tướng, và đặc ấn này của người trí. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói lời thiện ngữ, và hành các thiện hành. Này các Tỷ-kheo, nếu người trí không tư duy thiện tư duy, không nói lời thiện ngữ, không hành các thiện hành, thời làm sao kẻ trí biết được người ấy: “Vị này là người trí, là bậc Chân nhân”? Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói lời thiện ngữ, hành thiện hành, do vậy người trí biết người ấy: “Vị này là người có trí, là bậc Chân nhân”.

Người trí ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại lạc hỷ. Này các Tỷ-kheo, nếu người trí ngồi giữa hội chúng, hay ngồi bên đường có xe cộ qua lại, hay tại ngã (ba, ngã tư) đường, tại đấy (nếu) có người nghĩ đến câu chuyện thích hợp về người ấy; nếu người trí, này các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong dâm dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say rượu men rượu nấu, thời ở đây này các Tỷ-kheo, người trí ấy suy nghĩ như sau: “Các người ấy nghĩ đến câu chuyện thích hợp về ta, vì những pháp ấy thật có nơi ta và ta có những pháp ấy”. Này các Tỷ-kheo, đây là loại lạc hỷ thứ nhất, người trí cảm thọ ngay trong hiện tại.

Lại nữa này các Tỷ-kheo, người trí thấy các vua chúa, sau khi bắt tên trộm cướp phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn… họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây, này các Tỷ-kheo người trí suy nghĩ như sau: “Do nhân các ác hành như vậy, các vua chúa sau khi bắt tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng những hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy… họ lấy gươm chặt đầu, những pháp ấy thật không có nơi ta, và ta không có những pháp ấy”. Này các Tỷ-kheo, đây là loại lạc hỷ thứ hai, người trí cảm thọ ngay trong hiện tại.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi người trí leo ngồi trên ghế, hay trên giường, hay nằm trên đất, lúc bấy giờ những thiện nghiệp người ấy làm từ trước, như thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, những bóng các đỉnh núi treo nằm, treo áp, treo đè trên đất; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi người trí ngồi trên ghế hay ngồi trên giường, hay nằm dưới đất, trong khi các nghiệp quá khứ của người ấy tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người trí suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều tội lỗi, lại làm điều phước, làm điều thiện, làm điều chống sợ hãi. Do không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều tội lỗi, do làm điều phước, làm điều thiện, làm điều chống sợ hãi, được đi đến (thiện) thú nào, (thiện) thú ấy sau khi chết, ta được đi”. Vị ấy không sầu muộn, không than van, không than khóc, không đấm ngực, rên la và rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây là sự lạc hỷ thứ ba, ngay trong hiện tại người trí được cảm thọ.

Này các Tỷ-kheo, kẻ trí kia sau khi làm thân thiện hành, sau khi làm khẩu thiện hành, sau khi làm ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra trong thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ- kheo, nếu có ai nói một cách đúng đắn về vị ấy phải nói rằng vị ấy hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn khả ái, hoàn toàn thích ý. Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Thiên giới phải nói rằng Thiên giới hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn khả ái, hoàn toàn thích ý. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ

cũng không dễ gì, vì rất nhiều là sự (an) lạc của Thiên giới,

(Cõi Thiên)

Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho con một ví dụ được không?

– Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này các Tỷ-kheo, vị vua Chuyển luân có đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức, do nhân duyên ấy cảm thọ lạc hỷ. Thế nào là bảy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua Sát đế lỵ, đã làm lễ quán đảnh, vào ngày Bố-tát trăng rằm sau khi gội đầu, lên cao điện để trai giới, thời Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xa, với vành xe, trục xe, đầy đủ mọi bộ phận. Thấy vậy, vua Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh suy nghĩ: “Ta nghe như vầy: Khi một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh vào ngày Bố-tát trăng rằm, sau khi gội đầu, lên cao điện để trai giới, nếu có Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe và trục xe, đầy đủ mọi bộ phận, thời vị vua ấy là Chuyển luân vương. Như vậy ta có thể là Chuyển luân vương”.

Này các Tỷ-kheo, rồi vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y trên một vai, tay trái cầm bình nước và với tay phải rưới nước trên xe báu và nói: “Này xe báu hãy lăn khắp. Này xe báu hãy chinh phục!” Và này các Tỷ-kheo, xe báu lăn về hướng Ðông và vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Và này các Tỷ-kheo, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, an trú cùng với bốn loại binh chủng.

Này các Tỷ-kheo, các địch vương ở phương Ðông đến yết kiến vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương!” Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!"

Vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, nói rằng: “Không được sát sanh. Không được lấy của không cho. Không được tà dâm. Không được nói láo. Không được uống rượu. Hãy ăn uống cho thích nghi”.

Này các Tỷ-kheo, tất cả địch vương ở phương Ðông đều trở thành chư hầu vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Này các Tỷ-kheo, rồi xe báu ấy lặn xuống biển lớn ở phương Ðông rồi nổi lên và lặn về phương Nam… lặn xuống biển lớn ở phương Nam, rồi nổi lên và lặn về phương Tây… lặn xuống biển lớn ở phương Tây… , rồi nổi lên và lặn về phương Bắc và vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh an trú cùng với bốn loại binh chủng.

Này các Tỷ-kheo, các địch vương ở phương Bắc đến yết kiến vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương; tất cả đều thuộc của Ngài, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”

Này các Tỷ-kheo, tất cả địch vương ở phương Bắc đều trở thành chư hầu vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Này các Tỷ-kheo, xe báu ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô Ku-savati, và đứng trước pháp đình, trên cửa nội cung như một trang bảo cho nội cung của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện của xe báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, voi báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, thuần trắng, bảy xứ kiên cường, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Uposatha (Bố-tát). Thấy (voi báu), vua Sát-đế- lỵ đã làm lễ quán đảnh, sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Lành thay được cỡi con voi này, nếu nó chịu sự điều ngự” Và này các Tỷ-kheo, như một con hiền tượng quý phái chịu sự điều ngự lâu ngày, con voi báu ấy tự đến để chịu điều ngự. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, để thử voi báu này, sáng sớm cỡi voi đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusavati kịp giờ ăn sáng. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện voi báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ngựa báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, thuần trắng, đầu đen như quạ, bờm ngựa màu đen, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Valahaka. Thấy (ngựa báu), vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Tốt đẹp thay được cỡi con ngựa này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này các Tỷ-kheo, như một con hiền mã quý phái, chịu sự điều ngự lâu ngày, con ngựa báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh để thử con ngựa báu này, sáng sớm liền cỡi ngựa, đi khắp quả đất cho đến hải biên, rồi về lại kinh đô Kusavati kịp giờ ăn sáng. Này các Tỷ-kheo, như vậy là xuất hiện ngựa báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, châu báu lại xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Châu báu ấy là lưu ly châu, sáng suốt, thuần chất, có tám mặt, khó dũa, khó mài, thanh tịnh, trong suốt, hoàn hảo mọi phương diện. Này các Tỷ-kheo, hào quang châu báu này chiếu sáng cùng khắp một do tuần. Này các Tỷ- kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh để thử châu báu này đã cho dàn bày bốn binh chủng, đặt bảo châu cao trên quân kỳ và có thể tiến quân trong đêm tối âm u. Này các Tỷ-kheo, mọi người trong làng ở xung quanh đều bắt đầu làm việc, tưởng rằng trời đã sáng rồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện châu báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Này các Tỷ-kheo, nữ báu lại xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt trên dung sắc loài Người, ánh sáng bằng dung sắc chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, thân xác nữ báu này là (êm mịn) như bông, như nhung. Này các Tỷ-kheo, khi trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thanh ấm áp; khi trời nóng, trở thành lạnh mát. Này các Tỷ-kheo, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi thơm hoa sen. Này các Tỷ-kheo, nữ báu này dậy trước và đi ngủ sau vua Sát- đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành khả ái. Này các Tỷ-kheo, nữ báu này không có môt tư tưởng nào bất tín đối với vua Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, huống nữa là về thân thể. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cư sĩ báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, chứng được thiên nhãn, do nghiệp dị thục sanh và nhờ thiên nhãn này có thể thấy châu báu chôn cất có chủ hay không có chủ. Cư sĩ báu này đến vua Sát-đế-lỵ đã làm quán đảnh và nói:

– “Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ xử lý thích nghi tài sản Ðại vương”.

Này các Tỷ-kheo, thuở xưa vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, muốn thử cư sĩ báu này, liền cỡi thuyền, chèo ra giữa sông Hằng và bảo cư sĩ báu:

"- Này cư sĩ, ta cần vàng.

"- Tâu Ðại vương, hãy cho chèo thuyền gần bờ nào cũng được.

"- Này cư sĩ, ta cần vàng ngay tại đây.

Này các Tỷ-kheo, khi ấy cư sĩ báu thọc hai tay xuống nước nhắc lên một ghè đầy cả vàng ròng rồi tâu với vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh:

“- Tâu Ðại vương, như vậy đã đủ chưa? Tâu Ðại vương, làm như vậy đã được chưa?”

Vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh trả lời:

“- Này Cư sĩ, như vậy là đủ. Này Cư sĩ, làm như vậy là được rồi. Này Cư sĩ, cúng dường như vậy là được rồi”.

Này các Tỷ-kheo, như vâĩy là sự xuất hiện cư sĩ báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Lai nữa, này các Tỷ-kheo, tướng quân báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có học thức, thông minh, sáng suốt, có khả năng khuyến cáo vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, khi đáng tiến thì tiến, khi đáng lùi thì lùi, khi đáng dừng thì dừng:

Vị này đến tâu vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh:

“- Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ cố vấn Ðại vương”.

Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện tướng quân báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có đầy đủ bảy báu như vậy.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có đầy đủ bốn như ý đức. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đẹp trai, khả ái, cử chỉ thanh lịch, sắc diện tuyệt luân, thấy xa hơn mọi người. Này các Tỷ-kheo, đó là như ý đức thứ nhất của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sống lâu, tuổi thọ thắng xa các người khác. Này các Tỷ-kheo, đó là như ý đức thứ hai của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh ít bệnh tật, ít tai ương thể nhiệt không quá lạnh, không quá nóng, được quân phân để điều hòa sự tiêu hóa, thắng xa các người khác. Nụày các Tỷ- kheo, đó là như ý đức thứ ba của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Lại nữa này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh được các Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, như người cha được các người con ái kính và yêu mến; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh được các Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, các vị Bà-la-môn và Gia chủ được vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, như những người con được người cha ái kính và yêu mến; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn và Gia chủ được vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh ái kính và yêu mến. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đi đến hoa viên cùng với bốn loại binh chủng. Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn và Gia chủ đến vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh và tâu rằng:

"- Tâu Ðại vương, hãy cho đi chậm chậm để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng lâu dài hơn. ".

Này các Tỷ-kheo nhưng vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh lại ra lệnh cho người đánh xe:

“- Này anh Ðánh xe, hãy đánh xe chậm chậm đủ để ta có thể thấy các vị Bà-la-môn và Gia chủ lâu dài hơn”.

Này các Tỷ-kheo, như vậy là như ý đức thứ tư của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.

Và này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh suy nghĩ: “Nay ta hãy cho xây những hồ sen giữa các hàng cây tala, cứ cách khoảng một trăm cung tầm!”

Này các Tỷ-kheo, vua Chuyển luân có đầy đủ bốn như ý đức này.

Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Vua Chuyển luân, đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức; do nhân duyên ấy, có cảm thọ lạc hỷ không?

– Bạch Thế Tôn, vua Chuyển luân chỉ đầy đủ một món báu, do nhân duyên ấy, có cảm thọ lạc hỷ; còn nói gì đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức.

Rồi Thế Tôn lượm lên một hòn đá nhỏ, lớn bằng bàn tay và nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì lớn hơn? Hòn đá này, to bằng bàn tay do Ta lượm lên hay núi Tuyết Sơn, vua các loại núi?

– Thật là quá nhỏ, bạch Thế Tôn là hòn đá này, lớn bằng bàn tay, do Thế Tôn lượm lên, so sánh với Tuyết Sơn vua các loại núi, nó không đáng kể gì, nó không bằng một phần ngàn vạn lần (của núi Tuyết), nó không thể so sánh được.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển luân với bảy món báu và bốn như ý đức, do nhân duyên ấy cảm thọ lạc hỷ, lạc hỷ ấy so sánh với Thiên lạc không đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được. Này các Tỷ-kheo, người có trí ấy, nếu sau một thời gian rất lâu dài, được sinh làm người, người ấy sẽ sinh ra trong một gia đình cao quí Sát-đế-lỵ đại gia, hay Bà-la-môn đại gia, hay Cư sĩ đại gia giàu có, tài sản nhiều, tài nguyên nhiều, vàng và bạc phong phú, tài vật phong phú, lúa thóc phong phú. Hơn nữa, vị ấy đẹp trai, khả ái, dễ thương, đầy đủ dung sắc tối thượng. Vị ấy nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, giường, trú xứ và ánh sáng. Vị ấy sống với thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành. Sống với thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đánh bạc, chính trong canh bạc thứ nhất (đổ xúc sắc) được tiền bạc rất nhiều. Thật là quá nhỏ, này các Tỷ-kheo, là canh bạc ấy, nhờ canh bạc đầu tiên này người đánh bạc ấy được tiền bạc rất nhiều. Lớn hơn canh bạc ấy là canh bạc nhờ đó người trí sau khi hành thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, đây là địa vức hoàn toàn viên mãn của bậc có trí.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nhà sư Phật giáo Nam truyền đã thọ giới cụ túc.
  • kẻ ngu / bāla / fool: Người thiếu trí tuệ, không phân biệt được thiện ác, thường hành động theo bản năng và tạo nghiệp bất thiện.
  • người trí / paṇḍita / wise man: Người có trí tuệ, hiểu biết thiện ác, có khả năng tự chủ và hành động thiện lành, hướng đến giải thoát.
  • sự dễ duôi / pamāda / negligence: Sự thiếu chú tâm, lơ là, buông thả trong việc thực hành lời Phật dạy, giữ gìn giới luật và phát triển tâm linh.
  • cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục / apāya, duggati, vinipāta, niraya / state of deprivation, unhappy destination, perdition, hell: Các cảnh giới tái sinh thấp kém, đầy đau khổ, là kết quả của các ác nghiệp (hành động bất thiện) đã tạo ra. Địa ngục là cảnh giới đau khổ nhất.
  • tái sinh / upapajjati / reappears: Quá trình một chúng sinh sinh trở lại vào một cảnh giới khác (như người, trời, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục) sau khi chết, tùy thuộc vào nghiệp đã tạo.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật; chân lý tối hậu về thực tại; quy luật tự nhiên chi phối vũ trụ và đời sống.
  • phước báu / puñña / merit: Công đức, thiện nghiệp được tích lũy qua các hành động tốt đẹp về thân, khẩu, ý (như bố thí, trì giới, thiền định), mang lại kết quả an vui, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai.
  • cõi súc sinh / tiracchānayoni / animal kingdom: Cảnh giới của các loài vật, một trong các cõi khổ, đặc trưng bởi sự si mê và bản năng sinh tồn.
  • Chuyển Luân Thánh Vương / Cakkavatti Rāja / Wheel-turning Monarch: Vị vua lý tưởng trong Phật giáo, cai trị toàn thế giới bằng Chánh pháp chứ không bằng vũ lực, sở hữu bảy báu vật đặc biệt.
  • bảy báu vật / satta ratanāni / seven treasures: Bảy vật quý báu chỉ xuất hiện khi có một vị Chuyển Luân Thánh Vương, bao gồm: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ bảo, gia chủ báu, tướng quân báu.
  • ngày Bố-tát / Uposatha / Uposatha day: Ngày lễ định kỳ trong Phật giáo (thường vào ngày rằm và mồng một âm lịch) để Phật tử tại gia và xuất gia tụ tập nghe pháp, sám hối, và thọ trì giới luật.
  • cõi lành, cõi trời / sugati, sagga loka / happy destination, heaven: Các cảnh giới tái sinh an vui, hạnh phúc, là kết quả của các thiện nghiệp đã tạo ra. Cõi trời là cảnh giới có nhiều hỷ lạc và tuổi thọ dài hơn cõi người.