Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 143. Lời Khuyên Dạy Ông Cấp Cô Độc

(Kinh Anāthapindikovāda)

[258] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), trong vườn Kỳ-đà (Jeta), tại tịnh xá Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika).

2. Vào lúc ấy, gia chủ Cấp Cô Độc đang đau yếu, khổ sở, bệnh tình trầm trọng. Ông bèn gọi một người đến và dặn: “Này người tốt kia, hãy đến chỗ Đức Thế Tôn, thay mặt tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài và thưa: ‘Bạch Thế Tôn, gia chủ Cấp Cô Độc đang đau yếu, khổ sở, bệnh tình trầm trọng; ông ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn.’ Rồi hãy đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta), thay mặt tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài và thưa: ‘Bạch Đại đức, gia chủ Cấp Cô Độc đang đau yếu, khổ sở, bệnh tình trầm trọng; ông ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Xá-lợi-phất.’ Rồi thưa thêm: ‘Kính mong Đại đức, vì lòng từ bi, hãy đến tư gia của gia chủ Cấp Cô Độc.’”

“Vâng, thưa ông,” người ấy đáp, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, người ấy ngồi xuống một bên và trình lại lời nhắn. Sau đó, người ấy đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, đảnh lễ ngài và trình lại lời nhắn, thưa rằng: “Kính mong Đại đức, vì lòng từ bi, hãy đến tư gia của gia chủ Cấp Cô Độc.” Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng nhận lời.

3. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đắp y, mang bát, cùng với Tôn giả A-nan (Ānanda) làm thị giả, đi đến nhà của gia chủ Cấp Cô Độc. Khi đến nơi, [259] ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và hỏi gia chủ Cấp Cô Độc: “Mong là gia chủ khỏe hơn, mong là gia chủ dễ chịu. Mong rằng những cảm giác đau đớn của gia chủ đang thuyên giảm chứ không tăng thêm, và sự thuyên giảm ấy rõ ràng chứ không phải là sự tăng thêm.”

4. “Bạch Đại đức Xá-lợi-phất, con không khỏe hơn, con không dễ chịu. Những cảm giác đau đớn của con đang tăng thêm chứ không thuyên giảm; sự tăng thêm ấy rõ ràng chứ không phải là sự thuyên giảm. Như thể một người lực lưỡng dùng gươm sắc bổ vào đầu con, cũng vậy, những cơn gió dữ dội cắt xuyên qua đầu con. Con không khỏe hơn… Như thể một người lực lưỡng dùng một sợi dây da cứng siết chặt quanh đầu con như một cái vành, cũng vậy, những cơn đau dữ dội hành hạ đầu con. Con không khỏe hơn… Như thể một người đồ tể lành nghề hay phụ tá của ông ta dùng dao mổ sắc bén xẻ bụng một con bò, cũng vậy, những cơn gió dữ dội đang xé nát bụng con. Con không khỏe hơn… Như thể hai người lực lưỡng nắm hai tay một người yếu hơn và nướng người đó trên hố than hồng, cũng vậy, một sự nóng bỏng dữ dội đang thiêu đốt thân con. Con không khỏe hơn, con không dễ chịu. Những cảm giác đau đớn của con đang tăng thêm chứ không thuyên giảm; sự tăng thêm ấy rõ ràng chứ không phải là sự thuyên giảm.”

5. "Vậy thì, này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu (cling - sự dính mắc, chấp thủ vào đối tượng) vào mắt, và tâm thức (consciousness - viññāṇa - sự nhận biết đối tượng qua các giác quan hoặc ý thức) của tôi sẽ không nương tựa vào mắt.’ Ông hãy thực tập như vậy. Ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào tai… Tôi sẽ không bám víu vào mũi… Tôi sẽ không bám víu vào lưỡi… Tôi sẽ không bám víu vào thân… Tôi sẽ không bám víu vào ý, và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào ý.’ Ông hãy thực tập như vậy.

6. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào các hình sắc… Tôi sẽ không bám víu vào các âm thanh… Tôi sẽ không bám víu vào các mùi hương… Tôi sẽ không bám víu vào các vị nếm… Tôi sẽ không bám víu vào các vật xúc chạm… Tôi sẽ không bám víu vào các đối tượng của ý (pháp trần), và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào các đối tượng của ý.’ Ông hãy thực tập như vậy.

7. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào thức của mắt (nhãn thức)… Tôi sẽ không bám víu vào thức của tai (nhĩ thức)… Tôi sẽ không bám víu vào thức của mũi (tỷ thức)… Tôi sẽ không bám víu vào thức của lưỡi (thiệt thức)… Tôi sẽ không bám víu vào thức của thân (thân thức)… Tôi sẽ không bám víu vào thức của ý (ý thức), và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào thức của ý.’ Ông hãy thực tập như vậy.

8. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào sự tiếp xúc của mắt (nhãn xúc)… [260]… Tôi sẽ không bám víu vào sự tiếp xúc của tai (nhĩ xúc)… Tôi sẽ không bám víu vào sự tiếp xúc của mũi (tỷ xúc)… Tôi sẽ không bám víu vào sự tiếp xúc của lưỡi (thiệt xúc)… Tôi sẽ không bám víu vào sự tiếp xúc của thân (thân xúc)… Tôi sẽ không bám víu vào sự tiếp xúc của ý (ý xúc), và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào sự tiếp xúc của ý.’ Ông hãy thực tập như vậy.

9. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào cảm giác sinh khởi từ sự tiếp xúc của mắt… Tôi sẽ không bám víu vào cảm giác sinh khởi từ sự tiếp xúc của tai… Tôi sẽ không bám víu vào cảm giác sinh khởi từ sự tiếp xúc của mũi… Tôi sẽ không bám víu vào cảm giác sinh khởi từ sự tiếp xúc của lưỡi… Tôi sẽ không bám víu vào cảm giác sinh khởi từ sự tiếp xúc của thân… Tôi sẽ không bám víu vào cảm giác sinh khởi từ sự tiếp xúc của ý, và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào cảm giác sinh khởi từ sự tiếp xúc của ý.’ Ông hãy thực tập như vậy.

10. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào yếu tố đất (địa đại)… Tôi sẽ không bám víu vào yếu tố nước (thủy đại)… Tôi sẽ không bám víu vào yếu tố lửa (hỏa đại)… Tôi sẽ không bám víu vào yếu tố gió (phong đại)… Tôi sẽ không bám víu vào yếu tố không gian (không đại)… Tôi sẽ không bám víu vào yếu tố thức (thức đại), và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào yếu tố thức.’ Ông hãy thực tập như vậy.

11. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào sắc (hình thể vật chất)… Tôi sẽ không bám víu vào thọ (cảm giác)… Tôi sẽ không bám víu vào tưởng (nhận biết, tri giác)… Tôi sẽ không bám víu vào các hành (formations - saṅkhārā - các yếu tố tâm lý tạo tác nghiệp, ý chí, khuynh hướng)… Tôi sẽ không bám víu vào thức (sự nhận biết), và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào thức.’ Ông hãy thực tập như vậy.

12. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào cõi Không vô biên xứ… Tôi sẽ không bám víu vào cõi Thức vô biên xứ… Tôi sẽ không bám víu vào cõi Vô sở hữu xứ (base of nothingness - ākiñcaññāyatana - tầng thiền vô sắc thứ ba, nơi tâm trú vào sự trống rỗng) [261]… Tôi sẽ không bám víu vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (base of neither-perception-nor-non-perception - nevasaññānāsaññāyatana - tầng thiền vô sắc cao nhất, trạng thái tâm thức cực kỳ vi tế), và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ.’ Ông hãy thực tập như vậy.

13. "Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào thế giới này, và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào thế giới này. Tôi sẽ không bám víu vào thế giới bên kia, và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào thế giới bên kia.’ Ông hãy thực tập như vậy.

14. “Này gia chủ, ông hãy thực tập như vầy: ‘Tôi sẽ không bám víu vào những gì được thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết, gặp gỡ, tìm kiếm, và suy xét bởi tâm ý, và tâm thức của tôi sẽ không nương tựa vào những điều đó.’ Ông hãy thực tập như vậy.”

15. Khi nghe những lời này, gia chủ Cấp Cô Độc khóc và rơi lệ. Bấy giờ, Tôn giả A-nan hỏi ông: “Gia chủ đang lung lay sao, gia chủ đang chìm đắm sao?” “Bạch Đại đức A-nan, con không lung lay, con không chìm đắm. Nhưng dù con đã hầu cận Bậc Đạo Sư và các vị tỳ kheo (bhikkhus - các vị sư đã xuất gia và thọ giới cụ túc) đáng kính từ lâu, chưa bao giờ con được nghe một bài Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) như thế này.”

“Này gia chủ, bài Pháp như thế này thường không giảng cho người tại gia áo trắng. Bài Pháp như thế này thường giảng cho những người đã xuất gia.” [^1306]

“Vậy thì, bạch Đại đức Xá-lợi-phất, xin hãy giảng bài Pháp như thế này cho cả người tại gia áo trắng. Có những người con nhà lành ít bụi trong mắt đang dần lụi tàn vì không được nghe [bài Pháp như thế này về] Chánh Pháp. Sẽ có những người hiểu được Chánh Pháp.”

16. Sau khi khuyên dạy gia chủ Cấp Cô Độc như vậy, Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả A-nan đứng dậy rời đi. Không lâu sau khi các ngài đi, [262] gia chủ Cấp Cô Độc qua đời và tái sinh về cõi trời Đâu-suất (Tusita).

17. Rồi khi đêm đã về khuya, Cấp Cô Độc, bấy giờ là một vị thiên tử trẻ với dung sắc xinh đẹp, đã đến chỗ Đức Thế Tôn, chiếu sáng toàn bộ vườn Kỳ-đà. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, vị ấy đứng sang một bên và thưa với Đức Thế Tôn bằng những vần kệ:

"Ôi phúc thay vườn Kỳ-đà này, Nơi Tăng đoàn bậc thánh trú ngụ, Nơi Pháp Vương ngự trị, Nguồn mạch mọi hạnh phúc của con.

Bởi hành động, trí tuệ và Chánh Pháp, Bởi giới hạnh và đời sống cao thượng, Nhờ đó chúng sinh được thanh tịnh, Chẳng phải bởi dòng dõi hay tài sản.

Vì thế người trí thấy được Điều gì thật sự lợi ích cho mình, Nên quán xét Chánh Pháp Và tự thanh lọc mình nhờ đó.

Xá-lợi-phất đã đạt đỉnh cao Về giới hạnh, an tịnh và trí tuệ; Vị tỳ kheo nào đã vượt qua (gone beyond - pāragū - người đã đi đến bờ bên kia, tức Niết Bàn, A-la-hán) Cao nhất cũng chỉ bằng ngài."

18. Đó là những lời vị thiên tử trẻ Cấp Cô Độc nói, và Bậc Đạo Sư đã chấp thuận. Sau đó, vị thiên tử trẻ Cấp Cô Độc, nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư đã chấp thuận lời ta,” liền đảnh lễ Đức Thế Tôn, giữ Ngài ở bên phải mình (thân ái), rồi biến mất ngay lập tức.

19. Khi đêm tàn, Đức Thế Tôn gọi các vị tỳ kheo và dạy: "Này các tỳ kheo, đêm qua, khi đêm đã về khuya, có một vị thiên tử trẻ với dung sắc xinh đẹp đến gặp ta, chiếu sáng toàn bộ vườn Kỳ-đà. Sau khi đảnh lễ ta, vị ấy đứng sang một bên và thưa với ta bằng những vần kệ:

‘Ôi phúc thay vườn Kỳ-đà này… Cao nhất cũng chỉ bằng ngài.’ [263]

Đó là những lời vị thiên tử trẻ ấy nói. Sau đó, vị thiên tử trẻ, nghĩ rằng: ‘Bậc Đạo Sư đã chấp thuận lời ta,’ liền đảnh lễ ta, giữ ta ở bên phải mình, rồi biến mất ngay lập tức."

20. Khi nghe vậy, Tôn giả A-nan thưa với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chắc chắn vị thiên tử trẻ đó phải là Cấp Cô Độc. Vì gia chủ Cấp Cô Độc có niềm tin vững chắc (perfect confidence - aveccappasāda - niềm tin bất động, không lay chuyển vào Tam Bảo) nơi Tôn giả Xá-lợi-phất.”

“Hay thay, hay thay, A-nan! Ông đã suy luận rất đúng. Vị thiên tử trẻ đó chính là Cấp Cô Độc, không ai khác.”

Đó là những lời Đức Thế Tôn dạy. Tôn giả A-nan hoan hỷ và vui mừng đón nhận lời dạy của Đức Thế Tôn.

143. KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ÐỘC

143. KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ÐỘC (Anàthapindikovàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc gọi một người:

– Hãy đến đây, này Bạn. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: “Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn”. Rồi đi đến Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc”.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Người ấy vâng đáp cư sĩ Cấp Cô Ðộc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Rồi người ấy đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sariputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sariputta:

– Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, tốt lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc”.

Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ananda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc.

– Này Cư sĩ, ta mong rằng Ông có thể kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng.

– Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, con cảm thấy bị đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng.

Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những thống khổ của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu.

– Do vậy, này Cư sĩ hãy học tập như sau: " Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ mũi… y cứ vào mũi… hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ lưỡi… y cứ vào lưỡi… hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ thân… y cứ vào thân… hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ ý… y cứ vào ý… hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ hình dạng, và tôi sẽ không có thức y cứ vào hình dạng”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ tiếng… y cứ vào tiếng… hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ hương… y cứ vào hương… hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ vị… y cứ vào vị… hãy học tập như vậy. Do vậy… không chấp thủ xúc… y cứ vào xúc… hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ pháp, và tôi sẽ không có thức y cứ vào pháp”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ nhãn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn thức”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… “Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức… Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức… Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức… Tôi sẽ không chấp thủ thân thức… Tôi sẽ không chấp thủ ý thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý thức”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ nhãn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn xúc”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… “Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc… Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc… Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc… Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc… Tôi sẽ không chấp thủ ý xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý xúc”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… “Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi… Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi… Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi… Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi… Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… “Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới… Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới… Tôi sẽ không chấp thủ phong giới… Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới… Tôi sẽ không chấp thủ thức giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… “Tôi sẽ không chấp thủ thọ… Tôi sẽ không chấp thủ tưởng… Tôi sẽ không chấp thủ hành… Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư không vô biên xứ”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… "Tôi sẽ không chấp

thủ Thức vô biên xứ… Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ… Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy… “Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Ðộc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc:

– Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?

– Thưa Tôn giả Ananda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Ðạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu con đã từng gần gũi các vị Tỷ-kheo tu tập ý lực, con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.

– Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy nói cho các hàng xuất gia.

– Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giả Sariputta, có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng nếu được nghe, họ có thể biết được (Chánh) pháp.

Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Ðộc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, thân hoại mạng chung, và sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Ðâu- suất thiên).

Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:

Rừng Jetavana, Tốt đẹp phước lành này, Ðược chư Thiên, chúng Tăng, Thường lui tới an trú, Ðược Pháp Vương trú trì, Ban hoan hỷ cho ta.

Nghiệp, minh và Chánh pháp, Giới, tối thượng sanh mạng, Chính nhờ các pháp trên, Khiến chúng sanh thanh tịnh, Không phải do giai cấp, Không phải do tài sản.

Do vậy bậc Hiền giả, Thấy rõ mục đích mình, Suy tư pháp chân chánh, Ðược thanh tịnh ở đây.

Như Sariputta, Về tuệ, giới, tịch tịnh, Bất luận Tỷ-kheo nào, Ðã tới bờ bên kia, Hãy đạt được tối thắng Trong những pháp kể trên.

Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói như vậy. Bậc Ðạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc suy nghĩ: “Bậc Ðạo sư tán đồng ta.” Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:

Rừng Jetavana, Tốt đẹp phước lành này, Ðược chư Thiên, chúng Tăng, Thường lui tới an trú, Ðược Pháp Vương trú trì, Ban hoan hỷ cho ta.

Nghiệp, minh và Chánh pháp, Giới, tối thượng sanh mạng, Chính nhờ các pháp trên, Khiến chúng sanh thanh tịnh, Không phải do giai cấp, Không phải do tài sản.

Do vậy bậc Hiền giả, Thấy rõ mục đích mình, Suy tư pháp chân chánh, Ðược thanh tịnh ở đây.

Như Sariputta, Về tuệ, giới, tịch tịnh, Bất luận Tỷ-kheo nào, Ðã tới bờ bên kia, Hãy đạt được tối thắng Trong những pháp kể trên.

Nói vậy xong, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: "Bậc Ðạo sư tán đồng ta, " sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Ðộc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.

– Lành thay, lành thay, Ananda! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Ðộc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, có nghĩa là Bậc Tôn Quý, người đã đạt giác ngộ hoàn toàn và có đầy đủ phước đức, trí tuệ.
  • gia chủ / gahapati / householder: Người chủ gia đình, người cư sĩ tại gia có tài sản và địa vị xã hội nhất định, thường là người hộ trì Tam Bảo.
  • Tôn giả / āyasmā / Venerable: Từ dùng để gọi một cách kính trọng các vị tỳ kheo (nhà sư).
  • từ bi / anukampā / compassion: Lòng thương xót đối với sự đau khổ của chúng sinh và mong muốn giúp họ thoát khổ.
  • bám víu / upādiyati / cling: Sự dính mắc, chấp thủ, níu giữ vào các đối tượng (ngũ uẩn, các căn, các trần…) do tham ái và tà kiến, là nguyên nhân của khổ đau.
  • tâm thức / viññāṇa / consciousness: Sự nhận biết đối tượng thông qua sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Là một trong năm uẩn (khandha) và là một trong mười hai nhân duyên.
  • các hành / saṅkhārā / formations: Các yếu tố tâm lý tạo tác nghiệp (hành động có chủ ý), bao gồm các ý định, khuynh hướng, thói quen… dẫn đến sự tái sinh. Là một trong năm uẩn.
  • cõi Vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana / base of nothingness: Tầng thiền định thứ bảy trong tám tầng thiền (bốn thiền sắc giới và bốn thiền vô sắc giới), nơi hành giả trú tâm vào trạng thái nhận biết “không có gì cả”.
  • cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana / base of neither-perception-nor-non-perception: Tầng thiền định cao nhất (thứ tám), trạng thái tâm thức cực kỳ vi tế, không còn nhận thức rõ ràng (phi tưởng) nhưng cũng không hoàn toàn không có nhận thức (phi phi tưởng).
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Vị sư nam đã xuất gia và thọ giới cụ túc (giới luật đầy đủ) trong Phật giáo.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về sự vận hành của thế giới và con đường đưa đến giải thoát khổ đau (Niết Bàn).
  • xuất gia / pabbajita / gone forth: Từ bỏ đời sống thế tục, gia đình để sống đời sống không nhà của một vị sư hoặc ni cô.
  • Đâu-suất / Tusita / Tusita heaven: Một trong các cõi trời dục giới, nơi Bồ Tát thường tái sinh trước khi giáng trần thành Phật. Đây cũng là nơi nhiều vị thánh đệ tử tái sinh.
  • thiên tử / devaputta / young god: Một vị trời nam trẻ tuổi ở các cõi trời.
  • Tăng đoàn / Sangha / Sangha: Cộng đồng những người xuất gia theo lời dạy của Đức Phật (Tăng đoàn xuất gia) hoặc cộng đồng những người đã chứng đắc các thánh quả (Thánh Tăng).
  • Pháp Vương / Dhammarāja / King of Dhamma: Danh hiệu tôn kính chỉ Đức Phật, bậc vua của Chánh Pháp.
  • vượt qua / pāragū / gone beyond: Người đã đi đến bờ bên kia, tức đã đạt đến Niết Bàn, giải thoát hoàn toàn khỏi vòng sinh tử luân hồi, thường chỉ các vị A-la-hán.
  • niềm tin vững chắc / aveccappasāda / perfect confidence: Niềm tin trong sạch, không lay chuyển, dựa trên sự hiểu biết đúng đắn vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).