Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 6. KINH MAHĀLI

(Mahālisutta)
Bản tóm tắt→

1. Câu chuyện về các sứ giả Bà-la-môn (Brāhmaṇadūtavatthu)

Như vầy tôi nghe — một thời Thế Tôn trú tại Vesāli, trong Đại Lâm, tại Trùng Các Giảng Đường. Lúc bấy giờ, có nhiều sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và sứ giả Bà-la-môn từ Magadha đang lưu trú tại Vesāli vì một vài công việc. Các sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và Magadha nghe tin:

“Này các bạn, sa-môn Gotama, con trai dòng Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, hiện đang trú tại Vesāli, trong Đại Lâm, tại Trùng Các Giảng Đường. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây đã vang lên về tôn giả Gotama: ‘Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu biết thế gian, bậc Vô thượng Điều ngự trượng phu, bậc Thầy của chư thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn’. Ngài đã tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā) và chứng ngộ thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, rồi tuyên thuyết điều đó. Ngài giảng dạy giáo pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; Ngài làm sáng tỏ lối sống thanh tịnh (phạm hạnh / brahmacariya) hoàn toàn viên mãn và trong sạch. Thật tốt đẹp thay nếu được chiêm ngưỡng một bậc A-la-hán như vậy.”

Sau đó, các sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và Magadha đi đến Đại Lâm, Trùng Các Giảng Đường.

Lúc bấy giờ, tôn giả Nāgita đang là thị giả của Thế Tôn. Các sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và Magadha đi đến chỗ tôn giả Nāgita; sau khi đến, họ nói với tôn giả Nāgita: “Thưa tôn giả Nāgita, hiện nay tôn giả Gotama đang trú ở đâu? Chúng tôi muốn được chiêm ngưỡng tôn giả Gotama.”

“Này các hiền giả, nay không phải lúc để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang sống tĩnh cư (tĩnh cư / paṭisallīna).”

Thế rồi, các sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và Magadha ngồi xuống ngay tại một bên, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ chỉ rời đi sau khi đã chiêm ngưỡng tôn giả Gotama.”

6. KINH MAHÀLI

(Mahàli Sutta)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly) ở giảng đường Trùng Các, rừng Ðại Lâm. Lúc bấy giờ, một số đông sứ giả Bà-la-môn nước Kosala (Câu-tất-la) và nước Magadha (Makiệt-đà), đang ở tại Vesali vì một vài công việc. Những vị sứ giả ấy được nghe như sau: “Này các Tôn giả, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca hiện nay đang trú tại Vesali, ở giảng đường Trùng Các, rừng Ðại Lâm. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh”. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý”.

2. Những vị sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và ở Magadha ấy đi đến giảng đường tại rừng Ðại Lâm. Lúc bấy giờ, đại đức Nàgita là thị giả đức Thế Tôn. Những vị sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và ở Magadha ấy đi đến chỗ đại đức Nàgita ở và thưa:

− Tôn giả Nàgita, hiện nay Tôn giả Gotama ở tại đâu, chúng tôi muốn yết kiến Tôn giả Gotama.

− Các Hiền giả, nay không phải thời yết kiến đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn đang chỉ tịnh. Những sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha liền ngồi xuống tại một bên và nói: “Sau khi được yết kiến Tôn giả Gotama, chúng tôi mới đi”.

2. Câu chuyện về Oṭṭhaddha người Licchavi (Oṭṭhaddhalicchavīvatthu)

Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với một hội chúng Licchavi lớn cũng đi đến Đại Lâm, Trùng Các Giảng Đường, đến chỗ tôn giả Nāgita; sau khi đến, ông đảnh lễ tôn giả Nāgita rồi đứng một bên. Đứng một bên, Oṭṭhaddha người Licchavi nói với tôn giả Nāgita: “Thưa tôn giả Nāgita, hiện nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú ở đâu? Chúng tôi muốn được chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”

“Này Mahāli, nay không phải lúc để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang sống tĩnh cư.”

Oṭṭhaddha người Licchavi cũng ngồi xuống ngay tại một bên, nghĩ rằng: “Tôi sẽ chỉ rời đi sau khi đã chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”

Lúc bấy giờ, sa-di Sīha đi đến chỗ tôn giả Nāgita; sau khi đến, đảnh lễ tôn giả Nāgita rồi đứng một bên. Đứng một bên, sa-di Sīha nói với tôn giả Nāgita: “Thưa tôn giả Kassapa, có nhiều sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và Magadha đã đến đây để yết kiến Thế Tôn; Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với hội chúng Licchavi lớn cũng đã đến đây để yết kiến Thế Tôn. Thưa tôn giả Kassapa, thật tốt nếu nhóm người này được phép yết kiến Thế Tôn.”

“Nếu vậy, này Sīha, chính con hãy đi báo cho Thế Tôn biết.”

“Vâng, thưa tôn giả,” sa-di Sīha vâng lời tôn giả Nāgita, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, sa-di Sīha bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có nhiều sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và Magadha đã đến đây để yết kiến Thế Tôn; Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với hội chúng Licchavi lớn cũng đã đến đây để yết kiến Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, thật tốt nếu nhóm người này được phép yết kiến Thế Tôn.”

“Nếu vậy, này Sīha, hãy trải chỗ ngồi ở bóng râm phía sau tịnh xá.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” sa-di Sīha vâng lời Thế Tôn và trải chỗ ngồi ở bóng râm phía sau tịnh xá.

Sau đó, Thế Tôn bước ra khỏi tịnh xá và ngồi trên chỗ đã được trải sẵn ở bóng râm phía sau tịnh xá. Các sứ giả Bà-la-môn từ Kosala và Magadha đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ chào hỏi Thế Tôn. Sau những lời chào hỏi thân hữu và thăm hỏi, họ ngồi xuống một bên.

Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với hội chúng Licchavi lớn cũng đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Oṭṭhaddha người Licchavi bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vài ngày trước đây, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đã đến chỗ con; sau khi đến, anh ta nói với con thế này: ‘Này Mahāli, từ khi tôi sống nương tựa vào Thế Tôn, chưa đầy ba năm, tôi đã nhìn thấy những hình ảnh (sắc / rūpa) cõi trời, dễ thương, liên quan đến sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), gây say đắm (khả nhiễm / rajanīya), nhưng tôi không nghe được những âm thanh cõi trời, dễ thương, liên quan đến sự dễ chịu giác quan, gây say đắm.’ Bạch Thế Tôn, những âm thanh cõi trời, dễ thương, liên quan đến sự dễ chịu giác quan, gây say đắm mà Sunakkhatta con trai dòng Licchavi không nghe được ấy là có thật hay không có thật?”

3. Otthadda (Môi thỏ) người Licchavi cùng với một số đông dân chúng Licchavi cũng đi đến Trùng Các giảng đường, rừng Ðại Lâm gặp đại đức Nàgita, đảnh lễ vị này rồi đứng một bên. Otthadda người Licchavi thưa với đại đức Nàgita:

− Hiện nay đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở tại đâu, chúng con muốn yết kiến đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

− Màhàli, nay không phải thời yết kiến đức Thế Tôn, Ðức Thế Tôn đang chỉ tịnh.

Otthadda người Licchavi liền ngồi xuống một bên tại chỗ ấy và nói:

− Sau khi được yết kiến đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác con mới đi.

4. Khi ấy Sa-di Sìha đến đại đức Nàgita, đảnh lễ đại đức và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Sa-di Sìha nói với đại đức Nàgita:

− Bạch Ðại đức Kassapa (Ca-diếp) một số đông sứ giả Bà-La-môn ở Kosala và Magadha đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn; Otthada người Licchavi cũng đến đây với số đông dân chúng Licchavi để yết kiến đức Thế Tôn. Ðại đức Kassapa, lành thay, nếu những vị này được yết kiến đức Thế Tôn.

− Vậy Sìha hãy thưa với đức Thế Tôn.

− Thưa vâng, bạch Ðại đức!

Sa-di Sìha vâng theo lời dạy của đại đức Nàgita, đến tại chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên. Sa-di Sìha sau khi đứng một bên liền bạch đức Thế Tôn:

− Bạch đức Thế Tôn, một số đông sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Otthadda, người Licchavi cùng một số đông dân chúng Licchavi đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Lành thay nếu những vị này được yết kiến đức Thế Tôn!

− Nay Sìha, hãy dọn chỗ ngồi trong bóng mát, trước mặt ngôi tịnh xá.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Sa-di Sìha vâng theo lời dạy đức Thế Tôn, sắp đặt một chỗ ngồi trong bóng mát trước mặt ngôi tịnh xá, và đức Thế Tôn đi ra khỏi tịnh xá và ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn trong bóng mát, trước mặt ngôi tịnh xá.

5. Rồi các sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha đến tại chỗ đức Phật, nói lên những lời chúc tụng thân hữu và xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Otthadda người Licchavi cùng với một số lớn dân Licchavi cũng đến tại chỗ đức Phật, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Otthadda người Licchavi thưa với Thế Tôn:

− Bạch Ðại đức, hai ba ngày về trước, Sunakkhatta, dòng họ Licchavi đến chỗ con ở và nói với con: “Này Mahàli, từ khi tôi sống gần đức Phật, không lâu quá ba năm, tôi được thấy những thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không được nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi”. Bạch Thế Tôn, những thiên âm mà Sunakkhatta dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, không hiểu những thiên âm ấy có thật hay không có thật?

2.1. Định phát triển một phía (Ekaṁsabhāvitasamādhi)

“Này Mahāli, những âm thanh cõi trời, dễ thương, liên quan đến sự dễ chịu giác quan, gây say đắm mà Sunakkhatta con trai dòng Licchavi không nghe được ấy là có thật, không phải là không có thật.”

“Bạch Thế Tôn, đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện khiến Sunakkhatta con trai dòng Licchavi không nghe được những âm thanh cõi trời… dù chúng là có thật, không phải là không có thật?”

"Ở đây, này Mahāli, vị tỳ kheo đối với phương Đông có Định (samādhi) phát triển một phía (nhất hướng tu tập / ekaṁsabhāvita) để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời, dễ thương, liên quan đến sự dễ chịu giác quan, gây say đắm, nhưng không phải để nghe những âm thanh cõi trời, dễ thương, liên quan đến sự dễ chịu giác quan, gây say đắm. Vì vị ấy có Định phát triển một phía đối với phương Đông để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… nhưng không phải để nghe những âm thanh cõi trời… nên vị ấy nhìn thấy những hình ảnh cõi trời ở phương Đông… nhưng không nghe được những âm thanh cõi trời… Vì sao vậy? Này Mahāli, đó là vì vị tỳ kheo có Định phát triển một phía đối với phương Đông để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… nhưng không phải để nghe những âm thanh cõi trời…

Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ kheo đối với phương Nam… phương Tây… phương Bắc… phương trên, phương dưới, phương ngang có Định phát triển một phía để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… nhưng không phải để nghe những âm thanh cõi trời… Vị ấy nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… nhưng không nghe được những âm thanh cõi trời… Vì sao vậy? Này Mahāli, đó là vì vị tỳ kheo có Định phát triển một phía đối với phương trên, phương dưới, phương ngang để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… nhưng không phải để nghe những âm thanh cõi trời…

Ở đây, này Mahāli, vị tỳ kheo đối với phương Đông có Định phát triển một phía để nghe những âm thanh cõi trời… nhưng không phải để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… Vị ấy nghe được những âm thanh cõi trời ở phương Đông… nhưng không nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… Vì sao vậy? Này Mahāli, đó là vì vị tỳ kheo có Định phát triển một phía đối với phương Đông để nghe những âm thanh cõi trời… nhưng không phải để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời…

Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ kheo đối với phương Nam… phương Tây… phương Bắc… phương trên, phương dưới, phương ngang có Định phát triển một phía để nghe những âm thanh cõi trời… nhưng không phải để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… Vị ấy nghe được những âm thanh cõi trời… nhưng không nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… Vì sao vậy? Này Mahāli, đó là vì vị tỳ kheo có Định phát triển một phía đối với phương trên, phương dưới, phương ngang để nghe những âm thanh cõi trời… nhưng không phải để nhìn thấy những hình ảnh cõi trời…

Ở đây, này Mahāli, vị tỳ kheo đối với phương Đông có Định phát triển hai phía (câu hữu tu tập / ubhayaṁsabhāvita) để vừa nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… vừa để nghe những âm thanh cõi trời… Vị ấy vừa nhìn thấy những hình ảnh cõi trời ở phương Đông… vừa nghe được những âm thanh cõi trời… Vì sao vậy? Này Mahāli, đó là vì vị tỳ kheo có Định phát triển hai phía đối với phương Đông để vừa nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… vừa để nghe những âm thanh cõi trời…

Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ kheo đối với phương Nam… phương Tây… phương Bắc… phương trên, phương dưới, phương ngang có Định phát triển hai phía để vừa nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… vừa để nghe những âm thanh cõi trời… Vị ấy vừa nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… vừa nghe được những âm thanh cõi trời… Vì sao vậy? Này Mahāli, đó là vì vị tỳ kheo có Định phát triển hai phía đối với phương trên, phương dưới, phương ngang để vừa nhìn thấy những hình ảnh cõi trời… vừa để nghe những âm thanh cõi trời… Này Mahāli, đây là nguyên nhân, đây là điều kiện khiến Sunakkhatta con trai dòng Licchavi không nghe được những âm thanh cõi trời… dù chúng là có thật, không phải là không có thật."

“Bạch Thế Tôn, có phải các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn chỉ vì mục đích chứng ngộ các trạng thái Định này không?”

“Này Mahāli, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Ta không phải vì mục đích chứng ngộ các trạng thái Định này. Này Mahāli, có những pháp khác cao thượng hơn và thù thắng hơn, mà vì mục đích chứng ngộ chúng, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Ta.”

− Này Mahàli những thiên âm mà Sunakkhatta dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, những thiên âm ấy có thật, không phải không có.

6. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, những thiên âm mà Sunakkhatta, dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, những thiên âm ấy có thật, không phải là không có.

− Này Mahàli, có Tỷ-kheo tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này thấy được về phía Ðông các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông, chỉ với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

7. Lại nữa, này Mahàli, có vị Tỷ-kheo tu định nhứt hướng, hướng về phía Nam… về phía Tây… về phía Bắc… phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này thấy được về phía Trên, Dưới, Ngang, các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, chỉ với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. 8. Này Mahàli, có vị Tỷ-kheo tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này nghe được về phía Ðông các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì vị Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông, chỉ với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

9. Lại nữa, này Mahàli, có Tỷ-kheo tu định nhứt hướng, hướng về phía Nam… hướng về phía Tây… hướng về phía Bắc… phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú phấn khởi. Vì vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này nghe được, phía Trên, Dưới, Ngang, các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không thấy được các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang chỉ với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

10. Này Mahàli, có Tỷ-kheo tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nên vị này hướng về phía Ðông thấy được các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và nghe được các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.

11. Này Mahàli, có vị Tỷ-kheo tu định nhị hướng, hướng về phía Nam… hướng Tây… hướng về phía Bắc… về phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhị hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nên vị này hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì cớ sao? Này Mahàli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhị hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Này Mahàli, do nhân này, do duyên này, những thiên âm ấy có thật, không phải là không có.

12. - Bạch Thế Tôn, như vậy có phải muốn chứng được các pháp định thiền định ấy mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?

− Này Mahàli, không phải muốn chứng được các pháp thiền định ấy mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta. Này Mahàli, có những pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn. Vì muốn chứng được những pháp ấy, các vị Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta.

2.2. Bốn quả sa-môn (Catuariyaphala)

“Bạch Thế Tôn, những pháp cao thượng hơn và thù thắng hơn ấy là gì, mà vì mục đích chứng ngộ chúng, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn?”

"Ở đây, này Mahāli, vị tỳ kheo do diệt tận ba Xiềng Xích (kiết sử / saṁyojana) nên trở thành bậc Nhập lưu (sotāpanna), không còn bị rơi vào các cõi ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này Mahāli, đây là pháp cao thượng hơn và thù thắng hơn, mà vì mục đích chứng ngộ nó, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ kheo do diệt tận ba Xiềng Xích, làm nhẹ bớt đắm nhiễm (tham / rāga), ám ảnh khó chịu (sân / dosa), và sự u mê (si / moha) nên trở thành bậc Nhất lai (sakadāgāmī), chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi chấm dứt đau khổ. Này Mahāli, đây cũng là pháp cao thượng hơn và thù thắng hơn, mà vì mục đích chứng ngộ nó, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ kheo do diệt tận năm Xiềng Xích phần dưới nên trở thành bậc hóa sinh (opapātika), nhập diệt tại đó, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa. Này Mahāli, đây cũng là pháp cao thượng hơn và thù thắng hơn, mà vì mục đích chứng ngộ nó, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ kheo do cạn sạch (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn nguồn ác (vô lậu / anāsava), ngay trong hiện tại, tự mình hiểu biết trực tiếp và chứng ngộ, rồi an trú. Này Mahāli, đây cũng là pháp cao thượng hơn và thù thắng hơn, mà vì mục đích chứng ngộ nó, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

Này Mahāli, đây là những pháp cao thượng hơn và thù thắng hơn, mà vì mục đích chứng ngộ chúng, các tỳ kheo sống lối sống thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Ta."

13. - Bạch Thế Tôn, những pháp ấy, cao thượng hơn, thù thắng hơn là gì mà các vị Tỷ-kheo vì muốn chứng được những pháp ấy sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?

− Này Mahàli, ở đây Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không đọa ác thú, chắc chắn đạt quả Bồ-đề. Này Mahàli, pháp này cao thượng và thù thắng hơn, vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta. Lại nữa, này Mahàli, Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử làm nhẹ bớt tham, sân, si, thành bậc Nhứt lai, còn phải sanh lại trong đời này một lần nữa trước khi diệt hẳn khổ đau. Này Mahàli, pháp này cao thượng hơn và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta.

Lại nữa, này Mahàli, vị Tỷ-kheo đã đoạn dứt năm hạ phần kiết sử, thành vị hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đây, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Này Mahàli, pháp này cao thượng và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.

Này Mahàli, những pháp cao thượng và thù thắng này, vì muốn chứng được pháp ấy, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.

2.3. Tám Bước Thiện (Ariyaaṭṭhaṅgikamagga)

“Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có phương pháp thực hành nào để chứng ngộ những pháp này không?”

“Này Mahāli, có con đường, có phương pháp thực hành để chứng ngộ những pháp này.”

“Bạch Thế Tôn, con đường đó là gì, phương pháp thực hành đó là gì để chứng ngộ những pháp này?”

"Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo / Ariya Aṭṭhaṅgika Magga). Cụ thể là — Nhìn Thấy Thiện (Chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (Chánh tư duy / sammāsaṅkappa), Lời Nói Thiện (Chánh ngữ / sammāvācā), Hành Động Thiện (Chánh nghiệp / sammākammanta), Đời Sống Thiện (Chánh mạng / sammāājīva), Nỗ lực Thiện (Chánh tinh tấn / sammāvāyāma), Tự Quan Sát Thiện (Chánh niệm / sammāsati), Định thiện (Chánh định / sammāsamādhi). Này Mahāli, đây là con đường, đây là phương pháp thực hành để chứng ngộ những pháp này.

14. - Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy?

− Này Mahàli, có con đường, có đạo lộ đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy.

− Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy?

− Ðó là con đường Thánh có tám ngành: Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Mahàli, con đường này, đạo lộ này đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy.

2.4. Câu chuyện về hai người xuất gia (Dvepabbajitavatthu)

Này Mahāli, có một thời Ta đang trú tại Kosambī, trong tu viện Ghosita. Lúc bấy giờ, có hai người xuất gia ngoại đạo — du sĩ Muṇḍiya và Jāliya, học trò của Dārupattika — đi đến chỗ Ta. Sau khi đến, họ chào hỏi Ta. Sau những lời chào hỏi thân hữu và thăm hỏi, họ đứng một bên. Đứng một bên, hai người xuất gia ấy nói với Ta: ‘Thưa tôn giả Gotama, sinh mạng (mạng / jīva) chính là cơ thể (thân / sarīra), hay sinh mạng là khác, cơ thể là khác?’

‘Vậy thì này các hiền giả, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ giảng.’

‘Vâng, thưa tôn giả,’ hai người xuất gia ấy vâng lời Ta.

Ta nói thế này: 'Ở đây, này các hiền giả, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… Như vậy, này các hiền giả, vị tỳ kheo hoàn thiện việc sống đạo đức.

… Vị ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất. Này các hiền giả, với vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác” không?’

‘Này các hiền giả, vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, thật thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”.’

'Nhưng này các hiền giả, Ta biết điều này như vậy, Ta thấy điều này như vậy. Dù vậy, Ta không nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”…

… Vị ấy đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai… Thiền-na thứ ba… Thiền-na thứ tư. Này các hiền giả, với vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác” không?’

‘Này các hiền giả, vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, thật thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”.’

'Nhưng này các hiền giả, Ta biết điều này như vậy, Ta thấy điều này như vậy. Dù vậy, Ta không nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”…

… Vị ấy hướng tâm và dẫn dắt tâm đến tri kiến… Này các hiền giả, với vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác” không?..

‘Này các hiền giả, vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, thật thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”.’

'Nhưng này các hiền giả, Ta biết điều này như vậy, Ta thấy điều này như vậy. Dù vậy, Ta không nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”…

… Vị ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) rằng không còn trở lại trạng thái này nữa. Này các hiền giả, với vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác” không?’

‘Này các hiền giả, vị tỳ kheo biết như vậy, thấy như vậy, KHÔNG thích hợp để vị ấy nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”.’

‘Này các hiền giả, Ta biết điều này như vậy, Ta thấy điều này như vậy. Dù vậy, Ta không nói: “Sinh mạng chính là cơ thể” hay “Sinh mạng là khác, cơ thể là khác”.’"

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Oṭṭhaddha người Licchavi hoan hỷ vui mừng đón nhận lời dạy của Thế Tôn.

Kết thúc Kinh Mahāli, kinh thứ sáu.

15. Này Mahàli, một thời Ta ở Kosambi vườn Ghositàràma. Lúc bấy giờ có hai người xuất gia. Mandissa một vị du sĩ và Jàliya đệ tử của Dàrupattika, đến tại chỗ Ta ở, nói lên những lời chúc tụng thân hữu và xã giao với Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, hai vị xuất gia nói với Ta như sau:

− Này Hiền giả, mạng căn và thân thể là một hay là khác?

− Này Hiền giả, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Vâng, Hiền giả!

Hai vị xuất gia trả lời Ta như thế và Ta nói như sau:

16. - Này Hiền giả, ở đây Như Lai sanh ra đời, vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác … (tương tự như kinh “Sa-môn quả”, đoạn kinh 41-82) … Này Hiền giả, như vậy vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh… chứng và an trú Sơ thiền. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay khác” không?

Này Hiền giả, Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, nhưng Ta không nói: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

17. Chứng và an trú đệ nhị thiền… đệ tam thiền… đệ tứ thiền. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay khác” không?

Này Hiền giả, Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

18. Vị Tỷ-kheo ấy hướng tâm, dẫn tâm đến tri kiến. Này Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác” không?

Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

19. Vị ấy biết: “Sau đời này sẽ không có đời khác nữa”. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác” không?

Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo biết như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”. Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.

Ðức Thế Tôn thuyết như vậy. Otthadda người Licchavi hoan hỷ tín họ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-